Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín 20th, 2009

Trào lưu làm giả ấm Tử Sa những năm đầu thế kỳ 20
Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến, thời đại mới manh nha và cũng là thời kỳ đặc biệt của ngành làm ấm trà Tử Sa. Vào những năm Dân quốc đầu tiên ở Trung Quốc, rộ lên phong trào sưu tập đồ sứ cổ, người từ bốn phương tranh nhau mua vét, thủ giữ làm của riêng, đặc biệt là những ấm trà Tử Sa do các nghệ nhân tên tuổi ở vào hai triều Minh – Thanh chế tác. Nguồn hàng từ giới buôn bán cổ ngoạn ngày càng hiếm hoi, phát sinh việc làm giả ấm Tử Sa tràn lan đến không còn kiểm chứng nổi. 

P12-13-457-2

Ấm của Thời Đại Bân, đời Minh

Tại các thành phố mà ngành thương nghiệp phát triển mạnh lúc bấy giờ như Thượng Hải, Hàng Châu và Thiên Tân, xuất hiện rất nhiều cửa hàng kinh doanh ấm Tử Sa, họ lùng kiếm thuê mướn các nghệ nhân tay nghề xuất sắc của Nghi Hưng chế tạo, sản xuất ấm Tử Sa chất lượng cao cho thương hiệu của mình. Những sản phẩm này làm ra để bán cho những người sành uống trà, vì lúc đó việc giao thương rộng mở, phổ biến nhiều loại trà ngon nổi tiếng và đắt tiền. Chính vào thời điểm này, loại ấm Zhuni dáng nhỏ rất được ưa chuộng, vì hương trà không bị phân tán, mùi vị đậm đặc, lại ít hao trà.

Thượng Hải là nơi quy tụ ngành thương nghiệp và các xí nghiệp tư bản thời kỳ đầu ở Trung Quốc, cũng là nơi hội tụ giới chính trị, doanh nhân và văn nghệ sĩ – những người chẳng những sành uống trà, mà còn đề cao việc uống trà như một nghệ thuật. Những nhà buôn Tử Sa phát hiện ra rằng, làm nhái kiểu ấm của các nghệ nhân tên tuổi thời trước sẽ thu nguồn lợi lớn hơn rất nhiều, và Thượng Hải phồn hoa chính là mảnh đất màu mỡ cho thị trường ấm giả cổ, từ hoạt động nhỏ lẻ dần trở nên qui mô vào những năm 1920-1930.

 

P12-13-457-3

Ấm của Từ Hữu Tuyền (Minh)

Hiện nay, loại ấm Tử Sa giả cổ này có thể bắt gặp tại nhiều nơi ở Trung Quốc, một số được các nhà sưu tập bí mật cất giữ, một số khác thậm chí được xem như tác phẩm thật trưng bày trong các nhà bảo tàng, giám định sự thật giả của chúng là một việc vô cùng khó khăn. Một tiết lộ từ trong giới cho biết, hầu hết các nghệ nhân Tử Sa hàng đầu của Nghi Hưng đều có tham gia làm ấm giả cổ tại Thượng Hải và nhiều thành phố khác. Các nghệ nhân này vì sinh kế mà mô phỏng tác phẩm đời trước, nhưng họ không phải là người được lợi nhất, thu nhập chỉ dựa vào lương tháng cố định, thậm chí họ cũng không biết giá bán sản phẩm do mình làm ra. Xét về chuyên môn, họ chỉ được cái lợi là cơ hội thử thách tay nghề, được tiếp cận học hỏi những tác phẩm ưu tú của thời xưa. Nghệ nhân Cố Cảnh Chu (1915-1996) là bậc Đại sư Tử sa ở Nghi Hưng, mặc dù không muốn nhắc lại chuyện cũ, nhưng ông thừa nhận việc mô phỏng, làm giả tác phẩm của Trần Minh Viễn và Thiệu Đại Hanh đã giúp tay nghề, kỹ thuật tạo ấm của mình được nâng cao rất nhiều.

P12-13-457-4

Ấm của Huệ Mạnh Thần (đời Minh)

P12-13-457-5

 

Ấm Hụê Mạnh Thần (đời Thanh – Hụê Mạnh Thần sống qua hai triều đại Minh, Thanh)

Ngoài Cố Cảnh Chu, đội ngũ những  người tham gia làm ấm giả cổ là cả một danh sách dài, gồm những tên tuổi lớn của Nghi Hưng, trong đó đặc biệt nổi cộm gia đình của nghệ nhân Tưởng Dung (1919-2008) từng ba đời làm ấm giả cổ: Ông nội của bà Tưởng Dung là Tưởng Tường Nguyên (1868-1941) từng làm ấm giả cổ của Trần Minh Viễn đời Thanh, theo đặt hàng của khách mà không có nguyên mẫu, ông đã tự mình thiết kế các kiểu ấm “Tứ Phương Kiều Đỉnh”, “Lục Phương Xuyết Cầu” và “Tứ Phương Nga Đản Hồ” rồi khắc dấu lạc khoản bằng hai chữ triện “Minh Viễn”. Tới đời con ông là Tưởng Ngạn Đình (1894-1943) còn đi xa hơn cha mình, khi nhận làm ấm giả cổ ký lạc khoản Thời Đại Bân, Từ Hữu Tuyền (đời Minh), Trần Minh Viễn (Thanh) cho hai nhà kinh doanh cổ ngoạn Thang Lâm Trạch và Lang Ngọc Thư (Lang Thị Nghệ Uyển) ở Thượng Hải. Nữ nghệ nhân Tưởng Dung kêu Tưởng Ngạn Đình bằng bác, năm 1940 vì kinh tế khó khăn, bà theo người bác đến Thượng Hải làm ấm Tử Sa giả cổ, sở trường các loại “Ấm Hoa”, các loại dụng cụ văn phòng tứ bảo mô phỏng hình dáng động thực vật và chỉ đóng dấu triện giả “Trần Minh Viễn”.

 

P12-13-457-1

Ấm Trần Minh Viễn (đời Thanh)

Các nghệ nhân Bùi Thạch Dân (1892-1979), Vương Dần Xuân (1897-1977), Trần Quang Minh, Diệp Đắc Hỷ, Giang Án Khanh… của Nghi Hưng đều có dự phần làm ấm Tử Sa giả cổ tại Thượng Hải những năm đầu thế kỷ 20.

Các chuyên gia Tử Sa khẳng định, ấm Tử Sa là loại vật dụng sử dụng hàng ngày, dễ vỡ, vì vậy trải qua thời gian, chiến tranh, nạn chảy máu cổ vật… tác phẩm thật của người xưa không còn nhiều, những chiếc ấm được cho là làm ra từ khoảng giữa đời Thanh trở về trước mà chúng ta nhìn thấy hiện nay, đều là sản phẩm của thời kỳ đặc biệt này.

Trên đây chỉ mới nói một phần của góc khuất việc làm giả ấm Tử Sa phục vụ giới sưu tầm cổ ngoạn, những tay chơi có máu mặt, trong khi thị trường buôn bán ấm Tử Sa trong dân gian thì không biết đường đâu mà lần.

Riêng tại thị trường Việt Nam, việc buôn bán đồ sứ và ấm Tử Sa giả cổ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũng không kém phần náo nhiệt, hấp dẫn nhiều thương nhân người Việt và người Hoa dự phần. Do ảnh hưởng đồ sứ ký kiểu của hai triều Lê – Nguyễn, những bộ đồ trà xinh xắn vẽ men lam tuyệt vời, nhiều gia đình giàu có hoặc các chành, vựa đã đặt các nhà buôn đường dài làm những bộ đồ trà, trong đó có ấm Tử Sa (thường gọi là Chu sa). Cũng như mặt hàng đồ sứ, người đặt hàng chỉ cần đưa hàng mẫu (gọi là kiểu) và thỏa thuận giá cả là ít lâu sau sẽ nhận được hàng, thời đó các loại trà ngon rất đắt tiền, loại ấm Chu sa dáng nhỏ dành cho độc ẩm được dùng phổ biến, vì thế ấm Mạnh Thần, Thế Đức và Lưu Bội trở thành mặt hàng bán chạy, đến độ các nhà buôn không chờ khách đặt hàng, tự đặt lò làm các kiểu ấm trên đem sang bán.

 

P12-13-457-8

Lạc khoản “Thế Đức Đường” trên đồ sứ (đồ kiểu) đầu thế kỷ 20

Hiện nay chúng ta có thể tìm thấy ở các cửa hàng bán đồ xưa (như phố Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM) loại ấm Tử Sa, hình trái quýt lột vỏ để lộ các múi, cùng kiểu dáng và kích cỡ nhưng dưới đáy ấm khi khắc hiệu Thế Đức, lúc lại là Mạnh Thần, điều đó cho thấy sản phẩm chỉ do một lò làm ra, thậm chí loại cao cấp hơn như ấm Mạnh Thần hiệu đề 6 chữ “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, hoặc ấm có khắc dấu triện Lưu Bội cũng là sản phẩm giả cổ những năm đầu thế kỷ 20.

P12-13-457-16

Ấm Chu sa Lưu Bội (thế kỷ 20)

Lời thật mất lòng, người sưu tầm ai cũng hy vọng món mình kiếm được là hàng “xịn”, chánh hiệu. Nói vậy thì trên thế gian này không có chiếc ấm Tử Sa nào là hàng thật? Không phải vậy, là có đấy, nhưng chưa đến lượt bạn và tôi làm chủ. Thật ra thì việc có được những chiếc ấm làm vào đầu thế kỷ 20, xem như bạn cũng đã trúng số (tuy không phải độc đắc) vì có món đồ trăm tuổi, có thể yên tâm sử dụng, vì ít ra nó chỉ giả ở tên hiệu, tác giả; còn lại thì chất liệu, tay nghề nghệ nhân là thật. Nếu bạn biết rằng những chiếc ấm Tử Sa mới làm những năm gần đây, nhìn bề ngoài tinh xảo, hào nhoáng, nhưng không đáng gọi là Tử Sa, vì kể từ 1.5.2007, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên đất Tử Sa, chính phủ Trung Quốc cấm khai thác khoáng sản đất Tử Sa trong khu vực Nghi Hưng, trên thị trường thiếu hụt nguyên liệu nghiêm trọng, hiện nay không ít tác phẩm nghệ thuật Tử Sa có màu sắc rất đẹp mắt, nhưng đều được làm bằng loại đất sét thường, pha thêm nguyên liệu công nghiệp (bột thủy tinh và chất sắt) và phẩm màu.

 

P12-13-457-13

Ấm Lưu Bội sản xuất năm 2006 tại Sơn Đông

Phong trào chơi ấm Tử Sa tại Việt Nam chỉ mới rộ lên những năm gần đây, bắt nguồn từ những chuyến đi du lịch Tô Châu – Hàng Châu – Thượng Hải và Bắc Kinh. Những lần tham quan các cơ sở sản xuất ấm Tử Sa ở Tô Châu và Vô Tích (V.N chưa có tour đi Nghi Hưng) khiến du khách mở rộng tầm mắt, nghe biết nhiều giai thoại, sinh hiếu kỳ rồi yêu thích. Thêm các nhà buôn đồ gốm sứ Giang Tây, còn mang theo bán cả ấm Tử Sa giả cổ, tại Hà Nội có nhiều cửa hàng bán ấm Tử Sa và tại TP.HCM, một cửa hàng nằm trên đường Nhật Tảo mỗi tháng còn nhập về cả kiện hàng mới, bán cho người uống trà và cả giới sưu tầm.

 

P12-13-457-14

Ấm Mạnh Thần sản xuất năm 2007

Đối với một chiếc ấm Tử Sa đang cầm trên tay, nếu bạn cho nó là cổ, đem hỏi người khác thì khó có người dám định tuổi, vì con dấu lạc khoản không nói lên điều gì. Vậy thì bạn hãy căn cứ vào một số điểm sau đây để tự mình đánh giá sản phẩm:

1. Căn cứ vào đặc điểm phong cách thời đại, niên đại

Phong cách nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc giám định sản phẩm. Phong cách của một sản phẩm không thể nào vượt quá thời đại sản sinh ra nó, tác phẩm của nghệ nhân cũng không thể thoát ly khỏi thời đại mà nghệ nhân đó sinh sống. Bằng kinh nghiệm và kiến thức, người chơi có thể xem xét về đặc điểm công nghệ, nguyên liệu, công cụ chế tác và cách thức trang trí để thẩm định. Những sản phẩm không cùng thời đại thì sẽ có đặc điểm thời đại khác nhau, nghệ nhân không cùng thời đại thì đặc điểm công nghệ và tay nghề thủ công sẽ làm ra những sản phẩm khác nhau.

2. Nguyên liệu Tử sa từ hạt thô sang nhuyễn mịn

Đất Tử sa dùng làm ấm ban đầu là hạt to, thô chuyển dần sang nhỏ mịn, nguyên nhân là do sự khác biệt về công cụ làm ra nó. Thời kỳ đầu (đời Minh) nghệ nhân dùng chày giã đất, đến giữa đời Thanh chuyển sang xay bằng cối đá và cuối cùng là dùng máy xay chạy điện, vì vậy thân ấm Tử Sa từ giữa đời Thanh trở về trước da có hạt như da trái bưởi, nhìn kỹ các hạt đất kết dính không đều nhau, càng về sau càng nhuyễn dần, cho đến trơn bóng như hiện nay.

3. Vết nối bên trong thân ấm

Vào thời kỳ đầu (đời Minh), việc chế tạo ấm Tử Sa bắt chước hoàn toàn theo công nghệ chế tạo gốm sứ, thân ấm làm 2 phần ghép nối lại với nhau trước khi cho vào lò nung. Dùng tay sờ có thể phát hiện vết nối này.

4. Khoét lỗ gắn vòi và quai

Ấm Tử Sa làm vào đời Minh đều có dấu dao khoét vào thân ấm để gắn vòi và quai, sau đó được chà láng lại, nhìn kỹ vẫn phát hiện dấu sần sùi.

5. Dính men và tì vết

Trước đời Minh Vạn Lịch, ấm Tử Sa được cho vào lò nung chung với đồ gốm, vì vậy trên da ấm thường có lốm đốm vết men gốm bay dính.

6. Lỗ vòi

Vào đời Minh đến giữa đời Thanh, lỗ chảy của vòi luôn là lỗ đơn, sau đó mới chuyển dần sang nhiều lỗ, nhưng đều là số lẻ: 3 lỗ, 5 lỗ, 7 lỗ và 9 lỗ. Đến thập niên 1970,do ảnh hưởng loại ấm trà của Nhật Bản, ấm Tử Sa mới xuất hiện bán cầu nhiều lỗ để ngăn trà làm nghẹt vòi.

Ngoài 6 điểm cơ bản trên, còn một yếu tố thẩm định rất quan trọng, là xét về phong cách ghi niên hiệu, thư pháp, vẽ tranh, nhưng phần này rất dài, sẽ viết trong một bài khác.

 

P12-13-457-7

Lạc khoản các lò khắc trên ấm Tử Sa những năm đầu thế kỷ 20: Xuân Thủy Đường, Thế Đức Đường, Thịnh Đức Đường, Thanh Đức Đường. Ngoài ra còn nhiều “Đường” khác, như: Tuyên Đức Đường, Chân Đức Đường…

Trước một môn chơi còn mới mẻ và nhiêu khê như vậy thật không khỏi khiến mọi người nản lòng, nhưng hiện nay vẫn có nhiều người sưu tầm ấm Tử Sa. Chơi là để ngắm nhìn vui mắt, có đề tài trao đổi với bạn bè và nhất là tạo cơ hội cho mình nghiên cứu, học hỏi thêm.

Xung quanh chiếc ấm “Thụ Anh” của Cung Xuân (đời Minh)

 

P12-13-457-17

Ấm “Thụ Anh” của Cung Xuân

 

Năm 1928, Ông Trữ Nam Cường, một danh sĩ Nghi Hưng mua được chiếc ấm Tử Sa dáng vẻ rất cổ xưa tại Thọ Châu. Màu sắc của chiếc ấm cũ kỹ, thân ấm bầu tròn không theo qui tắc, bế mặt lồi lõm trông như vỏ cây khô, đầy những nếp nhăn, dưới quai ấm khắc hai chữ “Cung Xuân”, dưới nắp ấm hình cuống dưa có dấu ấn đề “Ngọc Lân”. Trữ Nam Cường mừng rỡ tột độ, sau khi tìm hiểu, nhờ thẩm định và chứng minh tưởng rằng chiếc ấm này là nguyên tác của Cung Xuân (Minh), nắp ấm bị bể được Huỳnh Ngọc Lân (Thanh) phối sau.

Chuyện này khi được công bố đã gây chấn động giới chơi cổ ngoạn vào thời đó. Hoạ sĩ nổi tiếng Huỳnh Binh Hồng khi thưởng thức chiếc ấm này đã chỉ ra rằng: “Chiếc ấm làm dựa theo hình dáng bướu cây ngân hạnh, nhưng Huỳnh Ngọc Lân đã phối nhằm chiếc nắp hình cuống dưa”.

 

P12-13-457-18

Chiếc ấm giả Cung Xuân của Huỳnh Ngọc Lân làm vào đời Thanh

Thế là Trữ Nam Cường nhờ danh thủ Tử Sa nổi tiếng của Nghi Hưng lúc bấy giờ là Bùi Thạch Dân phối một chiếc nắp khác hình bướu cây và khắc chữ trên đường viền nắp ấm: “Người làm ấm Cung Xuân, người phối nắp nhầm Huỳnh Ngọc Lân, 500 năm sau Huỳnh Binh Hồng phát hiện, người làm cái nắp mới là Thạch Dân, người đề chữ là Trĩ Quân”. “Trĩ Quân” là ông Phan Trĩ Lượng (1881-1942), một thư họa gia cận đại nổi tiếng của Nghi Hưng.

Gần trăm năm nay, sự thật giả của chiếc ấm Cung Xuân này luôn là đề tài tranh luận từ Á sang Âu, tuy rằng hiện nay giới Tử Sa đều công nhận chiếc ấm là tác phẩm hợp tác của học giả Ngô Đại Trừng cuối đời nhà Thanh và nghệ nhân Tử sa Huỳnh Ngọc Lân, nhưng vẫn có người còn tỏ ý nghi ngờ, cho thấy sức ảnh hưởng của nó lớn biết bao.

SONG MỘC

(Tài liệu tham khảo: Tử Sa hồ toàn thư – Hàn Kỳ Lâu NXB Hoa Linh Bắc Kinh, Giám định Tử Sa sưu tập và thị trường – Trần Tụng ThưNXB Mỹ Thuật Sơn Đông, Trung Quốc cổ đại trà cụ – Diêu Quốc Khôn , Hồ Tiểu QuânNXB Văn Hóa Thượng Hải)

Đăng lại từ báo Đất Mũi Cuối tuần

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Advertisements

Read Full Post »

Tìm hiểu 3 hiệu ấm trà Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

P12-13-456-1

P12-13-456-2

Ấm Mạnh Thần

Đầu tiên cần xác định, đây không phải là thành ngữ điển tích của người Trung Hoa, mà là câu thiệu bằng thơ lục bát cho dễ nhớ của các cụ ta (V.N) ngày xưa, vì vậy “vai vế” thứ nhất, thứ nhì, thứ ba trong câu chỉ là tượng trưng, xếp theo vần điệu cho dễ nhớ chứ không phải thứ hạng.

Lịch sử và xuất xứ của 3 loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

A. Ấm Mạnh Thần

Trong 3 hiệu Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần, ấm Mạnh Thần có niên đại lâu đời nhất, tác giả là Huệ Mạnh Thần ở Kinh Khê, Nghi Hưng, Giang Tô, không rõ năm sinh năm mất. Đại khái thời của ông là vào buổi cuối Minh đầu Thanh, khoảng từ đời Thiên Khải (1621-1627) vị vua áp chót của nhà Minh tới đời Khang Hy (1662-1722) nhà Thanh. Hiện nay tại Thính Tuyền Sơn Quán ở Trung Quốc còn giữ một ấm trà làm bằng đất sét trắng, lạc khoản (tên hiệu, niên hiệu đề dưới trôn đồ gốm sứ) ghi 11 chữ “Thiên Khải Đinh Mão niên Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, từ đó phần nào làm sáng tỏ đối với họ tên, nguyên quán và thời đại sinh sống của ông.

P12-13-456-3

Ấm Tử Sa Mạnh Thần “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”

Hai chữ Kinh Khê trong lạc khoản là chỉ nguyên quán, nguồn gốc như sau: Nghi Hưng thời xưa gọi là Kinh Ấp, đến năm Ung Chính thứ 3 đời Thanh, tách làm hai huyện Nghi Hưng và Kinh Khê, năm 1912 thời Dân quốc đã nhập hai huyện làm một huyện Nghi Hưng, Kinh Khê trở thành thị trấn. Năm 1983 Nghi Hưng thuộc thành phố Vô Tích, năm 1988 xóa bỏ huyện Nghi Hưng, thành lập thành phố Nghi Hưng (thành phố cấp huyện) đến nay.

Tay nghề làm ấm Tử Sa của Huệ Mạnh Thần rất xuất chúng, mang đậm phong cách riêng, tác phẩm của ông ấm nhỏ nhiều, ấm cỡ trung bình ít, ấm lớn hiếm nhất. Ấm lớn thì kiểu dáng đơn giãn mộc mạc, loại ấm nhỏ lại cực kỳ tinh xảo, tạo hình của ấm có dáng tròn, dáng dẹt, có thân cao, bụng tròn, hình trái lê hay trái quýt…

Mỗi chiếc ấm Tử Sa do Huệ Mạnh Thần làm ra đều là một tác phẩm nghệ thuật, hình dáng thanh bai cân đối, đường nét uyển chuyển, thân ấm sáng bóng, cốt mỏng tinh xảo, nhất là phần vòi, dù dài hay ngắn đều rất chắc chắn, rót trà nước chảy thông, không nghẽn không đọng giọt. Những chiếc ấm nhỏ xinh xắn của ông rất thích hợp trào lưu uống trà kungfu lúc bấy giờ, còn loại ấm hình trái lê thì được xuất khẩu sang nhiều nước châu Âu, có ảnh hưởng rất lớn đối với công nghệ làm ấm sứ thời kỳ đầu của châu Âu vào thế kỷ 17.

P12-13-456-4

Ấm Mạnh Thần dáng trái lê xuất khẩu sang châu Âu thế kỷ 17

Ngoài việc coi trọng sự tiện lợi cho người sử dụng và đề cao nét chất phác giản dị của thân ấm, ông còn đặc biệt quan tâm việc khắc chữ, viết thư pháp trên ấm. Những chiếc ấm do chính tay Huệ Mạnh Thần làm ra thường đề: “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, “Văn Hạnh quán Mạnh Thần chế”, “Huệ Mạnh Thần chế” hoặc “Mạnh Thần chế”. Có một số ấm trên thân có đề năm chế tác hoặc những câu thư pháp nhiều hơn 10 chữ, nội dung mang ý nghĩa tốt lành. Thời kỳ đầu ấm của ông khắc chữ bằng dao tre, về sau mới kết hợp in bằng con dấu làm sẵn. Theo các nhà sưu tầm ấm Tử Sa có kinh nghiệm, sản phẩm tuyệt hảo nhất của Huệ Mạnh Thần là những chiếc ấm có đóng dấu “Vĩnh Lâm” phía trong nắp.

B. Ấm Thế Đức

Ấm Thế Đức còn gọi là ấm Tích Bao, là loại ấm trà xuất hiện vào những năm Gia Khánh và Đạo Quang đời Thanh (1796-1850), do những danh gia chế tạo ấm, sau đó được các văn nhân vẽ tranh, viết thư pháp, đề thơ. Ấm làm bằng đất Tử sa, thân bọc thiếc. Núm nắp, quai, vòi được tô điểm bằng cách khảm ngọc, chạm trỗ tinh vi, rất được giới văn nhân tao nhã yêu thích.

P12-13-456-6

Ấm Tích Bao

Chu Kiên (1772-1830) tự Thạch Mai, hiệu Thạch My, quê ở Thiệu Hưng, Chiết Giang, có sở trường giám định và am hiểu kỹ thuật vẽ tranh trên gốm sứ. Thời đó đang thịnh hành dùng hai loại ấm Tử Sa và Tích Bao để uống trà, Chu Kiên chính là người hợp nhất hai loại ấm này, ông mua những ấm trà của Dương Bành Niên về khảm ngọc lên quai, vòi, nắp và thân ấm, làm thành ấm “Tử Sa Tích Bao”. Ngoài Chu Kiên, thời đó có nhiều nghệ nhân Tử Sa khác cũng chế tác ấm Tích Bao cung cấp cho thị trường đang rất “nóng”, đặc biệt là Dương Bành Niên, hiện nay nhiều nhà sưu tập còn cất giữ những chiếc ấm Tích Bao rất quý của ông.

P12-13-456-8

Ấm Tích Bao của Dương Bành Niên

P12-13-456-9

Ấm Tích Bao của Chu Kiên hiệu đề “Thế Đức Đường”

Ảnh trên là chiếc ấm Tích Bao cao 10,5cm, dạng hình học, nắp bằng, vòi thẳng, cốt làm bằng đất tử sa, bên ngoài bọc thiếc, vòi, quai, núm nắp ấm đều có khảm ngọc. Trên lớp thiếc bọc ngoài thân ấm một bên vẽ tranh sơn thủy, nhà cửa, cây cối, ghềnh đá, núi non chập trùng. Một bên có khắc chữ và dấu ấn, trải qua hàng trăm năm lớp thiếc bọc ấm bị ăn mòn, chỉ còn đọc được bốn chữ không liền mạch và không đủ câu: “Thạch Mai…Tuyền Hỏa…”, dưới đáy ấm có dấu lạc khoản hình vuông, khắc chữ “Thế Đức Đường”. Có thể khẳng định đây là chiếc ấm Tích Bao của Chu Kiên, làm cho Thế Đức Đường vào những năm Đạo Quang nhà Thanh.

P12-13-456-5

Ấm Tích Bao

the_duc_lac_khoan

the_duc_lac_khoan

Cái tên Thế Đức Đường bao hàm ý nghĩa đời đời công nhận đức hạnh của tổ tiên và gia tộc họ Tào ở thị trấn cổ Tô Châu, tòa nhà lớn này xây dựng vào đời Đạo Quang, hai mặt trước sau có 5 cổng lớn, tổng cộng 69 phòng ốc. Năm Quang Tự 32 đời Thanh (1906), tòa nhà được cải tạo, xây dựng lại, những bức tường bao quanh tòa nhà trở thành 6 cửa hiệu mặt tiền, phía trước là cửa hàng buôn bán sầm uất, phía sau là phố phường nhộn nhịp, bán đủ loại mặt hàng, nổi tiếng gần xa với sản phẩm rượu Bản Thiệu (Thiệu Hưng) và nước tương Bạch Nguyên. Về sau con cháu họ Tào tiếp tục phát triển ngành nghề kinh doanh, trong đó có cả mặt hàng gốm sứ, ấm Tử Sa, ấm Tích Bao… tuy không tự mình làm ra sản phẩm, nhưng họ đặt lò sản xuất rồi bao tiêu, vì vậy mà sản phẩm đề hiệu “Thế Đức” hay “Thế Đức Đường”.

P12-13-456-10

Ấm Tích Bao (chữ “tích” nghĩa tiếng Việt là “thiếc”)

Vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 loại ấm Tích Bao này được làm giả và xuất khẩu rất nhiều sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tới đây, chúng ta có một phát hiện thú vị: Tên gọi của loại ấm này là “Tích Bao hồ”, dịch sang tiếng Việt là “bình Tích Bao” (1), điều này giải thích vì sao người Việt, đặc biệt ở Nam bộ, gọi chung các loại ấm trà bằng cái tên rất phổ biến: “bình tích”, “ấm tích”.

C. Ấm Lưu Bội

3c

3b

Lạc khoản “Thiệu Cảnh Nam chế”

Thiệu Cảnh Nam (1796-1874) là một danh gia chế tác ấm Tử Sa dưới triều Đạo Quang, hiệu Lưu Bội chủ nhân, cùng thời với các nghệ nhân Tử Sa tên tuổi: Thiệu Đại Hanh, Huỳnh Ngọc Lân, Phùng Thể Hà, Thiệu Nhị Tuyền, Du Quốc Lượng…ông nổi tiếng làm ra chiếc ấm nhỏ gọi là Zhuni (Chu nê – bùn đỏ).

P12-13-456-11

Ấm Zhuni Lưu Bội, dưới đáy khắc chữ “Thiệu Cảnh Nam ấn”

Chiếc ấm Zhuni trong ảnh trên thân cao 6,8cm, chiều ngang đo từ quai đến miệng bình 12,2cm, đáy bằng phẳng, thân tròn. Nắp ấm hơi lồi, núm tròn, tương ứng với nắp và thân ấm. Vòi ấm hơi cong và hướng nhẹ lên trên, quai ấm có hình dáng như vành tai, nhằm tạo hiệu quả hài hòa về mặt thị giác cho người dùng, điều này chứng tỏ người làm ra chiếc ấm có ý tưởng sáng tạo rất tinh tế. Trên thân ấm, tác giả dùng dao tre khắc hai câu thơ “Hồ trung nhật nguyệt trường/ Sơn dung vô y dạng”, ý nói “Việc thưởng trà có thể quên cả thời gian”, bên cạnh ký Lưu Bội, dưới đáy ấm có khắc dấu “Thiệu Cảnh Nam ấn” bằng thể chữ Lệ thư.

P12-13-456-12

Ấm Lưu Bội

P12-13-456-13

Ấm Lưu Bội (giả cổ) làm riêng cho thị trường Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20

Từ tay nghề đến tạo hình chiếc ấm, hay cách tô điểm trên thân ấm, cho thấy đây là một chế phẩm thượng hạng. Ngoài ấm Zhuni, Thiệu Cảnh Nam còn làm một loại ấm tương tự, nhưng trên nắp ấm có thêm một đường viền tinh xảo, thân ấm cũng dùng dao tre khắc hai câu thơ “Kim ba sơ phiếm thể/ Ngọc vũ sạ sinh huy” (Mặt trăng vừa ló dạng, bầu trời liền ngời sáng), ký Lưu Bội, đáy ấm khắc dấu triện “Thiệu Cảnh Nam”. Cách thức tạo ấm và kiểu thư pháp của hai loại ấm này chính là phong cách đặc trưng của tác giả, có thể dùng làm căn cứ khi giám định ấm Lưu Bội thật và giả.

______

(1) “Tích Bao hồ” dịch sát nghĩa là “bình bọc thiếc”, Tích Bao là tiếng Hán Việt, cũng như người Việt gọi ấm Tử Sa chứ không gọi “ấm Cát tím”.

SONG MỘC

Đăng lại từ báo Đất Mũi Cuối tuần

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 



Read Full Post »