Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười, 2009

Nhà cổ ở Huế

Tống Văn Thụy
Ảnh: Phan Gia Khánh và Lê Văn Thọ
Trích Nhà đẹp

Tháng ba, trời Huế vào xuân muộn. Có sống qua một mùa đông dài lê thê và ẩm ướt ở Huế mới thấy thêm chút nắng ấm hanh hao đầu mùa, chút hương hoa của trời đất cỏ cấy lúc giao mùa. Mời bạn cùng chúng tôi thả bộ một vòng thăm Huế.

Nét Huế đầu tiên bắt gặp có lẽ là nếp nhà. Cái ngôi nhà khung gỗ ẩn khuất trong vườn cây, nép mình sau hàng chè tàu, dâm bụt… cứ vấn vương hoài trong tôi.
Nhà cổ Huế vẫn còn đó đây ở miệt Kim Long, Nguyệt Biều, Bến Ngự, Vĩ Dạ… hay bên trong Thành Nội. Dù ở đâu, bố cục nhà cổ thường đồng nhất. Cổng chính đưa vào khuôn viên nhà thường chỉ có một lối đi (cửa phòng môn) như nhà An Hiên, Lạc Tịnh Viên…, bề thế hơn là cổng tam quan như Phủ Tuy Lý… Hai bên lối đi, chủ nhân trồng cây, hoa hoặc chè tàu. Cuối “ngõ hạnh” (chữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường) là bình phong có nhiệm vụ che chắn. Sau bình phong, điểm xuyết có bể cạn, hòn non bộ, cây cảnh và hoa trái. Khuất kín bên trong góc nhà có khi là một lu nước nhỏ, chút âm tính cần thiết để làm trôi đi những nỗi lo toan bên ngoài.
Nhà nép mình trong vườn. Phía trước vườn thưa thoáng, đằng sau thì sum suê hơn. “Chuối sau cau trước”. Hàng rào phía sau thường là khóm tre dày chắn gió.
Con người, ngôi nhà và thiên nhiên như hòa quyện vào nhau, nên chỉ ở Huế mới có câu “sống như thảo dã” và hình như người Huế cũng có óc hưởng nhàn sớm (!)
Kim Long, từ 1636 là thủ phủ của Đàng Trong. Phủ Chúa gày xưa là một trong những nơi tập trung nhiều nhà cổ mà điển hình là nhà An Hiên.
Nhà vườn An Hiên được xây dựng từ 1895 bởi ông Hường Thập (Phạm Đăng Thập), cháu bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ. Năm 1920, chủ nhân bán lại cho Tùng Lễ. Đến năm 1936, ông bà Nguyễn Đình Chi – người phụ nữa đầu tiên đỗ Tú tài Tây tại Trung Kỳ – qua đời tháng 6/1977 tại đây. Hậu duệ hiện nay của ngôi nhà là ông Nguyễn Đình Châu.
Đến thăm nhà An Hiên, nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Đến đây như đi trong thời gian xưa, trở về với hồn dân tộc. Chỉ có Huế nơi cơm đùm trong lá sen, trái ớt chẻ ra thành hoa năm cánh mới có những khu vườn như vậy…”
Sau cơn lũ dữ tháng 11/1999, “Hoa trái quanh tôi” (1) vẫn xanh tươi trong vườn An Hiên.
Rất nhiều ngôi nhà cổ Huế tập trung tại Phú Mộng, Kim Long, trông ra nhánh sông Bạch Yến (sông Lấp). Đó là nhà anh Nguyễn Văn Trọng xây dựng cách đây 76 năm, nguyên của quan tri phủ Nguyễn Văn Phú, làm quan dưới triều Khải Định. Tại nhà số 3/2 Phú Mộng, Kim Long, rất tiếc dù đã cố gắng dò hỏi nhiều lần, chúng tôi vẫn không nắm được nguồn gốc ngôi nhà này.
Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng – Huế, nhìn ra sông Bến Ngự (sông Lợi Nông) là nếp nhà tiêu biểu của nhà vườn Phủ đệ. Bốn phía nhà vườn được bao quanh bởi hàng chè tàu, cẩn, dâm bụt…
Cổng đưa vào nhà đắp nổi ba chữ Hán “Lạc Tịnh Viên”. Nhà được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 bởi Nguyễn Phúc Hồng Khẳng, con của Tùng Thiện Vương. Nằm ở trung tâm là nhà “Hy Trần Trai”, kiểu nhà rường ba gian hai chái, nền được tôn cao, thông thoáng. Nối với mái hiên “Hy Trần Trai” là “Nhà Nhân Hậu”, bốn bề không có vách, là nơi tiếp khách. Dọc hai bên là hai căn nhà xây dựng vào đầu thế kỷ 20: “Di Tâm Thích Thể Đường” (1901) và “Nhà Vấn Trai” (1910).
Đến Lạc Tịnh Viên, một trong những ngôi nhà được bảo quản tốt nhất Huế, bạn được thả mình trong cái thinh lặng, yên ả. Nếu may mắn, bạn còn được một phụ nữ, hậu duệ của Lạc Tịnh Viên, đón tiếp; nét Huế trong tà áo dài, giọng nói, phong thái khiêm cung mà đĩnh đạc…
Đến Phường Đúc, làng đúc đồng nổi tiếng ở hữu ngạn sông Hương, bạn nên ghé thăm nhà anh Nguyễn Hữu Thông, một nhà nghiên cứu văn hóa, ở số 164 Bùi Thị Xuân. Nhà vườn anh Thông phảng phất cái không khí miền trung du gò đồi Huế. Dân địa phương gọi là nhà cụ nghè Đường. Cụ là cháu nội ông Quản Lạc (Nguyễn Hữu Dược), người xây dựng ngôi nhà (1860 – 1866). Người Huế có câu “Lúa ông Khuyên. Tiền ông Quản lạc. Bạc ông Bồ Ghè” (2). Anh Nguyễn Hữu Thông là con của ông cụ nghè Đường.
Xuôi về Vỹ Dạ, đất các phủ – đệ, một trong những ngôi nhà rường được bảo quản gần như nguyên vẹn là nhà cụ Thượng Tôn Thất Gián, xây dựng muộn hơn (1937). Nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, tác giả “Ngôi vườn thế giới bên kia” (Le jardin d’autre monde) đã lớn lên từ ngôi nhà vườn nhỏ này để bước vào ngôi nhà vườn lớn hơn của vũ trụ.
Loạt phóng sự ảnh về nhà cổ Huế chỉ là một cuộc dạo chơi, một chút tìm tòi với vài nét sơ phác về ngôi nhà Huế. Có quá nhiều nếp nhà cổ xưa độc đáo, tiêu biểu mà chúng tôi chỉ mới được nghe nói chứ chưa hề đặt chân đến. Đành hẹn một chuyến du xuân sau vậy.
Huế, 15/3/2000

(H1) Cổng Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng, Huế.

(H2) “Nhà Nhân Hậu” (Lạc Tịnh Viên).

(H3) Bình phong Lạc Tịnh Viên.

(H4) Hàng hiên “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Ngôi nhà rường cổ ba gian hai chái được xây dựng trên nền cao thông thoáng, nhìn ra sông Bến Ngự.

(H5) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).

(H6) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên) xây dựng năm 1901, là nơi con cháu học hành.

(H7) Bàn thờ Phật (Lạc Tịnh Viên)
(H8) Hành hiên nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).
Lạc Tịnh Viên – Ngôi nhà của cháu Nội Vua Minh Mạng

(H9) Hàng hiên nhà “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Một trong những căn nhà rường được bảo quản tốt nhất ở Huế.
Nhà An Hiên – Từ cháu Bà Hoàng Thái Hậu đến người phụ nữa đầu tiên đỗ tú tài Tây tại Trung Kỳ

(H10) Nhà An Hiên (Kim Long) cổng vào

(H11) Mặt trước nhà

(H12) Nhà An Hiên – Bình Phong

(H13) Nhà An Hiên. Bàn thờ
(H14) Nhà An Hiên “Ngô Hạnh”

(H15) Nhà An Hiên. Phía bên trong.

(H16) Nhà An Hiên. Một góc nhà.
Nhà Thượng Thư Tôn Thất Gián

(H18) Bình phong nhà cụ Thượng Gián. Vĩ Dạ – Huế.
(H19) Một góc nhà rường Huế – Nhà Cụ Thượng Gián.

(H20) Mặt tiền nhà Cụ Thượng Gián.
(H21) Mô-típ trang trí bờ nóc. Nhà Cụ Thượng Gián.
Nhà Cụ Nghè Đường

(H22) Cổng vào nhà Cụ Nghè Đường,
nay là nhà anh Nguyễn Hữu Thông, 164 Bùi Thị Xuân – Huế.

(H23) Bên trong cổng vào
(H24) Sập gụ, bên trong nhà

(H25) Bên trong nhà.
(H26) Sân nhà
Nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú

(H27) Nhà cổ vùng Phú Mộng – Kim Long,
nay là nhà anh Nguyễn Văn Trọng

(H28) Cổng vào nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú.

(H30) Nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Tiền đường, Vì kèo Huế.

(H29) Phía trong nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Thời gian ở đây như ngừng lại.
(H31) Một góc nhà
————————–
(1) Tên bài bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về An Hiên.
(2) Ông Bồ Ghè là phiên âm tên một ông Tây, chủ hãng gạch bông ở Phường Đúc.

Tống Văn Thụy

Nguồn: Trích Nhà đẹp

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Advertisements

Read Full Post »

Bóng ma tàn hình?
 Liu Bolin, một họa sĩ Trung Quốc, có khả năng ẩn mình vào môi trường xung quanh, cho dù có phức tạp và khó khăn thế nào.
Họa sĩ 36 tuổi đến từ Sơn Đông Trung Quốc, vẽ lên khắp người mình để có thể hòa lẫn vào bất cứ thứ gì đằng sau.
Trong loạt ảnh này, Liu Bolin, khiến mình bị hòa lẫn giữa mọi thể loại môi trường…
… khi là hộp điện thoại màu đỏ…
… khi là cờ Trung Quốc…
… và thậm chí là đống gạch đổ nát sau vụ động đất.
Nhiều người đi ngang qua không nhận ra nếu như anh không cử động.
Công trình nghệ thuật của Liu bắt đầu sau khi anh tốt nghiệp ngành Hội họa và điêu khắc tại Thượng Hải.
Anh cho biết công việc của mình đòi hỏi sự nhẫn nại rất cao khi anh phải đứng tạo hình và làm việc tới 10 giờ để hoàn thành mỗi tác phẩm.
Các tác phẩm được thực hiện tại nhiều nơi trên thế giới.
Mục đích của Liu là cho mọi người thấy môi trường trong thành phố ảnh hưởng thế nào tới những người sống ở đó.
Anh nảy ra ý tưởng từ thực tế cảm thấy mình không phù hợp với xã hội hiện đại…
… và muốn giấu mình trong thành phố.
Công trình của anh nhận được nhiều lời khen ngợi từ các chuyên gia quốc tế.
“Nhiều người thích tác phẩm của tôi bởi chúng có sức mạnh thầm lặng”.
“Công trình của tôi muốn nhắc nhở cho mọi người thấy cộng đồng mà chúng ta đang sống trông như thế nào và vấn đề gì đang tồn tại”.

Diệu Minh (theo Telegraph)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

10 bảo vật quốc gia

Hồng Phúc
http://www.tuoitre.com.vn

Ngoài những giá trị văn hóa – lịch sử – khoa học tiêu biểu, đáng trân trọng là 8/10 bảo vật đều do người dân Quảng Trị tự nguyện tặng cơ quan chuyên môn.

Trong mười bảo vật này có năm bảo vật mang phong cách kiến trúc Chăm, còn lại mang phong cách kiến trúc Việt. Trong đó có những bảo vật rất tiêu biểu như tượng tròn Uma Dương Lệ. Khi nghiên cứu pho tượng này, giáo sư Lương Ninh – Viện Khảo cổ học Việt Nam – nhận xét: “Đây có thể là pho tượng tròn vào loại đẹp nhất của nghệ thuật Chăm”. Thạc sĩ Lê Đức Thọ – phó giám đốc Bảo tàng Quảng Trị – cho rằng: “Tượng Nguyễn Ư Dĩ là độc nhất vô nhị tại Việt Nam, những giá trị không đâu có được”.

Ông Lê Đức Thọ cho biết 10 bảo vật quốc gia có niên đại sớm nhất 2.500 năm, muộn nhất gần 300 năm.

Phù điêu lá nhỉ Trà Liên 1

Có niên đại từ nửa cuối thế kỷ 9, cao 1,21m, dày 20cm, đường kính đáy 1,54m, làm bằng đá sa phiến thạch. Nội dung phù điêu chạm hình thần mặt trời Surya và hai trợ thủ. Thần Surya đứng giữa, đầu đội một Kirita-mukuta hai tầng gần giống mũ của thần Visnu, toàn thân khoác áo dài kẻ sọc dày. Khuôn mặt nghiêm nghị, lông mày rậm, mũi cao, miệng rộng, hai tai đeo đồ trang sức to nặng, hai tay cầm búp sen giơ lên cao.

Hai trợ thủ ngồi hai bên phía dưới chân của thần, mỗi vị cầm một cái trượng trên tay, khuôn mặt tươi tắn, miệng rộng, môi dày. Bên dưới phù điêu có hình bảy đầu ngựa tượng trưng cho bảy ngày.

Phù điêu lá nhỉ Trà Liên 2

Có niên đại từ nửa cuối thế kỷ 10, cao 1,2m, rộng 2,1m. Nội dung của bức phù điêu thể hiện ở ba mảng. Hai mảng chính thể hiện bởi hai tượng thần Siva và Uma được chạm nổi trong hai khung hình bán nguyệt, một mảng phụ thể hiện hình tượng cây vũ trụ chạm chìm nằm ở phía trên đầu giữa hai mảng chính. Thần Siva ngồi trên một chiếc bệ, dáng thư thái, miệng hé cười, hai cánh mũi nở.

Hình tượng Uma ngồi trên bệ cao, nửa thân trên để trần lộ ra hai vú căng tròn, hai cánh tay thon thả, ở cánh tay và cổ tay có đeo vòng trang sức. Bức phù điêu hình bán nguyệt làm bằng đá sa thạch.

Bò thần Nan Din Kim Đâu

Có niên đại từ thế kỷ 10, cao 0,6×0,35m được đặt trên bệ cao 0,46×0,29m, bằng đá sa thạch. Xung quanh bệ là dải hoa văn hình cánh sen. Bò Nan Din là vật cưỡi của thần Siva và nữ thần Paravati.

Bò thần Nan Din Quảng Điền

Cao 0,52×0,34m, có niên đại khoảng cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10.

Cụm vò bán sứ Đường làng Dương Lệ

5/7 vò còn ngyên vẹn. Vò lớn nhất cao 0,57m, đường kính miệng vò 0,21m, vò nhỏ nhất cao 0,11m. Cả mặt trong và ngoài vò đều được phủ men màu vàng nhạt. Xương gốm tinh có màu trắng sữa. Cụm vò được chế tác theo phương pháp bàn xoay, có niên đại từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 10.

Trống đồng An Khê

Có niên đại cách nay 2.500 năm. Trống có tang phình, thân eo, đế thẳng, xung quanh có bốn quai, trống cao 0,26m, đường kính mặt trống 0,30m. Trên mặt trống có hình ngôi sao tám cánh và có sáu vành hoa văn được trang trí các họa tiết.

Bản khoán ước làng Phú Kinh

Bản khoán ước hình chữ nhật, dài hơn 2m, rộng 0,6m được làm bằng gỗ lim, có niên đại năm 1774. Toàn bộ khoán ước có khắc gần 5.000 chữ Hán ở mặt trước. Nội dung bản khoán ước bao gồm những qui định trong đời sống xã hội như giải quyết vấn đề phân chia ruộng đất, giáo dục, khuyến học, giữ gìn phong thủy, tang ma, cưới xin của làng.

Tượng UMa Dương Lệ

Pho tượng tròn, cao 0,65m, được làm bằng đá sa thạch, tạc nữ thần đang tọa trên bệ đài. Chân nữ thần đặt chéo lên nhau, hai tay đặt ở phần đùi trong tư thế thiền định. Đây là biểu tượng của thần Uma, vợ hay chính là hóa thân của nữ thần Siva. Tượng Uma có niên đại cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10.

Trống đồng Trà Lộc

Trống có hình dạng thân thon, đế choãi, tang phình, mặt trống được trang trí hình sao 10 cánh, xen giữa cánh sao là hình chữ V, có bảy vành hoa văn với các họa tiết như vòng tròn tiếp tuyến có chấm giữa, chim mỏ dài có mào, đuôi dài bay ngược chiều kim đồng hồ. Vòng chủ đạo mặt trống có bốn hình thuyền, chân trống choãi có năm vành hoa văn được trang trí hình bò u nổi, hình chấm dải. Trống có niên đại cách nay 2.500 năm.

Tượng Nguyễn Ư Dĩ

Tượng được đúc dưới thời chúa Nguyễn, cao 0,62m, phần vai rộng 0,30m. Nhân vật được tạc tượng là Nguyễn Ư Dĩ – cậu ruột chúa Nguyễn Hoàng. Nguyễn Ư Dĩ là người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn xây dựng cơ đồ ở Đàng Trong, nhất là thời gian 68 năm của chúa Nguyễn Hoàng đóng dinh ở đất Quảng Trị.
Tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ được đặt một nơi không an toàn, đã hai lần bị kẻ xấu lấy cắp. Người dân làng Trà Liên, xã Triệu Giang phải dùng máy rà kim loại rà tìm mất mấy ngày, cuối cùng phát hiện bức tượng bị kẻ xấu chôn ở bờ sông Thạch Hãn. Có lẽ kẻ xấu đợi đêm xuống bỏ lên thuyền chở đi tiêu thụ vì bức tượng nặng mấy tạ, không gánh đi xa được.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

TRÀ LUẬN phần III: Mối liên kết giữa Thiền với trà

III. Lão giáo và Thiền tông

Mối liên kết giữa Thiền với trà trở thành ngạn ngữ. Chúng tôi từ lâu ghi nhận rằng trà nghi là sự phát triển của Thiền nghi . Tên tuổi của người khai lập ra Lão giáo, Lão Tử, gắn bó mật thiết với lịch sử trà. Trong sách giáo khoa của Trung Hoa có viết về nguồn gốc phong tục và tập quán dâng trà mời khách bắt đầu từ Quan Duẫn, danh đồ của Đức Lão Tử, người đầu tiên dâng lên cho “Lão Triết Nhân” chén linh dược màu hoàng kim. Cố nhiên câu chuyện có giá trị và chúng ta sẽ còn bàn luận nhiều về tính xác của những câu chuyện như thế, nhưng dù sao nó khẳng định các đạo gia đã sớm biết dùng thứ thức uống này. Mối quan tâm của chúng tôi về Đạo học và Thiền học chủ yếu nằm ở chỗ liên quan đến cuộc sống và nghệ thuật, hai thứ hóa thân vào thứ mà chúng tôi gọi là Trà đạo.

Tiếc rằng vẫn chưa có cuốn sách ngoại ngữ nào trình bày thích đáng triết thuyết của Lão học và Thiền học, dù rằng chúng ta đã có nhiều cố công đáng ca ngợi.

Như một tác giả đời Minh nhận xét: Dịch thuật luôn là sự phản bội, dù dịch hay đến đâu nó cũng chỉ là mặt trái của một tấm gấm; vẫn thấy còn đầy đủ tơ sợi nhưng mất đi kiểu cách và màu sắc. Nhưng nói cho cùng, có triết thuyết vĩ đại nào dễ thuyết trình đâu? Thánh nhân thời xưa chẳng bao giờ đem lời dạy của mình viết thành sách có hệ thống. Các Ngài chỉ nói theo lối nghịch biện vì e rằng rằng sẽ thốt ra chân lý nửa vời. Thoạt nghe các Ngài nói tưởng đấy là mấy người điên, nhưng cuối cùng các Ngài làm những người nghe thành thánh hiền. Với tính khí cổ quài, Lão Tử nói: “Kẻ hạ trí nghe Đạo thì cười to. Không cười to sao gọi là Đạo được”.

Thiền trà

Dịch sát nghĩa chữ Đạo có nghĩa là ”Lối Đi” (Path). Đạo lại được dịch thành nhiều từ khác như “Con Đường” (Way), “Tuyệt Đối Tính” (Absolute), “Qui Luật” (Law), “Tự Nhiên” (Nature), “Lý Tính Tối Thượng” (Supreme Reason), “Phương Thức” (Mode). Không phải những từ này đều sai cả vì cách dùng từ của các đạo gia có khác biệt nhau tùy theo chủ đề-đối tượng đòi hỏi. Chính Lão Tử cũng từng dùng chữ Đạo như thế này: “Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng (vô thanh) trống không (vô hình), đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn bất biến), vạn hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết nó tên là gì, tạm đặt tên nó là Đạo, miễn cưỡng gọi nó là lớn (vô cùng). Lớn (vô cùng) thì lưu hành (không ngừng), lưu hành (không ngừng) thì đi xa, đi xa thì trở về (qui căn).” . Đạo ở đây hàm nghĩa “con đường” hơn là “lối đi”. Đạo chính là Tinh Thần Thường Biến của vũ trụ, vĩnh hằng sinh trưởng để rồi quay về chính nó để sản sinh ra cái mới. Đạo cuộn mình lại như con rồng, một biểu tượng được ưa thích của các đạo gia. Đạo thu lại rồi trương ra như những đám mây. Có thể nói Đạo là sự Biến Chuyển Vĩ Đại. Chủ quan mà nói Đạo là Tính Khí của Vũ Trụ. Sự Tuyệt Đối của Đạo là Tương Đối.

Trước hết nên ghi nhớ rằng Lão giáo, cũng như dòng kế thừa chính thức của nó là Thiện tông, đại diện chu xu thế cá nhân chủ nghĩa của tinh thần miền Hoa Nam, đối chọi lại vớii chủ nghĩa cộng đồng của miền Hoa Bắc, lấy Nho giáo làm tiêu biểu. Trung Hoa rộng lớn như Châu Âu và có sự phân hóa về phong cách sống của từng miền, lấy hai con sông lớn làm mốc ranh. Dương Tử Giang và Hoàng Hà lần lượt được ví như Địa trung Hải và Biển Ban-tích. Thậm chí cho đến ngày nay, dù đã thống nhất hàng thế kỷ, tư tưởng và tín ngưỡng miền Hoa Nam vẫn khác biệt với miền Hoa Bắc, chẳng khác nào sự khác biệt giữa chủng tộc La-tinh với chủng tộc Teuton. Ngày xưa, khi việc giao thương còn khó khăn hơn so với ngày nay, và đặc biệt vào thời kỳ phong kiến, sự khác biệt về tư tưởng còn nổi bật hơn nhiều. Nghệ thuật và thi ca của mỗi miền thực sự có một hơi thở khác hẳn nhau. Với Lão Tử và các môn đồ và với Khuất Nguyên – người tiên phong cho trường phái Thi Nhân Tự Nhiên của vùng Dương Tử Giang, chúng ta thấy có một ý thức hệ khá trái ngược nhau với những khái niệm luân lý dung tục của những ngòi bút Hoa Bắc đương thời. Lão Tử sống vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên.

Mầm mống nảy sinh sự tư biện Lão giáo đã có trước khi Lão Tử (biệt danh Trường Nhĩ: Tai Dài) giáng thế từ lâu lắm rồi. Các thư tịch cổ của Trung Hoa, đặc biệt là Kinh Dịch, là điềm báo trước sự xuất hiện tư tưởng của Lão Tử. Nhưng lòng thượng tôn to lớn vào luật pháp và tập quán của nền văn minh Trung Hoa vào thời của kinh điển, cao điểm là sự hình thành nhà Chu vào thế kỷ thứ 16 trước Công Nguyên, đã kiềm chế sự phát triển chủ nghĩa cá nhân một thời gian dài; dài đến mức mãi đến khi nhà Chu bị phân rã và hình thành nhiều vương quốc độc lập khác nhau chủ nghĩa cá nhân mới có thể nở rộ trong lòng sum sê của tự do tư tưởng . Lão Tử và Trang tử đều là người Hoa Nam, hai đại biểu lớn nhất của Trường phái (Tư duy) Mới. Mặt khác, Khổng Tử với đông đảo môn đồ của Ngài nhắm vào bảo lưu các quy ước của tổ tiên. Không thể hiểu được Lão giáo nếu thiếu kiến thức về Nho giáo, và ngược lại.

Chúng ta đã nói Tuyệt Đối Tính của Lão giáo là Tương Đối Tính. Xét về mặt luân lý, các đạo gia khinh bỏ luật pháp và điển chế luân lý của xã hội, vì đối với họ ‘đúng’ hay ‘sai’ chỉ có tính tương đối. Định nghĩa luôn có giới hạn của nó – “Cố định” hay “Bất biến” chỉ là thuật ngữ biểu thị sự dừng lại của phát triển. Khuất Nguyên nói: “Thánh nhân qua lại trong cõi nhân gian”. Các chuẩn mực đạo đức của chúng ta được sinh ra do nhu cầu xưa kia của xã hội, nhưng xã hội có y nguyên như trước đâu? Tuân thủ truyền thống cộng đồng buộc thường hằng hy sinh cá nhân cho đất nước. Để gìn giữ ảo tưởng phi thường đó, nền giáo dục cổ vũ những hạng người ngu muội. Dân chúng không được dạy dỗ để thành người có đạo đức đúng nghĩa, mà trở thành người thích hợp (với định chế xã hội). Chúng ta hung ác vì chúng ta tự tri tự giác kinh khủng quá. Chúng ta nuôi mớm lương tâm vì chúng ta sợ phải nói sự thật cho kẻ khác; chúng ta trú mình vào tự tôn vì chúng ta sợ phải thú thật với chính mình. Làm sao có được người sống nghiêm túc với thế gian trong khi thế gian là lố bịch! Óc đổi chác có mặt khắp nơi. Danh dự và trinh tiết! Này người bán hàng tự mãn mình bán đồ Tốt và đồ Thật. Nhưng ai mua được cái gọi là Tôn giáo, mà thực ra đó chỉ là thứ đạo lý thường tục được thần thánh hóa bằng hoa và âm nhạc. Tước đi những thứ phụ thuộc của Giáo hội thì thử xem nó còn lại gì? Thế nhưng lòng tin vẫn nảy nở diệu kỳ, vì giá cả rẻ một cách phi lý, mỗi lời cầu nguyện là một vé lên thiên đàng, một chứng chỉ cho người công dân danh dự. Mau ẩn mình dưới cái đấu đi, vì nếu sự hữu dụng của bạn lộ ra trước bàn dân thiên hạ, bạn sẽ sớm bị hạ gục bởi sự ngã giá cao nhất của người tổ chức bán đấu giá. Tại sao con người, đàn ông lẫn đàn bà, thích quảng cáo mình nhiều đến thế? Phải chăng đó chỉ là bản năng nảy sinh từ thời còn nô lệ?

Khí lực của một ý tưởng ít nằm ở sức mạnh bẻ gãy tư tưởng đương thời hơn là chế ngự được các trào lưu hậu lai của nó. Lão giáo là một hoạt lực suốt triều đại nhà Tần, thời mà Trung Hoa được thống nhất mang lại tên gọi China. Chúng ta từng ghi chú Lão giáo có luồng ảnh hưởng được các tư tưởng gia đương thời quan tâm; đó là các nhà toán học, các cây bút viết về pháp gia và binh gia, các nhà thần bí học và các thuật sĩ luyện đan, và sau nữa là các thi nhân theo phái Tự nhiên của vùng Dương Tử Giang. Không phải chúng ta không biết đến những tay tư biện luận về Thực tại, những tay này ngờ vực hoặc giả con ngựa trắng là sự thực vì sắc lông nó trắng hoặc giả vì nó cứng đặc; hay những tay theo thuyết Thanh đàm của thời Lục triều, những tay này sôi nổi bàn về Thanh Khiết và Trừu Tượng như các triết nhân thiền học. Vượt lên trên hết, chúng ta nên tỏ lòng tôn kính Lão giáo vì điều nó đã làm khiến cho Thiên Quốc Trung Hoa hình thành nét riêng của mình, mang lại cho đất nước này một khả năng nhất định để dè dặt và tinh tế như “hơi ấm của ngọc bích” vậy. Lịch sử Trung hoa ngập đầy những trường hợp sùng tín Lão giáo, các vương tôn hay ẩn sĩ cũng như nhau, đều noi theo lời dạy của các tín điều và thu hái được nhiều kết quả bổ ích và đa dạng. Câu chuyện không là gì nếu không có phần răn dạy và dí dõm. Nó phong phú những giai thoại, lời phúng dụ, và châm ngôn. Chúng ta vui thú được đàm đạo với vị Hoàng Đế được bất tử vì chưa hề được sinh ra. Chúng ta có thể cỡi gió bay theo Liệt Tử và thấy rằng gió tuyệt đối bình lặng vì chính chúng ta là gió, hay trú mình giữa không trung cùng Hoàng Hà Lão Tổ, người nằm giữa Trời và Đất vì chẳng lệ thuộc vào Đất hay Trời. Ngay trong lời biện giải kệch cỡm cho Lão giáo ấy chúng ta cũng tìm thấy một đất nước Trung Hoa đương đại, chúng ta có thể say sưa trong sự trù phú của trí tượng tưởng mà chẳng tìm thấy trong đạo nào khác.

Hưng đóng góp chính của Lão giáo cho đời sống Á Châu lại nằm ở lãnh vực mỹ học. Sử gia Trung Hoa luôn nói Lão giáo như là “nghệ thuật sống ở cõi trần gian”, vì tôn giáo này giải quyết vần đề hiện tại-tự thân chúng ta. Thượng đế hội ngộ với Thiên nhiên ngay trong chúng ta, và ngày hôm qua tách lìa khỏi ngày mai. Hiện tại là Vô Tận đang chuyển động, phạm vi chính thức của Tương Đối. Tương Đối Tính truy tìm sự Điều Chỉnh, sự Điều Chỉnh là Nghệ Thuật. Nghệ thuật sống nằm ở chỗ thường xuyên tái điều chỉnh với ngoại cảnh chung quanh chúng ta. Lão giáo chấp nhận trần tục như thứ vốn có và chẳng như Nho giáo và Phật giáo, Lão giáo cố tìm được cái đẹp ngay trong thế giới nguyện ước và âu lo của chúng ta. Câu chuyện ngụ ngôn đời Tống về ba người nếm giấm giải thích tuyệt diệu xu hướng của ba học thuyết. Thích-ca Mâu-ni, Khổng Tử và Lão Tử cùng đứng trước một hũ giấm – biểu tượng của cuộc đời – và từng người nhúng ngón tay vào đó để nếm. Thực tế thấy Khổng Tử thấy chua, Phật bảo là đắng, và Lão Tử thốt lên khen ngọt


Các đạo gia quả quyết rằng tấn hài kịch nhân sinh có thể trở nên thú vị hơn nếu mọi người biết kết thành một mối. Muốn giữ cho muôn vật hài hòa và nhường chỗ cho kẻ khác mà chẳng lo mất địa vị của mình chính là bí quyết thành công trong tấn tuồng thế tục. Chúng ta cần thuộc hết vở kịch mới mong thủ diễn thích đáng vai tuồng của mình; khái niệm toàn cục phải chẳng bao giờ bị mất đi trong từng cá thể. Đó là ẩn dụ đắc ý của Lão Tử dùng minh họa cho hư vô. Ngài cho rằng chân bản chất chỉ tồn tại trong hư vô. Lấy ví dụ thực thể một căn phòng là một khoảng không gian trống rỗng có tường bao quanh và trên lợp mái, chứ không phải tường và mái là căn phòng. Công dụng của bầu nước nằm ở chỗ nó trống rỗng để rót nước vào, chứ không phải hình dáng chiếc bầu hay vật liệu làm ra nó. Hư không là toàn năng vì mọi thứ chứa trong nó. Ai có thể tự biến mình thành hư không để người khác tự do thâm nhập vào là người làm chủ được mọi tình thế. Cái toàn thể luôn có thể chi phối bộ phận.

Các ý tưởng này của đạo gia có ảnh hưởng to lớn đến các lý thuyết mang tính hành động, đến cả kiếm thuật và đấu vật của chúng tôi. Nhu thuật (Jiu-jitsu), môn võ tự vệ của Nhật Bản, được đặt tên như thế là dựa vào một đoạn trong Đạo Đức Kinh. Trong nhu thuật, người ta tìm cách kéo dài thời gian và vắt kiệt sức đối thủ bằng cách bất đối kháng (gọi là hư vô), trong khi đó cố giữ sức của mình chờ giành chiến thắng trong lượt đấu cuối cùng. Trong nghệ thuật, điều quan trọng của cùng nguyên lý trên được minh họa bằng giá trị gợi ý. Khi đưa ra điều gì thì không bộc lộ ra, cứ để người thưởng thức có cơ hội hoàn thiện ý tưởng và như vậy một kiệt tác lớn thu hút sự chú ý của bạn đến mức không thể kháng lại được mãi đến lúc bạn cảm thấy như mình là một phần của kiệt tác. Ở đó có một khoảng hư không để bạn đi vào và lấp cho đầy bằng mọi cảm xúc thẩm mỹ của bạn.

Ai biết làm cho mình trở thành bậc thầy trong nghệ thuật sống, người đó được các đạo gia coi là “chân nhân”. Khi mới chào đời, người đó bước chân vào mộng giới và đến khi chết mới tỉnh mộng. Người đó kiềm hãm sự xán lạn của riêng mình để hòa nhập vào nơi tối tăm của kẻ khác. Người đó tỏ ra “miễn cưỡng như kẻ phải vượt qua dòng nước vào mùa đông, do dự như người sợ kẻ láng giềng, trân trọng như một người khách, run rẫy như tuyết bắt đầu tan, khiêm tốn như miếng gỗ chưa tạc; trống vắng như thung lũng; vô dạng như làn nước bị khuấy động”. Với người ấy ba thứ báu vật trên đời là lòng thương xót, tính cần kiệm và hạnh khiêm tốn.

Bây giờ chúng ta chuyển sang Thiền học, chúng ta sẽ thấy lời dạy của Lão giáo được cường điệu trong nó. Thiền là từ có gốc từ tiếng Phạn Dyana (thiền na) có nghĩa là trầm tư. Thiền đòi hỏi phải dồn hết vào trầm tư mới hầu đạt được cái Tâm Vô thượng của mình. Trầm tư (tức Định) là một trong sáu hướng đi đến cảnh giới Phật, và các thiền phái khẳng định Đức thích-ca Mâu-ni dành ý nghĩa đặc biệt của thiền cho những lần thuyết pháp sau cuối, truyền thừa giáo pháp này cho đại đệ tử Ma-ha Ca-diếp. Theo truyền thuyết thiền tông, Ca-diếp là tổ thứ nhất truyền lại mật pháp cho A-nan-đà, và các tổ nối nhau truyền thừa đến đời của Bồ-đề Đạt-ma, tổ thứ 28. Bồ-đề Đạt-ma đi sang Hoa Bắc vào nửa đầu thế kỷ thứ 6 và trở thành tổ thứ nhất của Thiền Trung Hoa. Lai lịch và giáo pháp của các vị tổ này đều mơ hồ. Về mặt triết học, dường như thiền học một mặt gần gủi với thuyết phủ định Ấn Độ của Nagarjuna và mặt kia là là triết học Gnan của Sancharacharya. Giáo pháp đầu tiên của thiền mà nay được biết được gán cho Lục tổ Huệ Năng (637-713), người sáng lập ra Thiền Nam Tông; gọi như vậy vì dòng thiền này chiếm ưu thế vùng Hoa Nam. Truyền thừa của Huệ Năng là Mã Tổ (mất năm 788) người làm thiền có ảnh hưởng sinh động ở Trung Hoa. Bách Trượng (719-814) là đệ tử của Mã Tổ, người đầu tiên lập ra thiền viện và xây dựng Thanh Qui để quản lý thiền viện. Sau thời của Mã Tổ, trong tranh luận về thiền tông chúng ta thấy có vai trò của tinh thần Dương Tử Giang khiến cho nó có sự bổ sung cách tư duy bản địa và tương phản lại chủ nghĩa lý tưởng Ấn Độ lúc ban đầu. Dẫu cho có lòng tự tôn giáo phái thế nào đi nữa cũng không thể phủ nhận Thiền Nam Tông có nét tương đồng với giáo lý của Lão Tử và phái Thanh Đàm của Lão giáo. Trong Đạo Đức kinh chúng ta từng thấy ẩn ý nói đến tầm quan trọng của việc tập trung tinh thần và điều tiết hơi thở; đấy cũng là những điểm cốt lõi trong thực hành thiền định. Một số cuốn bình chú về Đạo Đức kinh hay nhất lại do các học giả thiền viết nên.

Cũng như Lão giáo, thiền học tôn thờ Tính Tương Đối. Một bậc tôn sư định nghĩa thiền như là thứ nghệ thuật cảm nhận thấy sao Bắc đẩu ở phía trời nam. Chân lý chỉ có thể đạt tới khi đã xuyên suốt qua lối hiểu trái ngược. Lại cũng như Lão giáo, thiền học là người biện hộ mạnh mẽ cho chủ nghĩa cá nhân. Chẳng có gì là thực cả ngoại trừ thứ đang hoạt động trong tâm của chúng ta. Một hôm, Lục Tổ Huệ Năng thấy hai tăng sĩ nhìn lá phướn của chùa tung bay trong gió. Một người nói: “Gió động”, và người kia bảo: “phướn động”, nhưng Huệ Năng giải thích cho họ chẳng phải gió động cũng chẳng phải phướn động, mà là cái gì đó trong tâm hai người động. Bách Trượng hành cước vào rừng cùng với một đệ tử, bất chợt một con thỏ rừng thấy hai người tiến lại vụt bỏ chạy. Bách Trượng hỏi: “Vì sao con thỏ vụt bỏ chạy trốn?”. Câu trả lời của người đệ tử là: “Vì nó sợ con”. Bách Trượng nói: “Không phải, vì chúng ta có bản năng sát sanh.”. Mẫu đối thoại này làm chúng ta nhớ đến Trang Tử, một đạo gia. Một hôm Trang tử đi bách bộ trên bờ sông với một người bạn. Trang Tử thốt lên: “Mấy con cá bơi lội trong nước có vẽ thích thú làm sao!”. Người bạn nói lại Trang tử như vầy: “Ông không phải là cá sao biết cá thích thú?”. Trang Tử bẽ lại: ‘Ông không phải là tôi sao biết tôi không biết cá thích thú?”

Thiền thường đối chọi lại các giáo luật của Phật giáo chính thống, chẳng khác nào Lão giáo đối chọi lại Nho giáo. Với trí huệ siêu việt của thiền, ngôn ngữ chỉ là sự phiền toái cho tư duy, toàn bộ Kinh Phật chỉ là lời bình chú cho suy cứu cá nhân thôi. Thiền gia trực tiếp nhắm hướng vào sự đồng cảm trực tánh bên trong sự vật, xem những thứ bám bên ngoài là trở ngại trong việc nhận thức sáng suốt chân lý. Chính tình yêu đối với trừu Tượng đó đã lèo lái thiền ưa chuộng tranh thủy mặc hơn là những bức họa nhiều màu sắc của các môn phái Phật giáo kinh điển. Đến mức một số thiền gia bài trừ thánh tương như là thứ quả hạnh kiến tánh ngay chính trong con người của mình, cho rằng thà vậy còn hơn là tôn thờ hình tượng hay biểu tượng. Chúng ta thấy có một Đan Hà Hòa Thượng (Tankawosho) đập vỡ bức tượng Phật bằng gỗ vào một ngày mùa đông để nhóm lửa. Một người trông thấy hoảng vía nói: “Mang tội chết!”. Thiền sư này vẫn bình thản, nói: “Tôi muốn lấy xá lợi từ tro của pho tượng này!”. Người kia đâm ra giận dữ nói: “Làm gì mà có xá lợi trong pho tượng đó!”. Thiền sư này đáp lại: “Nếu không có xá lợi thì đâu phải là Phật, vậy tôi có tội gì đâu.”. Rồi thiền sư quay trở lại việc sưởi ấm với ngọn lửa.

Đóng góp đặc biệt của thiền cho tư tưởng Phương Đông là thừa nhận thế tục và tâm đạo đều quan trọng như nhau. Thiền cho rằng mối quan hệ to lớn của các sự vật chính là sự không phân biệt to nhỏ, một nguyên tử cũng có khả năng ngang bằng với vũ trụ. Người đi tìm sự hoàn thiện phải khám phá ngay trong cuộc sống của riêng mình tia phản chiếu của nội tâm. Về quan điểm này, tổ chức của thiền viện mang rất nhiều ý nghĩa. Ngoại trừ vị chủ trì, mỗi người trong thiền viện được giao một công việc đặc biệt trông nom thiền viện, và khá kỳ thú là các sa di mới tu tập được giao việc nhẹ nhàng trong khi tăng sĩ càng cao thâm càng nhận những phận sự nặng nề và hèn hạ hơn. Làm việc là một phần môn quy của thiền và dù là một việc cỏn con cũng phải làm cho tuyệt đối hoàn hảo. Như thế nhiều nghi tình trọng yếu nảy ra trong khi làm cỏ vườn, gọt củ cải, hay phục vụ trà. Tất cả lý tưởng của Trà đạo là kết quả của nhận thức thiền về điều to lớn trong những sự cố nhỏ bé của cuộc sống. Lão giáo cung cấp nền tảng cho các lý tưởng mỹ học, còn thiền thì đưa chúng vào thực hành.

 

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

TRÀ LUẬN phần II: Các trường phái trà

Trà là một tác phẩm nghệ thuật và cần đến bàn tay bậc thầy mới bộc lộ ra hết phẩm chất cao quý của trà. Có chén trà ngon, có chén trà dở; cũng như có bức tranh đẹp, có bức tranh xấu vậy, thường là xấu dở mà thôi. Không hề có lấy một cách thức phá chế nào để làm ra loại trà hoàn hảo; cũng như chẳng có quy tắc nào dùng để sản sinh ra nhân vật Titian hay Tuyết Thôn (Sesson). Mỗi cách pha chế trà mang một đặc thù riêng của nó, chung nhất của các cách pha chế chỉ là nước và lửa, nhưng riêng từng phương pháp có câu chuyện riêng của nó. Nét đẹp thật sự luôn ở bên trong nó. Chúng ta phải gánh chịu bao nhiêu qua sự thất bại thường hằng của xã hội để nhận biết quy luật đơn giản và cơ bản của nghệ thuật và nhân sinh; Lý Chi lai, một thi nhân đời Đường, buồn rầu mà nhận xét có ba điều đáng trách nhất trên thế gian: sự hư hỏng của tuổi trẻ hoa gấm do nền giáo dục tồi, sự mất giá của mỹ thuật do sự chiêm ngưỡng dung tục, và sự hoang phí tột cùng của món trà ngon do bàn tay chế biến kém tài.

Chẳng khác chi nghệ thuật, trà cũng có thời và có trường phái. Thô thiển có thể chia sự tiến hóa của trà làm ba giai đoạn: trà nấu (đoàn trà), trà khuấy (mạt trà), và trà ngâm (yêm trà, tiển trà). Hiện nay chúng ta dùng lối uống trà cuối. Bao nhiêu lối thưởng giám thức uống chỉ ra bấy nhiêu tinh thần của thời đại của cách thức được ưa chuộng. Vì cuộc sống là một sự biểu hiện, các hành động vô thức của chúng ta thường bội phản lại tư duy thầm kín nhất của chúng ta. Đức Khổng Tử từng nói: “Con người chẳng ai giấu diếm được gì cả”. Có lẽ chúng ta để lộ ra quá nhiều việc cỏn con vì chúng ta có quá ít điều trọng đại cần che đậy. những sự cố bé tí của lề thói hàng ngày bị bình phẩm về lý tưởng nòi giống nhiều chẳng kém những ý tứ cao tột của triết học hay thi ca. Ngay việc lối hái nho nào được ưa chuộng cũng ghi dấu đặc trưng tách biệt của thời đại và dân tộc tính ấy ở Châu Âu; vậy nên lý tưởng trà cũng đặc trưng cho nhiều tâm tính đa dạng của nền văn hóa Á đông. Trà bánh dùng để nấu, mạt trà dùng để khuấy, trà lá dùng để ngâm đánh dấu những xung cảm dị biệt của các triều đại Đường, Tống, Minh của Trung Hoa. Nếu chúng ta hạ mình đi vay mượn bộ thuật ngữ quá lạm của môn phân loại học nghệ thuật, chúng ta có thể lần lượt gọi chúng với tên là trường phái trà cổ điển, lãng mạn và tự nhiên..

trakinh-1

Cây trà là loài bản địa vùng Hoa Nam, được ngành thực vật và y học Trung Hoa biết đến rất sớm. Thời cổ điển nó được người ta gọi bằng nhiều tên như đồ (荼), thiết, (蔎), thuấn (荈), giả (檟) và minh (茗); trà có giá trị cao bởi có tính năng hồi phục sức khỏe, làm tâm hồn thư thái, tăng mạnh ý chí, và giúp tăng thị lực. Chẳng những được dùng làm thuốc uống bên trong, trà còn được dùng ngoài dưới dạng cao dán làm giảm cơn đau phong thấp Đối với các đạo gia, trà là một vị thuốc dùng chế linh dược trường sinh. Giới tăng lữ dùng trà chủ yếu phòng trường hợp rơi vào hôn trầm khi ngồi thiền định suốt nhiều giờ.

Trong khoảng thế kỷ thứ 4 và thứ 5, trà trở thành loại thức uống được ưa chuộng của cư dân vùng thung lũng sông Dương Tử Giang. Vào thời kỳ này chữ tượng ý ‘trà’ (茶) xuất hiện; hẳn nhiên do chữ ‘đồ’ trước đó dùng chệch ra mà thành. Thi nhân các triều đại miền Hoa Nam lưu lại vài vết tích chứng tỏ lòng tôn sùng nhiệt thành của họ đối với “bọt của thứ chất lỏng màu ngọc bích”. Thời ấy các hoàng đế thường dùng trà ban thưởng cho các đại thần. Dù vậy, phương pháp uống trà thời đó vẫn còn hết sức thô lậu. Lá trà được hấp lên, nghiền nát trong cối, nắn lại thành bánh và đem nấu chung với gạo, gừng, muối, trần bì, gia vị, và đôi lúc với cả hành nữa! Tập quán nấu trà với các chất liệu đó thành món si-rô kỳ cục như thế hiện còn thấy ở Tây Tạng và một vài bộ tộc Mông Cổ. Thói quen uống trà với vài lát chanh của người Nga là do họ học ở những đoàn thương lữ Trung Hoa, đó là vết tích phương pháp cổ xưa hiện còn sót lại.

Sau nhờ thiên tài của đời nhà Đường trà mới được giải phóng khỏi trạng thái thô thiển và đi đến tình trạng lý tưởng hóa cùng cực. Đến giữa thế kỷ thứ 8, chúng ta mới có vị tông đồ đầu tiên của Trà đạo: Lục Vũ. Ông sinh ra vào thời Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo đang đi tìm một sự đồng nguyên. Chủ nghĩa tượng trưng phiếm thần thời đó cũng đang thôi thúc đi tìm sự phản chiếu cái ‘Phổ biến’ trong cái ‘Đặc thù’. Lục Vũ lúc ấy là một thi nhân và ông nhìn thấy trong bộ đồ trà vừa có sự hài hòa vừa có tính trật tự, hai thứ đó ngự trị khắp muôn vật. Trong tác phẩm trứ danh của ông, cuốn Trà Kinh, ông đã xây dựng nên pháp điển về trà. Từ đó ông được thờ cúng như một vị hộ thần của những thương nhân buôn trà Trung Hoa.

Trà Kinh chia làm ba quyển với 10 thiên. Thiên đầu Lục Vũ bàn về tính chất cây trà, thiên thứ hai nói về dụng cụ hái lá, thiên thứ ba nói về việc tuyển chọn lá. Theo ông, lá trà có chất lượng tốt nhất phải “nhăn nheo như chiếc ủng da người kỵ binh Thát đát, quăn queo như cái yếm bò mộng, nở ra thì trương như hơi sương bốc lên từ khe núi; lóng lánh như gió hiu hiu vờn mặt nước hồ, ẩm và mềm như đất tốt vừa tắm gội cơn mưa”

Thiên bốn liệt kê và mô tả 24 thứ dụng cụ làm trà (trà khí), đầu tiên là cái lò ba chân và kết thúc là cái buồng tre chứa những khí cụ này. Chúng ta ghi nhận ở thiên này lòng ưa thích của Lục Vũ đối với chủ nghĩa tượng trưng của Lão giáo. Và cũng thú vị nhìn thấy trong mối liên kết đó phản ảnh uy thế của trà đối với nghề gốm sứ Trung Hoa. Như đã biết, gốm sứ của Thiên Quốc có cội nguồn từ việc thử tạo ra loại men sứ có nước bóng tinh khéo của ngọc bích; kết quả là vào đời nhà Đường người Hoa Nam tạo ra nước men lam, còn người Hoa Bắc làm được nước men trắng. Lục Vũ cho rằng màu lam là màu lý tưởng làm chén uống trà vì nó làm tăng thêm màu lục của thức uống này; trong khi màu trắng làm trà hồng đi và mất ngon. Đó là vì thời ông dùng trà bánh. Về sau, khi các bậc thầy đời Tống dùng mạt trà, họ ưa dùng loại chén to nặng có màu xanh đen hay nâu sậm hơn. Qua đời Minh trà ngâm được chuộng, loại chén sứ nhẹ màu trắng quay trở lại.

Thiên năm Lục Vũ mô tả phương pháp chế trà. Ngoại trừ muối, ông loại bỏ đi tất cả các phụ liệu. Ông bàn nhiều đến việc lựa chọn nước nấu trà và độ sôi của nước. Theo ông, nước sơn tuyền (suối trên núi) là tốt nhất, sau đó là nước sông rồi mới đến nước ngòi. Độ sôi của nước chia làm ba cấp độ: độ sôi thứ nhất có bọt khí trông như mắt cá đang bơi trên mặt nước, độ sôi thứ hai bọt khí trông giống như hạt châu lăn trong dòng nước, và độ sôi thứ ba khi bọt khí tạo thành sóng sùng sục trong ấm. Trà bánh được hong trước lửa cho đến khi mềm như cánh tay hài nhi và được đặt giữa hai tờ giấy mịn nghiền vụn ra. Lần sôi thứ nhất cho muối vào, lần sôi thứ hai bỏ trà vào. Qua lần sôi thứ ba rót vào ấm trà một muôi nước lạnh để ‘trấn’ trà và hồi phục lại ‘nguyên khí’ cho nước. Thế là trà đã sẳn sàng để rót ra ly và uống. Ôi cam lộ! Chiếc lá con mỏng manh như những gợn mây lăn tăn treo trên bầu trời quang thanh hay như loài súng phập phù trên dòng nước màu lục bảo. Đó là món nước uống được Lô Đồng, một thi sĩ đời Đường, viết: “Chén thứ nhất thấm ướt môi họng; Chén thứ hai phá tan niềm cô quạnh; Chén thứ ba tưới thắm lòng dạ khô cằn và nảy lên muôn ngàn ý văn; Chén thứ tư thấm nhấp mồ hôi, mọi xấu xa cuộc đời theo lỗ chân lông trôi ra; Chén thứ năm thấu lòng thanh tịnh; Chén thứ sáu đưa ta vào cõi thần tiên; Chén thứ bảy, A, ta không nhấp được nữa! Ta thấy một làn gió mát thổi vào tay áo. Bồng Lai nơi nào? Cho ta cỡi làn gió mát bay đến đó đi ”.

Những thiên còn lại của Trà Kinh bàn về sự thông tục trong các phép uống trà, sơ lược các ẩm khách danh tiếng uống trà, những vườn trà nổi tiếng xứ trung Hoa, các biến thể có thể của các bộ đồ trà và hình minh họa các món trà cụ. Thiên cuối cùng đã bị thất lạc.

Sự ra đời cuốn Trà Kinh hẳn gây một sự chấn động đương thời. Thái Tông Hoàng Đế (763-779) thời đó biệt đãi Lục Vũ, và tên tuổi ông đã thu hút nhiều người xin làm môn sinh. Một số tài tử nói rằng họ có thể nếm biết trà nào do Lục Vũ pha, trà nào do môn đồ của ông thực hiện. Lại có chuyện nói về một viên quan mà danh tính trở nên bất tử chỉ vì không sao buông lời tán thưởng được hương vị trà của bậc đại danh sư trà Lục Vũ.

tuongLucvu

Mạt trà trở nên thời thượng vào triều đại nhà Tống và nhờ vậy dựng nên trường phái trà thứ hai. Lá trà được xay mịn ra bằng cối đá, cách pha chế là ngâm trong nước nóng và dùng thanh tre (gọi là trà tiển) để khuấy. Qui trình pha chế mới này làm thay đổi một số món trà khí của Lục Vũ, cũng như cách tuyển lá trà của ông. Muối mãi mãi không còn dùng pha trà nữa. Lòng nhiệt thành của người đời Tống đối với trà quả vô bờ bến. Các tài tử đua nhau tìm giống trà mới, và đều đặn mở hội thi tài cao thấp. Huy Tông Hoàng Đế (1101-1124), một vị vua tốt đồng thời cũng là một nghệ sĩ đại tài, chi tiêu hoang phí biết bao tiền của của quốc khố để tìm những giống trà quý hiếm. Hoàng Đế này viết một cuốn sách luận về hai mươi giống trà ngon, trong số đó vua tán thưởng “bạch trà” là giống quý hiếm nhất và hương vị thơm ngon nhất.

Nhân sinh quan của người đời Tống có khác người đời Đường nên lý tưởng trà của họ cũng chẳng giống nhau. Họ hiện thực hóa điều mà bậc tiền bối của họ cố tượng trưng hóa. Với tinh thần Tống Nho , quy luật của vũ trụ được không phản ảnh trong các hiện tượng của thế gian, mà hiện tượng thế gian chính là quy luật của vũ trụ. Một đại kiếp chỉ thoáng qua như một sát-na, niết-bàn không ở đâu xa ngoài tầm tay con người. Các đạo gia nhận thức rằng sự bất tử nằm trong sự biến dịch vô cùng; điều này thấm nhập sâu vào tư tưởng đạo học của họ. Đó là phương cách chứ chẳng phải hành vi, phương cách mới đáng quan tâm. Đó là bổ khuyết chứ không phải hoàn tất, bổ khuyết mới thực sự là sức sống. Con người khi đạt đến như thế mới đối diện với tự nhiên được. Một ý nghĩa mới sinh sôi trong nghệ thuật sống. Trà bắt đầu không còn là món tiêu khiển của giới thi nhân, mà trở thành một trong những phương pháp tự kỷ lãnh hội. Vương Vũ Xứng tán dương trà như sau: “tràn ngập tâm hồn như lời réo gọi trực khởi, mà hương vị đăng đắng tuyệt vời gợi lại một hậu vị khuyến thiện”. Còn Tô Đông Pha ca ngợi sức mạnh tinh khiết đến vô khuyết trong trà như đức hạnh của một chính nhân quân tử, không sợ bị hoen ố. Trong giới Phật gia, dòng Thiền Nam Tông là tông phái chịu sự hội nhập rất nhiều của các giáo lý Lão giáo, dòng này hình thành ra nghi thức chặt chẽ về trà. Các thiền gia tụ họp trước tượng Bồ-đề Đạt-ma và uống cạn một chén trà duy nhất với quy thức trang trọng của một thánh lễ. Nghi thức thiền này sau phát triển thành nghi thức Trà đạo ở Nhật Bản vào khoảng thế kỷ 15.

Tiếc thay sự bùng khởi của các bộ tộc Mông Cổ hồi thế kỷ 13 dẫn đến sự tàn phá và chinh phục Trung Hoa, đặt đất nước này dưới sự cai trị dã man của các hoàng đế nhà Nguyên, khiến mọi thành quả của văn hóa nhà Tống bị tiêu hủy. Triều đại bản địa nhà Minh hồi giữa thế kỷ 15 cố khôi phục dân tộc tính nhưng gặp phải sự quấy phá của nội loạn, và Trung Hoa lại rơi vào tay ngoại bang Mãn Châu vào thế kỷ 17. Tập quán và phong tục đổi thay, vết tích thời xưa cũ bị xóa mất. Mạt trà thực sự bị quên lãng. Chúng tôi tìm thấy tư liệu nói một nhà bình chú đời Minh chẳng nhớ ra hình dáng món dụng cụ gọi là trà tiển (cây khuấy trà) từng được chép vào kinh điển nhà Tống. Trà ngày nay dùng dưới dạng hãm lá trong chén nước nóng. Do vậy, thế giới Phương Tây không biết đến thuật uống trà thời cổ bởi lẽ mãi đến cuối đời nhà Minh Châu Âu mới biết đến trà.

Ngày nay trà Trung Hoa vẫn là thức uống ngon, nhưng lý tưởng chẳng còn nữa. Thống khổ kéo dài trên đất nước này quá lâu đã tước đi nơi họ niềm hứng thú về ý nghĩa nhân sinh. Đất nước này đã hiện đại, điều đó có nghĩa nét cổ xưa và mộng mơ đã tan biến. Họ đánh mất đức tin cao thượng vào ảo mộng trường sinh bất lão của thi nhân và cổ nhân. Họ theo chủ nghĩa chiết trung và ngoan ngoãn chấp nhận quán lệ của vũ trụ. Họ đùa bỡn với Tự nhiên, nhưng không chịu hạ mình khuất phục hay tôn thờ Tự nhiên. Lá trà của họ thường tuyệt diệu với mùi hương của hoa, nhưng tính lãng mãn của nghi thức Đường-Tống chẳng còn trong chén trà nữa.

Nước Nhật theo sát bước nền văn minh Trung Hoa, hiểu trà qua cả ba giai đoạn lịch sử của nó. Trà xuất hiện ở Nhật trễ nhất từ năm 729; chúng tôi đọc được trong kinh sách vào năm đó Thánh Vũ Thiên Hoàng (Emperor Shomu) đã ban trà cho một trăm vị sư tại cung Nại Lương (Nara). Loại lá này có lẽ do sứ thần của chúng tôi du nhập về từ Đường Triều và chế biến theo lối đang thịnh hành thời đó. Đến năm 801, nhà sư Tối Chừng (Saicho) mang về một ít hạt giống và trồng ở Duệ Sơn (Yeisan). Nghe đâu các thế kỷ sau nhiều vườn trà mọc lên làm vui lòng cho giới quý tộc và tăng lữ. Trà Tống đến với chúng tôi vào năm 1191 sau khi Vinh Tây Thiền Sư (Yeisai-zenji) đi học đạo Thiền Nam Tông quay về nước. Hạt giống trà mới do thiền sư này mang về trồng ở ba nơi; một trong những nơi là Vũ Thủy (Uji) gần Cố Đô Kioto, đến nay tên vùng đất này vẫn còn dùng chỉ một loại danh trà nổi tiếng thế giới. Thiền Nam Tông lan truyền nhanh chóng đến diệu kỳ, cùng với nó là nghi thức trà và lý tưởng trà đời Tống. Qua thế kỷ 15, dưới sự bảo trợ của Mạc Phủ (Shogun) Túc Lợi – Nghĩa Chính (Ashikaga-Voshinasa), nghi thức trà được hình thành đầy đủ, tách ra khỏi thiền tông và đi vào thế tục. Kể từ đó Trà đạo được hình thành hẳn hoi ở Nhật Bản. Lối dùng tiển trà (trà ngâm) theo kiểu Trung Hoa thời sau này so ra còn mới với chúng tôi, chỉ được biết đến từ giữa thế kỷ 17. Loại trà này thay thế cho mạt trà trong tiêu dùng hàng ngày, dù vậy mạt trà vẫn giữ một địa vị là ‘trà của các loại trà’.

Chính trong nghi thức trà của Nhật Bản chúng ta mới thấy sự tột cùng của lý tưởng trà. Cuộc kháng chiến thành công của chúng tôi chống cuộc xâm lược Nguyên Mông năm 1281 cho phép chúng tôi tiếp tục trào lưu trà của Tống triều mà lúc ấy ở Trung Hoa đang bị thảm hại bởi sự xâm nhập của dân du mục. Trà đối với chúng tôi trở nên quan trọng hơn việc lý tưởng hóa một hình thái thức uống, đó là thứ tôn giáo của nghệ thuật nhân sinh. Thứ thức uống đó tiến lên thành duyên cớ để tôn thờ sự tinh khiết và thanh tao, có chức năng thiêng liêng giúp chủ và khách kết hợp với nhau tạo ra cơ hội hưởng sự cực lạc tột cùng ngay trần thế này. Trà thất là một ốc đảo giữa cõi đời hoang vắng đến ảm đạm, chỉ nơi đó khách lữ hành đang mệt lữ mới có thể gặp gở nhau và cùng uống từ nguồn suối chung ‘thưởng giám nghệ thuật’. Nghi thức là một vở kịch ngẫu tác với cốt truyện được dệt theo chén trà, hoa, và họa phẩm. Không một sắc màu nào làm loạn vỡ tông màu của gian phòng, không tiếng động nào làm hư hại tiết tấu của sự vật, không một cử chỉ nào bắt sự hòa điệu phải theo nó, không một câu nói nào phá vỡ sự đồng nhất của cảnh vật xung quanh, mọi chuyển động phải thực hiện giản đơn và tự nhiên – mục đích của Trà đạo là như thế. Lạ lùng thay các buổi trà nghi thường lại thành công. Một triết lý tinh diệu đặt muôn vật đằng sau nó. Trà đạo là Lão giáo ở trạng thái hóa trang.

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

TRÀ LUẬN lời tựa và phần 1 (Dịch theo nguyên tác tiếng Anh: The Book of Tea)

Việt dịch: Đức Chính

(Có tham khảo bản dịch của Bảo Sơn)

Untitled-1

Mục Lục

Quyển hai: Trà đạo (dịch từ cuốn Book of Tea của Okakura Kakuzo)

1.- Chén trà nhân loại.

2.- Các trường phái trà.

3.- Lão giáo và Thiền tông.

4.- Trà thất.

5.- Thưởng giám nghệ thuật.

6.- Hoa.

7.- Trà sư.

Phụ lục 2: Tiểu sử Okakura Kakuzo

Khi vừa ngoài đôi mươi tôi đã được một vị thầy tặng cho cuốn mang tựa đề “Trà Đạo” của Okakura Kakuzo do Bảo Sơn dịch. Thú thật lúc đó tôi chẳng đánh giá cao tác phẩm này, thậm chí còn cho là lạc đề. Quả vậy, trong tác phẩm này Okakura Kakuzo chẳng nói mấy về trà, cũng chẳng biểu lộ một cảm xúc nào thưởng thức một chén trà, cũng chẳng nêu ra được sự khác biệt về các loại trà cùng cảm giác cho vào miệng một ngụm trà như thế nào. Nói cho chân chất, lúc đó khi đọc tôi chẳng hề thấy hương vị trà trong câu văn mà chỉ thấy man mác lời trần tình của một con người thay dân tộc mình nói về tâm thức Nhật Bản với giọng văn trầm uất lạ kỳ. Lúc thì sùng bái cổ nhân, lúc thì khuyên chớ sao chép cổ vật nhiều quá : một tâm trạng u hoài của kẻ bất phùng thời, một tâm hồn quá thiên về dân tộc tính.

Khởi đầu “Trà Đạo” tôi chỉ thấy lời than vãn của người trách kẻ khác không hiểu mình; rồi sau đó tản mạn nói về ông Lão, ông Thích và thi thoảng điểm xuyết ông Khổng hay một triết gia nào đó. Phơn phớt vài chương nói loáng thoáng về trà, chưa đủ để gọi là Trà đạo. Bàn về trà thất lại xoay quanh biện biệt nền kiến trúc Nhật và Phương Tây, với hàm ý tôn vinh văn hóa dân tộc mình. Rồi bất chợt lại chuyển qua tư tưởng «thưởng giám» nghệ thuật mang hơi hướm nặng nề của thiền tông. Trà chẳng thấy đâu! Để rồi cuối cùng kết thúc bằng câu chuyện bi hùng của một trà sư Lợi Hưu, nhưng câu chuyện đó lại dựng trên một cái nền phù phiếm trần tục chứ không trên nền tảng chén trà.

Sự bồng bột của tuổi trẻ không làm tôi nén được nỗi bất bình. Tôi xoay qua hỏi thầy, và nhận được một nụ cười khó hiểu. Thầy nói: «Sau này con sẽ hiểu». Gần ba mươi năm trôi qua, người thầy tôi thương mến cũng đã đi về cõi hư vô. Tôi thi thoảng cũng quay về với những tư tưởng Thiền, Lão và Khổng Mạnh. Mọi việc cứ trôi đi và tôi cũng quên dần cuốn “Trà Đạo”. Một tình cờ khác tôi tìm được nguyên bản tiếng Anh của tác phẩm này. Cho là cơ duyên, tôi bắt đầu mò mẫm dịch lại tác phẩm này như một nhu cầu học tiếng Anh thôi thúc.

Lần vào câu chữ và nghiền ngẫm nghĩa lý từng chương, tôi chợt ngộ ra nụ cười của ông thầy năm cũ. Khi dịch đến chương «Thưởng giám nghệ thuật» tôi mới giật mình nhận ra cái tinh túy mà tác giả muốn trao gởi. Nếu nói rõ ra trà thơm thế nào, vị đăng đắng ra sao, màu nước thế nào mới đẹp thì nó chẳng còn là đạo nữa rồi. Lúc ấy trà chỉ là một kỹ thuật thuần túy hay cao hơn cũng chỉ đạt đến mức nghệ thuật pha chế mà thôi. Cú giật mình đó làm tôi tạm dừng dịch. Tôi pha một ấm trà ngon, ngồi yên tỉnh một mình trên gác thượng và uống từng ngụm nhỏ. Trong đầu ôn lại những gì đã trải qua gần một đời người, đem những điều đó quán tưởng với những tư tưởng thiền học. Tâm hồn tôi lâng lâng, hương vị trà không còn là hương vị quen thuộc của ngày thường. Chén trà trở thành một con người, vừa là thầy vừa là bạn, đối ẩm với tôi. Trong thoáng chốc đó tôi chợt nhận ra gần một cuộc đời của mình chỉ là những cuộc chơi ngu dại và nỗi vui kỳ lạ đan lẫn trong khói điếu thuốc lá khi hiểu ra, dù chỉ một phần, sự minh triết của thiền. Okakura Kakuzo có lý khi thả trôi ngòi bút theo dòng suy tư miên man.

À ra là thế! Chén trà vốn không là đạo, chính tư duy của các triết nhân suy tưởng bên chén trà biến trà thành đạo. Cũng như cây đa vốn chẳng linh thiêng, nhưng vị thần được thờ ngự trên nó khiến nó linh thiêng. Và hiểu ra đạo là cơ duyên của từng người, cơ duyên của bạn khác tôi thì không thể theo cùng con đường đạo của tôi. Nụ cười của thầy tôi đây rồi! Gần ba mươi năm tìm kiếm không phải là cái giá quá đắt.

Đức Chính

Mùa Thu  năm Kỷ Sữu -2009

Untitled-2

I. Chén trà nhân loại

Trà khởi đầu là một thứ thuốc, sau nâng lên thành món nước uống giải khát. Vào thế kỷ thứ tám, tại Trung Quốc, trà thâm nhấp vào giới thi nhân như là là một trong những thú tiêu khiển của giới này. Qua thế kỷ mười lăm, nước Nhật nâng cao giá trị trà lên thành một thứ tôn giáo duy mỹ – gọi là Trà Đạo. Trà đạo là một thứ đạo đặt nền tảng trên sự tôn thờ cái đẹp xen lẫn giữa muôn vàn điều nhớp nhúa của cuộc sống đời thường. Ăn sâu vào trong trà ý niệm về sự thanh khiết và hòa điệu, sự huyền nhiệm của lòng nhân ái lẫn nhau, tính lãng mạn của trật tự xã hội. Then chốt của trà đạo là tôn thờ sự Bất toàn, như là một nỗ lực dịu dàng hoàn thành điều có thể nào đó trong điều không thể mà ta biết rõ đang hiện hữu trong cuộc sống.

Triết lý về trà không đơn thuần là chủ nghĩa duy mỹ theo cái nghĩa thường được chấp nhận của nó; vì nó còn biểu cảm một cách đan kết quan niệm luân lý và tôn giáo của chúng tôi về con người và tự nhiên. Trà đạo mang khái niệm vệ sinh vì nó đòi hỏi phải hết sức tinh khiết; trà đạo mang tính kinh tế vì nó biểu lộ sự tiện ích nằm trong sự giản dị chứ không rườm rà và tốn kém; trà đạo là đường nét kỹ hà của tâm linh vì nó hàm nghĩa quan niệm về sự cân xứng của chúng tôi đối với vũ trụ. Trà đạo đại biểu cho tinh thần đích thực của nền dân chủ Phương Đông bằng cách biến bất cứ ai hâm mộ nó đều thành những nhà quý tộc trong khẩu vị.

Một thời gian dài Nhật Bản biệt lập khỏi phần còn lại của thế giới, cái thế đó dẫn đến tình trạng hướng nội quán chiếu, lại hết sức thuận lợi để phát triển Trà đạo. Ở chúng tôi nhà cửa và trang phục, tập quán và ẩm thực, gốm sứ, sơn mài, hội họa – và cả đến văn chương – mọi thứ đều chịu ảnh hưởng của Trà đạo. Không một học sĩ nào của nền văn hóa Nhật không biết đến Trà đạo. Trà đạo đã nhuần thấm vào sự thanh nhã của những khuê phòng đài các, đi vào tận những ngôi nhà tranh vách đất của người bình dân. Người nông dân xứ chúng tôi được học cách cắm hoa, anh thợ cày hèn kém nhất cũng biết quý kính những hòn đá và các dòng nước. Trong ngôn ngữ thường tục chúng tôi hay dùng từ “bất cập trà đạo’ để chỉ người thiếu sự quan tâm vừa trang nghiêm vừa hài hước đối với vỡ kịch của đời mình. Lại nữa, chúng tôi quen nói “thái quá trà đạo” để làm bật lên tính cách của một người duy mỹ buông lung, chẳng đếm xỉa gì đến bi kịch trần tục, mặc cho xuân tình của cảm xúc trào dâng và nổi loạn.

Có lẽ kẻ ngoại đạo thực sự ngỡ ngàng khi thấy Trà đạo “rườm rà mà trống rỗng”. Kẻ đó phải thốt lên: Quả là trong chén trà chứa đầy giông tố! Nhưng khi chúng tôi xét nhìn rốt ráo chén trà nhỏ bé trong thú vui của nhân loại như thế nào, sớm tuôn tràn nước mắt như thế nào, trong cơn khát vô cùng tận chúng tôi đã uống cạn nó như thế nào, lúc ấy chúng tôi sẽ không còn trách mình vì sao bỏ lắm công phu cho một chén trà đến như thế. Loài người đã làm lắm điều tồi tệ. Chúng ta đã hiến sinh quá đáng cho tửu thần Bacchus, và thậm chí còn tô điểm cho đẹp hình tượng vấy máu của thần chiến tranh Mars. Vậy tại sao chúng ta không tự hiến dâng mình cho Nữ hoàng Trà, và say sưa trong dòng suối ấm áp tuôn xuống từ bàn thờ của Nàng? Với chất lỏng màu hỗ phách đựng trong chiếc chén sứ trắng ngà, người mới được khai đạo cũng có thể với tới sự trầm mặc ngọt ngào của Đức Khổng Tử, vị cay cay của Ngài Lão Tử và hương thơm lâng lâng tỏa ra từ Đấng Thích-ca mâu-ni.

Ai không thể cảm nhận được những điều bé nhỏ trong sự việc lớn của chính mình, thì có khả năng bỏ sót những điều to lớn trong sự việc nhỏ của kẻ khác. Với tính tự mãn mượt mà của mình, một người Phương Tây bậc trung sẽ thấy trong nghi thức dùng trà chỉ là một trường hợp khác so với ngàn lẻ một sự kỳ quặc cấu thành nét kỳ quái và ngây ngô như trẻ con của Phương Đông. Người ấy có thói quen đánh giá nước Nhật còn dã man, trong khi nước Nhật mê mãi trong các nghệ thuật cao thượng vì hòa bình: chính người ấy gọi nước Nhật là văn minh kể từ khi nước Nhật lao vào cuộc đồ sát trên khắp các mặt trận ở Mãn Châu. Sau đó không biết bao nhiêu lời bình phẩm mà kể về tinh thần võ sĩ đạo, thứ Nghệ Thuật Chết khiến người chiến binh của chúng tôi hoan hĩ đi vào việc tự hy sinh; nhưng lại hiếm khi chú tâm đến Trà đạo, thứ đại diện rất nhiều cho Nghệ Thuật Sống của chúng tôi. Nếu như kêu đòi được văn minh dựa vào vinh quang khủng khiếp của chiến tranh, thôi thì chúng tôi xin cứ dã man thì hơn. Chúng tôi đành phải chờ đến lúc các nghệ thuật và lý tưởng của chúng tôi được đền bù bằng sự tôn trọng vậy.

Bao giờ phương Tây sẽ hiểu, hay cố thử hiểu, Phương Đông đây? Người Châu Á chúng tôi vốn sợ loại mạng nhện kỳ bí của các sự kiện và điều huyễn tưởng, tức những thứ mà chúng tôi bị thêu dệt nên. Chúng tôi bị khắc họa như đang sống với hương sen; nếu không thì bị khắc họa đang sống chung với loài chuột nhắt và gián. Hoặc là thứ chủ nghĩa cuồng tín nhưng vô tài, hoặc thứ dâm đảng hạ tiện; chúng tôi bị nhìn như thế. Bản chất duy linh của người Ấn Độ cũng từng bị chế nhạo là ngu ngốc; đức khiêm nhượng của người Trung Hoa là đần độn, lòng ái quốc của người Nhật là kết quả của thuyết định mệnh. Chúng tôi còn bị nói tổ chức thần kinh của chúng tôi bị chai sạn mất rồi nên kém nhạy cảm với sự đau đớn!

Tại sao các ngài lại không vui thú với cái giá chúng tôi phải trả? Cả châu á sẽ quay qua chúc tụng. Còn hơn thế nữa nếu các ngài hiểu ra mọi điều chúng tôi hình dung và viết về các ngài. Toàn bộ sự huyền ảo nằm ở nơi đó, tất cả lòng cảm phục một cách vô thức, mọc oán giận thầm kín với cái mới và cái mơ hồ. Các ngài được trao cho phẩm hạnh quá cao quý khiến phải ganh tị, và các ngài cũng pham tội ác khác thường đến nỗi không sao lên án được. Văn nhân của chúng tôi thời trước – những người tự cho mình là hiền triết – truyền lại cho chúng tôi nghe rằng trong lớp y phục đang mặc các ngài che gấu bên trong chiếc đuôi lông lá, và các ngài thường bắt trẻ sơ sinh đem nấu ăn! Không, tệ hơn nữa là chúng tôi thường nghĩ các ngài là hạng người phi thực tế nhất trên đời vì các ngài chuyên thuyêt những điều không thể làm được.

Những hiểu lầm như vậy may thay mau chóng tan biến đi nơi chúng tôi. Thương mại buộc tiếng Châu Ân đi đến nhiều hải cảng Phương Đông. Lớp trẻ Châu Á đua nhau sang học các trường Phương Tây hầu trang bị cho mình một nền giáo dục hiện đại. Sự thấu hiểu của chúng tôi chưa đi sâu vào nền văn hóa của các ngài, nhưng ít ra chúng tôi đang tỏ thiện chí cầu học. Đồng bào tôi có một số người theo đòi quá nhiều tập quán và nghi thức của các ngài, họ cứ ngở mặc áo cổ cứng và đội mũ quả dưa có nghĩa là đã đạt đến nền văn minh của các ngài. Sự giả dối màu mè đó quả đáng thương mà cũng đáng trách, họ làm như chúng tôi tỏ thiện chí tiếp cận với Phương Tây bằng đầu gối. Tiếc thay Phương Tây chưa có thái độ thích đáng để hiểu Phương Đông. Hội thừa sai Công giáo đến để truyền đạt hơn là tiếp thu. Những gì các ngài được biết về chúng tôi là mấy bản dịch sơ sài từ nền văn học đồ sộ của chúng tôi, nếu không muốn nói dựa trên vài giai thoại thiếu xác thực của mấy kẻ lãng du đi ngang qua xứ chúng tôi. Quả hiếm có ngòi bút hào hiệp như Lafcadio Hearn hay của tác giả quyển “Truyền kỳ đời sống Ấn Độ” (tạm dịch từ: “The Web of Indian Life”) chiếu rọi vào khoảng tối tăm Đông Phương bằng ngọn đuốc của chính tâm tư của chúng tôi.

Bộc bạch về trà đạo ra biết đâu làm lộ ra sự ngu dốt của tôi. Điều các ngài nói rằng các ngài đang mong muốn nghe nói thì đó chính là tinh thần tao nhã của của trà đạo, chứ chẳng phải thứ gì hơn thế. Tiếc là tôi không phải một tín đồ trà đạo tao nhã. Tai hại làm sao giữa Tân và Cựu thế giới có sự hiểu sai lệch về nhau, ai đó cũng chẳng cần tạ lỗi về sự góp phần nhỏ bé trong việc xúc tiến để thông hiểu nhau nhiều hơn. Nếu người Nga chịu hạ cố xuống để hiểu người Nhật nhiều hơn thì buổi đầu của thế kỷ 20đã không xảy ra cuộc chiến đẫm máu. Biết nói gì về hậu quả đối với đời sống nhân loại của thái độ không hiểu biết một cách trịch thượng về các vấn đề Phương Đông! Chủ nghĩa đế quốc Bạch Dương chẳng lẽ không đáng bị khinh thị khi hồ đồ hô hào về Hiểm Họa Da vàng, mà quên mất rằng Châu Á cũng đã thức tỉnh về sự tàn bạo của Thảm Họa Da Trắng. Các ngài có thể cười chúng tôi “quá lạm với trà”, nhưng chúng tôi không phải chẳng có chút ngờ rằng các ngài ở Phương Tây “chẳng có tí trà nào” trong thể chất?

Thôi chúng ta hãy dừng đừng trào phúng kích bác nhau giữa các lục địa nữa, và khôn ngoan hơn hãy vì lợi ích chung của mỗi bán cầu, nếu không vậy thì thật đáng buồn. Chúng ta đã đi theo những hướng phát triển khác nhau, đấy không phải là duyên cớ vì sao chúng ta không bổ sung cho nhau. Các bạn đã phát triển mở rộng với cái giá bất ổn trong nội tâm, còn chúng tôi tạo ra sự hài hòa nhưng đó là sự yếu ớt trước họa ngoại xâm. Các bạn có tin không? – Phương Đông có một số điểm đáng trọng hơn Phương Tây!

Khá lạ kỳ nhân loại còn lâu nữa mới hội ngộ nhau chung một chén trà. Đó lại là lễ nghi Á Châu duy nhất khiến mọi người mến mộ. Người da trắng nhạo báng tôn giáo và luân lý của chúng tôi, nhưng lại chấp nhận món thức uống màu nâu mà chẳng chút do dự. Hiện nay bữa trà chiều là một phần quan trọng trong xã hội Phương Tây. Tiếng va chạm khe khẻ giữa khay chén với nhau pha lẫn vào tiếng y phục sột soạt nhè nhẹ của quý bà quý cô hầu trà khách, lẫn vào những lời đối đáp về kem và đường, chúng tôi thấy rõ nơi ấy có sự sùng bái trà vượt qua tất cả. Tính kham nhẫn đầy triết lý của vị khách mời đối với số phận thứ nước hãm mơ hồ đang chờ đón ông ta chính là lúc và chỉ lúc ấy tinh thần Á Đông đang ngự trị tối thượng.

Ở Châu Âu, lời ghi chép sớm nhất về trà được tìm thấy trong bản văn du ký của một người Á rập, không thể trước năm 879, có thuật rằng nguồn thu nhập chính của Quảng Đông là đánh thuế vào muối và trà.[1] Marco Polo có chép lại vào năm 1285 có một vị Thượng Thư Bộ Hộ (Chinese minister of finance) bị cách chức vì tự ý tăng thuế trà[2]. Lúc ấy là thời kỳ đua nhau đi khám phá vùng đất mới và người Châu Âu bắt đầu biết đến vùng Viễn Đông nhiều hơn. Cá cnhà du hành như Giovanni Batista Ramusio (1559), L. Almeida (1576), Maffeno (1588), Tareira (1610), đều có nói về trà. Trong những năm vừa nói đến ở trên, con tàu của Công Ty Đông Ấn Hà Lan mang về Châu Âu lô trà đầu tiên. Trà được nước Pháp biết đền năm 1636 và đi đến Nga năm 1638. Nước Anh chào đón trà vào năm 1650 và ca ngợi trà là “Thức uống tuyệt vời và mọi thầy thuốc đều nói vậy, gôi tên là tcha, các nước khác gọi là tay, sau đổi thành tee

Cũng như bất kỳ thức uống ngon nào trên thế giới, việc truyền bá trà không tránh khỏi sự chống đối. Các ngoại giáo của trà đạo như Henry Saville (1678) từ chối uống thứ nước này và coi đó la thứ tập tục thô lậu. Năm 1756, trong cuốn Trà Luận (Essay on Tea), Jonas Hanway nói rằng dường như uống trà khiến đàn ông mất đi phong độ và sự lịch lãm, đàn bà mất đi nét yêu kiều. Khởi đầu giá trà nằm ngoài tầm tiêu dùng của dân dã, khoảng 15-16 xi-ling mỗi pao, gíá cả đó khiến trà thành “biểu chương cho sự trọng thị và trọng đãi, tặng phẩm dành cho các ông vua bà chúa và các vị đại thần” Thế nhưng bất chấp những mặt hạn chế thói quen uống trà lan rộng với tốc độ diệu kỳ. Nửa đầu thế kỷ 18 các quán cà phê ở Luân Đôn thực sự trở thành quán trà, nơi tụ hội của các tài tử như Addison và Steele, tiêu thú với những “món trà”. Thức uống này chẳng bao lâu sau trở thành món nhu yếu của cuộc sống – món hàng phải chịu thuế. Nhân chuyên này chúng ta hãy nhớ lại xem thứ gì đã dự phần quan trọng trong lịch sử đương đại. Nước Mỹ thuộc địa đã cam chịu sự áp bức cho đến khi sức chịu đựng của con người không còn nữa trước sưu cao thuế nặng đánh vào trà. Nền độc lập của Mỹ đánh dấu từ ngày ném các thùng trà xuống cảnh Boston.

Hương vị trà có sức quyến rũ tinh tế khó ai cưỡng lại được và trà được người ta lý tưởng hóa. Các nhà hoạt kê Phương Tây chẳng chịu chậm chân hòa trộn hương hoa tư tưởng của họ vào hương vị của trà. Trà không ngạo nghể như rượu, không e dè ngượng ngập như cà phê, cũng không hồn nhiên giả tạo như ca-cao. Năm 1711, tờ báo The Spectator từng viết: “Vậy nên tôi muốn bình theo lối riêng của mình rằng tất cả mọi gia đình biết khéo thu vén việc tề gia nên dành mội sáng một giờ để dùng trà, bánh mì và bơ; và tha thiết có lời khuyên các gia đình đòi hỏi tờ báo này phải được giao đúng giờ và coi nó một cấu phần trong bộ trà cụ”. Samuel Johnson tự tả chân mình như “kẻ uống trà dày dạn và vô sĩ, là người suốt hai mươi năm trời chan vào món ăn  thứ hãm từ loài cây hấp dẫn này, người thích tiêu thú với trà mỗi buổi chiều và giải buồn bằng trà lúc canh khuya, chào đón bình minh cũng bằng trà

Charles Lamb, kẻ ngoan đạo thuần thành với trà, rung lên nốt nhạc chân tình về trà đạo khi ông viết rằng lạc thú vĩ đại nhất ông từng biết là âm thầm làm mộ việc thiện và tình cờ việc ấy bị người khác biết. Trà đạo cũng vậy, là nghệ thuật che dấu đi cái đẹp để bạn tự tìm ra cái đẹp đó, sự che dấu đó lại gợi lên điều thách đố bạn dám không bóc trần ra. D0ó là sự bí ẩn cao quý tự cười chính mình, một cách bình lặng nhưng thấu suốt, và đó là sự trào lộng tự thân – nụ cười triết lý. Theo ý nghĩa đó, bất cứ nhà trào lộng đích thực nào cũng có thể gọi là triết gia trà. Chẳng hạn Thackeray, và dĩ nhiên cả Shakespeare. Trong sự phản kháng lại chủ nghĩa duy vật, các thi nhân của thời buổi Suy đồi (khi thế giới không đồi phế?) hẳn đều khai rộng con đường cho trà đạo. Nay có lẽ đã đến lúc chúng ta nên trầm tư về sự Bất toàn (Imperfect) mà cả Đông lẫn Tây đều gặp phải trong niềm an ủi chung.

Giới đạo gia thường tụng rằng “Thái cực vô cực, lưỡng tinh tương bác” (the great beginning of the No-Beginning, Spirit and Matter met in mortal combat: Lúc Thái cực còn ở giai đoạn vô cực thì hai tinh đánh lẫn nhau). Mãi về sau, vua Hoàng Đế, tức Thái Dương trên trời, mới chiến thắng Chúc Dung (Shuhyung),[3] Quỷ Vương hắc ám dưới đất. Lúc hấp hối sắp chết, Tà thần khổng lồ này đập đầu vòm trời làm trời vỡ ra. Tinh tú không còn chỗ bám vào, mặt trăng lang thang dật dờ giữa những vực sâu hoang lương của đêm trường. Trong tuyệt vọng đó, Hoàng Đế du hành tứ phương tìm người vá lại bầu trời. Sự tìm kiếm của ngài không phí công. Ngoài biển Đông xa khơi hiện lên một Nữ Hoàng là bà Nữ Oa (Niuka), đầu có sừng và mang đuôi rồng, mặc bộ giáp lửa sáng chói. Bà đem cầu vồng ngũ sắc vào lò luyện vá lại và dựng lại bầu trời. Truyền thuyết lại còn kể rằng bà Nữ Oa quên không bịt hai khe nhỏ trên bầu trời, nên từ đó nhị nguyên tình ái[4] nảy sinh – hai linh hồn lăn lóc trong khoảng không gian mãi cho đến khi chúng hợp với nhau lại để hoàn thành vũ trụ. Mỗi chúng ta phải dựng mới cho mình một bầu trời hy vọng và hòa bình.

Bầu trời của nhân loại thời nay thực sự đã tan nàt trong Trận Đại Tranh giành sự giàu có và quyền lực. Cả thế giới đang mò mẫm đi trong bóng tối của sự ích kỷ và thô tục. Tri thức bị ác tâm mua chuộc, lòng từ thiện chỉ nhằm vì tư lợi. Đông và Tây, như hai con rồng lăn lộn giữa biển cuồng loạn, uổng công đấu tranh giành lại viên ngọc quý của nhân sinh. Chúng ta lại phải nhờ đến bà Nữ Oa sữa lại sự tàn phá kinh khủng đó; chúng ta chờ đợi sự hóa thân vĩ đại của bà. Trong khi đó, chúng ta hãy uống một ngụm trà. Ánh sáng chiều tà rọi xuống bụi tre, suối nguồn reo với tiếng vui tai, tiếng thông xào xạc nghe như tiếng nước sôi trong ấm. Hãt để hồn chúng ta trôi vào chốn hư vô, và thơ thẩn trong nét cuồng dại mỹ miều của sự vật.

Phần 2.- Các trường phái trà được đăng tiếp ở bài post kế!


[1] Nguồn tư liệu không rõ ràng và thiếu dẫn chứng chính xác.

[2] Thời điểm này nhà Nguyên đã chiếm Vân Nam và giao quyền cho họ Đoàn làm Tổng Quản.

[3] Hàm ý câu kinh trên được thần thoại hóa thành việc Hoàng Đế đánh Chúc Dung. Lc nay Lưỡng tinh tưoơng bác, hợp nhi thành hình (tạm dịch thoát: hai tinh đánh nhau dẫn đế  hợp lại thành vạn vật)

[4] Ám chỉ hai nguyên lý Âm-Dương.

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

Read Full Post »

Lưu ý khi mua đồ gốm cổ!

Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy nhiên, độ thành công rất thấp. Vì vậy, cho dù bạn là nhà sưu tập thâm niên hay là người yêu thích sưu tập, hãy nhớ đến các lưu ý dưới đây.

Nhà sưu tập nào cũng hy vọng mua được những sản phẩm có giá trị, nhưng thị trường mua bán ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi nhà sưu tập cần có kinh nghiệm phong phú trong việc lựa chọn sản phẩm. Dưới đây là 3 lưu ý khi mua đồ gốm cổ:

1. Không nên mua khi không biết rõ loại hàng:

Sưu tập đồ cổ được phân thành nhiều loại khác nhau: đồ gốm cổ, đồ đồng, đồ gỗ, ngọc, thư họa và những hạng mục khác. Với mỗi loại ngành khác nhau như vậy, nếu nhà sưu tập không thật sự có những hiểu biết rõ ràng, không có những nghiên cứu chuyên sâu, tuyệt đối không nên thu mua. Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy vậy, độ thành công rất thấp.

Lấy việc sưu tầm đồ gốm cổ làm ví dụ, trong 100 người, chỉ có 1 – 2 người thành công; còn đa số người còn lại có thể hình dung như sau: “tân tân khổ khổ, nhạn phẩm vi chủ” (cực khổ chọn lựa, cuối cùng mua phải hàng giả). Để có thể trở thành một nhà sưu tập thành công, không chỉ đòi hỏi thiên phú, mà còn phải có sự chuyên cần, chịu khó học hỏi, nghiên cứu; một khi đã nắm vững những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó mới tiến hành thu mua.

2. Không mua khi có nghi vấn:

Ngày nay, với trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ, việc làm hàng nhái cũng đạt đến trình độ cao, nhiều người lợi dụng việc này để kiếm lời phi pháp, làm phá hoại đi trật tự của thị trường sưu tập đồ cổ chân chính. Những sản phẩm nhái này là kiệt tác “tam kết hợp”: lấy công nghệ truyền thống làm nền tảng, kết hợp khoa học kỹ thuật hiện đại cùng những thiết bị tiên tiến để chế tạo, độ tương đồng có thể đạt đến 99%, chỉ còn 1% khác biệt. Trong khi giám định, những nhà sưu tập phải có sự nhận xét tinh tế để có thể đưa ra hoài nghi về 1% khác biệt này để phủ định 99% tương đồng kia.

3. Không mua khi không phù hợp với giá thị trường:

Hiện nay, trong thị trường đồ cổ, hàng thật không còn nhiều nữa, những mặt hàng tinh xảo càng hiếm hoi hơn. Những sản phẩm chất lượng cao này đều nằm trong tay những nhà sưu tầm thâm niên hoặc những thương nhân có kinh nghiệm, họ tuyệt đối không bao giờ đưa ra giá sai. Những người mới bắt đầu bước vào lĩnh vực sưu tầm, rất khó có được cơ hội này. Nếu trên thị trường có xuất hiện một sản phẩm chất lượng cao, giá thấp, thì đó như là một con thỏ béo tròn trên cách đồng hoang bất tận với biết bao con chim ưng đang dòm ngó. Vì vậy, đối với những nhà sưu tập mới, phải biết lựa chọn để mua vật cổ với giá cả ngang với giá thị trường, mua hàng thật với giá thật.

Nguyên Sa lược dịch

Nguồn: chinazg.net

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Older Posts »