Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám 7th, 2009

Binh Mã Dõng Tần Thủy Hoàng được chế tạo như thế nào

Năm 1989 , khi đo trắc và thăm dò trên vùng đất trồng rau ở xã Lục Thôn Bảo quận Thị Ương thành phố Tây An , nhóm công tác Hán Trường An Sở nghiên cứu khảo cổ Viện khoa học xã hội TQ đã phát hiện 21 lò nung gốm Binh Mã Dõng < tượng lính và tượng ngựa >cỡ lớn đời Tây Hán cách đây khoảng 2100 năm , đồng thời khai quật ra hàng nghìn tượng gốm . Đó là những lò nung Binh Mã Dõng tùy táng dành cho Nhà vua và hoàng quyền . Những lò nung đó với quy mô đáng kể , sản lượng rất cao , trong đó có hai lò nung còn đầy ăm ắp phôi tượng lính và tượng ngựa , trung bình mỗi lò có từ 350 đến 400 tượng lính và tượng ngựa . Điều này có nghĩa là tất cả 21 lò nung , mỗi lần có thể nung đến 7350 đến 8400 Binh Mã Dõng , sự phát hiện đó khiến người ta không còn cảm thấy kinh ngạc trước trận thế rầm rộ của Binh Mã Dõng Tần Thủy Hoàng nữa .

Những hiện vật Binh Mã Dõng khai quật tại hiện trường đã đưa ra đáp án về việc nung tượng lính và tượng ngựa . Tượng lính và tượng ngựa hoàn toàn làm theo mẫu , song khuôn mặt , mắt , mũi , môi và tai đều qua chạm khắc trước khi đưa vào lò nung .Trước khi nung không tô mầu , song tuyệt đại đa số Binh Mã Dõng đều tô mầu áo trắng sau khi ra lò nung . Phương pháp bày biện Binh Mã Dõng trong lò nung cũng rất lý thú . Hoàn toàn khác với sự tưởng tượng của con người , phôi Binh Mã Dõng không phải chân ở dưới , mà là đầu ở dưới , tức là đảo ngược lại . Cách bày này rất khoa học , bởi vì phần trên cơ thể con người nặng hơn phần dưới , cho nên xếp đảo ngược sẽ vững hơn và không dễ bị đổ . Điều này nói lên ngay từ hơn 2000 năm về trước , nhân dân lao động TQ đã nắm vững nguyên lý của trọng tâm khoa học . Sau khi phát hiện Binh Mã Dõng , người ta mô phỏng làm tượng ngựa , nhưng do ban đầu chưa nắm được phương pháp này , xếp phôi tượng ngựa theo suy nghĩ bình thường , tức là chân ở dưới , cho nên dẫn đến hiện tượng bị sụp đổ , nhiều lần bị thất bại . Ngoài ra , Đời Tần đã thực thi chế độ “trách nhiệm nghiêm khắc” , có nghĩa là yêu cầu công nhân trạm khắc tên mình lên tượng lính và tượng ngựa do mình tự tay làm . Đáng lẽ đó là biện pháp giám sát và kiểm tra số lượng và chất lượng của Binh Mã Dõng , nhưng đã để lại cho người sau hàng loạt tên tuổi các nghệ nhân . Hiện nay có thể phân biệt rõ gồm có 85 nghệ nhân , trong đó có Cung Bính , Cung Cương v.v.

Một chiến binh đất nung được trưng bày ở Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008.

Một chiến binh đất nung được trưng bày ở Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008.

Lăng Tần Thủy Hoàng

Lăng Tần Thủy Hoàng ở thành phố Tây An miền Tây Trung Quốc là một trong những lăng tẩm nhà vua có quy mô lớn nhất, kết cấu độc đáo nhất và nội hàm phong phú nhất trên thế giới. Là một trong những mộ bồi táng theo lăng Tần Thủy Hoàng, Binh mã dõng nổi tiếng ngang với Kim Tự Tháp Ai Cập, được coi là một trong tám kỳ quan trên thế giới. Tần Thủy Hoàng là nhà vua đầu tiên của xã hội phong kiến Trung Quốc <năm 259 đến năm 210 trước công nguyên>, ông là nhân vật lịch sử được tranh cãi nhiều nhất trên lịch sử Trung Quốc. Tần Thủy Hoàng là nhà vua đầu tiên thống nhất Trung Quốc, ông áp dụng hàng loạt biện pháp xúc tiến kinh tế, văn hóa xã hội phát triển, ví dụ thống nhất tiền tệ, văn tự, đo lường <tức đơn vị chiều dài, dung tích và trọng lượng>, trong khi đó, để chống sự xâm lược của chính quyền dân tộc thiểu số miền bắc, ông còn cho xây Trường Thành chuyên dùng để phòng thủ quân địch, những biện pháp này khiến Tần Thủy Hoàng trở thành nhà chính trị nổi tiếng trên lịch sử Trung Quốc. Song mặt khác, Tần Thủy Hoàng lại là một nhà vua hết sức tàn bạo và trụy lạc. Để cấm cố tư tưởng của mọi ngừơi ông ta từng áp dụng hành động dã man “đốt sách sử chôn sống Nho sĩ”, đốt hết tất cả sách tịch không phù hợp với ý chí thống trị của ông ta, thậm chí chôn sống một số người có học nhưng có sự nhìn nhận khác với tư tưởng ông ta, hòng bảo vệ ách thống trị của triều đình nhà Tần. Ngoài ra, trong thời gian Tần Thủy Hoàng thống trị, ông vơ vét của cải của dân, cho xây cất những cung điện tráng lệ như lăng tẩm, cung A Phòng v,v… để hưởng lạc. Sau khi thống nhất đất nước không bao lâu, Tần Thủy Hoàng bắt đầu cho xây lăng tẩm của mình. Ông đã huy động 700 nghìn phu đến xây mộ trong thời gian gần 40 năm, cho tới khi ông ta chết mà vẫn chưa xây xong. Lăng Tần Thủy Hoàng nằm ở Lệ sơn ngoại ô thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây, trên một diện tích 56 Km vuông, đế lăng gần như hình chữ nhật, hướng nam bắc dài 350 mét, hướng đông tây rộng 345 mét, cao 76 mét, về tổng thể lăng có hình Kim Tự Tháp. Qua khảo sát, các cán bộ làm công tác khảo cổ phát hiện, xung quanh lăng mộ có hơn 500 ngôi mộ tuỳ táng người và vật. Trong mộ tuỳ táng, có hầm mộ chôn xe ngựa đồng tượng trưng cho xe ngựa của Tần Thủy Hoàng, có hầm mộ chuồng ngựa tượng trưng cho triều đình nuôi ngựa, có hầm mộ binh mã tượng trưng cho muôn ngàn lực lượng binh mã của triều đình nhà Tần v,v… Binh mã dõng được coi là kỳ tích thứ 8 trên thế giới, việc phát hiện ra nó là trong một dịp hết sức tình cờ.

 

Năm 1974, nông dân địa phương chuẩn bị đào giếng, kết qủa đào ra rất nhiều đồ gốm, mấy người nông dân đó cũng không để ý, chuẩn bị vứt bỏ đi, một cán bộ khảo cổ có mặt tại hiện trường, sau khi quan sát, liền nghĩ ngay đây là một phát hiện quan trọng, liền báo cáo tình hình cho quan chức cục văn vật của huyện, thế là, Binh mã dõng chấn động thế giới mới được khai quật lên. Hiện nay, Binh mã dõng đã khai quật lên 500 tượng binh sĩ, 18 cỗ chiến xa gồm hơn 100 con ngựa gốm. Những tượng binh sĩ có chiều cao trung bình khoảng 1,8 m, trông rất sống động, mỗi người một vẻ, thể hiện trình độ nghệ thuật điêu khắc cao siêu của thời nhà Tần. Binh mã dõng Tần Thủy Hoàng được nhân dân các nước trên thế giới yêu thích, nhiều du khách các nước từ xa đến Trung Quốc là để thăm quan Binh Mã Dõng. Khi đến thăm Trung Quốc, quan chức cấp cao của một số nước cũng đưa ra yêu cầu đi thăm Binh Mã Dõng, cựu tổng thống Mỹ Ri-gân từng khen Binh Mã Dõng là kỳ tích của loài người. Do nguyên nhân công nghệ bảo hộ văn vật và để bảo hộ lăng Tần Thủy Hoàng được tốt hơn, hiện nay, chính phủ Trung Quốc không có ý định khai quật ngôi mộ chính trong khuôn viên lăng Tần Thủy Hoàng. Mấy năm qua, đã khai quật được hơn 50 nghìn văn vật lịch sử quan trọng chôn theo trong lăng mộ, trong đó có rất nhiều vật quý hiếm trên thế giới như xe ngựa đồng v,v… Xe ngựa đồng được các cán bộ khảo cổ Trung Quốc phát hiện vào năm 1980, phần chính của xe ngựa là làm bằng đồng đen, các linh phụ kiện đều bằng vàng và bạc, các phần trên xe ngựa đều được gắn bằng máy móc. Thiết kế của xe ngựa rất tinh sảo, kích cỡ bằng một nửa xe ngựa thật, hoàn toàn phỏng theo xe thật làm ra hết sức kỳ, đã tái hiện một cách chân thật dáng dấp oai phong của Tần Thủy Hoàng ngồi trên xe ngựa, Tần Thuỷ Hoàng mong rằng sau khi qua đời, vẫn tiếp tục ách thống trị của mình. Song nào ngờ, sau khi ông ta chết mới có ba năm, triều đình nhà Tần đã bị phong trào nông dân lật đổ. Thế nhưng, lăng mộ Tần Thủy Hoàng có quy mô lớn nhất, văn vật phong phú nhất trong các lăng mộ vua chúa phong kiến Trung Quốc đã tồn tại suốt hơn 2000 năm, trở thành “nhân chứng ”của lịch sử Trung Quốc. Do lăng Tần Thủy Hoàng có giá trị lịch sử to lớn, cho nên năm 1987, lăng Tần Thủy Hoàng được Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Maxreading.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC



Advertisements

Read Full Post »

Trung quốc và đồ sứ (China & chinaware)

Từ China trong tiếng Anh vừa có ý nghĩa “Trung Quốc ” lại có ý nghĩa “Đồ Sứ” . Từ lâu , TQ đã được gọi là “Nước sứ ” , vậy , TQ và đồ sứ có cội nguồn gì không?

Tài liệu khảo cổ đã minh chứng , tiền thân của đồ sứ là sứ xanh nguyên thủy , là sản vật của giai đoạn từ đồ gốm quá độ sang đồ sứ , vừa có đặc điểm của sứ , đồng thời để lại dấu vết của đồ gốm nguyên thủy . Đồ sứ xanh nguyên thủy của TQ được phát hiện tại di chỉ văn hóa Long Sơn huyện Hạ Tây Sơn , đến nay đã có khoảng 4200 năm .

Đồ sứ chân chính của TQ xuất hiện tại thời kỳ Đông Hán < năm 23-220 công nguyên > , Đồ sứ trước hết xuất hiện tại tỉnh Chiết Giang miền Nam . Sau đó , kỹ thuật làm đồ sứ đã từ miềm Nam truyền đến miền Bắc và được phát triển nhanh chóng . Trong đó sự kiện quan trọng nhất là việc sản xuất sứ trắng .Sứ trắng diễn biến từ sứ xanh, sự khác biệt giữa hai loại đồ sứ này chủ yếu là tại mộc và hàm lượng sắt trong chất men . Nếu đất sứ hàm lượng sắt ít thì mộc trắng , hàm lượng sắt nhiều thì màu tối hơn , hiện lên mầu tro , mầu ghi và mầu ghi sẫm . Riêng nói về sự phát triển của đồ sứ , đã được phát triển từ tráng men mầu đơn nhất đến nhiều màu , nhưng phần lớn đồ sứ có mầu đều lấy mầu trắng làm nền để tô thêm các mầu sắc khác . Vì vậy , việc sản xuất sứ trắng có ý nghĩa cực kỳ sâu xa đối với việc phát triển đồ sứ .

Trong thời kỳ Đời Đường và Đời Tống từ thế kỷ 11 đến đầu thế kỷ 13 công nguyên , kỹ thuật sản xuất gốm sứ của TQ tiếp tục được phát triển . Chính đồ gốm tráng men ba mầu Đời Đường là hàng mỹ nghệ được sản xuất trong thời kỳ này , chủ yếu là tráng men lên phôi và gây nên sự biến đổi hóa học trong quá trình nung . Đồ gốm tráng men ba mầu Đời Đường đã hấp thụ những đặc điểm mỹ nghệ của tranh thủy mặc và tượng nặn của TQ , trang trí đồ án bằng các hình thức dán , khắc , vẽ v.v , cùng lúc dùng men đỏ , men xanh và men trắng trên một đồ gốm , sau khi nung trong nhiệt độ cao , men ba mầu hòa vào nhau , ba mầu đã trở thành có rất nhiều mầu sắc , gây cho người xem một thị giác rực rỡ nhiều mầu , đó là đặc điểm của đồ gốm tráng men ba mầu Đời Đường TQ .

Đời Minh < năm 1368-1644 công nguyên > và Đời Thanh < năm 1644-1911 công nguyên > là thời kỳ sản xuất đồ sứ phồn thịnh nhất TQ , số lượng và chất lượng về sản xuất đồ sứ đã đạt đến đỉnh cao . Việc xác định thành phố Cảnh Đức Trấn ở miền Nam là “thủ đô sứ” đã khiến các lò nung đồ sứ Cảnh Đức Trấn thống trị làng sứ của Đời Minh và Đời Thanh trong suốt mấy trăm năm , mãi cho đến nay , đồ sứ cao cấp nhất TQ vẫn được sản xuất tại đây . Ngay từ thế kỷ thứ 8 đồ sứ TQ đã bắt đầu bán sang nước ngoài . Trước đó , “con đường tơ lụa ”nổi tiếng đã triển khai sự giao lưu thương mại và văn hóa giữa TQ với nước ngoài , TQ được coi là “Nước Tơ ” . Sau thế kỷ thứ 8 , TQ lại bắt đầu nổi tiếng thế giới về “Nước Sứ” cùng với đồ sứ TQ bán sang nước ngoài .

Đồ sứ TQ ban đầu chủ yếu xuất khẩu sang khu vực Châu Á . Bước sang thế kỷ 17 , hoàng thất và cung đình Tây Âu bắt đầu dấy lên cơn sóng tàng trữ đồ sứ TQ . Sau khi Bồ Đào Nha mở đường hàng hải mới , đồ sứ cũng trở thành món quà quý hiếm nhất trong xã hội Châu Âu . Lúc đó , phong cách nghệ thuật Rococo lưu hành tại Châu Âu mang đặc sắc là sinh động , tươi đẹp , nhẹ nhàng và tự nhiên , tác phong nghệ thuật này có hiệu quả như nhau với phong cách nghệ thuật TQ là tinh vi , dịu dàng ,xinh xắn và tao nhã . Điều này cũng đã xúc tiến việc lưu hành mặt hàng đậm đà phong cách TQ trong đó kể cả đồ sứ trong cả xã hội Châu Âu . Theo thống kê chưa đầy đủ , thế kỷ 17 , bình quân mỗi năm TQ xuất khẩu khoảng 200 nghìn đồ sứ , bước sang thế kỷ 18 , năm nhiều nhất lên tới khoảng 1 triệu chiếc . Đồ sứ TQ bán chạy trên thế giới và trở thành mặt hàng mang tính chất thế giới . Từ China cũng truyền bá rộng rãi khắp nước Anh và lục địa Châu Âu cùng với đồ sứ TQ , trở thành đại danh từ của đồ sứ , khiến “TQ” và “Đồ sứ ”trở thành một từ ngữ nghĩa đôi gắn chặt với nhau . Về sự biến đổi này rút cuộc được xác định từ bao giờ không ai biết được , nhưng điều có thể khẳng định là , chính vì TQ đạt được thành tựu rực rỡ về đồ sứ thời cổ cũng như con đường truyền bá đồ gốm sứ sau đó , đã khiến mặt hàng đậm đà mầu sắc TQ này được nhân dân thế giới yêu thích , và luôn luôn gắn chặt TQ với đồ sứ .

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

III.- Trà thư

Chẳng phải đến khi Okakura Kakuzo viết cuốn “Book of the Tea“ (Trà đạo – được dịch giới thiệu ở quyển 2 tập sách này) trà mới được viết thành sách; nhưng không thể không nhìn nhận nhờ tác phẩm này mà Phương Tây có cái nhìn khác về nền văn hóa Á Đông. Họ thấy được trong nền văn hóa này có nhiều điều mà họ thiếu sót, ít ra về mặt thư giản tâm hồn trong cuộc sống bề bộn của nền công nghiệp hối hả. Không chỉ có thế! Chính ngay người Á Đông cũng giật mình nhìn lại mình đang lãng quên một kho tàng vô giá của cha ông để lại. Nhiều học giả quay về góc đề tài này và lần tìm trong các thư tịch, họ thấy quả không ít sách vở viết về trà mà từ lâu bị chôn vùi trong lớp bụi thời gian.

Câu chuyện “Quả trứng Kha Luân Bố[1] được lặp lại, nhưng lần này theo hướng tán thuận chứ không phải theo hướng dèm biếm. Mọi người đua nhau bàn về trà, các nước trong vòng ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa cũng cố chứng minh mình có nền Trà đạo chẳng kém gì. Thậm chí nhiều người còn học theo lối uống trà của Nhật, mở các trà thất, bàn luận nhau về trà, … Nhưng có lẽ hiếm có người thấu đáo về trà một cách sâu sắc. Trong những buổi trà dư tửu hậu nói về trà đó, tôi lượm lặt và suy khảo thêm để hiểu, rồi thử đua đòi viết phiếm câu chuyện đã gần hai thế kỷ có người khởi xướng rồi.

Trà được ghi chép sớm nhất có lẽ là trong các y thư, vì lẽ trước khi trở thành một thức uống thời thượng thì dù gì trà cũng là một vi thuốc, dù không có dược tính nổi bật cho lắm. Khi nó trở thành một thứ không thể thiếu của giới tao nhân mặc khách, trà nghiễm nhiên đi vào văn học như một nguồn cảm hứng. Có lẽ đứng sau tình yêu, sau cảnh vật, sau các dòng tư tưởng chính thống, trà là một đề tài được ưa chuộng trên văn đàn Viễn Đông. Ảnh hưởng này có một sắc thái rất đa dạng và phong phú xin được trình bày riêng ở một cuốn sách khác: “Văn hóa trà”.

Chúng ta thấy, tuy người Trung Hoa tự cho biết từ đời nhà Chu đã biết uống và dùng trà tế lễ, nhưng trong Kinh Thi (诗经), cuốn sách được cho là kinh điển thời đó, có nói nhiều về các loại thức ăn, thức uống nhưng chẳng thấy nhắc đến trà. Rồi sách Chu Lễ (周礼) của Chu Công Đán (周公旦) nói rất chi tiết về các chức quan lo việc ẩm thực và kể ra rất nhiều loại thức ăn và phân chia thành từng bậc như: Lục thực (六食), Lục ẩm (六饮), Lục thiện (六膳), Bách tu (百馐), Bách tương (百酱), Bát trân (八珍), … cũng chẳng thấy bóng dáng trà.

Thời Tần-Hán Vương Bao viết cuốn Đổng Ước (憧约) có nói đến thuật ngữ phanh đồ (烹荼) nghĩa là pha trà và mãi đồ (买茶) nghĩa là mua trà, là những thuật ngữ của vùng Tứ Xuyên-Lĩnh Nam chứ không phải của Trung Nguyên. Có thể đây là bút lục khi ông thăm thú vùng vừa nói và ghi chép lại. Chúng ta lưu ý vào thời này người Trung Hoa có trào lưu đi đây đi đó để ghi chép, tiêu biểu nhất là cuốn Sơn Hải Kinh (山海經) của Lưu Hướng (刘向) đời Hán, ghi chép rất nhiều núi non, sông ngòi, sản vật của những vùng đất xa xôi ngoài đất Trung Hoa. Nhờ trào lưu đó mà Phương Tây xa xôi biết đến Trung Hoa và có tên China (tiếng Anh) hay Chine (tiếng Pháp) có gốc từ chữ T’sin (nghĩa là nước Tần). Bên cạnh đó thời này nở rộ những trước tác viết về thức ăn nhưng ngoài trường hợp trên không thấy tác phẩm nào nói đến trà. Đặc biệt người Trung Hoa còn tôn sùng Trương Khiên, nhân vật được gắn với Con đường Tơ lụa, là nhà du hành đi rất nhiều nơi và ghi chép cũng nhiều. Hay cuốn Thủy Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên (vào khoảng thế kỷ thứ 6) từng viết về Việt Nam, cụ thể với những dòng sau: “Giao Chỉ xưa khi chưa có quận huyện, đã có ruộng cấy, nhân vậy mà gọi là Lạc dân, đặt ra Lạc vương. Lạc hầu làm chủ các quận huyện. Huyện phần nhiều do Lạc tướng làm. Lạc tướng có ấn đồng giải xanh

untitled

Cuốn sách có thể coi là viết sớm nhất chuyên về trà phải nói đến Trà Kinh[2] (茶經) của Lục Vũ (陆羽), đời Đường. Trà kinh gồm 3 quyển, chia làm 10 thiên, mỗi thiên đi vào một nội dung: Nhất chi nguyên (源): nói về nguồn gốc cây chè, Nhị chi cụ (具): nói về 15 công cụ trồng chè, hái chè, chế biến chè, Tam chi tạo (造): nói tiêu chuẩn, yêu cầu khi chế biến trà, Tứ chi khí (器): giới thiệu 25 dụng cụ pha trà, Ngũ chi chủ (煮): bàn về cách pha trà, Lục chi ẩm (饮): nói về thú uống trà, Thất chi sử (事): ghi chép các trà nhân, trà thoại, Bát chi xuất (出): nói về các vùng trà, Cửu chi lược (略): nói về giản lược hoá một số khâu trong chế biến trà, Thập chi đồ (图): nói về các tranh ảnh vẽ về trà.

Lục Vũ, tự là Hồng Tiệm, người đất Cảnh Lăng, Hồ Bắc, vốn là một đứa trẻ mồ côi, được một thiền sư tên là Thái Chúc ở Hồ Bắc nhận nuôi. Thiền sư này vốn là một người hâm mộ và sành điệu trà đúng với truyền thống thiền thời đó. Sáu năm trời Lục Vũ lưu ngụ tại thiền viện Long Vân, thời gian này ông được chỉ dạy nhiều về cách pha chế và thưởng thức trà. Tuy nhiên bẩm tính của Lục Vũ thích Nho giáo hơn là Thiền học nên thường bị sư ông trách phạt; cuối cùng không kham nổi Lục Vũ bỏ trốn theo một gánh hát. May sao đến năm 14 tuổi Lục Vũ gặp được một hoàng thân tên; ông này nhìn ra tư chất của Lục Vũ và có nhiều giúp đỡ. Sau loạn An Lộc Sơn, Lục Vũ lui về ẩn dật, kết bạn với nhiều văn nhân và cho ra đời cuốn Trà Kinh.

Trước khi Trà Kinh ra đời, thời Lục Vũ đã có những lời bàn luận về cách chế biến trà ở xứ Hoa Nam. Lục Vũ là người bỏ nhiều công sức sưu tập lại và viết thành. Trà Kinh không phải là một tác phẩm dày, chỉ vẻn vẹn có 7.000 chữ, nhưng lại khái quát được cách chế biến trà của thời đó. Chúng ta cũng nên lưu ý: chủ tâm của Lục Vũ viết Trà Kinh không vì mục đích văn chương, và chính Trà Kinh sau đó gợi lên một phong trào các văn nhân bắt đầu viết các trước tác (có thể vào đời sau gán ghép cho đời trước). Phong trào đó sinh ra nhiều tác phẩm viết về trà khác như được ghi danh có từ đời Đường như: Tiên Trà Thủy Ký (煎茶水记) của Trương Hựu Tân (张又新) và Thập Lục Thang (十六汤) của Tô Dực (苏翼) đều nghiên cứu chuyên sâu về nguồn nước pha trà được ngon, độ nóng của nước dùng pha trà; Thiện Phu Kinh Thủ Lục (膳夫经手录) miêu tả lịch sử uống trà và đặc sản trà của các vùng, … Có điều vào đời này trà là món hàng quý trong cung đình sao lại nhiều người biết đến mức có thể ra nhiều tác phẩm như thế? Câu trả lời là câu hỏi ngược lại: người Trung Hoa nói đời Đường rất sùng bái Đạo Phật vậy sao Đường Huyền Trang phải trốn quan quân đi thỉnh kinh và tại sao các vua đời Đường (họ Lý) nhận Lão Tử là tổ phụ rồi xây nhiều đạo quán như Thái Nhất và Ngũ Đế, các vua nhà Đường lại thích thuật luyện đan?[3] Cái gọi là “nghệ thuật” là đây chăng!

Đời Tống, uống trà ở Trung Hoa phổ biến hơn (nhất là đời Nam Tống), uống trà trở thành nhã thú của giai tầng trí thức chứ không đặc quyền của giới quý tộc cung đình. Thanh Dị Lục là tập sách tạp văn do Đào Cốc thời Bắc Tống biên soạn. Sách kể lại những chuyện thu lượm được từ đời Tùy đến đời Ngũ Đại, trong đó có một thiên nói về ẩm thực với các đề mục sau: soạn tu (món ăn ngon)”, “sơ thái (rau)”, “ngư (cá)”, “cầm danh (gia cầm)”, “thú danh (súc vật)”, “tửu tương (rượu)”, “danh (trà)”, “bách quả (trái cây)”; chuyên về trà thấy có Trà Lục (茶录) của Thái Tương (蔡襄) 1049, Tuyên Hòa Bắc Uyển Cống Trà Lục (宣和北苑贡茶录) của Hùng Phiên (熊蕃), Tiễn Trà Thủy Ký (煎茶水记) của Trương Văn Tân (张又新), Đại Quan Trà Luận (大观茶论) của Tống Huy Tông Triệu Triết (宋徽宗赵哲) biên soạn 1107,. …

Trà Lục là một sách chuyên khảo về trà do Thái Tương viết năm 1049. Thái Tương là một nhà thư pháp tên tuổi và cũng là một trà sư sành sỏi, là quan chuyển vận sứ Phúc Kiến[4] đời vua Tống Nhân Tông (1041-1048). Cuốn Trà Lục của ông gồm hai quyển. Quyển thượng gồm tám thiên, nói về các công đoạn chế biến: Trà tính; Tồn trữ, Sấy, Ép, Rây sàng, Hấp, Hong, Cho trà nổi vân; và Quyển hạ có chín thiên, nói về các dụng cụ chế biến: Lồng ủ, Hộp đựng, Búa đập, Bàn kẹp, Cối xay, Rây sàng, Chậu lọ, Muỗng,Ấm đun.

Tống Huy Tông được đời sau coi là một người sành trà và là bậc thầy về nghi thức trà, thường thi tài nếm trà với quần thần. Hoàng Đế này rất ưa thích bạch trà. Đại Quan Trà Luận gồm các thiên sau: Lời thiệu, Xuất xứ, Phong thổ, Hái Trà, Hấp và ép trà, Chế biến, Thuế trà, Trà trắng, Trà thuyên, Trà Tiễn, Trà bánh, Muỗng trà, Nước, ,,,,

Đời Minh, Cố Nguyên Khánh (顾元庆) viết Trà Phổ (茶谱) năm 1541, Trần SưTrà Khảo (茶考) năm 1593, Trương Khiêm Đức (张谦德) viết Trà Kinh (茶经) năm 1598, Hùng Minh Ngộ (熊明遇) viết La Giới Trà Ký (罗岕茶记) năm 1608, … (陈师) viết

Cố Nguyên Khánh, tước Ninh Vương, là con trai thứ 17 của Hồng Vũ Hoàng Đế. Trà Phổ là một tác phẩm quan trọng bàn về: Tính chất trà, Cách bảo quản Trà, Pha trà, Trà ướp hoa, Mười loại đồ sứ uống trà, Lửa đun,Xếp loại nước dùng pha trà.

Đời Thanh nổi tiếng có cuốn Tục Trà Kinh (續茶經) của Lục Đình Xán (陸廷燦).

Người Nhật có cuốn Trà thư Kissa Yojoki (Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký – 喫茶養生記), do thiền sư Vinh Tây viết năm 1191, mô tả uống trà có tác dụng tốt với ngũ tạng, đặc biệt là tâm. Cuốn sách này bàn về dược tính của trà, có tác dụng kích thích, chống viêm, giải khát, giúp tiêu hóa, trị tê phù, giúp khỏe người, lợi tiểu và bổ não. Trong phần 1, sách giải thích về hình dạng cây trà, trà hoa và trà lá, cánh trồng và chế biến trà; phần 2 nói về dược tính, cách dùng và liều dùng của trà.

Suốt thế kỷ 16, uống trà lan rộng khắp mọi tầng lớp dân Nhật. Lợi Hưu, một gương mặt biết đến nhiều nhất của Trà Đạo Nhật, đưa ra triết lý ichi-go ichi-enhất ky nhất hội: có nghĩa mỗi lần gặp gỡ là một cơ hội), một tín điều cho rằng mỗi lần gặp nhau uống trà thì đó là một kho báu sẽ không bao giờ gặp lại. Triết lý này dẫn đến thay đổi hình thái kiến trúc và vườn hoa trà thất, luôn cả nghệ thuật thưởng lãm trà và làm Trà Đạo (sadō) phát triển trọn vẹn với bốn nguyên tắc: Hòa, kính, thanh, tịch. Bốn nguyên tắc ấy[5] đến nay vẫn còn lưu truyền trong nghi thức Trà Đạo Nhật. Đến đầu thế kỷ 20, cuốn “Book of the Tea” của Okakura Kakuzo (岡倉覚三), được dịch lại ở quyển 2 tập sách này, gây chấn động thế giới. Từ khi tác phẩm này vào Việt Nam, người Việt bắt đầu xôn xao bàn về trà đạo và giật mình tự hỏi : “Việt Nam có trà đạo không?” Câu hỏi đó là tiêu điểm mà tôi muốn trình bày trong cuốn sách này ở quyển ba: “Trà phong Việt Nam”. (一期一会,

Người Hàn Quốc có cuốn Panyaro[6] (có nghĩa: “Hơi sương bát nhã”: Bát-nhã lộ -般若露) được coi là Trà Kinh thời hiện đại, ngôn ngữ hóa tư tưởng trà của Hàn Quốc. Khởi đầu của quyển này vẫn là nhắc lại khái quát cuốn Trà Kinh của Lục Vũ và nguồn gốc cây trà vùng Tây Nam Trung Hoa, cùng văn hóa trà Đường-Tống. Tiếp đến là sự di thực cây trà vào Hàn Quốc vào năm 828, nhờ công của sứ thần Kim Daeryeom và sự truyền bá văn hóa trà của các thiền sư từng qua lại Trung Hoa.. Chuyển qua thuật qua nổi thăng trầm của Trà Đạo Hàn Quốc và công lao khôi phục của đại học sĩ Chong Yak-yong hồi thế kỷ 19 và hòa thượng Hyodang vào thế kỷ 20 và người nối tiếp là Chae Won-Hwa.

Các chương kế tiếp nói về việc thành lập viện Panyaro, giới thiệu trà xanh Panyaro và lấy ý tưởng “Vô Môn”  (không có cửa) làm nền tảng triết lý cho Trà Đạo Hàn Quốc. Sách này viết: “Như vậy Đạo đã mở ra cho mỗi người, mỗi người phải quán tinh thần của Đạo theo phương châm quán định tâm.” Cuối cùng là những giáo lý Trà-Thiền và thực hành nghi lễ Trà Đạo.

Riêng Việt Nam gần như chắc chắn chưa có quyển trà thư nào! Tản mác trong các tài liệu có nói đến cây trà như trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trải viết: “Nay xét mấy ngọn núi Am thiền, Am giới và Am các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đều sản xuất thứ chè ấy, mọc xanh om đầy rừng. Thổ dân hái lá chè đem về, giã nát ra, phơi trong râm, khi khô, đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên.” và “Có một làng tên là Vân Trai, giáp Bạng Thượng chuyên làm nghề chè giã nát để bán, gọi là chè Bạng. Chè sản xuất ở các làng sau này, đều là thứ chè ngon: làng Đồng Lạc thuộc huyện Kim Hoa, làng Đông Quy huyện Đông Ngân, làng Tuy Lai và Thượng Lâm huyện Chương Đức, làng Lệ Mỹ, An Đạo huyện Phù Khang.” Tác phẩm “Thoái Thực Ký Văn” của Trương Quốc Dụng (1801-1864) cho biết sự phân bố trà tại nước ta vào thế kỷ 19 như sau: “từ Phú Yên trở vào không có cây trà, từ Bình Định ra Bắc xứ nào cũng có” (nguồn: Nhất Thanh 1970, tr.135). Cùng một số ý kiến về uống trà của Phạm Đình Hổ với tác phẩm Vũ Trung Tùy Bút. Nhưng đấy chưa là trà thư chuyên khảo.

Đầu thế kỷ 20 nhà văn Nguyễn Tuân có vài chuyện ngắn viết về trà như “Chén trà trong sương sớm”, “Những chiếc ấm đất”, … hay tiểu thuyết ”Hương Trà” của Đỗ Trọng Huề, …  các tác phẩm đó chỉ mới bộc lộ cảm xúc về trà trong văn chương. Hải ngoại có cuốn “Trà Kinh” của Thạc sĩ Vũ Thế Ngọc. Trong nước có cuốn “Tìm hiểu về khoa học văn hóa trà thế giới và Việt Nam”, của Đỗ Ngọc Quỹ – Đỗ Thị Ngọc Oanh., do NXB Nông nghiệp xuất bản tháng 6 năm 2008; Trà Đạo, Nguyễn Bá Hoàn, NXB Thuận Hóa, 2003 (viết về văn hóa trà Nhật). Nhưng các sách này chưa được nhiều người trân trọng là tác phẩm hay về trà.


[1] Khi Kha Luân Bố (Christophe Colombe) tìm ra Châu Mỹ, nhiều người tỏ ra ganh ghét. Trong một bàn tiệc, một số nhà quý tộc dèm biểm nói nếu ông ta có một đội tàu thì cũng tìm ra được Châu Mỹ chứ khó gì. Kha Luân Bố im lặng trước lời bình phẩm đó nhiều lần, một hôm ông cầm một quả trứng luộc lên và bảo những người đang nói khích đó: “Trong các quý vị, ai có thể dựng quả trứng này đứng được?”. Nhiều người thay nhau dựng nhưng chẳng ai thành công. Cuối cùng, Kha Luân Bố đập móp một đầu trứng và dụng nó đứng lên. Mọi người cùng ồ lên, nói: “Chuyện này có khó gì đâu?”.  Kha Luân Bố thủng thỉnh trả lời: “Việc tìm ra Châu Mỹ cũng vậy. Nhưng trong quý vị ai nghĩ ra được cách làm cho quả trứng dựng đứng như tôi!”

[2] Trà Kinh được dịch ra nhiều thứ tiếng. Olga Lomová dịch ra tiếng Tiệp năm 2002 với nhan đề Kniha o čaji; Francis Ross Carpenter dịch ra tiếng Anh với nhan đề Classic of Tea; Soeur Jean-Marie dịch ra tiếng Pháp với nhan đề Le Classique Du The; Marco Ceresa dịch ra tiếng Ý với nhan đề Il Canone Del tè, ….

[3] Các vua Đường Hiến Tông (806–821), Đường Mục Tông (821–826), Đường Vũ Tông (841– 847), Đường Tuyên Tông (847–860) đã điên loạn, hay đã tử vong vì linh đan của các đạo sĩ.

[4] Vùng của cây trà

[5] Hòa, kính, thanh, tịch: Hòa tức hòa điệu (和 wa), Kính tức tôn kính (敬 kei), Thanh tức trong sạch (清 sei), và Tịch tức vắng lặng, yên tịnh (寂 jaku)

[6] Từ Panyaro là từ ghép từ chữ Panya tức“Bát nhã” (trí huệ của Phật) và ro có nghĩa là hơi sương, Panyaro có nghĩa là hơi sương bát nhã (Bát-nhã lộ -般若露).

Tác giả: Đức Chính

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ


Read Full Post »

Nhà gốm, đi văng gốm

Sống trên vùng tài nguyên đất sét dồi dào, với đầu óc tinh nhạy, ông Nguyễn Văn Buôi, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân Tân Hiệp Phát II (ấp Thanh Mỹ 2, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long), đã mạnh dạn sáng tạo, sản xuất ra những sản phẩm gốm đỏ “không giống ai” có giá trị kinh tế cao.

nhàgom

Cô Nguyễn Yến Nhi giới thiệu bức tranh bằng gốm giả đồng

Vĩnh Long là một tỉnh có nguồn tài nguyên đất sét dồi dào, bắt đầu hình thành nghề gốm đỏ vào năm 1993, phát triển trên nền sản xuất gạch ngói đã có khoảng 150 năm tuổi. Năm 1997, sản phẩm gốm đỏ của Vĩnh Long đã được xuất khẩu, từ đó hình thành những làng gốm tập trung ở các phường, xã dọc bờ sông Cổ Chiên như: phường 5 (thị xã Vĩnh Long), xã Thanh Đức (huyện Long Hồ), xã Mỹ An, Mỹ Phước, Chánh An (huyện Mang Thít).

Ngoài tạo công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động, những làng gốm này còn phát triển vận tải thuỷ bộ, làm bao bì, khuôn mẫu. Được vậy là nhờ đất sét ở đây bị nhiễm phèn, khi qua lửa nung sẽ cho ra một loại gốm không men có nhiều sắc độ “lạ kỳ”. Những bình, những chậu, những con vật bằng gốm đỏ đặc sắc đó đã đi tới nhiều nước châu Âu, đem ngoại tệ về.

Đáng chú ý trong số những sản phẩm gốm đỏ độc đáo có bộ sản phẩm ngôi nhà gốm của doanh nghiệp tư nhân Tân Hiệp Phát II.

Đó là một ngôi nhà thật sự được làm toàn bộ bằng gốm. Đầu tiên là dãy hàng rào. Trụ rào nào cũng có hoa văn màu đỏ. Còn tường rào thì trang trí bích hoạ gốm đỏ mỹ thuật. Trong nhà, những rui, mè, kèo, cột, đòn dông, mái nhà cũng đều bằng gốm đỏ.

Để nhà gốm hoàn chỉnh từ trong ra ngoài, ông Buôi đã kết hợp với một số hoạ sĩ tạo hình những tác phẩm gốm trang trí nội thất như bộ bốn bức tranh liên hoàn thể hiện bản đồ Việt Nam cùng ba cô gái Bắc – Trung – Nam, bức tranh gốm về hồng hạc, tác phẩm gốm tường tái hiện thời khẩn hoang của vùng Nam bộ…

nhàgom01

Ngôi nhà gốm do Tân Hiệp Phát II thiết kế

Thực ra, nhà gốm là ý tưởng của ông Nguyễn Cửu Hương, em út ông Buôi. Cô Nguyễn Yến Nhi, con gái ông Buôi, Phó giám đốc doanh nghiệp, cho biết năm 2007 chú cô là ông Nguyễn Cửu Hương, chủ lò gốm Tân Hiệp Phát, qua đời. Lúc đó cha cô, người anh thứ tư, đã nối tiếp và phát huy sự nghiệp dang dở của em mình.

Ông Nguyễn Cửu Hương là người con út trong số chín người con của ông Nguyễn Văn Chỉnh (ấp Cái Kè, xã Mỹ Phước, huyện Mang Thít), gia đình sống bằng nghề lò gạch truyền thống. Ông Hương là người có sáng kiến mời hoạ sĩ, nhà điêu khắc thiết kế những mẫu mã, sản phẩm mới, cho làng gốm đỏ Vĩnh Long, giúp nâng cao giá trị sản phẩm.

Một lần, ông Hương nghĩ để cha mình có thể thư giãn tuổi già với bạn bè bên chung trà, chén rượu, nên quyết tâm làm ngôi nhà mát bằng gốm (một dạng nhà không có tường che dùng để hóng mát, thư giãn). Ông bắt tay thực hiện ý tưởng này vào năm 2001, tất cả đều bằng gốm ngoại trừ rui, mè… vì chưa nắm bắt hết kỹ thuật.

Càng về sau, các căn nhà mát bằng gốm càng có diện tích lớn và kết cấu phức tạp, khắc phục được nhược điểm rui, mè, cột, kèo… xi măng cốt thép bằng cách phủ gốm bên ngoài. Nhờ vậy mà ông đã bán được bốn ngôi nhà mát bằng gốm. Sản phẩm này đã có mặt tại TPHCM. Bên cạnh đó, ông còn cho làm bàn trà (mặt bàn đúc bằng mặt đá nhân tạo) cùng bốn chiếc đôn bằng gốm đỏ để chủ nhân nhà gốm tiếp khách. Giá bàn trà là 1,8 triệu đồng/bộ.

Cũng giống như em mình, ông Buôi đã kết hợp với các hoạ sĩ để thể hiện ý tưởng của mình thành những tác phẩm gốm đỏ “không giống ai”. Các sản phẩm gốm đỏ rất được thị trường các nước như Đức, Úc… ưa chuộng, nhất là những mặt hàng gốm mang tính mỹ thuật, thể hiện những nét văn hoá vùng đồng bằng sông Cửu Long. Và ông Buôi đã cho ra đời những bức tranh gốm giả đồng, gốm giả sơn mài… Những bức tranh bát tiên, hồng hạc, lễ hội dân tộc, mùa xuân… sau khi nung đã được phủ lớp mạ đồng, hoặc phủ lớp bột, lớp sơn nước rồi mài như thao tác làm sơn mài. Tất cả nhằm trang trí nội thất cho ngôi nhà gốm.

Ngoài ra, ông Buôi còn cho ra đời chiếc đi văng bằng gốm. Đi văng gốm rộng 1,6 mét, dài 3 mét, bốn gờ xung quanh trang trí hoa văn mỹ thuật với cả chân quỳ. Sản phẩm được làm bằng đất sét cùng hoá chất, nhưng không cho vô lò nung như các sản phẩm gốm khác. Giá của chiếc đi văng này là 45 triệu đồng/cái. Đây cũng là sản phẩm “có một không hai” ở “vương quốc gốm đỏ” Long Hồ này.

Nhà ở hoặc nhà mát bằng gốm do Tân Hiệp Phát II làm không có kích thước cố định, mà được thiết kế theo yêu cầu của khách. Cô Yến Nhi cho biết, giá một căn nhà gốm khoảng 150 triệu đồng, còn nhà mát bằng gốm khoảng 80 triệu đồng.

Theo Văn Hóa và Thể thao

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đồ gốm Việt Nam trong quan hệ giao thương với nước ngoài

Bình chim phượng, TK15, Metropolitan Museum of Art, New York.

Bình chim phượng, TK15, Metropolitan Museum of Art, New York.

 

Hơn nửa triệu đô la Mỹ hay nói chính xác 521.000 USD đó là cái giá đã được trả cho chiếc bình gốm cổ Việt Nam vào năm 2001 từng gây chấn động dư luận trên thị trường đấu giá Quốc tế.


Như nhận xét của ông Kiều Quang Chân – nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam tại Hoa Kỳ: “Đây là một giá kỷ lục cho ngành gốm cổ Việt Nam, vì trước nay chưa bao giờ được bán với giá cao hơn. Cuộc bán đấu giá này được coi là một trong điều kỳ diệu với những ai yêu thích đồ cổ, mua bán đồ cổ và cả những nhà khoa học. Đối với người Việt Nam thì đây là cuộc phát hiện cổ vật gốm trước nay chưa từng có. Theo các tài liệu thống kê còn lưu trữ thì ở thế kỷ X trong thời kỳ Việt Nam xây dựng nền  độc lập tự chủ, những lò gốm trong các làng gốm Việt Nam được nhanh chóng tăng số lượng sản xuất các sản phẩm cao giá và đã có chỗ đứng trên thị trường quốc tế qua các thương gia Trung Quốc và ả Rập. Đến thế kỷ XI những đồ gốm có màu xanh Lam (Blue) của Việt Nam đã nhập vào nhiều hải cảng Quốc tế. Cuối thời Lý  đầu thời Trần lại xuất hiện hàng gốm đặc biệt Việt Nam: gốm men nâu trên nền trắng ngà. Giữa thế kỷ XIV, gốm Việt Nam khởi sắc với diện mạo mới: gốm men tiền Cobalt (Pré – Cobalt), một loại men Lam nhẹ có phủ men trắng mờ. Hai dạng men ấy đã tôn cao giá trị cho những đặc phẩm gốm thời Trần, góp phần để triều đình Việt Nam gửi sang triều đình Nguyên – Mông (Mông Cổ) và theo các tàu buôn đi các nước Nhật Bản, ả Rập  và nhiều vùng thuộc Biển Đỏ (Hồng Hải). Cũng theo ông Kiều Quang Chân: gốm Việt Nam đa sắc ở cuối thế kỷ XV và XVI rõ ràng đẹp hơn gốm Trung Hoa cùng thời. Ông Jules Speelman – người sở hữu chiếc bình gốm cổ Việt Nam trị giá hơn nửa triệu đôla đã xác nhận: “Chiếc bình gốm Việt Nam mà tôi mua hơn hẳn gốm Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, hơn nữa gốm của các nước này quá nhiều, trong khi chiếc bình mà tôi mua được mọi người công nhận là sản phẩm duy nhất của Việt Nam”. Khi chế độ Nhà Minh bao vây, cấm vận đối với nội thương nước họ thì các nghệ nhân và thợ gốm Việt Nam lại càng có cơ hội “ngàn vàng” phát triển ra nhiều nước khác. Ông Makoto Anabuki – Tham tán văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, trong một chuyến công cán sang Thổ Nhĩ Kỳ ông có tới thăm Bảo tàng Istambul và rất sửng sốt khi thấy chiếc bình Tỳ Bà loại gốm hoa lam, có ghi niên đại 1450 và dòng chữ “Nam Sách Hải Dương Nghệ nhân Bùi thị hý bút”. Sau chuyến đi đó ông Makoto đã viết thư cho Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương để tìm ra di chỉ đã sản xuất chiếc bình. Nhờ thông tin của ông Makoto mà cuối cùng ngành Khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy nơi sản xuất ra chiếc bình đó chính là làng gốm Chu Đậu, Nam Sách, Hải Dương. Và trong cuộc khai quật 2 con tàu của nước ngoài bị đắm trên hành trình giao thương quốc tế đã bị đắm ở Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam) người ta phát hiện có rất nhiều gốm sứ của Chu Đậu xuất khẩu.


do-gom

Đĩa hoa mẫu đơn, TK 15, Metropolitan Museum of Art, New York.


Trên thực tế, gốm Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này đã có mặt ở 32 địa danh thuộc Đông Nam á , 10 khu vực Nhật Bản trong đó có cố đô Kyoto và xuất hiện  trong các cung điện Hoàng gia các nước ả Rập, các khu vực thuộc Biển Đỏ và vịnh Péc – Xích. Các thương gia nước ngoài thường biết đến các làng nghề gốm Việt Nam như Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng thuộc xứ Kinh Bắc cổ, Hương Canh (Vĩnh Phúc), Chu Đậu (Hải Dương)…


Như ta đã biết, vào thế kỷ XIV cho mãi đến ba, bốn thế kỷ sau, nghề gốm của Nhật Bản vẫn chưa phát triển. Các thuyền buôn của Nhật Bản thời ấy được chính phủ Nhật Bản cấp cho “Châu ấn thuyền”, có nghĩa là “Thuyền có dấu đỏ”, đó là loại giấy phép được tự do đi lại, buôn bán với các nước khác. Các thương gia Nhật Bản đã đến Việt Nam qua các cảng biển Hội An ở miền Trung và phố Hiến ở miền Bắc. Theo “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn thì các thuyền buôn của Nhật Bản đã đến mua các hàng hóa của Việt Nam và “Hai xứ Quảng Nam, Thuận Hóa không có mỏ đồng, nước Nhật Bản xuất đồng đỏ, mỗi năm thuyền họ đến thì khiến thu mua, mỗi 100 cân giá tiền 45 quan” (NXB Khoa học, Hà Nội- 1964, trang 241).


ở Tokyo hiện nay còn lưu giữ bộ Gai – Ban Su – Sô, bộ sưu tập tài liệu về mối bang giao của Nhật Bản với các nước từ năm 1559 đến năm 1764. Bộ sưu tập này gồm có 27 tập, ghi lại các quan hệ giữa Nhật Bản và 11 nước. Tập 11, 12, 13 và 14, có niên biểu từ năm 1601 đến năm 1694, ghi chép những mối bang giao giữa nhà Mạc Phủ (Tokuga- wa) với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Trong cuốn sách viết về 3 nước ấn Độ, Đông Dương, Hà Lan, tác giả X.y Buch đã ghi:  “Chỉ riêng năm 1670 người Hà Lan đã mua 214.160 sản phẩm gốm của Bắc Việt Nam, một chiếc tàu Hà Lan đã chuyên chở 24.720 món đồ gốm Việt Nam có chất lượng hàng đầu”.


Các nhà khảo cổ Nhật Bản cũng tìm thấy ở phía Bắc đảo Kyushu những mảnh gốm Việt Nam màu da lươn cùng với một chiếc mâm gỗ có khắc niên đại 1330. Nơi đây, xưa kia là cửa ngõ buôn bán với nước ngoài của Nhật Bản. Có lẽ đó là những tác phẩm gốm Việt Nam đầu tiên được đưa vào đất Nhật Bản.


Theo các nguồn tài liệu, các tàu buôn của Nhật Bản thời ấy xuất phát từ cảng Kyodo sang phố Hiến (Hưng Yên), Vân Đồn (Quảng Ninh), Kẻ Chợ (Hà Nội) và từ cảng Nagadaki sang Hội An (Quảng Nam), Thuận Hóa (Huế). Các thương gia Nhật Bản mang sang bán ở Việt Nam đồng, sắt, gươm giáo, áo giáp, len dạ, đồ trang sức, tiền Nhật… và mua về đồ gốm, vàng, thiếc, xạ hương, sa nhân, quế, hồ tiêu, tơ lụa, bông, vây cá, gạo…


Vậy là hàng gốm của Việt Nam được các thương gia Nhật Bản mua về khoảng từ thế kỷ XV và nhiều nhất vào khoảng thế kỷ XVII, chủ yếu là phục vụ cho giới quý tộc và đã được tham gia vào “Trà đạo” truyền thống của Nhật Bản, được coi là mặt hàng quý giá, có tính mỹ thuật cao.


Trong Viện Bảo tàng Mỹ thuật Nê – Du ở Tokyo, có trưng bày một cái chén uống trà có vẽ những cánh hoa Sen, đó là loại gốm men lam của Việt Nam, nó thuộc di sản của ngài Ca- na- mô- ri Xô- oa, một nhà quý tộc và là bậc thầy về Trà đạo ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ XVII. Cùng thời kỳ ấy, Tướng quân Tokugawa, một nhà quý tộc lớn cũng có nhiều đồ gốm Việt Nam trong dinh thự của mình, đặc biệt có một chiếc bình men trắng hoa lam rất quý, có trang trí hình con Rồng và hoa lá được nhiều người biết đến. Dòng họ quý tộc Ô- Oa- Ri Tokugawa còn lưu giữ một chiếc chén trà cổ Việt Nam, trang trí hoa lam, có chữ Phúc ở giữa. Cùng với gốm men lam, ở Viện Bảo tàng Mỹ thuật Nê- Du còn có một cái chậu bằng gốm trang trí hình con Rồng. Kiểu dáng của chậu là kiểu dáng Nhật Bản, nhưng hình Rồng lại được vẽ giống như Rồng của Việt Nam. Cũng ở  Bảo tàng này, còn có một cái chén uống trà được trang trí bằng hình con Chuồn chuồn, cách vẽ với đường viền nhòe đúng là cách thường vẽ ở các đồ gốm Việt Nam. Nhưng ở các đồ gốm Việt Nam ít khi thấy vẽ hình con Chuồn chuồn. Vậy là có một tác phẩm mang kiểu dáng Nhật Bản với hình vẽ Việt Nam và một tác phẩm có lối vẽ Việt Nam nhưng họa tiết là của Nhật Bản. Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể hai tác phẩm trên đây là hàng của Việt Nam được người Nhật đặt làm theo mẫu của Nhật Bản hồi thế kỷ thứ XVII. Năm 1992, Bảo tàng mỹ thuật Fukuoka, Tổ chức Gốm Việt Nam, giới thiệu 133 món đồ gốm Việt Nam từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII, huy động từ 13 bảo tàng trên khắp nước Nhật. Triển lãm diễn ra hơn 2 tháng trời (từ ngày 29-9 đến 6-12), được đánh giá là triển lãm quy mô nhất về đồ gốm Việt Nam từ trước đến nay của Nhật Bản.


Năm 1996, Bảo tàng gốm sứ Kyushu mở cuộc triển lãm gốm sứ xanh trắng của thế giới, qui tụ 249 món gốm sứ thuộc dòng đồ thanh họa của Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Iran, Đức, Hà Lan trong đó Việt Nam góp mặt 10 cổ vật thuộc 2 dòng gốm: Chu Đậu (Nam Sách -Hải Dương) và Bát Tràng (Gia Lâm-Hà Nội). Những đồ gốm trưng bày tại triển lãm này đều là tài sản của các Bảo tàng Nhật Bản. Năm 1997, Nhật Bản phối hợp với Trung Quốc, Hàn Quốc tổ chức triển lãm lưu động mang tên “Những chiếc đĩa lớn” ở 3 thành phố: Osaka, Masuda Tokyo để giới thiệu những chiếc đĩa làm bằng gốm sứ có kích thước lớn. Ngoài những chiếc đĩa đến từ các bảo tàng của Trung Hoa, Hàn Quốc, còn có 3 chiếc đĩa gốm Chu Đậu góp mặt trong Triển lãm này. 3 chiếc đĩa ấy không phải mượn của Bảo tàng Việt Nam mà là cổ vật của Bảo tàng Machida nằm ở ngoại ô Tokyo. Những món đồ gốm Việt Nam trong Bảo tàng  Machida là quà tặng  của ôngYamada Yoshio – một thương gia kiêm nhà sưu tập, từng sang làm ăn buôn bán ở Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam từ trước Thế chiến II đã sưu tầm được nhiều đồ gốm sứ các xứ này mang về Nhật Bản. Trước lúc qua đời ông đã hiến trọn bộ sưu tập này cho Bảo tàng Machida quê hương ông.


Nhà nghiên cứu cổ vật Trần Đức Anh Sơn trong chuyến thăm Bảo tàng Machida tại Tokyo, nơi có bộ sưu tập gốm Việt Nam vào loại hoàn hảo nhất trong các sưu tập đồ gốm Việt Nam ở nước ngoài, vào tháng 2-1998 đã cho biết: “Vào thời điểm đó, con tàu chở gốm Chu Đậu bị đắm ở Cù lao Chàm chưa được trục vớt nên lần đầu tiên nhìn thấy những chiếc đĩa lớn men Tam Thái, vẽ các đề tài rồng, chim, nai, cá; những chiếc Kendy có họa tiết mạ vàng thuộc các dòng gốm Chu Đậu, Mỹ Xá… trưng bày nơi đây, tôi vô cùng kinh ngạc và tự hỏi tại sao những cổ vật này lại lưu lạc sang tận Nhật, trong khi các Bảo tàng trong nước lại không hề có. Cô Yajima, chuyên viên phụ trách sưu tập gốm cổ Việt Nam của Bảo tàng Machida, chỉ tập trung nghiên cứu nguồn gốm cổ Việt Nam đang tàng trữ nơi đây, đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ về đồ gốm Việt Nam thời Lê-Mạc ở Đại học Tokyo, điều này cho thấy nguồn hiện vật gốm Việt Nam ở Bảo tàng này phong phú và quý báu đến nhường nào”.


ở Nhật Bản hiện có khoảng 20 Bảo tàng có sưu tập đồ gốm Việt Nam nhưng những món đồ quý giá nhất phần lớn thuộc về Bảo tàng Mỹ thuật Fukuoka và Bảo tàng gốm sứ Kyushu. Tại các Bảo tàng này có các cổ vật thuộc các dòng gốm Việt Nam thời Bắc thuộc; gốm men ngọc và gốm hoa nâu thời Lý-Trần; gốm hoa lam thời Lê, gốm xanh trắng và gốm màu Chu Đậu thời Mạc và một số đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh và thời Nguyễn… Phần lớn những hiện vật ở đây đều tuyệt hảo và toàn bích, do các Bảo tàng này mua được trong những cuộc bán đấu giá cổ vật ở Nhật Bản, châu Âu và châu Mỹ, hoặc do các nhà sưu tập hảo tâm hiến tặng.


Có thể nói qua nhiều thế kỷ, gốm sứ Việt Nam đã trở thành “sứ giả” giao thương với quốc tế khiến cho thế giới biết được không chỉ là tài nghệ thủ công của người Việt Nam mà còn cho họ hiểu được bản sắc văn hóa của dân tộc “con Rồng cháu Tiên”. Nghiên cứu về gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam từ xưa đến nay, cũng là cách đúc rút những kinh nghiệm quý báu trong việc tìm kiếm, mở rộng thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu thị hiếu công chúng trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay.

nguồn Báo Bắc Ninh (24/01/2009)

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »