Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám 11th, 2009

Tì Hưu (Thiên Lộc) – Linh vật cầu tài (bài 2)

Tì Hưu một trong những linh vật có giá trị thu hút tiền tài của người Trung Quốc

pixiu3

Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, các cổng thành của ngoại thành dần dần bị phá bỏ để thành phố phát triển. Ngày nay chỉ còn lại hai cổng duy nhất đó là Đức Thắng Môn ở phía nam và Thiên An Môn ở phía bắc. Sở dĩ Đức Thắng Môn còn tồn tại là vì nó nằm đúng địa điểm quan trọng trong phong thủy và là vì nó có giữ một trong những con Thần Thú quan trọng của người Trung Quốc: con Tì Hưu (Pixiu)

Người Nhật có chú mèo ngậm đồng tiền vàng, người Châu Âu có chú ếch vàng thì người Trung Quốc có tượng Di Lặc, có Cá Vàng và có Tì Hưu để “dụ dỗ” tiền bạc về tay mình.

pixiu4

Tì Hưu là một trong ba thần thú của Trung Quốc, cũng là một trong chín con của Rồng. Tì Hưu có hình dạng như con chó nhưng miệng rộng, có cánh, có sừng vào không có hậu môn. Theo người Trung Quốc, con Tì Hưu: có sừng là để bảo vệ chủ, có miệng rộng là để gom tiền tài vào người, không có hậu môn là vì không có chỗ cho tiền tài thoát ra, có cánh là để cho chủ mau thăng quan tiến chức.

Qua nhiều triều đại, con Tì Hưu cũng dần dần thay đổi. Vào thời nhà đường, con Tì Hưu có cái mông rất to — vào lúc bấy giờ, nhà Đường cho là phải tròn trịa nẫy nở mới là đẹp.

Con Tì Hưu để trong Đức Thắng Môn cũng tương đối to, cỡ bằng một con cọp con, được canh giữ rất kĩ và cấm chụp ảnh.

Mọi người đều có thể xoa con Tì Hưu để có được sự trù trợ của nó. Cách thức xoa con Tì Hưu cũng cầu kỳ:

+ Trước nhất là xoa tai để nói cho nó nghe nó biết chủ là ai

+ Sau đó là xoa xuống miệng như là cho nó ăn cho nó thương chủ

+ Xoa xuống cánh để nó phù trợ cho mình mau thăng quan tiến chức

+ Xoa xuống chân tượng trưng cho sự nhanh nhẹn vững chải

+ Xoa xuống lưng cuối cùng là xuống mông rồi sau đó nắm hai tay lại bỏ vào túi. Coi như là đem tài lộc bỏ vào túi mình.

Tất nhiên là ở gian phòng bên cạnh là có các con Tì Hưu cho du khách thỉnh về để cầu tài. Theo hướng dẫn viên, muốn cho con Tì Hưu linh nghiệm thì con Tì Hưu phải hội đủ bốn yếu tố:

Thứ nhất là phải làm từ Đức Thắng Môn theo đúng kích thước phong thủy đo bằng thước Lỗ Ban. Thứ hai là phải làm bằng ngọc thật, làm bằng cái vật liệu khác không linh nghiệm. Thứ ba là phải để trong chùa 49 ngày sau đó (thứ tư) là đem trở lại Đức Thắng Môn để thầy địa lý viết chữ vào bụng nó. Sau đủ bốn điều kiện trên thì con Tì Hưu trở thành linh nghiệm có thể thỉnh về cầu tài.

Một điều kỳ thú nữa là con Tì Hưu luôn luôn phò trợ chủ nó. Dù chủ nó là ăn cướp, đâm thuê chém mướn nó cũng phò trợ tuốt tuồn tuột. Vì vậy những nơi kiếm tiền không hoàn toàn chính đáng như sòng bài, vũ trường ở Bắc Kinh luôn có con Tì Hưu phò trợ vì họ biết có thờ Phật thì trời phật cũng chả chứng dám cho đám cờ gian bạc lận.

Người Trung Quốc tin mấy chuyện lạ kỳ. Họ nói là sau khi thỉnh con Tì Hưu về thì nên lấy khăn sạch tắm cho nó, đánh răng cho nó. Rồi để nó vị trí nào có thể xoay mặt ra cửa sổ hay ra cửa chính để nó hút tiền tài phía ngoài vào. Nhà ai có cửa sổ nhìn ra ngân hàng thì coi như là trúng số độc đắc.

Ly kỳ không kém cách xoa con Tì Hưu là những câu chuyện Tì Hưu phò trợ chủ. Có một câu chuyện như thế này:

Hôm đó có một cặp vợ chồng tới Đức Thắng Môn thỉnh một con Tì Hưu thật to mang về nhà. Khi về đến Đài Loan thì mới thấy 1 bên tai của con Tì Hưu bị sứt mộng miếng. Vậy là hai ông bà lập tức quay lại Bắc Kinh khiếu nại. Khi tới Bắc Kinh, hai ông bà nằm trong khách sạn coi tin tức thì mới biết ở bên Đài Loan ngay gần nhà họ mới bị động đất. Như vậy là con Tì Hưu phò trợ họ đi ra khỏi khu vực đó để bảo vệ chủ.

Cũng có một chuyện ly kỳ không kém là: Chủ Ngân Hàng Xây Dựng từ khi đem hai còn Tì Hưu to nhất Trung Quốc về chưng ngay trước ngân hàng thì ngân hàng ăn nên làm ra. Từ một ngân hàng nhỏ đã trở thành một trong bốn ngân hàng lớn nhất Trung Quốc. Còn ông chủ thì tiến chức không ngừng lên tới bộ trưởng.

Người Trung Quốc rất mê tín, và những linh vật chiếm vị trí không nhỏ trong tín ngưỡng của họ. Tuy vậy, Phật tại tâm và nếu bạn làm ăn chính đáng bằng sức mình, cần cù, chăm chỉ thì Thần Tại sẽ luôn mỉm cười, còn nếu kiếm tiền không chân chính thì Tì Hưu cũng phải nứt vỡ hết để che chở cho chủ nhân. Như vậy thì thật khổ thân cho Tì Hưu lắm lắm !

Nguồn: Tô Thành

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tì Hưu (Thiên Lộc) – Linh vật cầu tài

Tác giả Đức Chính

pixiu1

*Tỳ hưu: 貔貅; theo Từ Điển Hán Việt của Thiều Chửu, tỳ hưu con gấu trắng (bạch hùng), một giống thú rất mạnh cho nên đời xưa gọi các dũng sĩ là tì hưu (17n). Chẳng hạn trong Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi Viết :”Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ, Thân mệnh trảo nha tri thần” và Ngô Tất Tố dịch là “Sĩ tốt kén người hùng hổ, Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh”. Còn trong Văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, Đặng Đức Siêu viết: Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vi mà tìm tới quân vương; bởi vì thương muôn mạng tì hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ. (câu 10)

Nếu theo hai câu thơ này thì tín ngưỡng tỳ hưu không thể có sớm hơn thời Nguyễn (vì khái niệm tỳ hưu chỉ dũng tướng còn phố biến) và rất nhiều khả năng chỉ mới xuất hiện gần đây ở Việt Nam qua dòng giao lưu tín ngưỡng. Sự nở rộ tín ngưỡng tỳ hưu ở chính Trung Quốc có lẽ cũng cách nay không lâu vì Từ Điển Hán Việt của Thiều Chửu (xuất bản vào nửa đầu thế kỷ 20) viết dựa theo một số bộ tự điển của Trung Quốc cũng không thấy nói đến linh vật này. Khang Hi Từ Điển đời Thanh cũng vậy. Giữa con gấu trắng biến thành con của con Rồng phải chăng là một một sự biến hóa truyền thuyết giống như nghi án cho rằng ‘rồng’ là sự cải biên hoặc là từ rắn thần naga của Ấn Độ hay con sấu (Thuồng luồng) của Bách Việt.

pixiu2

Nhưng theo truyền thuyết, tì hưu lại là một linh thú do Rồng phối với một giống vật khác sinh ra (có tất cả chín loài như vậy), có hình từa tựa con Lân. Tì hưu còn gọi là hươu trời (thiên lộc) nên được coi chủ về thu giữ của cải (lộc) và có sừng để đâm tà ma cho gia chủ. Truyền thuyết còn nói khi gặp khó khăn về tiền bạc lo việc quốc gia, Minh Thái Tổ từng năm mộng thấy con tì hưu. Vua cho xây nơi con vật xuất hiện một cổng ngũ quan dẫn vào cung, từ đó quốc khố luôn đầy ắp và quốc gia giàu có. Sau đó vua cho khắc tượng ngọc tỳ hưu để trong cung cầu tài lộc. Nhưng có một truyền thuyết khác kể rằng khi Thương Hiệt thời thương cổ đi tìm dấu vết các loài để chế ra chữ viết có bắt gặp một vết chân lạ. Ông hỏi một người thợ săn thì được biết đó là con tỳ hưu. Người thợ săn còn cho biết thêm loài thú này rất hung dữ và ít khi xuất hiện.

Bắt đầu từ nhà Minh và nối theo là nhà Thanh các hoàng đế, cũng theo truyền thuyết, đều tạc tì hưu để cầu tài, nhưng cấm dân gian điều này (vì vậy không có trong từ điển chăng!?). Nhưng nhiều người vẫn lén làm theo. Theo giai thoại thì Hòa Thân có lén giấu một con tì hưu to hơn cả của vua, mông rất lớn, trong hòn giả sơn ở hoa viên dinh phủ của mình. Khi bị xử tội mới phát hiện ra và quan quân kiểm kê tài sản thấy nhiều hơn cả quốc khố mấy lần. Giai thoại này truyền tụng ra ngoài, tín ngưỡng tỳ hưu nở rộ và mãi về sau này mới truyền sang Việt Nam.

Tượng tỳ hưu nổi tiếng nhất Trung Quốc hiện nay là Đức Thắng Môn và bán tượng tỳ hưu (mới chế) cũng là ngành kinh doanh nơi này. Người ta truyền rao phải mua tượng từ nơi này và được thầy phù thủy ở đây phù chú mới linh nghiệm. Con vật này theo mô tả mình gấu, đầu lân, đuôi rậm, bờm uốn cong, không có hậu môn nên chỉ ăn vàng và không ‘đi tiêu’ ra chút gì cả. Do vậy rất nhiều người thỉnh tượng tì hưu về nhà cầu tài. Người ta tin rằng tỳ hưu làm bằng ngọc hay đá quý mới linh nghiệm, khi ăn phải hướng mặt ra ngoài để ăn vàng bạc (nếu quay vào trong ăn hết của nhà), thỉnh phải đủ hai con để một con thu của còn một con trừ tà, và nhất là không chạm ngón tay vào miệng tỳ hưu vì như thế bị nó hút hết tài lộc.

Trích “Từ điển Tâm thức và Tín ngưỡng Việt Nam” [Chưa xuất bản]

* Những từ in hoa đậm có mục tra riêng trong từ điển

Nói nhỏ thôi nhe: tôi quen một đại gia có tài sản vài chục tỉ. Mấy năm nay nghe theo thầy thỉnh tỳ hưu để giàu hơn nhưng nay ăn ngủ không yên vì ảnh hưởng khủng hoảng (chủ yếu cổ phiếu) làm ông ta sắp phá sản!? Chắc chắn một điều ông ta thỉnh tỳ hưu đúng cách nhất thế gian này và thờ cũng rất trịnh trọng. Tin hay không tùy các bạn.

Đức Chính

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Kiến trúc các ngôi Chùa xưa va nay

NGUYỄN QUẢNG TUÂN

Vùng đất Sài Gòn được kể như đã hình thành từ năm 1698, sau khi Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào tổ chức việc quản lý hành chính vì lúc này dân vào định cư cũng đã khá đông.

Ngoài lớp người Việt này còn có một số người Hoa gồm cả những quan quân nhà Minh không chịu thuần phục nhà Mãn Thanh cũng tới xin định cư.

Các người mới định cư này đều không tránh khỏi tâm trạng của những kẻ lưu dân, xa nơi quê cha đất tổ. Họ đều nhớ đến làng cũ, nhớ đến mồ mả của ông cha nên ai cũng muốn cầu xin sự phù hộ của đức Phật từ bi để được mạnh khỏe, yên ổn làm ăn.

Người Hoa thì lập ra các hội quán và các miếu thờ Quan Đế, thờ Thiên Hậu. Người Việt thì lập ra các đình, chùa thờ Phật, thờ thần.

T ruyền rằng, hồi đó, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, vào khoảng năm 1747, Tổ Phật Ý đã từ miền Trung vào Nam truyền bá đạo Phật. Khi vào tới vùng đất Sài Gòn, thuộc huyện Tân Bình, xã Minh Hương, Tổ trụ lại ở làng Tân Lộc và đã lập một thảo am để thờ Phật.

Năm Nhâm Thân (1752), Tổ Phật Ý đã cho sửa am thành một ngôi chùa gồm chánh điện và nhà hậu tổ đặt tên là Từ Ân tự, ngụ ý nhờ được ân huệ của đức Từ Bi mà dựng được nơi thờ tự và truyền bá đạo pháp.

Đồng thời với việc thiết lập chùa Từ Ân (1) còn có chùa Khải Tường (2). Hai ngôi chùa này được kể là hai ngôi già lam cổ nhất ở vùng đất Sài Gòn, nhưng đều đã bị phá hủy vì chiến cuộc, thời chống quân Pháp xâm lược, nên ngày nay chúng ta không còn được biết kiến trúc hồi đó ra sao.

Nếu kể thêm các ngôi chùa cổ thì chùa Kim Chương cũng là một danh lam mà Trịnh Hoài Đức đã nói đến trong quyển “Gia Định thành thông chí” như sau:

“Chùa ở phía Tây Nam trấn hơn bốn dặm, về phía Bắc quan lộ. Ở giữa là Phật điện, trước sau có Đông-Tây đường, sơn môn, phương trượng, kinh thất hương viện và phạn đường, chạm trổ sơn then thếp vàng, đẹp đẽ nguy nga…”.

Trong bản đồ Gia Định-Sài Gòn-Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ năm 1815, chúng ta thấy có ghi rõ địa điểm chùa Kim Chương và chùa Cây Mai.

Chùa Cây Mai (Mai Khâu tự) cũng được Trịnh Hoài Đức nói đến trong Gia Định thành thông chí:

“Gò Cây Mai ở cách phía nam trấn độ 30 dặm, ở đây có nhiều cây nam mai, cành lá rườm rà… Trên gò có ngôi chùa Ân Tông… quanh chân gò có hào nước bao bọc. Chiều mát, các thiếu nữ chèo thuyền hái sen. Gặp những giai tiết lại có những văn nhân thi sĩ lên ngâm vịnh tại nơi đầu gò, dưới gốc cây mai… Thật là một thắng cảnh cho người du lãm”.

Các ngôi chùa cổ ấy, cũng như các ngôi chùa Pháp Vũ, Phước Hải, Phước Hưng, Kim Tiên, Gia Điền, chỉ còn được nhắc lại trong sách sử chứ đến nay đã không còn để lại một vết tích nào, ngoại trừ pho tượng Phật của chùa Khải Tường còn được lưu giữ và hiện được trưng bày ở Viện Bảo tàng Lịch sử (số 2, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1) và tấm hoành QUỐC BẢO KHẢI TƯỜNG TỰ còn được lưu giữ và hiện được treo ở chánh điện chùa Sắc tứ Từ Ân (về sau đã được xây cất lại ở đường Tân Hóa, quận 6).

Ngày nay, muốn tìm hiểu về kiến trúc các ngôi chùa cổ, chúng ta chỉ còn căn cứ vào một số những ngôi chùa còn tồn được như sau:

Chùa Giác Lâm Quận Tân Bình, Chùa Giác Viên Quận 11, Chùa Giác Sanh Quận 11, Chùa Từ Ân Quận 6 Chùa Tập Phước Quận Bình Thạnh, Chùa Trường Thọ Quận Gò Vấp ,Chùa Phụng Sơn Quận 11,Chùa Huệ Lâm Quận 8, Chùa Gò (Phụng Sơn)

Quận 11, Chùa Huê Nghiêm Huyện Thủ Đức Chùa Phước Tường, Huyện Thủ Đức,

Chùa Hội Sơn,Huyện Thủ Đức ,Chùa Linh Sơn Huyện Củ Chi,Chùa Long Thạnh Huyện Bình Chánh

Nhưng trong số các ngôi chùa kể trên cũng có những ngôi chùa đã được sửa lại, không còn giữ nguyên dạng ban đầu nữa. Ngoài ra có những ngôi chùa cổ như chùa Linh Sơn ở quận 1, chùa Long Huê ở quận Gò Vấp, chùa Long Nhiễu ở huyện Thủ Đức… đã xây cất lại hoàn toàn nên chỉ còn cái danh là chùa cổ, chứ về mặt kiến trúc thì phải coi là chùa mới.

Vậy, căn cứ vào những nhận định trên, chúng tôi xin trình bày vắn tắt về một số chùa cổ và chùa mới ở thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin tạm lấy mốc thời gian là năm 1900 để phân định chùa cổ và chùa mới.

Nếu những ngôi chùa nào được lập trước năm đó, dù đã được trùng tu nhưng còn giữ được khung gỗ truyền thống thì được coi là chùa cổ.

Nếu những ngôi chùa nào được lập sau năm đó, mà dù có làm theo khung gỗ cổ truyền vẫn được coi là chùa mới.

NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ

Trước hết phải kể đến chùa Giác Lâm. Ngôi chùa này đã được Trịnh Hoài Đức nói đến trong quyển Gia Định thành thông chí:

“Ở trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm, đột khởi một gò đất hình tròn… rộng ba dặm, cây cao như rừng, hoa nở như gấm, sáng chiều mây khói quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà có nhã thú.

Mùa Xuân năm Giáp Tý (1744) đời chúa Thế Tông (Nguyễn Phúc Khoát) năm thứ 7, người xã Minh Hương là Lý Thụy Long, quyên góp xây dựng nhà chùa trang nghiêm, cửa thiền u tịch…”.

Hồi ấy, khi mới xây xong chùa, cư sĩ Lý Thụy Long có đến chùa Từ Ân xin với Tổ Phật Ý cho một đệ tử về trụ trì chùa của mình. Tổ Phật Ý đã cử Thầy Viên Quang về trụ trì. Nếu kể từ đời trụ trì thứ nhất ấy đến nay thù chùa Giác Lâm đã trải qua 10 đời trụ trì và chùa cũng được gọi là tổ đình của dòng Lâm Tế ở miền Nam. Chùa đã được trùng tu lớn hai lần:

Lần thứ nhất từ 1799 đến 1804.

Lần thứ hai từ 1906 đến 1909.

Xưa kia xung quanh chùa còn vắng vẻ, chưa có nhà ở của dân chúng lấn chiếm vào khuôn viên chùa như hiện nay, nên cảnh chùa thật u tịch, đúng như câu đối ở chánh điện đã diễn tả:

Tự cổ Tăng nhàn thường dẫn yên hà vi bạn lữ;

Sơn thâm thế cách chỉ bằng thảo mộc ký xuân thu.

Diễn nôm:

Chùa cổ sư nhàn, sẵn khói ráng kết duyên bầu bạn.

Non sâu đời khất, nhờ có cỏ hoa ghi dấu tháng năm.

Hoặc:

Dưỡng tính vô như thiền cảnh tỉnh;

Minh tâm phương giác pháp môn thâm.

Diễn nôm:

Dưỡng tính gì hơn thiền cảnh tỉnh;

Minh tâm mới thấy pháp môn sâu.

Các câu đối ở chùa Giác Lâm hầu hết được khắc liền trên cột rất công phu. Cả chùa có 98 cột dựng chạy dọc từ ngoài vào trong, chia thành ba lớp nhà nên có người cho là xây theo kiểu chữ (tam), nhưng không hẳn đúng vì các chùa xây theo hình chữ “tam” như chùa Tây Phương, chùa Kim Liên đều có ba dãy nằm theo chiều ngang: chùa thượng 5 gian, chùa trung 3 gian và chùa hạ 5 gian.

Chùa Giác Lâm tuy còn bộ cột gỗ cổ truyền nhưng tường bao quanh đã được xây cất lại. Mặt tiền chính điện cũng không còn lớp cửa bức bàn mà đã được xây gạch với bốn cửa sổ và hai cửa đi như ở các tư gia (có gắn chống song sắt). Nền nhà trong chánh điện cũng đã được lát gạch hoa.

Nói chung, kiến trúc chùa Giác Lâm tuy bên ngoài có sửa đổi nhiều so với lúc ban đầu, nhưng vẫn xứng đáng là ngôi chùa cổ tiêu biểu nhất ở thành phố Hồ Chí Minh nên Bộ Văn hóa đã xếp hạng Di tích Lịch sử-Văn hóa cấp quốc gia ngày 16-11-1988.

Các chùa cổ khác như chùa Giác Viên, chùa Huê Nghiêm, chùa Phước Tường, chùa Hội Sơn… đều đã sửa chữa mặt tiền nên đã mang phần nào nét hiện đại, nhất là chùa Huê Nghiêm ở Thủ Đức.

Riêng chùa Gò (Phụng Sơn tự) tọa lạc tại số 1408 đường Ba Tháng Hai, quận 11, tuy được khai sơn từ đầu thế kỷ XIX, nhưng lúc ban đầu chỉ là một thảo lư, mãi đến năm 1904 mới được xây cất lại. Kiến trúc hiện nay được khánh thành năm 1915. Cổng tam quan ngoài đường mới được xây năm 1997. Nếu căn cứ vào bộ cột kèo cổ truyền bằng gỗ thì chùa Gò được coi là ngôi chùa cổ, nhưng thực ra kiến trúc ấy cũng mới được tạo dựng vào đầu thế kỷ 20 do công của Hòa thượng Tuệ Minh. Thời ấy chùa này còn chưa có đường chạy qua nên cả khu vực còn rất hoang vắng. Chung quanh gò còn có bàu sen rộng ở phía sau và phía trước có hào nước bao bộc. Nay khuôn viên chùa đã bị lấn chiếm : hào nước bị rác rưởi lấp cạn và bàu sen bị thu hẹp lại bởi các căn nhà mọc lên quanh bờ.

Cảnh trí chùa đã mất đi nhiều vẻ đẹp thiên nhiên nên cần được tôn tạo để xứng đáng là một danh lam đã được xếp hạng Di tích Văn hóa bậc quốc gia.

Chúng tôi chỉ nói qua như vậy về mấy ngôi chùa cổ ở thành phố Hồ Chí Minh, vì nếu đi vào chi tiết của từng chùa thì phạm vi hạn hẹp của một bài thuyết trình không cho phép

được trình bày thêm.

NHỮNG NGÔI CHÙA MỚI

Như đã nói ở trên, chúng tôi chỉ kể là chùa mới những ngôi chùa được lập từ sau năm 1900 dù cho có được tạo dựng bằng khung gỗ cổ truyền với cột kèo rui mè… như chùa Giác Huê ở huyện Hóc Môn hoặc chùa Giác Nguyên ở Bến Vân Đồn, quận 4. Các ngôi chùa mới, nhất là các ngôi chùa ở ngoại thành, thường có cảnh trí thiên nhiên đẹp đẽ nên thích hợp cho sự tu hành hơn là ở trong nội thành ồn ào và chật hẹp về khuôn viên. Chính vì lẽ này mà giữ thế kỷ thứ XX đến nay, phong trào xây chùa theo kiểu mới, có lầu, có hội trường dùng vật liệu hiện đại như xi-măng cốt thép, gạch hoa, chấn song sắt, cửa kính mái ngói Tây hoặc mái đúc bằng bê tông… trở nên thịnh hành.

Người ta còn cho bắt đèn điện, đèn nê-ông, đèn màu hào quang trên bàn thờ Phật thay cho những ngọn đèn dầu mù mờ…

Có người thắc mắc, xây chùa theo kiến trúc mới thì không còn giữ được vẻ đẹp truyền thống của dân tộc nữa, nhưng vấn đề cũng không hẳn đơn giản như vậy.

Xưa kia, dân chúng còn ở thưa thớt, đất đai rộng rãi nên chùa không cần phải xây cho có qui mô như hiện nay gồm đủ cả lầu gác, hội trường và giảng đường với các tiện nghi công cộng.

Đáng kể nhất, về mặt kiến trúc, là chùa Giác Hải ở đường Hùng Vương, phường 12, quận 6, đã được xây như một ngôi nhà thờ Thiên Chúa giáo. Chùa được khánh thành vào năm Canh Dần (1820) như có ghi ở mặt tiền.

Bên trong, chánh điện là một căn phòng rộng có trần khá cao, nền nhà lát gạch bóng láng. Hai bên tường, mỗi bên có 8 cửa sổ, phía trên có cửa gương hình tròn. Có 10 cột xi măng tròn chia chánh điện thành 3 gian theo chiều dọc. Cuối gian giữa kê bàn thờ Phật. Ở đây không có một tấm bao lam, một bức hoành phi hay một câu đối nào.

Đây có thể là trong thời kỳ Pháp thuộc các công trình kiến trúc đều do các kiến trúc sư người Pháp vẽ. Điều này chúng ta cũng thấy phần nào ảnh hưởng của kiến trúc Pháp qua các ngôi chùa cổ được trùng tu như đã nói ở phần trên.

Về sau, khi chế độ bảo hộ bị chấm dứt, chúng ta thấy các kiến trúc sư Việt Nam đã có sự dung hòa hơn nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng của kiến trúc Tây phương.

Trong quyển Mỹ thuật Việt Nam, Nguyễn Phi Hoanh đã có nhận xét:

“Ngôi chùa Xá Lợi ở Bà Huyện Thanh Quan tuy chưa đạt phong cách dân tộc và nghệ thuật kiến trúc như chùa Vĩnh Nghiêm nhưng cũng cho thấy kiến trúc sư biết áp dụng kỹ thuật kiến thiết nhà thờ Thiên Chúa ở Tây Âu vào việc xây dựng phần chánh điện”.

Điều nhận xét này cũng có phần đúng vì chánh điện chỉ thờ có một pho tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở giữa có hai hàng cột ngăn làm ba gian theo chiều dọc. Ngọn tháp ở trước chùa cũng được dùng để treo quả hồng chung chứ không dùng để thờ Phật.

Kiến trúc này do hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá Vinh vẽ họa đồ và đã do hai kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hà Tố Thuận trông coi việc xây cất.

Chùa Xá Lợi được khởi công ngày 5-8-1956 và khánh thành vào ba ngày 2,3,4 tháng 5 năm 1958, đã mở đầu cho kiểu kiến trúc “chùa hội trường”.

Nhưng phải đợi đến khi có chùa Vĩnh Nghiêm thì nghệ thuật kiến trúc mới mang nặng dấu ấn dân tộc.

Chính Nguyễn Phi Hoanh trong quyển Mỹ thuật Việt Nam cũng đã có nhận xét:

“Chùa Vĩnh Nghiêm đánh dấu một thành công ít có của nghệ thuật kiến trúc tôn giáo ta. Ngôi tháp bên ngoài nhắc nhở những tháp vĩ đại nay không còn, của đời Lý mà sử sách đã tả tỉ mỉ cái nguy nga đẹp đẽ như tháp Bảo Thiên, tháp Chương Sơn ở Ngô Xá v.v…”.

Chùa Vĩnh Nghiêm được khởi công năm 1964 và hoàn thành năm 1971 do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu với sự cộng tác của hai kiến trúc sư Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Chùa có một tầng trệt và một tầng lầu.

Tầng trệt có giảng đường, văn phòng và Tăng phòng v.v..

Tầng lầu có Phật điện là một tòa vũ nguy nga kiến trúc theo kiểu chữ I (công) gồm có ba nếp: bái điện, bản điện và Địa Tạng đường.

Các mái chùa đều uốn cong ở đầu góc, có hình đầu phượng trang trí.

Chùa Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa có kiến trúc đẹp đẽ nguy nga, nhưng tiếc rằng khuôn viên lại không được rộng rãi và vị trí lại ở trên một con đường đông xe cộ, ồn ào náo nhiệt, không thích hợp với cảnh thiền vốn cần sự yên tĩnh.

Chúng tôi rất tiếc không thể giới thiệu chi tiết hơn về ba ngôi chùa nói trên vì còn có rất nhiều các ngôi chùa khác cũng rất đặc biệt về mặt kiến trúc như Ngọc Hoàng điện, chùa Trường Thạnh, chùa Lâm Tế (quận 1), chùa Phước Hòa, chùa Kỳ Viên (quận 3), chùa Kim Liên, chùa Giác Nguyên (quận 4), chùa Vạn Phật (quận 5), Hưng Minh tự, chùa Tuyền Lâm, chùa Nam Phổ Đà (quận 6), chùa Pháp Quang (quận 8), chùa Ấn Quang (quận 10), chùa Sùng Đức, chùa Linh Quang, chùa Huê Lâm (quận 11), chùa Pháp Hoa, chua Đại Giác, Thanh Minh thiền viện (quận Phú Nhuận), chùa Phổ Đà, chùa Dược Sư, tịnh xá Trung Tâm (quận Bình Thạnh), chùa Phật Bảo (quận Tân Bình), Quảng Hương Già Lam (quận Gò Vấp), tu viện Quảng Đức, Nam Thiên Nhất Trụ (huyện Thủ Đức), chùa Huệ Nghiêm (huyện Bình Chánh) v.v.. mà chúng tôi chưa đề cập đến được, vì phạm vi hạn hẹp của bàn tham luận không cho phép chúng tôi được nói rộng hơn nữa.

Chúng tôi chỉ xin nói thêm rằng, nếu xét về mặt kiến trúc thì mỗi chùa có một vẻ đẹp riêng, không chùa nào giống hẳn chùa nào. Đến cổng tam quan các chùa cũng vậy, có chùa xây thật nguy nga như cổng tam quan chùa Gò (Phụng Sơn tự), chùa Huê Nghiêm, thiền viện Vạn Hạnh, chùa Lâm Tế, chùa Pháp Hoa, Quảng Hương Già Lam…; có chùa lại xây cổng tam quan thật giản dị như chùa Giác Lâm, chùa Phước Hòa, Nam Thiên Nhất Trụ v.v.. Những dù lớn hay nhỏ, cổng tam quan cũng phải phù hợp với khuôn viên của ngôi chùa. Nếu khuôn viên nhỏ quá, sân trước ngắn quá mà xây cổng tam quan như chùa Lâm Tế (quận 1) thì cổng tam quan sẽ che lấp cả ngôi chùa, không còn gì là vẻ mỹ quan nữa.

Ở các chùa mới, chánh điện thường được thiết trí ở tầng lầu, phong quang và rộng rãi. Mái chùa đều không có uốn cong ở các đầu góc như chùa Vĩnh Nghiêm.

Tháp chùa thì có nhiều hình loại khác nhau, đáng kể hơn cả là tháp chùa Xá Lợi và tháp chùa Vĩnh Nghiêm. Tháp mộ cũng rất đa dạng và cũng có nhiều kiểu xây đắp công phu như các tháp Tổ chùa Giác Lâm, chùa Giác Viên… hoặc giản dị như các tháp mộ ở chùa Hội Sơn, chùa Long Thạnh…

Cho nên, ở thành phố Hồ Chí Minh, mới có 300 năm lịch sử, chỉ còn có mấy ngôi chùa cổ thì chúng ta – nhất là các vị trụ trì các ngôi chùa ấy – phải bảo tồn lấy các kiến trúc xưa, không nên vì cái đẹp hào nhoáng bề ngoài mà hiện đại hóa đi.

Chúng tôi lại cũng yêu cầu các cấp chính quyền lưu tâm đến các ngôi chùa đã được xếp hạng Di tích Lịch sử-Văn hóa cấp quốc gia, hãy có biện pháp hữu hiệu giải tỏa các phần đất bị lấn chiếm để cho cảnh quan các chùa ấy được tôn nghiêm đúng với chủ trương của Nhà nước và cũng để làm cho thành phố được mỹ quan hơn nhân dịp kỷ niệm 300 năm lịch sử.

Chuyen phap luan online

(1) Địa chỉ ban đầu ở đường Võ Văn Tần, ngày nay khoảng góc Lê Quí Đôn – Võ Văn Tần.

(2) Khoảng khu Chợ Đũi.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở Nam Bộ

HUỲNH NGỌC TRẢNG – NGUYỄN ĐẠI PHÚC

Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam.
Mục đồng thỉ tạo kim lưu tích;
Ông Trí tiên tu hậu hữu danh
.
Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí.
Đây là những  hình tượng Phật do mục đồng tạo nên
Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoảng hơn 40 ngôi chùa mục đồng khắp các địa phương ở Nam Bộ.
1. Chùa mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư Tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp…
Ở An Phước tự (tục danh chùa mục đồng Hóc Tra / An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi: nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dưới chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình… khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!
Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự / Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.
Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi, TP.HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật  chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng trùm cả và trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, hương chức đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa lá để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo…
Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi giạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.
2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam Bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ Phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam Bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.
Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo quy phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi quy về đồ tượng học Phật giáo: quý tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ…. Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.
Do đó, về mặt tạo hình, chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập họp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP.HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.
3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ kheo hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như quy thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của Đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện.
Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tượng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.
Chuyen phap luan online

.(1) Theo quan niệm phổ biến ở Nam Bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỷ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đông ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nỗ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một sô thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.


Read Full Post »

300 NĂM NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH PHẬT TUỢNG GIA ĐỊNH-SÀI GÒN

NGUYỄN ĐẠI PHÚC – HUỲNH NGỌC TRẢNG

Nói chung, nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở xứ Gia Định-Sài Gòn từ buổi đầu đến thập kỷ 40, 50 của thế kỷ này dường như là một tiến trình song hành của hai dòng phái: dân gian và chuyên nghiệp.

I. Ở các thôn làng Nam Bộ, đây đó, có những ngôi chùa làng được gọi là “chùa mục đồng” mà theo truyền thuyết thì các Phật tượng thờ ở đó là do bọn trẻ chăn trâu/ bò lấy đất sét ở gò mối hay dưới ao tự nặn ra. Nặn ra rồi bày trò cúng kiếng rồi bỏ đó. Lại theo lời tục truyền, có đứa đem tượng xuống ao/sông tắm thì các tượng ấy nổi… Dân chúng cho là linh hiển, thế là cất chùa để thờ nên gọi là “chùa mục đồng”, tượng Phật ấy gọi là tượng Phật “mục đồng”. Đằng sau các yếu tố thần kỳ đó cho thấy một sự thật rằng vào buổi đầu khai hoang, dân chúng đã tự tạo Phật tượng để thờ ở các ngôi chùa làng. Đây là một tập thành biểu thị lòng sùng tín và là một bộ phận tiên khởi của lịch sử mỹ thuật Phật giáo Gia Định.

Đặc trưng nghệ thuật của tập hợp Phật tượng mục đồng là sự chân thực hồn nhiên làm sững sờ người xem như một cảm nhận thảng thốt khi bất chợt nghe một câu hò trên sông lúc hoàng hôn. Nói cách khác, chúng được tạo tác bằng một thủ pháp riêng như ca dao – dân ca được ứng tác bằng thi pháp dân gian khác với thi pháp của thi ca bác học. Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là kỹ năng hay sử dụng công của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Nó là sản phẩm của “họa pháp” đại tả ý – nếu có thể gượng ép lấy thuật ngữ này để định danh đó. Cái đẹp của chúng là ở chính sự thô phác ấy.

II. Chất liệu của tập hợp Phật tượng dân gian mà chúng tôi định danh chung là “Phật tượng mục đồng” bao gồm tượng gỗ, tượng đất sét, tượng đất nung.

1. Pho tượng Phật lần chuỗi ở chùa Hội Sơn (Thủ Đức) và các tượng khác không xác định được tên gọi ở chùa Long Tân (Tân Vạn – Biên Hòa) là các tượng bằng đất nung đặc ruột. Đây là những di tích của tiến trình từ tượng mục đồng đất sét đến tượng gốm đất nung bán chuyên nghiệp.

Các tượng gốm đất nung ở đình Phú Định (quận 6), đặc biệt ở chùa Từ Quang (191 Ba Tơ, P.7, Q.8) là những di tượng gốm đất nung thuộc thế hệ đầu của xóm Lò Gốm Cây Mai / xứ Sài Gòn xưa: niên đại đoán định là từ đầu đến giữa thế kỷ XIX. Trong khi đó các bộ tượng gốm đất nung của các chùa Thiên Phước (Thủ Đức), Trường Thọ (Gò Vấp), Diệu Giác (Bình Thạnh) có thể được tạo tác hồi đầu thế kỷ XX vì chúng có kỹ pháp tạo hình và phong cách nghệ thuật khá đồng nhất với loại tượng này ở vùng Dĩ An – Biên Hòa.

Gọi các tượng này là tượng gốm bán chuyên nghiệp vì chúng được tạo tác bằng kỹ pháp học được do thợ gốm chuyên nghiệp (hay do các thợ chuyên nghiệp trực tiếp thực hiện) được hầm bằng trấu, có ôn độ thấp, gốm nung chín còn non và đặc biệt là trình độ tạo tượng là còn non kém, không đạt được trình độ già dặn như Phật tượng sành Cây Mai.

2. Xóm Lò Gốm ở vùng Phú Lâm – Phú Định được ghi trong bản đồ Gia Định-Sài Gòn (Sài Gòn lúc đó hiểu là Chợ Lớn ngày nay) vào năm 1815, tức nó đã thành lập trước đó – có thể là cuối thế kỷ XVIII. Các lò gốm ở đây sản xuất gạch, ngói, đồ gia dụng và có lẽ các lò Nam Hưng Xương, Bửu Nguyên, Đồng Hòa là các lò chuyên làm tượng thờ và các nhóm tượng trang trí của chùa miếu – gọi chung là sản phẩm “công nghệ miếu vũ” – tập trung quanh cầu Phú Lâm đến gò chùa Cây Mai nên thường được gọi là “gốm Cây Mai”.

Pho tượng gốm Cây Mai có niên đại chính xác và sớm nhất là tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên: 1880 và các niên đại muộn nhất là loại tiểu tượng gốm Cây Mai là 1921. Điều đó cho phép xác định các tượng thuộc tập hợp Phật tượng sành là khoảng cuối thế kỷ trước đầu thế kỷ này.

Phật tượng gốm Cây Mai không nhiều nhưng đó là những bảo tượng vì vẻ đẹp của men màu “lưu ly” – nói như thế nhân thường gọi, mà là trình độ nghệ thuật, của tài năng tạo hình – đặc biệt là việc xử lý thần thái của nét mặt và qui pháp tạo hình đã thật sự có tuân thủ nghiêm túc nhất định về nghi qui và đồ tượng học Phật giáo có tính mẫu mực (1).

3. Gốm cây Mai đầu thế kỷ XX bắt đầu tàn rụi vì nhiều nguyên nhân. Thợ gốm ở đây lần lượt dời về Lái Thiêu, Biên Hòa. Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của thợ gốm Cây Mai đã góp phần tạo nên các bộ tượng gốm đất nung nói trên. Các sản phẩm bán chuyên nghiệp này được các chùa đặt mua khá nhiều. Địa bàn phổ biến của chúng từ trung tâm Biên Hòa đến Vũng Tàu – Bà Rịa, xuống Dĩ An, Gia Định, xuống tại chùa Phước Hậu (Trà Ôn – Vĩnh Long).

Ngoài ảnh hưởng của thợ gốm Cây Mai đối với phong trào tự tạo tượng gốm đất nung hầm non bằng trấu nói trên, họ còn là những thợ cả, thầy dạy cho đội ngũ nghệ nhân gốm của trường Mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa (lập năm 1903) mà kết quả là đã tạo nên loại sản phẩm nổi tiếng một thời ở thị trường trong nước và thế giới – gọi là gốm Mỹ nghệ Biên Hòa. Số lượng tượng Phật của gốm mỹ nghệ Biên Hòa là một sưu tập đa dạng và phong phú được tạo tác bằng phương pháp thủ công hoàn toàn, hoặc in khuôn, hoặc rót khuôn và tận dụng nhiều kỹ thuật trang trí khác nhau: chạm khắc, tô men, vẽ men. Bảng màu men của gốm mỹ nghệ Biên Hòa rất phong phú nhưng được sử dụng có liều lượng, có nghiên cứu nên đã tạo nên nhiều Phật tượng trang nghiêm hoàn mỹ. Điều đó, quí vị có thể nhìn thấy ở sưu tập ảnh mà chúng tôi trưng bày ở đợt triển lãm “Bảo tượng pháp khí” này.

III. Bộ phận Phật tượng gỗ là tập thành phong phú nhất về số lượng, về đề tài cũng như phong cách và kỹ pháp tạo hình.

Các Phật tượng của chùa Kim Chương (khai sơn 1755) mà ngày nay còn bảo quản được ở chùa Hội Thọ (Cái Bè – Tiền Giang) là những pho tượng có niên đại 1813 – năm tái thiết lớn và ngôi chùa sắc tứ này được thế nhân xưng tụng là “đại bửu sát” của cả xứ Nam Trung (xem Gia Định thành thông chí) đây là những Phật tượng mà tác giả tạo tác hẳn là nghệ nhân Huế. Chúng ta không có tài liệu Hán Nôm nào để khẳng định là chúng được Cao Hoàng hậu cho chở từ kinh đô Phú Xuân vào, nhưng căn cứ vào đặc điểm đồ tượng học, vào phong cách tạo hình chúng ta có thể kết luận về điều đó. Tương tự A Di Đà của chùa Khải Tường là pho tượng của vua Minh Mạng dâng cúng vào khoảng sau năm 1832, khi ông vua này “lấy của kho 300 lạng bạc, giao cho quan địa phương theo cách thức đã định của Bộ Công, gọi thợ xây dựng” ngôi chùa ở nơi mình sinh ra, gọi là chùa Khải Tường “để ghi sự tốt lành to tác, chứng tỏ nơi phát phúc lâu dài”(Đại Nam thực lục chính biên. Bản dịch của Viện Sử học, H.1962, tập 9, trang 173 – 174).

Nói chung, đây là những Phật tượng gỗ có tính chất chuẩn mực của nghệ thuật tạo tượng đầu thế kỷ XIX. Trong khi đó các Phật tượng trước sau niên đại này ở các chùa cổ: Trường Thọ, Long Huê, Tập Phước, Phước Tường, Huê Nghiêm, Long Nhiễu, Giác Lâm, Giác Viên… lại còn hoặc thô phác hay quá chân phương, thiếu sinh động… và phải đến những năm 60, 70 của thế kỷ này mới thấy xuất hiện các Phật tượng đạt được chuẩn mực nghệ thuật trang nghiêm thực sự đáng được gọi là có “tướng hảo quang minh”. Các Phật tượng ở các chùa Phước Hòa, Pháp Hội của nghệ nhân điêu khắc gỗ Nguyễn Đức Thống là những ví dụ.

Gia Định-Sài Gòn là thành phố ngã ba đường, nơi hội tụ của nhiều dòng chảy văn hóa. Đặc điểm này cũng biểu hiện khá rõ trong nghệ thuật tạo hình Phật tượng. Các chi phái thợ chạm khắc gỗ từ Thuận-Quảng, từ miền Bắc, từ Thủ Dầu Một, từ Sa Đéc, Long Xuyên, trong đó có các nghệ nhân người Hoa, đã đổ về đây. Họ đã tạo tác nên một tập đại thành Phật tượng theo qui pháp tạo hình và phong cách nghệ thuật khác nhau; và rồi trong những thập niên đầu thế kỷ này, đội ngũ những nhà điêu khắc Phật tượng lại được bổ sung những người tốt nghiệp từ các trường mỹ thuật chính qui. Họ đã tạo tác Phật tượng bằng nhiều chất liệu khác nhau: gỗ, gốm đất nung, sành sứ, thạch cao, xi-măng…

Gỗ là chất liệu truyền thống của nghệ thuật tạo tượng; đặc biệt gỗ mít/mít nài do tên gọi chữ Hán của nó là cây ba la mật nên được coi là thứ gỗ thiêng đặc dụng. Ngày nay, việc tạc tượng Phật gỗ vẫn còn duy trì, song đa phần ngả qua hướng tạo tượng mỹ nghệ hơn là tượng thờ. Phật tượng thờ làm bằng thạch cao, xi măng giờ đây được đắc dụng hơn nhưng do sản xuất hàng loạt nên ít thấy những Phật tượng có giá trị nghệ thuật độc đáo.

Tượng đá ở Nam Bộ, trước đây là sự “tiếp nhận” các di tượng đá đa phần là thần của Bà La Môn giáo để thờ – gọi chung là Phật đá. Gần đây Phật tượng bằng đá của nghệ nhân điêu khắc đá Bửu Long (Biên Hòa) bắt đầu được quan tâm. Một trong những tượng Phật đá hiện đại đáng chú ý là tượng Phật Quan Âm của chùa Quan Thế Âm (Phú Nhuận).

Nói chung, trong 300 năm lịch sử của Gia Định-Sài Gòn-thành phố Hồ Chí Minh, các chi phái thợ, các nhà điêu khắc đã tạo tác nên một tập thành Phật tượng khá phong phú. Qua biết bao biến cố dữ dội suốt ba thế kỷ qua, những Phật tượng còn lại đến nay là một bộ phận quan yếu của lịch sử mỹ thuật vùng đất này. Điều này đã chỉ ra nhiệm vụ của thế hệ ngày nay đối với những giá trị cổ xưa còn sót lại. Những pho tượng cổ, dù không được coi là có “tướng hảo quang minh” theo cái nhìn của con người thời nay; nhưng đó là những giá trị lịch sử một đi không tái lại. Do vậy, việc phế bỏ hay sơn sửa mới đều làm hại đến giá trị vốn có của chúng, dù việc làm đó xuất phát từ những thiện ý.

(1) Tạm kể các tượng đáng lưu ý sau đây: Giám Trai (Giác Viên), Bồ Đề Đạt Ma, Tiêu Diện Đại sĩ (Phụng Sơn – chùa Gò), Chuẩn Đề (Giác Sanh), Tiêu Diện Đại Sứ (tượng đứng – Vạn Đức), Tiêu Diện Đại sĩ (tượng ngồi – Bửu An), Thiện Hữu (đình Phú Định), Di Đà Tam Tôn (cực lớn), Giám Trai, Bồ Đề Đạt Ma (Phước Lưu – Trảng Bàng), nhiều tượng Phật ở Phật điện chùa Vạn Linh (Bình Thủy – Cần Thơ)…

Chuyen phap luan online

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »