Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám 19th, 2009

TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ

Mấy hôm nay rảnh rỗi, gã đọc lại chồng báo xuân Mậu dần 1998 và gã tóm được một mẩu tin làm đề tài tán hươu tán vượn, không biết nên buồn hay vui. Và nếu có cười thì nụ cười cũng méo mó, rất có thể sẽ rơi cả nước mắt.

Mẩu tin ấy ở trong báo Công an, mang tựa đề là “chồng thật- chồng giả “, đại khái như thế này :

Với mong muốn được vi vút ở ngoại quốc, nên khi được người quen gợi ý, cô BT, ngụ tại phường 12 quận 6, đồng ý liền tù tì.

Để hợp thức hóa việc xuất ngoại, BT ưng thuận làm thủ tục kết hôn giả với một với công dân Pháp, tên là Simon, 35 tuổi, hơn BT vừa đúng một con giáp.

Theo hợp đồng, hai người là vợ chồng nhưng không sống chung. Khi đã định cư ở nước ngoài, thì ly dị và BT phải trả công cho ông chồng hờ 3.000 mỹ kim.

Ngày 06-5-1997, BT và Simon được Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận kết hôn. Từ đây, cô gái những tưởng mọi chuyện đã xuôi chèo mát mái, bắt đầu thêu dệt mộng…việt kiều.

Nào ngờ chàng rể vi phạm hợp đồng, đòi làm chồng thật, chứ nhật định không chịu đóng vai làm chồng hờ nữa. Đường cùng, BT phải đâm đơn cho ba tòa quan lớn xin ly hôn. Vì thà “ vỡ mộng “còn hơn là …tàn một kiếp hoa.

Từ sự việc trên đây, đêm nằm vắt chân lên trán, gã nghiệm rằng :

– Sự giả là một cơn bệnh trầm trọng của xã hội hiện nay, là một hiện tượng được liên tục phát triển qua một lãnh vực, từ hàng hóa đến con người.

Vậy giả là gì ?

Dĩ nhiên, giả có nhiều nghĩa, nhưng trong phạm vi bài này, gã chỉ xin được tự hạn chế :

– Giả là nhái cho giống để gạt người ta.

Thí dụ như giả điếc, giả câm, giả bộ…Riêng dân có tinh thần ăn uống cao, ghiền món “cờ tây’’ mà nếu không sẵn, thì bèn phệu ra món ‘’giả cầy’’ để xài cho đỡ nhớ. Vật liệu được làm bằng thịt heo, tẩm liệm với riềng mẻ và mắm tôm, xào lên thơm phưng phức, làm điếc cả mũi hàng xóm, xơi vào cũng êm trời gió bụi, chẳng khác chi thịt cầy thứ thiệc.

Bây giờ xin trở lại với phạm trù hàng giả.

Hàng giả hơi khác với hàng dổm một tí, bởi vì hàng dổm là hàng có phẩm chất kém. Còn hàng giả, ngoài phẩm chất tồi, còn mắc thêm cái tội ‘’cóp pi’’ mẫu mã y chang thứ hàng thật, rồi tung ra thị trường, nhằm dối gạt người mua, gây thiệt hại đôi ba bề.

Hàng giả lúc này thật ê hề, tràn lan từ cái tăm đến hộp xà phòng, từ chiếc đồng hồ đeo tay đến những máy móc đắt tiền.

Chẳng thế mà có thời người ta để mỉa mai :

– Hồng kông ư ?

– Hỏng dám đâu, có mà bên hông Chợ lớn ấy.

Nghệ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi, khiến cho người tiêu dùng khó mà nhận ra, chỉ khi mua về đem xài thì mới vỡ nhẽ ra đó là hàng giả.

Dịp tết, gã bóp bụng mua một chai rượu tây cho đời lên hương. Từ vỏ chai đến nhãn hiệu trình tòa đều là thứ xịn, nhưng khi khui ra để uống, thì hỡi ơi, chỉ toàn là một thứ nước màu vàng, sặc mùi cồn mà thôi.

Bởi đó, trong những năm gần đây, người ta chịu khó tổ chức nhiều cuộc triểm lãm hàng giả, để người mua kẻ sắm nhận diện. Hay trong những mục quảng cáo trên truyền hình, người ta luôn dặn dò :

– Xin nhìn kỹ mẫu mã để khỏi mua nhầm hàng giả.

Tới đây, gã xin kể lại hai mẩu chuyện nho nhỏ.

Mẩu chuyện thứ nhất về tiền giả ở bên Đức.

Hôm ấy, hai đội bóng tranh giải vô địch. Sân vận động chặt cứng như nêm. Người hèn có, kẻ sang có và những bậc tai mắt lại càng nhiều.

Khi tan cuộc, mọi người hối hả ra về, thì thấy giữa đường đi, rải rắc nhiều tờ giấy bạc 500 đồng, của một hay nhiều khán giả vô ý nào đó đánh rơi.

Ai cũng lấm la lấm lét. Thế rồi kẻ trước người sau, tất cả đều lần lượt cúi xuống…sửa giày. Có kẻ sửa tới năm bảy lần. Kẻ sang cũng như người hèn, thượng lưu cũng như bình dân. Không ai trao đổi với ai một tiếng, nhưng ai cũng thấy vui như mở trong bụng :

– Đi xem đá bóng hôm nay đúng là được thần tài phò trợ.

Về đến nhà, xoa tay cho sạch, thò vào túi, rút xấp bạc ra, sung sướng và hí hủng.

Thế nhưng dưới ánh đèn sáng, nhìn kỹ lại, thì ôi thôi, khóc vì hổ ngươi. Vừa tức lại vừa nhục. Tức cho ai mà cũng nhục cho ai. Các ngài đã bị sập bẫy trong một cuộc chơi trắc nghiệm của một tổ chức nào đó. Bời vì giấy bạc toàn là thứ giả mà thôi.

Xem thế, thì phàm đã là người, ai cũng có một chút máu tham trong mình.

Mẩu chuyện thứ hai về vàng giả ở Việt Nam.

Trưa Sài Gòn, trời nắng như đổ lửa. Đường phố ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt. Một cô nàng ăn mặc thật đúng mốt. Cổ thì giây chuyền. Tay thì vòng vàng óng ánh. Còn thân hình yểu điệu thì đang cưỡi trên một chiếc xe gắn máy, dường như cô nàng vừa mới đi dự tiệc và đang trên đường về nhà.

Bỗng một chiếc xe gắn máy khác trờ tới và ép sát cô nàng. Người ngồi sau lanh tay lẹ con mắt chộp vội sợi giây chuyền nơi chiếc cổ nõn nường, khiến cho chiếc xe lảo đảo và cô nàng xuýt bị đo đường.

Thế nhưng, chỉ một lúc sau hai tên kẻ cướp vòng xe lại, ném sợi giây chuyền vào mặt cô nàng và chửi :

– Tiên sư em nhé, đẹp như tiên mà xài toàn đồ giả, thối không chịu nổi.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý điều này :

– Hàng giả đang lũng đoạt thị trường, nhưng không nguy hiểm cho bằng người giả.

Thực vậy, nhìn vào con người, chúng ta thấy từ vóc dáng và hành động bên ngoài đến tình cảm và ý nghĩ bên trong, người ta đều có thể giả được tuốt luốt.

Nếu các cụ ta ngày xưa thường bảo :

– Cái răng cái tóc là góc con người.

Thì ngày nay, với kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ và trang điểm tuyệt vời, người ta có thể cải lão hoàn đồng, từ một bà già trầu móm mém gần đất xa trời trở nên một cô thiếu nữ liễu yếu đào tơ trong thoáng chốc bằng cách trang bị cho bà cụ những thứ đồ giả : nào là mái tóc giả, nào là hàng mi giả, nào là hàm răng giả, nào là bộ ngực giả, nào là cặp mông giả…

Người ta cũng có thể tạo nên những nụn ruồi giả, những má lún đồng tiền giả, những chiếc cằm xẻ giả. Thậm chí có những anh chàng đực rựa “chăm phần chăm” được cải trang thành những cô gái y như thật với những ý đồ đen tối và hắc ám, khiến cho những đấng mày râu háo sắc và ngây thơ cụ cũng phải bé cái lầm.

Thế nhưng cái “hình dong bên ngoài” không quan trọng cho bằng những cái làm nên phẩm chất bên trong của con người. Và những thứ này lại cũng toàn là đồ giả.

Chẳng hạn để khoe khoang với bè bạn, để dễ dàng trong công ăn việc làm, cũng như để luồn lách vào chức vụ nọ chức vụ kia, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cái bằng…phó tiến sĩ giả, để hù dọa bà con lối xóm.

Người ta cũng có thể mượn danh làm công an giả, cán bộ giả, thậm chí cả linh mục giả để dối gạt thiên hạ, ẵm về cho mình những món tiền lớn và những lợi nhuận kếch xù.

Thế nhưng bẽ bàng và cay đắng hơn cả, đó là người ta đã mượn tạm danh nghĩa, lợi dụng những chức vụ giả ấy để ăn cướp cơm chim, phỗng tay trên chén cơm manh áo của các em nhỏ trong viện mồ côi, của các cụ già trong nhà dưỡng lão…bằng cách lừa đảo các tổ chức từ thiện cũng như các nhà hảo tâm.

Mánh mung của bọn này thì thiên biển vạn hóa, đến quỉ thần cũng không lường nổi mà chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí.

Từ phẩm chất giả, quạ mượn lông công, cáo mượn oai hùm, chúng ta bàn tới những hành động giả. Và một trong những hành động giả mà gã xin đề cập đến, đó là hôn nhân giả.

Thực chất của cuộc hôn nhân giả chính là tình yêu giả. Người ta giả bộ yêu nhau để toan tính những công việc khác chẳng hạn như để xuất ngoại, để làm ông nọ bà kia.

Họ nhìn vào người ấy không phải để thấy người ấy dễ thương và dễ mến, nhưng để thấy túi tiền người ấy đang có, cái ghế người ấy đang ngồi, tòa nhà người ấy đang ở, chiếc xe người ấy đang đi…Tóm lại, họ không yêu gì người ấy, mà yêu cái tài sản, cái chức vụ của người ấy mà thôi.

Nổi cộm trong hàng loạt hành động giả này, đó là cái thói giả hình, hay nói một cách cụ thể hơn, cái thói giả nhân giả nghĩa, hay đạo đức giả.

Họ là những kẻ khẩu phận tâm xà, miệng nam mô bụng bồ dao găm, đúng như tục ngữ đã diễn tả :

– Ngoài thì thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không gươm.

Hay :

– Nam mô.

Một bồ dao găm,

Một trăm dao mác,

Một vác dao bầu,

Một xâu thịt chó.

Họ là những kẻ nghĩ thế này, nói thế kia, nói một đàng làm quàng một nẻo. Tư tưởng không đi đôi với lời nói, còn lời nói thì không đi đôi với việc làm. Tư tưởng, lời nói và việc làm của họ không còn trong suốt như pha lê. Không còn hợp nhất với nhau.

Họ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí họ còn làm ngược lại với điều họ nói.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã diễn tả một cách rất chính xác về hạng người này :

– Họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt hết tài sản của các bà góa. Họ rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ. Họ giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài thì có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.

Để kết luận, tôi xin ghi lại nơi đây ý kiến của chị Nguyễn thị Oanh, tác gỉa bài ‘’tính trung thực’’, đăng trên báo tuổi trẻ Chủ Nhật, như sau :

“Tôi thấy cán bộ công đoàn ngồi lại đánh giá công nhân trên những phát triển của họ ở các buổi học tập chính trị. Còn công nhân thì thổ lộ : Người ta không cần biết chúng tôi sản xuất như thế nào ? Đối xử với anh em ra sao ? Gìn giữ tài sản chung đến mức nào ? Mà chỉ coi trọng lời nói. Tôi thì rất ngượng ngùng phải nói những điều không xuất phát từ đáy lòng. Đó là vào giữa thập kỷ 80.

‘’Còn ngày nay, trở lại sự trung thực thì ta thấy trong cuộc sống : mắt mũi môi giả, hàng giả, bằng lái giả, bằng cấp giả, hôn nhân giả ! Người ta giả vờ với nhau một cách tỉnh bơ. Đáng sợ hãi cho tương lai là chuyện gian dối ở chỗ mà lẽ ra sự trung thực là nguyên tắc hàng đầu. Đó là ở phòng thi : thày làm ngơ để trò quay cóp.

‘’Con người lấy gì làm cơ sở để quan hệ với nhau khi cái trục chính của chiếc cầu đã gẫy ? Cái túi nước silicon rò rỉ, đã biến những con người muốn làm đẹp thành xấu xí đến tai hại. Thực phẩm giả, bằng lái giả gây chết người. Còn bằng cấp giả ?

Xin trích thêm đoạn dưới đây từ báo phụ nữ ngày 27-9-1997.

‘’NM sinh viên khoa ngữ văn, một cô gái tài hoa, có lối sống khá bạt mạng, mệt mỏi tâm sự :

– Ở gia đình, bố mẹ luôn dạy tôi cách sống tốt, chân thật, nhưng tôi biết rõ ràng đó chỉ là lời nói. Thực tế còn cả một khoảng cách.

“Cái khoảng cách ấy đã được NM nhận rõ khi người ta phát hiện hai cái học vị phó tiến sĩ của bố và mẹ NM đều là của giả. NM bộc lộ :

– Tôi không quan lắm đến danh dự gia đình, nhưng bố mẹ, những thần tượng của tôi, đã hoàn toàn sụp đổ.

“Để trốn chạy thực tế, NM thường đóng kín cửa phòng, đắm mình trong âm thanh của Spice Girls, hoặc phóng xe hết tốc lực ngoài đường.

‘’ Thế đấy, cái giả tưởng chừng như vô thưởng vô phạt đang giết chết một thế hệ về mặt tinh thần. Và ngày nay không cần thiết phải chứng minh tính chính trị của đạo đức nữa. Cái khó là tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa và những cơ chế vận hành nào đã đưa tới tình trạng báo động này.

‘’Ta đánh giá cao những báo cáo tô hồng, những trường có tỉ lệ ‘’lên lớp’’, ‘’thi đậu’’ cao, những người nói đúng bài bổn nên cấp dưới tập phản xạ nói dối, phản xạ này ăn sâu trong tâm tư họ đến nỗi có người không còn biết nhận ra và phân biệt thật và giả, đúng và sai.

‘’Phải tập lại từ đầu, không phải bằng hô hào mà bằng hành động. Khó có thể kêu gọi tuổi trẻ bằng những khẩu hiệu chung chung, nhưng họ sẽ hưởng ứng ngay với cách làm mới.’’

‘’Khen thưởng những ai lật tẩy sự dối trá. Phạt nặng sự dối trá trong sản xuất. Chỉnh đốn triệt để ngành giáo dục vì bao giờ còn gian lận trong ngành này thì không thể gọi nó là giáo dục. Văn học nghệ thuật phải đem sự dối trá ra làm trò cười cho đến nơi đến chốn.

Và rồi cuối cùng :

– Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.

Tác giả Gã Siêu

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Giới Thiệu Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam – Phần 1

Chúng ta có rất ít tài liệu về đồ gốm cổ truyền Việt Nam, số người sưu tập đã ít, số sách vở viết về đồ gốm, đồ gỗ, đồ đồng Việt chỉ được phổ biến một cách hạn hẹp. Trong số tài liệu ít ỏi đó, phần lớn được viết bằng bởi người ngoại quốc ở Úc, Anh, Nhật… trong mươi, mười lăm năm gần đây. Nhiều người Việt không biết rằng dân tộc mình có một ngành nghệ thuật thuần nhất, phong phú, kéo dài nhiều trăm năm và rất được yêu chuộng bởi các nhà sưu tập trên thế giới. Những món đồ gốm, hình tượng gỗ, trống đồng này rất đặc biệt Việt Nam, rất đẹp và rất hiếm có. Chúng tôi có cái duyên may là yêu thích ngành nghệ thuật tạo hình đặc sắc này của ông cha, nên trong những năm qua đã có dịp tìm hiểu và sưu tập được khá nhiều món, từ tô, đĩa, đến bình, ấm, lư hương, chân đèn.. Càng tìm hiểu chúng tôi càng say mê hơn và nhận rõ hơn cái giá trị tuyệt vời của nghệ thuật tạo hình cổ truyền Việt Nam. Càng tìm hiểu chúng tôi càng bứt rứt vì thấy ít ai biết đến và ít ai sưu tập những món đồ thật sự Việt Nam, vừa đẹp vừa nghệ thuật, vừa giầu kỹ thuật sáng tạo lại vừa chứa đựng cả dòng diễn tiến của văn hoá nhà qua những món đo.à.. hoặc thường dùng hàng ngày, hoặc khi tế lễ, hội hè, từ thôn quê đến kinh đô. Do đó dù sự hiểu biết còn thiếu xót, dù cuộc nghiên cứu chỉ mới ở mức khởi đầu, nhưng cảm thấy không thể chờ đợi lâu hơn được, chúng tôi đành mang cái biết thiếu xót ấy, mang những vật tích gom góp được để trước là mua vui cho bà con, sau là khơi động lên lòng yêu văn hóa dân tộc, rồi từ đó những cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh sẽ được thực hiện bởi các nhà chuyên môn. Ngõ hầu người Việt chúng ta hiểu rõ hơn, yêu nhiều hơn, rồi cùng chung giữ và trân quí các món đồ biểu hiệu cả một dòng tình tự dân tộc. Hy vọng rằng một ngày gần đây đa số chúng ta biết và yêu những nét chạm khắc trên cột đình cổ, những cái trống đồng, những món đồ Chu Đậu, đồ Lý Trắng, Lý Nâu … để càng hiểu và yêu thêm cái tâm tình thuần Việt được thể hiện qua bàn tay người nghệ sĩ Việt nhiều trăm năm trước. Để qua những cái đĩa, cái chén, cái trống đồng, các hình tượng ấy, chúng ta sẽ thấy rõ ông cha ta nhìn đời sống chung quanh mình thế nào.

Giới Thiệu Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam

Văn hoá của một dân tộc bao gồm bốn khía cạnh: sinh hoạt xã hội (phong tục, tôn giáo) – văn chương (truyền khẩu và thành văn) – nghệ thuật tạo thanh (âm nhạc, ca vũ) – và nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc) . Những biến động lịch sử trong vòng trăm năm qua đã ngăn trở việc tìm hiểu sâu rộng nền văn hóa phong phú và thuần nhất Việt Nam. Trong vòng hai mươi năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu ở Úc, Tân Gia Ba, Nhật Bản, Hương Cảng (như John Guy, John Stevenson, Mimoto Asako, William Willets, Keith Taylor, Barbara Harrisson, bà Kelly Nguyễn Long .., và của một số người Việt trong và ngoài nước (Hà Thúc Cần, Đào Duy Từ, Nguyễn Đình Chiến, Phillip Trương, Tăng Bá Hoành .. ..) đã mạnh mẽ vạch rõ rằng văn hóa Việt dù chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nhưng thật ra lại là một nền văn hoá riêng biệt với những bản sắc khác hẳn Trung Hoa.

Nghệ thuật tạo hình của Việt Nam ít được nghiên cứu; Sách báo khảo cứu về đồ đồng, đồ đá thì còn khá, nhưng về đồ gốm thì không có mấy. Đồ gốm Việt Nam chỉ mới được tìm hiểu nhiều trong vòng mươi, mười lăm năm gần đây. Vì thế số người Việt – trong và ngoài nước – biết và hiểu điều này còn rất ít. Sự hiểu biết này còn chỉ giới hạn trong số những nhà nghiên cứu hay sưu tập chuyên môn mà thôi. Bài viết ngắn này nhằm mục đích giới thiệu một cách rất tổng quát một khía cạnh nhỏ của nghệ thuật tạo hình Việt Nam: Đồ gốm cổ truyền.

Dân tộc, văn hóa Việt khởi nguồn độc lập và song song với văn hóa dân tộc Trung Hoa. Nền văn hóa Hòa Bình (8,000BC), Bắc Sơn (6,000BC), Phùng Nguyên (2,000BC) và Đông Sơn (1,000BC) đã phát triển rực rỡ từ trước khi có những giao tiếp giữa hai dân tộc Việt, Hoa. (Nhiều trống đồng khai quật trong vài năm gần đây chỉ rõ nét đặc biệt, thuần Việt, phác họa lên cả một nền văn minh rực rỡ, với kỹ thuật điêu luyện). Cái nôi của văn hoá, dân tộc Việt quy tụ vào bốn vùng chính: (1) Châu thổ sông Hồng: Hòa Bình – Bắc Sơn – Hải Hưng – Vĩnh Phú – Hà Nội, (2) Duyên hải Bắc Việt: Hạ Long – Vân Đồn – Hải Phòng, (3) Thanh Hoá và (4) Nghệ An – Hà Tĩnh.

Trong bốn môi trường văn hóa ấy, đồ gốm Việt Nam thành hình và phát triển rực rỡ. Mỗi vùng, mỗi thời kỳ có những nét đẹp, tùy theo vật liệu, tùy theo kỹ thuật và nghệ thuật riêng. Chúng tôi tin rằng, trong những năm tới, nhiều cuộc khai quật quan trọng sẽ được thực hiện, nhiều vật tích đặc biệt sẽ được tìm thấy. Những khám phá này sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn về nền văn hoá dân tộc Việt và cũng sẽ làm thay đổi quan niệm, ý kiến và sự hiểu biết phổ thông hiện nay. Chúng tôi ghi lại những thời điểm chính của lịch sử và sự phát triển nghệ thuật đồ gốm Việt Nam trong Bảng Tóm Lược Lịch Sử Đồ Gốm Việt Nam.

Trong những món đồ chúng tôi sưu tập, chỉ có vài món làm từ thời Bắc Thuộc, còn phần lớn là đồ làm từ đời Lý, đời Trần trở về sau (Đồ làm từ thế kỷ 11, 12 tới thế kỷ 15, 16, 17). Chúng tôi cũng sẽ giới thiệu một loại đồ đặc biệt khác là đồ men trắng xanh (Thường được gọi qua tên ‘Đồ men lam Huế – hay phổ thông hơn là đồ ‘Bleue de Hue’ ) do vua quan Việt Nam họa kiểu riêng, đặt làm bên những lò gốm nổi danh bên Tàu. Khi sưu tập, hay tìm hiểu về đồ gốm Việt Nam, người ta vẫn lầm tưởng rằng đáng kể chỉ có đồ men lam Huế (Bắt đầu từ đồ ‘Nội Phủ’ và ‘Khánh Xuân’ của chúa Trịnh Sâm đặt, rồi tới tô, đĩa chữ nhật của các vua triều Nguyễn, hay đồ ‘Mai Hạc’ do Nguyễn Du đặt làm khi đi sứ năm 1813.

Các nhà sưu tập trong nước thì cũng chỉ chú trọng vào loại đồ hoặc của Trung Hoa hoặc men lam Huế này. (Học giả Vương Hồng Sển, với công trình sưu tập, nghiên cứu đồ sộ trong suốt hơn 50 năm, cũng chỉ viết chút ít về vài bình vôi mà ông gọi là đồ gốm Bát Tràng chứ không có các thứ đồ quý Việt Nam nào khác).

Đồ gốm Việt Nam đẹp, đa dạng, phong phú và giá trị hơn cả là đồ thời Lý-Trần, phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ 11-12, kéo dài đến cuối thế kỷ 16; với một số lượng lớn xuất cảng sang các nước Nam Thái Bình Dương, Nhật Bản, Đại Hàn, qua tận vùng Ả Rập từ thế kỷ thứ 7, mạnh mẽ vào thế kỷ 14-16. Một số đồ gốm Việt Nam đã rất được quý chuộng trong nghi lễ của Trà Đạo Nhật Bản từ cuối thế kỷ 15. (Bà Morimoto Asako, khi nghiên cúu các mảnh vỡ khai quật ở Dazaifu và Hakata đã viết rằng, đồ gốm Việt đã đưọc dùng ở Nhật từ giữa thế kỷ 14). Muốn biết thêm về việc xuất cảng này, xin đọc ‘Vietnamese Ceramic – a separate tradition’ của nhóm ông John Stevenson và John Guy, xuất bản năm 1997 ở Chicago và ‘Vietnamese Ceramics’ của Southeast Asian Ceramic Society xuất bản năm 1982 ở Singapore, tạp chí ‘Arts of Asia’ của bà Tuyết Nguyệt xuất bản ở Hương Cảng..vv..)

Đời Lý, với tinh thần dân tộc mạnh mẽ, sau khi chấm dứt được một nghìn năm đô hộ của người Tầu, nhà Lý, cũng với tinh thần Phật Giáo ảnh hưởng mạnh mẽ suốt từ triều đình ra đến đại chúng, nhà Lý, với quyết tâm phát huy nền văn hoá thuần Việt (vẫn trường tồn qua nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa) đã phát triển lên một nghệ thuật tạo hình riêng biệt Việt Nam rực rỡ, phong phú cũng như nền văn hoá Hòa Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn trước đó. Người thợ Việt Nam đã sáng tạo nên những dáng kiểu, sắc men và hoa văn rất Việt Nam, thể hiện một tinh thần sáng tạo rất phóng túng và phong phú. (Nhiều thử nghiệm về sắc men, dáng kiểu, nhiều hoa văn đẹp lạ không thể thấy được ở văn hoá Trung Hoa vốn nhiều khuôn khổ gò bó).

Nghệ thuật tạo hình đặc sắc này của văn hoá Việt có thể tóm tắt qua các điểm chính: (1) Dáng kiểu, (2) Nước men, (3) Hoa văn và (4) Chất đất.

1. Dáng kiểu

a. Tô, chén, đĩa: Tô chén thường có chân khá cao. Nhiều bát nhỏ và đĩa nhỏ có hình con rùa hay cá nổi giữa lòng, khi đổ nước vào ta có cảm giác như nhìn xuống lòng giếng, lòng ao, thấy cá và rùa bơi ở giữa. Đĩa thời Chu Đậu khá lớn (rộng khoảng từ 25 tới 30cm). Đồ ‘men lam Huế’ có kích thước khá gần với các món đồ dùng hiện nay (đĩa Khánh Xuân Long Lân của Trịnh Sâm rộng 26cm, đĩa Mai hạc của Nguyễn Du, rộng khoảng 17cm…)

b. Lư hương, bát hương, chân đèn: Lư hương khá to, cao khoảng 25 – 40cm. Nhiều chân đèn hai hay ba tầng cao khoảng 75 – 85cm. Đây là chân đèn để cắm nến, ngoài ra còn nhiều chân đèn dầu hình chim, hình gà. Nhà Lý vốn sùng đạo Phật, khi dời kinh đô về Thăng Long ngoài nhu cầu xây cất cung điện còn tạo dựng lên rất nhiều chùa chiền (Lý Công Uẩn vốn dựng nước từ dưới mái tam quan). Tiếc thay nhà Minh đã phá hủy gần như hoàn toàn các công trình kiến trúc này; phần còn sót lại bị đốt phá năm 1784, bởi loạn Kiêu Binh dưới đời Trịnh Khải. Kế đó, khi lên ngôi, vua Gia Long lại không muốn Thăng Long lớn hơn kinh thành Huế, nên đã phá đi để xây lại thành mới, nhỏ hơn. Nguyễn Du, người chứng kiến cuộc đổi thay đã than rằng:

thiên niên cự thất thành quan đạo,

nhất phiến tân thành một cố cung

(Thăng Long)

nghĩa là:

nhà cổ phá đi làm đường phố,

thành mới xây trên nền cung xưa.

c. Bình, ấm, âu, hũ, bình vôi: đủ mọi loại, đủ cỡ lớn nhỏ, sản xuất trong nhiều trăm năm. Có nhiều ấm hình chim, hình thú, hay có nhiều ấm mà vòi, quai là hình đầu thú. Có hũ nâu cao đời Lý khắc hình người, hình hoa, có hũ trắng ngà đời Bắc Thuộc vẽ hình voi và người như trên trống đồng Đông Sơn. Một trong loại bình rất Việt Nam là hình một con tôm càng đứng trên lưng con cá chép, ấm hình con cóc, bình hình quả dưa, lọ hình quả cà…

d. Hộp trang sức: Hộp nhỏ thường là hình tròn, để đựng phấn hay dầu trang sức phụ nữ. Những hộp này có lẽ là để xuất cảng sang vùng Ả Rập nhiều hơn là để bán trong nước. Hộp đời Lý thường có mầu trắng, trang trí hình hoa hay hình cánh sen nổi, đường kính độ 5, 6 cm. Hộp Lý nâu nhỏ có những nét trang trí mang ảnh hưởng Chiêm Thành. Hộp làm vào thế kỷ 14, 15, 16 thường mầu trắng ngà, trơn, trên nắp vẽ hoa, cành mầu chàm, hay vẽ hồi văn… Những hộp này nhỏ hơn, đường kính độ 3cm tới 6cm. Một số hộp tìm được trong khi khai quật mộ cổ ở Phi Luật Tân, Nam Dương, một số lớn tìm được trong vài năm gần đây, khi vớt các xác tầu buôn cổ chìm ở Hội An, Đà Nẵng. Có những hộp mầu xám đậm, có hộp hình bí ngô hay hình tròn nhưng chung quanh chia làm nhiều phần (6 hay 8) trang trí tạo nên ấn tượng là hộp thật sự có nhiều cạnh.

e. Gạch trang trí, ngói: Men trắng xanh, tìm thấy ở trên tường nhà thờ Hồi Giáo ở Nam Dương. Mộ cổ ở Phi Luật Tân (cùng các ấm, bình, tô, đĩa Việt Nam). Điểm tức cười là trong khi người Hồi Giáo Nam Dương mua gạch ngói men lam của Việt Nam để xây giáo đường (như xây Mosque ở Demak, Java) thì nhà Nguyễn lại nhập cảng gạch men lam từ nước Anh về xây lăng vua Khải Định.

2. Nước men: Những điểm khác biệt chính giữa nước men của đồ gốm Tàu và đồ gốm Việt là:

Nước men Việt thường rất mỏng, men pha loãng, tráng không đều, trong khi đó, nước men Tàu rất dầy, bóng và đều khắp.

Lò gốm Việt thường có độ nung thấp, nên nhiều vật tích tìm được có những phần đã tróc mất men. Lò gốm Tàu có độ nung rất cao, men bền.

Chân đế và dưới đáy đồ Việt thường được để mộc. Dưới đáy thường được tô một lớp son nâu đậm (điểm không hề thấy trong đồ gốm Trung Hoa).

Nước men rạn tự nhiên, rất đẹp. Màu men thay đổi từ trắng ngà sang vàng hồng, nâu với rất nhiều sắc từ nhạt đến đậm, nâu đen, nâu đỏ, xanh cánh lục biếc, xanh chàm, xanh lam nhạt, xanh lam đậm.

Ngoài ra, đồ gốm Việt Nam còn khác đồ Trung Hoa ở các điểm: (1) trong lòng tô hay đĩa thường sót lại các dấu in của con kê (dùng ngăn đĩa, tô chồng lên nhau khi nung) hay (2) trong lòng đĩa, tô khi men còn ướt, trước khi nung, thường bị cạo đi một vòng hình vành khăn để trơ lại đất mộc, và (3) miệng tô, đĩa cũng thường để mộc, không men. Đây là những cách đơn giản, để tránh cho các món đồ không bị dính chặt vào nhau khi nung. Ngược lại, người thợ Trung Hoa không bao giờ để trơ đất mộc ở chỗ nào, họ rất tỉ mỉ trong việc pha men, tráng men và xếp nung. Họ muốn món đồ được toàn hảo. Kỹ thuật lò và độ nung cũng rất cao tạo nên một nước men dầy bóng và đều khắp. Lò gốm Việt nam thường có độ nóng thấp hơn, chất men pha, tráng một cách phóng túng. Người thợ Việt nam thường chú trọng đến cái vẻ đẹp giản dị, tự nhiên. Họ không bận tâm đến những gò bó, tiểu tiết.

Tước men ngọc đời Lý

Tước men ngọc đời Lý

3. Hoa văn: Hoa văn thường được vẽ bằng sáu kỹ thuật chính:

dùng khuôn mẫu in rập lên đồ mới nặn cho hoa văn in lên (nổi hay chìm) trước khi tráng men và nung (gọi là ám họa).

dùng bút vẽ lên mặt đồ đã khô, trước khi tráng men và nung.

tráng men mầu nhạt rồi dùng dao nhỏ hay mảnh tre cạo bỏ men theo hình định trước, rồi dùng men mầu đậm vẽ trong chỗ đã cạo, nhưng lại để chừa nét viền không men.

ngược lại với cách trên. Tráng men mầu nâu đậm lên toàn bình hay ấm rồi dung mảnh tre cạo theo hình định sẵn, tạo nên hoa văn mầu nhạt, không men trên nền men nâu đậm.

tráng men mầu nhạt lên rồi nhỏ vài giọt men mầu khác lên một hay vài chỗ, để cho giọt men này chảy tự nhiên.

tráng men xong rồi nhỏ những giọt nước lên, hay tạt nuớc vào để nước làm men chảy loang tạo nên những hình tự nhiên.

c – d- e và f là bốn kỹ thuật thuần Việt. Đồ gốm Trung Hoa không bao giờ được trang trí bằng cách này.

Men lam Huế, Đọi (tô) chữ nhật của vua Tự Đức, có bài thơ ‘Một thức nước in trời’

Men lam Huế, Đọi (tô) chữ nhật của vua Tự Đức, có bài thơ ‘Một thức nước in trời’

4. Chất đất: Đồ gốm Việt Nam dưới thời Bắc Thuộc (Nhà Hán) thường làm bằng đất sét, pha cát và vỏ sò hến nghiền nát, sang đời Lý, nhiều món đồ không còn pha cát nữa, chất đất mịn hơn. Đồ Chu Đậu làm bằng kaolin trắng mịn. Đồ men ngọc (Celadon) đời Lý cũng khác đồ men ngọc Tàu ở chỗ chất đất không pha bột đá, đồ dầy hơn, men mỏng, gõ vào tiếng kêu không thanh và không ngân lâu bằng.

Để phân biệt một cách tổng quát, ta có thể tạm xếp đồ gốm Việt Nam làm các loại đồ chính:

1. Đồ thời Hoà Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn:

Không tráng men, nặn bằng tay với hình trang trí tạo nên do dây thừng và khuôn giỏ đan ấn lên, hay do mũi dao, mũi tre khắc những hình trang trí đặc biệt của văn hoá Việt thời này (Hình kỷ hà như thường thấy trên trống đồng gọi là ‘hồi văn’, nhưng đơn giản hơn) Đồ gốm làm bằng đất sét pha cát và vỏ sò hến nghiền nhỏ. Hình dạng thuần Việt hiện rõ ràng (đồ gốm Trung Hoa không làm hình voi hay vẽ hình voi, ngược lại, ấm hình thú, ấm đầu voi, ấm vòi voi rất thường thấy – Viện Bảo Tàng ở Hà Nội, có nhiều vật tích như bình cao, trang trí những hình khắc cong và thẳng làm vào khoảng 2000 BC cho tới những ấm, âu làm từ 300 tới 500 BC. Museum of Fine Art ở Boston có trưng bầy ấm vòi voi của Việt Nam làm trong khoảng thế kỷ thứ 3 BC tới thế kỷ thứ 1 BC)

2. Đồ thời Bắc Thuộc:

Bàn xoay bắt đầu được dùng nhiều, dáng kiểu, hoa văn và nước men có ảnh hưởng đồ nhà Hán pha trộn những nét Việt của văn hoá Đông Sơn. (Có chum, vại to, vẽ hình voi, hình người đóng khố, tay cầm giáo, cầm cung..) làm bằng đất sét pha cát mịn. Để món đồ này bên cạnh đồ nhà Hán của Trung Hoa, ta vẫn nhìn thấy những nét giống và những nét rất khác của hai loại đồ gốm. (Trong suốt thời Bắc Thuộc, người Trung Hoa đã thất bại trong việc hủy diệt văn hóa Việt, và đồng hóa người Việt như họ đã thành công với các dân tộc khác. Ngược lại người Việt đã thành công trong việc thu nhập nhọc hỏi, và áp dụng những nét đẹp, kỹ thuật hay của Trung Hoa). Loại đồ Việt Nam này thường mỏng hơn và thường được nung với độ cao hơn đồ nhà Hán. Đồ nhà Hán thường có men xanh lục, đồ Việt Nam thường mầu trắng, trang trí bằng men giọt xanh.

3. Đồ Lý-Trần:

Dưới đời Lý, kỹ nghệ đồ gốm Việt Nam phát triển rực rỡ, phần lớn do nhu cầu xây dựng thành quách, cung điện, chùa chiền. Kỹ thuật tráng men trong như thủy tinh mà không thấy dầy, rất trang nhã. Cho thấy người thợ hoàn toàn làm chủ nước men của mình do cách biến đổi chất men pha để làm cho nước rạn to hay nhỏ theo ý muốn. Nước rạn thường thay đổi từng phần, từ trên miệng bình xuống phía dưới chân đế. Những món đồ gốm dưới đời Lý-Trần gồm có các loại chính là: Đồ men ngọc (Celadon), đồ Lý trắng, đồ Lý nâu, đồ Lý lục

bát Lý nâu

bát Lý nâu

4. Đồ Chu Đậu:

Trong các thế kỷ 14, 15, 16 xuất hiện một loại đồ (mà có người gọi là ‘đồ trắng chàm’ ) có nước men trắng với hoa văn mầu xanh blue (mầu chàm). Hình dáng và hoa văn đặc biệt Việt Nam, rất đẹp, men mỏng nhưng rất đều. Loại đồ này thường được xuất cảng sang Phi Luật Tân, Nam Dương, Ả Rập… từ thế kỷ 14 đến 16.

Thế kỷ 11 – 16 là thời kỳ mà sức sáng tạo nghệ thuật, sự phát triển kỹ thuật lên đến cao nhất, mà sự thành công về thương mãi cũng lên đến cao nhất của đồ gốm Việt Nam.

5. Đồ gốm Bát Tràng: Bát Tràng sản xuất rất nhiều đồ gốm các loại, dùng trong đời sống hàng ngày, trong việc thờ phụng Phật, Thánh, đình làng… Như chén đĩa, lu, hũ, bình, ấm, bình vôi, điếu bát, chân đèn, lư hương, hình tượng, mâm, đỉnh….

6. Đồ “Men Lam Huế” :

Những đồ men lam thường được sưu tập là đặt làm hay nhập cảng nguyên chiếc từ Trung Hoa vào. Vì đồ này được dùng rất nhiều ở cung đình Huế nên thường được gọi là đồ ‘men lam Huế’ . Chúng tôi lại chia loại này thành hai: (1) Đồ Nội Phủ và đồ Khánh Xuân do Trịnh Sâm đặt bên Tàu. (2) Đồ đời Nguyễn do các vua Gia Long, Thiệu Trị, do sứ bộ Nguyễn Du, sứ bộ Phạm Phú Thứ … họa kiểu đặt làm bên Tàu.

a. Đồ Nội Phủ và Khánh Xuân:

Trịnh Sâm họa kiểu và cho đặt tại lò Cảnh Đức Trấn bên Tàu (đây là lò gốm dành riêng cho việc chế tạo đồ dùng trong cung điện Trung Hoa, thời này do Đường Anh, một tay kỳ tài của đồ gốm Trung Hoa điều khiển) Đồ Nội Phủ và Khánh Xuân được người ta xếp vào loại ‘Men Lam Huế’ vì ngoài những nét tương tự, những đồ này cũng lại được tìm thấy ở Huế, khi bà Từ Dụ cho bán đi mấy chục năm trước đây.

b. Đồ đời Nguyễn: Dưới đời Nguyễn, kỹ nghệ đồ gốm của người Việt suy sụp, thị trường trong nước và quốc tế bị mất vào tay người Tàu, người Nhật, vua quan nhà Nguyễn thì lại mê chuộng văn hóa Trung Hoa, cái gì cũng rập theo nhà Thanh. Triều đình nhà Nguyễn đặt rất nhiều đồ men lam làm bởi lò Cảnh Đức Trấn, bên Tàu.

Nổi tiếng nhiều trong loại đồ này là những món do các vua nhà Nguyễn đặt làm (đồ chữ Nhật) và các bộ chén, đĩa trà vẽ hình cây mai và chim hạc cùng hai câu thơ nôm của Nguyễn Du: ‘nghêu ngao vui thú yên hà – mai là bạn cũ, hạc là người quen’ . Đồ này được đặt làm lần đầu bởi Nguyễn Du khi đi sứ nhà Thanh năm 1813. Ngoài những đồ đặt làm, đời Nguyễn còn nhập cảng nhiều đồ men lam khác của nhà Thanh. Những món này rất được ưa chuộng bởi giới quan lại và các nhà giầu Việt Nam.

Hy vọng rằng những hình ảnh và lời giới thiệu ngắn ngủi sẽ tạo nên những hiểu biết và ý thích khởi đầu, để việc tìm hiểu, duy trì và phổ biến những giá trị đặc biệt rất đáng được ngợi ca, hãnh diện của văn hóa Việt Nam nơi những người trẻ tuổi. Trong suốt giòng lịch sử dân tộc, những chuyển biến chính trị dù xáo động đến thế nào cũng chỉ có giới hạn ngắn. Những ảnh hưởng, chủ thuyết ngoại lai thảy rồi cũng bị gạn lọc, đào thải để chỉ có phần hay đẹp mới được hoà nhập vào dòng văn hóa Việt Nam. Cho nên chúng tôi tin rằng những thay đổi tốt đẹp trong xã hội, văn hóa, dân tộc Việt sẽ từ từ chuyển biến đến. Và trong khung cảnh đó, các cuộc khai quật, nghiên cứu, duy trì và phổ biến của đồ gốm, đồ đồng dân tộc sẽ phát triển mạnh mẽ.

Nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc đã khám phá, nghiên cứu và ca ngợi đồ gốm Việt Nam, (trong những cuộc bán đấu giá của nhà Christie of London, của nhà Sothebys có những món đồ gốm Việt được bán với giá hàng chục nghìn Mỹ Kim).

Thế giới nhìn ra và đánh giá rất cao khía cạnh này của văn hóa Việt, tại sao chúng ta lại lơ là? Tại sao chúng ta không khuyến khích những lò gốm ở Việt Nam hiện nay trở lại học và làm những món đồ giống như đồ Lý-Trần, đồ Chu Đậu đó để dùng hàng ngày? Những đồ này đẹp ăn bứt chén đĩa làm bằng máy, sản xuất hàng loạt của Tàu của Nhật, của Âu Mỹ.

Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Tản mạn

B Ì N H V Ô I

Trần thị LaiHồng

Bình vôi, vietantique.com

Trong số những vật dụng dân gian, tôi yêu thích nhất cái bình vôi. Không có kỷ niệm đặc biệt liên hệ, nhưng hễ nhìn thấy gốc đa với những bình vôi lăn lóc, là lòng cứ bồi hồi không thôi với những xúc cảm dấy lên từ tận cùng máu xương da thịt.

Tôi cũng chẳng phải là một nhà khảo cổ, nhưng có tính xấu rất tò mò tìm hiểu những gì yêu thích. Thấy tài liệu nào liên hệ là ôm lấy ngấu nghiến nghiền ngẫm, và sau đó không cất giấu riêng, mà muốn chia xẻ với mọi người.

Trong số những sản phẩm đất nung, gọi chung là đồ gốm, phải nói rằng bình vôi có nét riêng rẽ độc lập mang cá tính rất Việt Nam, mặc dầu tục ăn cau trầu vôi lan rộng cả vùng Đông Nam Á, kể từ Quảng Đông Quảng Tây Vân Nam phía Nam Trung Hoa cho đến các nước láng giềng Miên Thái Lào Miến Điện, sang tận Mã Lai Tân Gia Ba Phi Luật Tân Nam Dương và Ấn Độ …

Bình vôi đơn giản chỉ là một bình nhỏ đựng vôi bột trắng nguyên chất có hoà nước sền sệt, có khi được tí phẩm hồng làm đẹp. Vôi phết lên lá trầu bằng cái chìa vôi, têm gọn, nhai chung với một miếng cau, theo tập tục ăn cau trầu tương truyền có từ đời Hùng Vương, tức là cả ngàn năm trước Thiên Chúa.

Jaguar-lime-pot

Bình vôi tìm được ở Nam Mỹ, xứ Ecuador, 1500 năm trước Tây Nguyên

nguồn: home19.inet.tele.dk

Tại Việt Nam, bình vôi được tôn kính là Ông – Ông Vôi hoặc Ông Bình Vôi – được coi như một vị thần, được giữ gìn tôn trọng, để ở khay, ô, tráp, hộp, quả hộp, hay cơi cau trầu trên sập gụ hay trên bàn kê giữa nhà. Chiếc khay cũng được bảo trọng, thường được làm bằng gỗ quý chạm trổ hoặc cẩn xà cừ, cẩn ngà. Đi đôi với bộ khay cau trầu vôi trên sập gụ hay trên bàn, là một ống nhổ bằng đồng thau để dưới chân sập chân bàn, dùng đựng nước trầu và bã trầu.

Tuy được tôn kính bảo trọng, bình vôi không được để trên bàn thờ tổ tiên hoặc trên hương án, không để trên bàn thờ Thành hoàng hay Tổ đình, cũng không được để trên bàn Phật. Bình vôi có vị trí quan trọng nhưng chỉ trong phạm vi gia đình – như Ông Táo, Vua Bếp – liên bệ đến những sinh hoạt trong nhà.

Bình vôi cũ hoặc sứt mẻ không được vứt bỏ rác, mà được đem để dưới gốc đa trong làng hoặc dưới luỹ tre bên đình, là những nơi cũng được tôn kính, dân làng hay qua lại ngồi nghỉ mát hoặc họp chợ.

Về chuyện kể liên hệ đến bình vôi, xưa có một tên trộm chuyên nghiệp tài tình, khi về già ăn năn hối cải, bỏ nghề, xin vào chùa tá túc nghe kinh. Sư cụ trụ trì giao việc giữ lửa, gà gáy sáng có phận sự nấu nước pha trà cúng Phật. Tên trộm chăm lo giữ lửa và làm tất cả mọi việc nặng trong chùa, thành tâm tu tập, được sư cụ tin cậy.

Trong chùa có chú tiểu nhỏ không ưa tên trộm và sinh lòng ghét bỏ, ghen tỵ về lòng tin cậy của sư cụ. Một đêm, chú lén dập tắt lửa. Sáng dậy thấy không còn lửa đã vùi ủ kín đêm qua, tên trộm rầu rĩ chẳng biết cách xoay sở. Chú tiểu bèn bày mưu hại, bảo tên trộm leo lên cây đa thiêng bên chùa cầu Phật gia hộ. Chú bảo :

– Leo lên ! Leo tuốt cao tận ngọn, buông tay buông chân như buông thả bản thân, buông thả ngũ uẩn. Phật sẽ gia hộ đưa đến nơi có lửa.

Tên trộm cả tin theo lời. Khi buông mình, thay vì rơi xuống đất chết, lại được một đám mây vàng nhẹ nhàng cứu độ đưa về cõi Niết bàn không sinh không diệt. Chú tiểu ngỡ ngàng, nhưng lòng tham sân si bùng mạnh, chú đi dập tắt lửa rồi leo lên tận ngọn đa, buông mình. Chú rơi nhanh. Một cành đa nhọn đâm xuyên thủng bụng. Chú chết, không được vãn sinh tịnh độ, mà biến thành một cái bình tròn bụng chứa đầy vôi nồng – tượng trưng lòng đố kỵ – và cành đa nhọn là chiếc dao nhỏ dùng quệt vôi têm trầu.

Truyền thuyết sự tích cau trầu vôi kể từ đời Hùng Vương thứ tư, nhưng các nhà khảo cổ không tìm được vết tích bình vôi thời các Vua Hùng của nền văn minh Đông Sơn. Tuy nhiên, sách An-Nam Chí- lựơc của Cao Hùng Trưng soạn năm 1691, được Trần Kinh Hoà Giáo sư Đại học Huế dịch ra tiếng Việt năm 1962, có trích đoạn Nam-Việt Ngoại -Ký chép : “… Người Giao chỉ (người Việt) bới tóc cao, xâm vẽ mình, miệng đỏ răng đen, tồn ty đều ăn cau trầu … “ Như vậy, tục ăn cau trầu có tự ngàn xưa.

Trong tác phẩm Gốm Việt Nam : Một Truyền thống Riêng – Vietnamese Ceramics : a Separate Tradition – của John Stevenson và John Guy, do Avery Press xuất bản năm 1997, có viết rõ bình vôi đầu tiên tìm được trong một ngôi mộ cổ ở Thanh Hoá, có tuổi khoảng thế kỷ thứ hai đến thứ năm sau Thiên Chúa. Bình dáng tròn có núm dẹp để cầm, lỗ tròn để lấy vôi, đế chân lận ra ngoài. Bình làm bằng đất nung tô điểm mấy đường chạy vòng, tráng men trắng ngà, phía sau còn vết hai giọt men bóng ngời.

Kiểu bình vôi núm này tồn tại ở Việt Nam cho đến thế kỷ 14, sau đó vẫn còn được làm bên Thái lan.

BinhVoi6

Bình vôi tân tạo dập khuôn đời Lý, núm dạng lá Sen,

men trắng đục da rạn ửng xanh và nâu nhạt.

Sưu tập tư nhân, Hoa Kỳ.

BinhVoi7

Bình vôi tân tạo dập khuôn đời Lý, núm búp Sen, men da rạn xanh ngọc,

xanh nâu và nâu nhạt, có quả cau đắp nổi.

Sưu tập tư nhân, Hoa Kỳ.

Đời nhà Lý (1010-1225), bình vôi tròn rất thịnh hành, tuy còn thô sơ nhưng được trang trí thêm : núm cầm có dạng một hoa Sen. Sen tượng trưng sự thanh khiết của triết lý Phật giáo, là tôn giáo cực thịnh đời Lý. Bình vôi đời Lý có đế thấp, tráng men trắng đục thô gọi là gốm đàn.

BinhVoi13

Bình vôi Bát Tràng mới dập khuôn cũ, không quai,

đắp nổi dị dạng cóc nhái, men nâu và xanh.

Sưu tập tư nhân, Hoa Kỳ.

Đời nhà Trần (1225-1400), đồ gốm tinh xảo hơn, dùng toàn đất sét nguyên chất trắng mịn, tráng men dày màu xanh sáng mát gọi là men ngọc. Ngoài ra còn màu men trắng ngà, vàng nhạt hay nâu bóng gọi là men da lươn, và còn làm men rạn. Gốm men ngọc rất đẹp, có thể sánh với gốm Long Tuyền đời Tống bên Tàu.

Bình vôi đời Trần có đế cao, bụng rộng từ 8 đến 35 phân tây. Bình lớn có núm cầm lớn dạng tròn hoặc hơi phồng như quả trứng. Đế bình tráng men nâu. Nghệ nhân cố đưa hình tượng thiên nhiên vào việc sáng tạo : bình có dạng như một cục đá vôi màu trắng ngà, quai cầm có dạng cây cau, có quả cau xanh, giây trầu lá lục vấn vít bao quanh.

Có những bình vôi nhỏ vừa tầm tay, bỏ vào đãy (túi gấm túi vải) đeo vắt vẻo trên vai hoặc lủng lẳng bên thắt lưng. Loại này vẫn được làm tại Bát Tràng cho đến thế kỷ 17, và được tráng men màu bạch kim sáng ngời.

Thời nhà Minh xâm chiếm nước ta (1413-1427), bình vôi không còn làm bằng đất sét trắng mịn nữa mà dùng đất sét nâu thô, nên dáng dấp nặng nề hơn. Thời này dùng nhiều men màu khác như xám, xanh nhạt xanh đậm, xanh dương, vàng, nâu … Dạng bình thô lậu, lớn hơn, chạm trổ hoặc khắc nổi hình tượng cầu kỳ kiểu Tàu, có gió cuốn mây trôi chim bay cá lượn sóng vỗ, và cả … mặt quỷ.

Thế kỷ 17 và 18, các lò gốm Bát Tràng sản xuất bình vôi loại lớn, hình dáng dị dạng với lối trang trí rất rườm rà. Chỗ bụng bình giáp quai cầm biến dạng thành hai cái tai, trông tương tự loại hình lò gốm Hoà Lan Dutch East India. Dạng mới này lại được các vua triều Nguyễn (1802-1945) ưa chuộng đến nỗi đưa mẫu đặt làm bên Tàu và cả bên Anh, do hãng Copeland and Garret (1835-1847) xuất cảng.

Triều Nguyễn cũng đặt Tàu làm đồ sứ men lam bleu de Húe, trong số có bình vôi. Các bình vôi đời Nguyễn bị biến chế trang trí đường nét Tàu : vẽ dơi vạn phúc, người đẹp với liễu rủ ven hồ và sơn thuỷ hữu tình …; quai cầm trước đây có giây trầu vấn vít nay trờ thành giải mây giải lụa. Bình vôi men lam bleu de Hue’ mất hẳn linh hồn Việt.

Về nguồn gốc cau trầu vôi, hẳn nhiều người biết bản nhạc Sự Tích Trầu Cau của Phan Huỳnh Điểu : “ Ngày xưa có hai anh em nhà kia, cùng yêu thương, ở cùng nhau bỗng đâu chia lìa … “ Bộ Lĩnh Nam Trích Quái xuất bản tại Saigon năm 1961 kể đời Hùng Vương thứ tư có hai anh em họ Cao khắng khít thương yêu nhau. Người anh về sau có vợ, lơ là em. Người em buồn rầu tủi thân bỏ nhà ra đi. Vào rừng lạc lối, gặp suối sâu vực thẳm không qua được, chết rũ biến thành cây cau. Người anh thương nhớ đi tìm em, cũng chết bên bờ vực, biến thành tảng đá vôi. Người vợ đi tìm chồng, cuối đường đến vực thẳm, ngồi dựa tảng đá âu sầu thương nhớ chồng mà chết, biến thành giây trầu quấn quít quanh tảng vôi và bò lên thân cau. Cha mẹ cô gái đi tìm con, đến bờ vực hiểu ra sự thể, lập miếu thờ cả ba người.

Vua Hùng một hôm cùng đoàn tuỳ tùng đi thăm dân, nghỉ chân bên suối, ngồi dựa tảng đá trắng đẹp, thấy có cây cao xanh mát trổ trái tròn trịa và giây leo vấn vít, hỏi chuyện miếu thờ. Nhà vua hái một lá nhai với nửa quả xanh thấy ấm cổ họng, nhổ nước cốt lên đá thấy ửng hồng. Vua cho nung đá thành vôi mịn, truyền mọi người nhai cau trầu vôi để vừa có vị thơm ngon ngọt quyện trong miệng, cơ thể bừng sinh lực, mắt sáng, môi đỏ hồng, má tươi nhuận, vừa thấm nhuần ý tình thương yêu thắm thiết của gia đình tộc thuộc.

Từ đó, vua ra lệnh bày tập tục ăn cau trầu, không những dùng như một nghệ thuật làm đẹp, mà còn dùng trong mọi việc, từ giao tế thường ngày đến các nghi lễ trọng đại trong đời, nhất là về hôn nhân. Cây cau cao vút thẳng lòng chính trực, tảng đá vôi trắng tinh thuần nhất và giây trầu vấn vít trung trinh, là những hình ảnh thân thương trong hầu hết ruộng vườn quê hương.

Cho đến giữa thế kỷ 20, chỉ mới hơn năm mươi năm đây thôi, tục ăn cau trầu vẫn thịnh hành từ thành thị đến thôn quê. Ngay tại triều đình Huế, dưới triều Nguyễn, từ vua quan, các ông hoàng bà chúa, vương tôn công tử, đến các mệ đều ăn trầu. Nhà quan quyền có lính đeo bình vôi và đãy trầu, hoặc thị nữ bưng tráp theo hầu. Đãy sang làm bằng gấm hoặc đoạn dệt màu có thêu chỉ ngũ sắc, bình dân dùng vải thô nâu hay đỏ. Ngoài Bắc có bộ xà tích lủng lẳng thắt lưng với ống vôi nhỏ bằng bạc, là món trang sức đặc biệt của các cô các bà. Các cụ răng yếu thì miền nào cũng dùng cối giã trầu bằng đồng hình trụ xinh gọn, vừa đủ xoáy nghiền một miếng cau trầu vừa miệng.

Những hình chụp đăng trong bài này hầu hết là bình vôi cao cấp, có hình thức mô phỏng theo nhau, thêm ít nhiều tinh xảo nhờ tài khéo của nghệ nhân và kỹ thuật tiến bộ, xưa được dùng trong giai cấp quyền qúy, và nay còn được lưu giữ trong những tủ kính các nhà sưu tập cũng như các bảo tàng viện thế giới. Ngoài ra, còn một số bình mới tái tạo dập khuôn theo cổ vật, thêm thắt nhiều chi tiết mới lạ.

Bình vôi dân dã thực sự rất đơn giản, giống một độc bình thấp nhỏ có miệng loe cắm que têm trầu, làm bằng đất sét thô nung không tráng men màu, và không được mấy ai chú ý vẻ đẹp mộc mạc quê mùa đó trừ những bà già trầu và những bô lão hom hem miệt vườn. Bình vôi quyền quý thay đổi theo thời rồi vào ngồi tủ kính thế giới, chỉ để được nhìn ngắm dấu tích di sản một nền văn hoá, trong khi bình vôi dân dã thô sơ vẫn có mặt nơi quê hương, vẫn đầy ắp trong lòng tình nồng dân tộc. Báu vật tiền nhân để lại mang ý nghĩa xa hơn những tấm hình đẹp, nên dẫu qua thời gian và luật đào thải của văn minh tiến bộ, vẫn chưa hề bị quên lãng hoặc chôn vùi.

Trần thị LaiHồng

Hoa Bang, mùa Đông 2004

Tài liệu tham khảo :

– Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử cương

– Henry Oger, Technique du Peuple Annamite

– John Stevenson & John Guy, Vietnamese Ceramics : a Separate Tradition

– Lê văn Lan, Thời đại Hùng Vương

– Nhất Thanh, Đất Lề Quê Thói

– Nguyễn Trúc Phương, Việt Nam Văn học Bình dân

– Phan Huỳnh Điểu, Sự Tích Trầu Cau

– Phan Kế Bính, Việt Nam Phong tục

– Tôn Thất Quảng, Đãy Trầu Thuốc Huế Xưa, Những Người Bạn Cố đô Huế, Bulletin des Amis du Vieux Húe

– Trần Kinh Hoà, An Nam Chí lược

– Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam Trích Quái

—————————————————————-

Trước khi cuốn Vietnamese Ceramics của John Stevenson đồ gốm cổ Việt Nam không có tên trên bản đồ cổ vật thế giới. Các hiện vật được tìm thấy tại Việt Nam, nhất là đồ đào ở khu vực Thanh Hoá đều được cho là đồ có nguồn gốc Trung Hoa (đồ vớt mới chỉ được tìm thấy trên các tàu đắm trong chục năm laị đây). Ngoài ra ở khu vực miền Nam thì các cổ vật nói chung đều thuộc dòng Chăm (pa).

John Stevenson đã thực hiện một nghiên cứu tuyệt vời minh chứng cho sự tồn tại của đồ gốm Việt. Hãy xem trích đoạn book review của Roxanna M. Brown.(Asian Art News & Infor):

“Nằm trong số rất ít ỏi các tài liệu về đồ gốm Việt, tài liệu [Vietnamese Ceramics của John Stevenson] này là một nghiên cứu đầu tiên được xuất bản với sự tin tưởng chắc chắn rằng các danh mục gốm Việt được trình bày thật sự hiện hữu. Nếu lập luận khoa học chặt chẽ, sẽ không thể khẳng định sự tồn tại của một dòng sản phẩm gốm sứ khi chưa có những bằng chứng về sản phẩm, đặc biệt là những di chỉ về sự tồn tại của các lò nung. Trong trường hợp Việt Nam, bằng chứng về những sản phẩm gốm có tráng men nặng lửa mới chỉ xuất hiện trong biên niên sử khảo cổ khoảng 1 thập kỷ lại đây. Trước đó, những năm 30s, di chỉ lò nung được tìm thấy ở Tam thọ , Thanh Hoá, nhưng là những lò sản xuất đồ sành không có men hơn là đồ gốm có men vốn được tìm thấy nhiều trong các mộ Hán ở cùng khu vực này”

VietnameseCeramic1

(nguồn: http://www.paragonbook.com/html/newsinfo/bookreviews/fullreview.cfm?ItemID=2316)

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Bình vôi, ống nhổ


hotanphan
(Xuân MTTN 2008) – Theo nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, Việt Nam không phải là nước độc nhất, cũng không phải là nước đầu tiên có tập quán ăn cau trầu. Tuy nhiên có thể khẳng định, tục ăn cau trầu ở nước ta cũng đã có từ rất lâu đời.

Hồ Tấn Phan – Xuân Miền Trung Tây Nguyên 2008

Theo Truyện trầu cau trong  Lĩnh Nam chích quái, tục ăn cau trầu ở nước ta đã có từ thời Hùng Vương. Nhưng phổ biến thì phải đến thời tiền Lê. Tác giả Mã Đoan Lâm viết trong Văn hiến thông khảo: Năm Thuần Hóa thứ nhất (900), vua Tống sai sứ sang truyền phong cho Lê Hoàn chức đặc tiến, khi về sứ thần là Tống Cảo thuật lại rằng: “….Lê Hoàn cầm cương ngựa, cùng sứ giả cùng đi, rồi lấy trầu mời trên lưng ngựa, đấy là phong tục mời khách quý…”.

Người Tây phương vào cuối thế kỷ trước, khi đến nước ta đã rất ngạc nhiên khi thấy tục lệ này. Cristophoro Borri -Giáo sĩ Dòng Tên người Ý đã viết trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621: “Ở xứ Đàng Trong còn một trái khác đặc biệt của xứ này người Bồ gọi là “areca” (cau). Cây nó mọc thẳng như cây dừa, rỗng ở trong và chỉ đâm lá ở chóp đỉnh, lá tựa lá dừa; ở giữa các tàu lá, nảy các ngành nhỏ có trái. Trái có hình thù và kích thước của trái hồ đào, sắc xanh cũng như vỏ hồ đào, còn ruột thì trắng và cứng như trái dẻ, chẳng có mùi vị gì hết. Trái này không ăn một mình, nhưng ăn với lá trầu không, thứ cây rất thông dụng ở khắp Ấn Độ, lá như lá thường xuân ở châu Âu và thân bám vào cây chống như giống cây thường xuân. Người ta hái lá cắt thành từng miếng nhỏ và trong mỗi miếng để một miếng cau, như vậy mỗi trái có thể làm thành bốn hay năm miếng.

Người ta còn thêm vôi với cau. Vôi ở xứ này không làm bằng đá như vôi châu Âu, nhưng bằng vỏ sò hến. Vì trong nhà có những người chuyên lo việc bếp núc, chợ búa và các việc khác, nên ở Đàng Trong mỗi nhà đều có một người không có việc gì khác hơn là việc têm trầu, những người dùng vào việc này thường là đàn bà, nên gọi là các bà têm trầu. Những miếng trầu đã têm sẵn thì để vào trong hộp và suốt ngày người ta nhai trầu, không những khi ở trong nhà mà cả khi đi lại trong phố chợ, cả lúc nói, ở mọi nơi, mọi lúc. Và sau khi đã nhai trầu lâu và nghiền trong miệng, người ta không nuốt mà nhả ra, chỉ giữ hương vị và phẩm chất tăng thêm sức mạnh cho dạ dày một cách kỳ lạ.

Trái này được têm thành miếng rất thông dụng đến nỗi khi tới thăm ai, người ta đem theo một túi đầy trầu và mời người mình tới thăm, người chủ nhà lấy một miếng cho ngay vào miệng. Trước khi người khách từ biệt ra về, chủ nhà sai người têm trầu của nhà mình đem ra một túi để mời người khách đến thăm mình, như để đáp lại sự lịch thiệp mình đã nhận được. Do đó, vì cần phải có sẵn cơi trầu cau, và có liên tục, nên cau cũng là một nguồn lợi lớn ở xứ này, có vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng nho và ruộng ô liu. Họ cũng hút thuốc lá, nhưng thuốc lá không thông dụng bằng trầu cau”.

Cristophoro Borri mô tả tỷ mỷ, nhưng vẫn còn thiếu nhiều, kể cả những cái cơ bản như bình vôi, ống nhổ. Cau, trầu, vôi vẫn còn đó, nhưng là cau, trầu, vôi hậu sinh. Cau, trầu, vôi mà Cristophoro Borri thấy đã đi vào thế giới sắc không.

Theo bước chân công chúa Huyền Trân, 700 năm trước, một đợt lưu dân Việt đi vào hai châu Ô, Lý đổi thành châu Thuận, châu Hóa, rồi phủ Thuận Hóa. Trong hành trang của những người rời quê cũ vào miền đất mới có cả văn hóa cau trầu đã tồn tại hàng ngàn năm rồi, không những nó trở thành một tập quán, mà tinh thần của nó đã ăn sâu vào tâm thức của con người.

Khi vào đây, nền văn hóa cau trầu Việt gặp nền văn hóa cau trầu Chăm. Có nhà nghiên cứu cho rằng, có thể người Chăm đã biết ăn cau trầu trước người Việt. Theo truyền thuyết dân tộc Chăm, có hai bộ tộc: bộ tộc dừa ở phía bắc  (trong đó có TT-Huế ngày nay) và bộ tộc cau ở phía nam. Trong cuốn Lịch sử vương quốc Chăm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004, tác giả Lương Ninh cho biết: Khi còn vương quốc Chăm, mỗi lần nhà vua xuất hành, theo nghi thức của triều đình, có 50 thị vệ và 10 thị nữ bưng những mâm vàng đựng cau trầu theo hầu.

Tục ăn cau trầu của người Chăm đã còn lưu lại trên nhiều dấu vết, và ngày nay người ta vẫn còn gặp những đồ dùng như hộp đựng trầu và bình vôi bằng đồi mồi khảm vàng bạc, dao bửa cau, buồng cau, lá trầu bằng vàng… Thế nhưng, liên quan đến tục ăn cau trầu được khắc lên bia đá thì chỉ có ở làng Lai Trung (thuộc xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh TT-Huế). Tấm bia này nói đến việc một vị quan “hầu trầu” (danay pinang) xây dựng đền tháp tôn thờ thần Civa.

Cho đến nay, chúng ta khó mà biết được một cách tường tận việc ăn cau trầu của các tiền nhân từ 700 năm trước, lúc họ vừa mới bước chân đến Huế. Nhưng đến thế kỷ 19, chúng ta có thể biết được toàn cảnh của một xã hội cau trầu, từ cung đình cho đến cùng đinh. Vào lúc đó, tục ăn cau trầu ở Huế có những nét đặc biệt mà nơi khác không có. Cau trầu liên quan đến quan hôn tang tế, sinh lão bệnh tử thì ở đâu cũng có, nhưng ở Huế còn có ăn cau trầu trong cung đình.

Về ăn cau trầu trong cung đình, trước hết phải nói việc ăn cau trầu của vua. Hàng năm, bộ Hộ thường tiến vào Đại Cung một số tiền để lo việc mua cau trầu cho vua ngự dụng. Ví dụ như Minh Mạng năm đầu tiên (1820) là 40 quan, đến năm Minh Mạng thứ 5 là 80 quan, và qua các thời có gia, giảm chút ít. Đó là một số tiền rất lớn nếu so với lương lính lúc đó, mỗi tháng mỗi người nhận khoảng 1 quan.

Đồ dùng trong việc ăn cau trầu của vua giao cho phủ Nội vụ chế tạo. Bình vôi, ống nhổ, cơi trầu, hộp trầu được làm bằng vàng, bạc hoặc đồng, chạm trổ công phu. Khay, hộp được chế tạo bằng đồi mồi hay gỗ quý. Đặc biệt có một số đồ dùng như bình vôi, ống nhổ được đặt làm từ bên Tàu, bên Tây.

Việc chầu hầu vua ăn cau trầu cũng là quan, binh, nhưng khác với phong tục của người Chăm. Ở triều nhà Nguyễn, những quan, binh này chẳng qua cũng chỉ là những thị thần, không có vai trò gì quan trọng trong triều đình. Thường chuyên trách công việc này có Viện Thượng trà được tuyển chọn kỹ từ từ 60 -100 người, được xếp vào biền binh chính ngạch. Thời thường các viên chức Viện Thượng trà phải chầu hầu bên vua, kể cả những dịp gặp ngày tự, hưởng, khánh hạ, triều hội, hoặc khi vua ngự trên điện. Khi vua giá hạnh các địa phương xa, các viên chức Viện Thượng trà cũng phải chỉnh tề trang phục xa giá để kịp thời dâng tiến các vật hạng ngự dụng.

Trong cung đình, cau trầu cũng có liên quan đến quan hôn tang tế. Ví như mỗi lần có một công chúa hạ giá, của hồi môn do phủ Nội vụ chu biện có: Bình vôi bằng sứ 1 cái, Hộp trầu thuốc bằng vàng (nặng 20 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng bạc (nặng 16 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng đồi mồi khảm vàng (vàng 7 tuổi rưỡi, nặng 2 đồng 5 phân) và khay bạc (3 lạng 7 đồng 2 phân), Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ có cơi một cái, Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ (bạng 20 lạng 2 đồng 5 phân, giá 162 quan) 1 cái, Hộp trầu khảm xà cừ 2 cái, Hộp trầu bằng đồi mồi 1 bộ, Hộp trầu bằng thau 2 bộ, Khay trầu bằng ngà bốn góc bịt vàng (vàng 7 tuổi rưởi 1 lạng và các vật liệu giá 100 quan) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 4 lạng, bạc 20 lạng) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 7 tuổi rưởi 6 đồng, bạc 4 lạng 8 đồng 5 phân, giá 92 quan 9 tiền 26 đồng) 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau khảm vàng 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau 6 cái, Âu đựng trầu bằng vàng (nặng 36 lạng 7 đồng cân) 1 cái, Chậu đựng trầu bằng thau 1 cái.

Trong dân gian thì hầu như mọi người đều ăn cau trầu. Tất cả làm nên một văn hóa cau trầu rất phong phú. Tục ăn cau trầu cũng đã ghi một ấn tượng đến tình yêu trong xã hội: tình yêu giữa ông bà và con cháu, giữa cha mẹ với con cái; tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng… Những tình yêu đậm đà đó được thể hiện bằng những cái hôn đằm thắm, da diết… Và xin nói rõ, đây là hôn hít bằng mũi. Mùi vị của những người mình yêu thật sâu lắng, không thể nào quên…

Thời gian cứ trôi qua, trôi qua…, cuộc sống rồi cũng thay đổi, tục ăn cau trầu gần như lùi vào dĩ vãng, chỉ còn lại một ít hình ảnh lễ nghi, hoặc hình ảnh của một thế hệ gần đất xa trời, hay một ít vật dụng như những “ông” bình vôi nằm dưới gốc cổ thụ phảng phất chút khói hương…

Thế nhưng, thật ngạc nhiên và xúc động, như một phép lạ, nhiều năm trở lại đây, dưới dòng sông Hương và các dòng sông khác của Huế ồ ạt “xuất hiện” không biết cơ màn nào là bình vôi và ống nhổ, đủ chủng loại, đủ đẳng cấp. Mỗi cái có một “linh hồn”, thực thực, hư hư, và tất cả gần như còn giữ nguyên hơi thở của cuộc sống. Quá khứ xa xăm hàng ngàn năm trước đã thức dậy,  và chúng đã nói với chúng ta không biết bao nhiêu điều tưởng chừng như ảo mộng…

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Ông Bình Vôi

450px-Binhvoi (Small)

Ông Bình Vôi, theo tín ngưỡng dân gian lâu đời của người Việt, là ông thần giữ của trong nhà. Bình vôi thường được làm từ đất nung, sành sứ và được dùng để đựng vôi ăn trầu. Người ta dùng một chiếc que tre, gọi là chìa vôi, để lấy vôi ra. Một đầu của chìa vôi được vót nhọn để têm trầu. Ông Bình Vôi là hiện vật văn hóa lâu đời của người Việt. Theo phong tục xưa, khi đón con dâu vào nhà, mẹ chồng mang Ông Bình Vôi lánh ra ngoài — tỏ ý quyền lực tuyệt đối của mẹ chồng với của cải. Bình vôi dùng lâu ngày sẽ bị vôi bít kín miệng phải thay. Người ta không vứt bỏ những chiếc bình cũ, mà đem treo chúng ở gốc đa hay để chúng ở cạnh các ngôi đền.

Chuyện rằng, ngày xưa có một người ăn trộm nhà nghề tài giỏi, về già, sức yếu, không còn xoay xỏa được các mẻ lớn như hồi còn trẻ, đành đi ăn trộm vặt để sống qua ngày. Lão trộm ở gần một ngôi chùa, thường lui tới chốn này lần lượt vơ vét hết lư hương, chân đèn đến chũm chọe, chuông, tượng đồng. Các sư biết rõ kẻ lấy trộm nhà chùa, song không thể trừng phạt được tên gian, vì luật nhà Phật cấm làm điều hại người, lấy ác báo ác. Do đó mà lão trộm cứ liên tiếp thổi sạch của cải trong chùa, và các sư đành mặc cho lão ta lấy.

Một hôm lão trộm thấy mình đã kiệt sức, sắp chết đến nơi, hối hận tìm đến gặp sư cụ để thú tội:

– Bạch sư cụ, suốt cả đời tôi chỉ có ăn trộm, đốt nhà, giết người, tội lỗi ngập đầu, ngày nay tôi hết sức hối hận, không biết làm thế nào để chuộc lại bao nhiêu tội ác đã gây ra được mong Phật tổ tế độ cho. Mong sư cụ mở lòng từ bi mà khuyên bảo cho, tôi nguyện hết lòng làm theo lời sư cụ dạy, dù có phải hy sinh đến đâu cũng không từ.

Sư cụ vốn oán sẵn tên trộm già, thấy có dịp trừ tiệt mối họa mới vờ khuyên nó muốn chuộc bao nhiêu tội lỗi tày đình, thì sáng sớm tinh sương vào lúc không người, hãy leo lên ngọn cây đa trước cửa chùa chắp tay niệm Phật ba lần rồi lao mình xuống, tức khắc sẽ được Phật tung lưới nhiệm màu hứng độ cho về cõi cực lạc.

Lão trộm tin thật vào lời nhà tu hành, mừng rỡ lạy tạ ra về. Sáng hôm sau, tên trộm già cố sức khó nhọc trèo lên ngọn cây đa cao vòi vọi, làm y như lời sư cụ dặn, lớn tiếng “Mô Phật” ba lần rồi nhảy vào quãng không. Nhà sư đã xúi cho tên trộm già chết, trong lúc đó nấp ở cửa chùa nhìn ra thấy rõ mọi sự, mừng thầm cho mưu kế của mình thực hiện, từ đây dứt tiệt được kẻ láng giềng đạo tặc. Song lão trộm vừa nhảy khỏi ngọn cây đa, sư cụ bỗng kinh ngạc thấy một dải lụa điều từ đâu như do một bàn tay vô hình tung quấn vào giữa người lão rồi từ từ đưa lên trời.

Mấy hôm liền sau đó, nhà sư đâm ra nghĩ ngợi quên ăn, quên ngủ, ước muốn được lên cõi Niết Bàn như lão ăn trộm. Một kẻ trọn đời làm toàn chuyện ác đức như thế đáng lẽ phải sa địa ngục, mà chỉ nhảy từ ngọn cây đa xuống là được Phật độ cho về Niết Bàn, huống hồ một nhà sư bao nhiêu năm khổ hạnh tụng kinh niệm Phật? Nghĩ thế rồi, một sáng sớm kia nhà sư cũng trèo lên ngọn cây đa trước chùa và làm y theo cách mình đã dạy tên trộm.

Trái với mong ước, nhà sư chẳng thấy dải của Phật tung ra độ mà khi thả rơi người xuống liền bị một cành cây xuyên qua thủng bụng. Đến khi người ta hay hạ xác nhà sư xuống thì bụng đã chương phình lên, thủng một lỗ lớn ở chỗ rút cành cây đâm xuyên.

Vì thù oán và ham muốn, nhà sư bị hóa kiếp thành ra cái bình vôi. Miệng bình là chỗ bị cành đa đâm thủng và chìa vôi là cành đa. Thân hình to lớn là bụng nhà sư chương sình. Vôi đựng trong bình cay nồng cũng như lòng oán thù và tham muốn ở kẻ hành. Màu đỏ ở miệng bình vôi là máu loang ra ở vết thương bị cành đa xuyên qua. Nhà sư bị Phật hóa kiếp thành bình vôi ngày ngày phải chịu khổ hình cho người ta ngoáy moi tận ruột lấy vôi ra để ăn trầu.

Những bình vôi vỡ hay cũ không dùng nữa bị người ta đem ra bỏ ở các gốc cây đa.

Truyện dân gian Việt Nam

Theo truyền thuyết thì tục ăn trầu ở Việt Nam có từ thời vua Hùng Vương thứ 4, và theo đó bình vôi có thể đã có mặt từ thời thượng cổ nhưng khảo cổ học chưa phát hiện được bình vôi nào thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Tính đến cuối thế kỷ 20 thì bình vôi cổ nhất tìm được ở Việt Nam mang niên đại thế kỷ thứ tư, khai quật được trong ngôi cổ mộ thời Bắc thuộc.

Bình vôi thường có dáng tròn bẹp, trổ một lỗ làm miệng ở vai bình, chân có đế, và trên chóp có quai xách.

Sang thế kỷ 18-19 bình vôi còn được các phường gốm ở Trung Hoa, Pháp và Anh sản xuất theo thị hiếu của người Việt để bán sang thị trường Việt Nam.(vi.Wikipeia.org)

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »