Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười 17th, 2009

CURATOR – HỌ LÀ AI?

Từ các “nghệ sĩ thất bại” đến các curator “ba cùng”

(TT&VH) – Điêu khắc gia Nguyễn Như Ý (hỗn danh là Ý “điên”) có một lần bình về những màn nhảy múa của một “nghệ sĩ trình diễn nổi tiếng trên báo chí” như sau: “Trong nghệ thuật, những gì kỳ quặc và khó hiểu là bịp bợm”. Đó là câu nói vui ngoài vỉa hè, chẳng “học thuật” tý nào. Nhưng quả là lời phê bình “quán nước” của ông Ý “điên” không phải là vô lý hoàn toàn. Quả thật là có một số tác giả “tác” ra một số “sản phẩm” kỳ quặc, khó hiểu là vẽ rắn thêm chân, là bịp bợm thật.

Nghề curator và bảy trụ nối của nghệ thuật…

Trong một đời sống nghệ thuật tạo hình chuyên nghiệp đầy đủ theo mô hình phương Tây đương đại hiện nay, hành nghề nghệ thuật tức là tham gia vào hệ thống sản xuất của một nền “công nghiệp không khói”. Trong đó, lực lượng sản xuất chính là các nghệ sĩ và sản phẩm tất nhiên là các tác phẩm nghệ thuật. Nhưng để đưa tác phẩm từ nghệ sĩ đến công chúng, tạo ra hiệu quả xã hội cũng như đưa kinh phí từ các nhà quản lý, người mua tác phẩm đến với nghệ sĩ thì phải có một cây cầu nối khá phức tạp. Để vận hành cây cầu nối này có bảy chức danh (giống như bảy cái trụ cầu) làm bảy công tác chuyên biệt phục vụ “ông nghệ sĩ” như sau:

1/ Curator: nhà tư vấn tổ chức sự kiện nghệ thuật, thiết kế tổ chức cho triển lãm, tác giả, tác phẩm, khuynh hướng, lịch sử…
2/ Art historian: nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật.
3/ Art critic: nhà phê bình nghệ thuật.
4/ Lawyer: luật sư bảo vệ quyền lợi của nghệ sĩ.
5/ Art dealer: nhà môi giới nghệ thuật.
6/ Fund raiser: chuyên gia xin tài trợ.
7/ Art technician: chuyên gia kỹ thuật giúp nghệ sĩ treo, bày, khảo sát kích thước không gian, dàn dựng âm thanh, ánh sáng…

Trong 7 chức danh này thì curator là nhân vật phục vụ nghệ sĩ đứng đầu, là người bạn đầu tiên của nghệ sĩ, là các “nàng Kiều” có đôi mắt xanh tìm ra cái tài tình của nghệ sĩ từ trong trứng nước và trong… nghèo đói vô danh: “Khen cho con mắt tinh đời/ Anh hùng đoán giữa trần ai mới già”.

Trần Lương – một nghệ sĩ kiêm curator với tác phẩm trình diễn mang tên
Đánh răng trước Thiên An Môn (ảnh có tính chất minh họa)

Chức năng đầu tiên của curator (như định nghĩa trong từ điển) mới đầu chỉ là người chuyên gia tư vấn chuyên môn nghệ thuật cho việc mua và quản lý tác phẩm của các bảo tàng, bộ sưu tập nghệ thuật. Sau này chức năng ấy được mở rộng thêm một bậc: Anh ta là người lựa chọn tác phẩm, phối hợp tác phẩm vào các bộ tác phẩm và tác giả tương thích, để đưa vào triển lãm ở những địa phương, cộng đồng ở thời gian tương thích… Bậc mở rộng cuối cùng để xác định “tầm” curator là họ khởi xướng và hoạch định ra chiến lược triển lãm (“chế” ra các dự án nghệ thuật) từ khi chưa có tác phẩm và nghệ sĩ (tác phẩm và nghệ sĩ lúc đó còn ở dạng tiềm năng).

Có thể gọi, khi ấy, curator là người “sáng tạo” ra nghệ sĩ và tác phẩm một cách thức thời, để phục vụ cho một vấn đề xã hội bức thiết tại một thời điểm cụ thể nào đó. Nhưng cũng chính cung bậc phát triển cuối cùng của nghề curator này cũng là “điểm rơi” và nguy cơ “lũng đoạn” nghệ thuật của nghề curatorial.

Từ các “nghệ sĩ thất bại”

Những curator đầu tiên của nghệ thuật đương đại, có vẻ như chính là những người sáng tác bỏ đi làm curator (có người nói vui rằng curator đương đại nguyên thủy là các… nghệ sĩ thất bại). Nhưng khi nghề này được chuyên nghiệp hóa, thì phần lớn các curator không sáng tác để tránh áp đặt thiên kiến. Tuy họ không có tiền và có quyền quyết định cuối cùng, nhưng họ lại là người hoạch định chiến lược của sự kiện nghệ thuật và đề xuất chọn lựa tác giả, tác phẩm.

Nguyên nhân để dẫn đến nguy cơ “lũng đoạn” nghệ thuật cũng sinh ra từ lý do “không là gì mà lại có khả năng quyết định tất cả” đó. Trong các dự án nghệ thuật phối hợp có tổ chức từ đơn giản cho đến phức tạp (từ một địa phương, một khu vực cho tới nhiều khu vực, một quốc gia hay nhiều quốc gia) như các dự án triển lãm cá nhân, workshop (tạm hiểu như trại sáng tác ở ta), chương trình nghệ sĩ lưu trú đến các hội chợ nghệ thuật… thì vai trò của curator là cực kỳ quan trọng. Họ chính là cánh cửa mở để nghệ sĩ và tác phẩm bước vào các dự án này. Ai không lọt mắt xanh của họ, không được họ mời thì tất nhiên không có cửa để tham gia.

Có những curator nổi tiếng (dĩ nhiên là quen biết rộng) dựa vào mạng lưới curator quen biết ở từng khu vực để tuyển chọn tác phẩm (không gặp trực tiếp nghệ sĩ để chọn, bởi họ càng nổi tiếng thì càng ít thời gian). Mặt khác vì có rất nhiều thông tin và quá khứ đào tạo tốt nên các curator này dễ tự cho là có tầm nhìn bao trùm thế giới. Song thực chất 90% thông tin họ nhận được là gián tiếp. Hai yếu tố trên dễ dẫn đến các lỗi quan liêu. Trong khi các kỹ năng và chất xám hàn lâm luôn cần cập nhật (đặc biệt cho curator về nghệ thuật đương đại). Vì vậy dẫn đến “cơ hội” vô tình cho việc “lũng đoạn” nghệ thuật của các curator.

Đến phong trào cách tân curator

Chính vì sự quan trọng như vậy, nên hiện nay trên bình diện nghệ thuật thế giới, curator là một chức danh chính thống, một nghề riêng không thể thiếu trong nghệ thuật dành cho các chuyên gia có đẳng cấp văn hóa với ý thức trách nhiệm nghiêm ngặt, tiêu chuẩn đạo đức cũng như kỹ năng nghề nghiệp cao. Các trường đại học nghệ thuật lớn trên thế giới đều có khoa riêng đào tạo chuyên ngành này. Nhưng để tránh những nguy cơ kém tích cực như đã nói ở trên, người ta đã khởi xướng phong trào cách tân (post curatorial), nhất là với các curator chuyên về nghệ thuật đương đại.

Vì bản chất nghề curatorial rất cần thực hành và nghiên cứu trực tiếp, khác xa các nhà lý luận, khác cả nhà khoa học vì tính muôn hình vạn trạng không có công thức định lý của nghệ thuật cũng như sự phức tạp của đối tượng con người. Cách tân curatorial là yêu cầu nghiên cứu điền dã sâu, làm việc với nghệ sĩ cũng như “ba cùng” với nhân dân.

Curator được cách tân là người có khả năng nhận ra cái gì có thể triển lãm tốt, bao gồm tác phẩm mỹ thuật hay loại hình thức mới được đưa vào triển lãm mỹ thuật. Một cô gái điếm nổi tiếng ở Bắc Kinh làm thêm nghề mẫu khỏa thân cuối cùng trở thành nghệ sĩ nhiếp ảnh, hay các tác phẩm mô hình đặc biệt của các kiến trúc sư được gợi ý tuyển chọn vào các biennale (hội chợ nghệ thuật) đều là sự phát hiện của curator.


Từ curator đến…“cò” dự án nghệ thuật

(TT&VH) – Những điều mà các tay “giám tuyển”, những “curator rởm” ấy nói, làm và viết là để làm gì? Có thể nói ngay cái đích họ muốn nhắm đến chính là những dự án nghệ thuật.

Curator thật sự – rất ít

Một tác phẩm sắp đặt (Ảnh có tính chất minh họa)

Cứ lấy cái chuẩn của nghề curatorial thế giới mà soi, thì ở ta gần như chưa có các curator chuyên nghiệp. Một phần các thiết chế khập khiễng trong đời sống nghệ thuật của ta chưa sinh ra được nghề này một cách chuyên nghiệp. Thứ hai, để đạt đến trình độ chuyên gia đó, nói thực ra là rất khó, phải được đào tạo cực kỳ căn bản trong một thời gian dài. Những curator hàn lâm truyền thống ở các tổ chức nghệ thuật lớn, thường là phải có bằng tiến sĩ triết hoặc ít nhất là cao học về lịch sử và lý luận nghệ thuật. Những curator về nghệ thuật đương đại thì có thể có nhiều nguồn xuất thân và đào tạo khác nhau, các tác phẩm được họ thiết kế chọn lựa sẽ chứng minh nỗ lực tự học cũng như thực hành của họ.

Thực tế thì có một số người Việt Nam từng làm qua công việc của curator bậc một (tư vấn mua tranh cho bảo tàng, tổ chức một số triển lãm cá nhân hoặc triển lãm nhóm trong nước hoặc có yếu tố giao lưu quốc tế). Còn từ curator bậc hai đúng nghĩa trở đi, ở ta rất rất ít, đếm chưa hết đầu ngón của một bàn tay. Có một, hai người từng làm curator vụ việc cho một số bảo tàng hay các dự án nghệ thuật nước ngoài. Họ vốn là các họa sĩ nổi tiếng, hoặc là chuyên gia về phê bình lý luận mỹ thuật nhưng chính họ lại ít khi tự thừa nhận mình là curator. Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội đã cộng tác với Học viện Mỹ thuật UMEA (Thụy Điển) nhiều năm nay, từng mở một khóa tập huấn curator ngắn hạn do người của UMEA sang nói chuyện, nhưng chỉ trong phạm vi nội bộ các giáo viên của trường, và chủ yếu về chuyên môn curator cho bảo tàng.

“Nghệ thuật sứ quán”

Với nhu cầu nghệ thuật đương đại trong bối cảnh văn hóa Việt Nam hiện tại từ mươi mười lăm năm nay, hầu hết những thể nghiệm hay dự án nghệ thuật đương đại có nguồn kinh phí từ chính nghệ sĩ tự góp lại, một số rất ít nhà hảo tâm cộng vài quỹ tài trợ nước ngoài. Cho tới nay, mới có đúng một dự án lớn mang tính chính thống được đầu tư trên “phương diện quốc gia” là Festival Mỹ thuật trẻ toàn quốc năm 2007 với gần 60 tác giả từ ba miền.

Nguồn kinh phí đều đặn và có “màu” nhất vẫn là các quỹ văn hóa có yếu tố ngoài nước, hoặc các trung tâm văn hóa nước ngoài. Những nơi này vẫn liên tục lập các chương trình năm và dự án nghệ thuật, để nghệ sĩ đương đại triển lãm tại địa chỉ của họ. Hình thức đầu tư này sinh ra một loại hình nghệ thuật, mà có nghệ sĩ từng gọi là nghệ thuật sứ quán (Embassy art).

Những dự án nghệ thuật sứ quán này cũng muôn hình muôn vẻ. Nó có mặt tốt là luôn hướng tới những vấn đề cộng đồng hoặc những câu chuyện mang ý nghĩa xã hội rộng rãi, cũng như đưa nghệ sĩ và người xem vào hít thở bầu không khí chung của nghệ thuật thế giới. Nhưng tựu trung lại thì nó không thể tránh khỏi một sự thật hiển nhiên là ảnh hưởng ý muốn của những người đầu tư kinh phí, với những kết quả kiểu như “tỷ số bóng đá giao hữu” vốn như phải thế… Kèm việc tuyên truyền cho văn hóa từ quốc gia có quỹ đó.

Tư vấn cho nghệ sĩ chứ không phải “giám định, tuyển chọn”

Từ các dự án nghệ thuật này sinh ra một loại curator, với cách hành xử kỳ quặc và khó hiểu. Chữ “curator” được dịch thành chữ “giám tuyển”, và lập tức được họ tuyên xưng lia lịa trong các lần trả lời phỏng vấn trên báo mạng. Trong chữ Hán – Việt, không có từ nào như thế này, chắc họ tìm cách ghép từ “giám định tuyển chọn” thành “giám tuyển”.

Tôi không tán thành với cách dịch này. Bởi trước hết là ý nghĩa của từ “giám” không liên quan tý nào với từ curator. Chữ “giám” này đồng nghĩa với các từ đã có như: giám thị, giám ngục, giám đốc, giám sát, giám định… Chữ giám này hàm nghĩa canh chừng, soi xét. Một trạng thái đứng cao hơn và phán xét người khác “tao chọn mày, mày vinh dự lắm mới được đứng trong hàng các nghệ sĩ thời thượng tiền phong đấy”. Điều này là đi ngược tinh thần dân chủ và rất… xược. Bởi như đã nói ngay từ đầu, curator là người phục vụ nghệ sĩ (họ chỉ làm nhiệm vụ kích thích nghệ sĩ, tư vấn, diễn giải và “chỉ điểm” cho các nhà đầu tư cũng như công chúng nghệ thuật) chứ không phải là… “bố” của nghệ sĩ để mà giám định hay tuyển chọn cái gì (họ cũng không có thực quyền để làm điều này, quyền chọn lựa là của các nhà tổ chức và người mua tác phẩm). Nếu cần dịch, thì dịch curator là nhà tư vấn nghệ thuật (hoặc mỹ thuật) là đầy đủ nghĩa nhất. Tuy vậy vẫn hơi dài, cứ gọi là… curator là “gọn ghẽ” nhất).

Tác phẩm của Quang Huy, sử dụng bộ sưu tập từng đoạt giải nhất
Grand Prix Collection (Ảnh có tính chất minh họa)

Có một điều chắc chắn là những người tự nhận là “giám tuyển” này không bao giờ hướng các nghệ sĩ hoặc công chúng trẻ tới việc tìm vẻ đẹp và bản lĩnh nghệ thuật trong vốn nghệ thuật dân tộc. Cũng như họ luôn tìm cách né tránh việc khuyến khích nghệ sĩ trẻ tìm đúng cá tính của mình, dấn thân vào thực tế rồi tự âm thầm kiên nhẫn sáng tác một mình.

Loại “curator rởm” này chỉ lo mình nói gì, phát hiện ra và làm những việc cũ rích nhưng lại luôn tuyên bố là mình làm đầu tiên. Họ không hề sống sâu sát với đời sống nghệ sĩ mà thường tự vẽ lên một ý tưởng rồi đi nhặt tác phẩm ghép vào để minh họa cho ý tưởng của mình. Các “dự án” họ từng thực hiện toàn dúi vào mấy nơi quán xá nghệ sĩ tụ tập, quay đi quay lại lèo tèo mấy qương mặt quen. Tuyên truyền rất nặng về hô hoán trên mạng, nhưng hoạt động thực nơi công cộng thì rất ít, và tất nhiên hiệu quả tác động xã hội cũng rất ít.

Nhưng những điều mà các tay “giám tuyển”, những “curator rởm” ấy hành động, những điều họ làm, họ nói, viết ấy là để làm gì? Có thể nói ngay cái đích họ muốn nhắm đến chính là những dự án “nghệ thuật sứ quán” có tính chất giao hữu, giao đãi, hoặc là các dự án nghệ thuật có tính sân khấu – truyền hình của các công ty cần trưng ra lăngxê. Những “giám tuyển” kiểu này muốn làm cầu nối, làm “giám” và “tuyển” tác phẩm cho những dự án đó. Tất nhiên là họ sẽ được hưởng thù lao từ công “giám” và “tuyển”. Công bằng mà nói, các “cò dự án nghệ thuật” này mến danh hơn tiền.


“Trong nghệ thuật, kỳ quặc và khó hiểu là bịp bợm”

(TT&VH) – Xin được nhắc lại câu nói trên của điêu khắc gia Nguyễn Như Ý (hỗn danh là Ý điên) khi bình luận về những màn nhảy múa của một “nghệ sĩ trình diễn nổi tiếng trên báo chí”. Nhưng xin được ứng dụng sang lĩnh vực hoạt động của các curator.

Ngộ chữ

Có thể phác ra chân dung bằng ngôn ngữ rất dễ nhận dạng của những tay “giám tuyển” kiểu này. Cách nói của họ rất kỳ quặc. Trong các bài viết hoặc lời nói của họ, ngoài ba câu mà chưa thấy trích dẫn một ông mũi lõ nào đó thì là điều rất lạ. Mẫu câu của những “giám tuyển” này dùng khá đơn giản. Họ tiến hành cách nói của mình bằng cách trước hết phủ định tất cả những người có uy tín về nghệ thuật mà công chúng đang biết. Mẫu câu của họ là: “Ông X (một học giả, hay một nghệ sĩ trong nước) nói về vấn đề này thế này. Nhưng tôi không đồng ý. Tôi (và đứng sau tôi là một cụ Âu – Tàu – Mỹ – Nhật nào đó) cho rằng thế này cơ”. Mốt ngày xưa của những người học mót tư tưởng cũ thì dẫn lời các ông Ốp – Ép – Xki nào đó. Mốt ngày nay của các kẻ học mót tư tưởng mới thì dẫn các ông Âu – Tàu – Mỹ – Nhật nọ kia, tuy nhiên không những không đơn giản hóa đi mà thường thì hay làm phức tạp thêm.

Tác phẩm điêu khắc khỏe khoắn của nhà điêu khắc Nguyễn Như Ý –
người từng nhận xét “Trong nghệ thuật, kỳ quặc và khó hiểu là bịp bợm”
Không thể phủ nhận những người tự nhận mình là “giám tuyển” này có nỗ lực rất nhiều trong việc học ngoại ngữ và đọc các sách nghệ thuật thế giới. Nhưng học và đọc nhiều mà không hiểu, không tiêu hóa nổi thì sẽ dẫn đến “tẩu hỏa nhập ma”, các cụ xưa gọi trạng thái này đơn giản là “cái thằng ngộ chữ”.Một nét chân dung nữa của các “curator” tự phong này là cư xử và cách “chơi” của họ với nghệ sĩ cái gì cũng có vẻ rất… giống nghệ sĩ thực. Cũng uống rượu, cũng phản đối, cũng khinh khỉnh, cũng phê bình quán bia quán nước và thi thoảng cũng có những biểu hiện giả vờ bất thường. Họ tìm cách tụ tập và nhắm đến những nghệ sĩ trẻ thiếu bản lĩnh hoặc các sinh viên yêu thích nghệ thuật nhưng chưa am hiểu mấy về bản chất nghệ thuật (am hiểu bằng nội tâm và trải nghiệm cá nhân thì phải mất rất nhiều thời gian, vốn vô hình, tiền bạc và có khi là còn cả xương máu), hoặc một số công chúng ít tuổi ham nhảy múa là chính. Họ luôn có xu hướng quy nghệ thuật về những trò giải trí bậc thấp, nhưng lại dán mác cho các trò đó như một sự đảm bảo bằng những tên gọi hay những thuật ngữ mỹ miều. Họ không tiếc lời khen với các bạn trẻ này, gọi các bạn trẻ ấy bằng các danh vị kỳ khôi gắn đến cái mới, hiện đại và khác người nghe rất mơn man bùi tai. Nếu họ có buột miệng chê các bạn trẻ đó thì chê một cách nghiêm trọng kinh khủng những điều rất… vặt. Họ tỉ tê “xui” các nghệ sĩ trẻ làm những điều buồn cười trước đám đông để đám đông giải trí, đặt cho đó là nghệ thuật hành vi, nghệ thuật ý niệm, hành động nghệ thuật tiền phong, v.v… và v.v… Tỷ dụ như có kẻ xui một bạn trẻ cởi trần, mặc mỗi cái quần đùi rồi cầm cái chổi ra “viết chữ” giữa trời mưa to, trước sự chứng kiến đông người. Gọi đó là “nghệ thuật hành vi”, rồi quay phim chụp ảnh lia lịa. Báo hại cho tờ giấy hỏng và cái sân loe loét mực.Đám đông thì được giải trí, còn họ quay phim chụp ảnh lại phục vụ mục đích làm “tác phẩm” của riêng họ. Sự “nhập nhằng đánh lận con đen” này rất nguy hiểm. Có thể làm nghệ thuật để giải trí, và giải trí cũng có nhiều tầng bậc, nhưng đánh lộn sòng giải trí mua vui là nghệ thuật tiền phong thì không ổn. Vì thế thì dễ quá, làm chơi mà lại muốn ăn thật, ai làm giải trí để quay chụp (phải trước đám đông nhé, và nhất là không được ngượng) cũng ngộ nhận mình là “nghệ sĩ tiền phong” thì chết dở…

Bảo Ngọc ơi, đâu là Chân – Giả?

Đại văn hào Tào Tuyết Cần, người viết ra áng văn chương diễm lệ Hồng Lâu Mộng để dành rất nhiều chữ trong tác phẩm này cho câu chuyện Chân – Giả. Ngoài những lời phi lộ về hai nhân vật mở đầu cuốn sách là Chân Sĩ Ẩn – Giả Vũ Thôn và chuyện về cái thực – ảo, thì nhân vật chính của truyện là chàng thanh niên Bảo Ngọc mang họ Giả. Trong pho kim cổ tiểu thuyết này, ai đọc kỹ sẽ nhớ đến vài trăm chữ (rất ngắn) kể về chuyện Giả Bảo Ngọc gặp Chân Bảo Ngọc. Chân Bảo Ngọc cái gì cũng giống Giả Bảo Ngọc, từ cái tên đến viên đá đeo trên người, nhưng là một kẻ nhạt nhẽo rất chán, rất giả.

Nghệ thuật thì cũng có muôn mặt như cuộc đời, có chân, có giả, có gian hàng bày ngọc ngà và cũng có vô số các trò múa gậy bán cao giải trí tầm phào, quay lô tô, ném vòng ống bơ trúng thưởng chó bông gấu giấy. Hiệu quả cuối cùng của nghệ thuật, những gì được lưu giữ lại trong trí nhớ, trong các bảo tàng, trong các bộ sưu tập cá nhân tốn kém tiền của nhiều như “muỗi đốt inox” thì ít có chuyện tác phẩm, tác giả “ú ớ Việt gian” lẫn vào.

Nếu là trí tuệ thật, tiên phong thật, sáng suốt trước thời đại thật, thì không thể thu hút người khác bằng quyền lực, áp đặt, lừa mỵ, ảo thuật láo lếu… mà bằng lòng bác ái giản dị, trí tuệ khỏe khoắn và cách sống vui tươi sinh động. Nhưng những thứ gia giả, giả trí tuệ, giả bác ái, giả vui tươi sinh động nó cũng bắt chước học đòi cứ như thật, và tôi kinh ngạc nhất là nó sờ sờ ra đấy mà nhiều bạn trẻ không nhận ra. Hay là thời đại này đúng là thời đại thích ăn của giả, nói đúng theo kiểu báo chí là: Hàng giả lên ngôi?

Vũ Lâm
Các bài viết trên của Tác giả Vũ Lâm đăng trên Thể Thao Văn Hóa 08/2009


Advertisements

Read Full Post »