Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám 2nd, 2009

Các loại Phật tượng thờ

Đồ tượng học là phương pháp phân định những loại tượng thờ tại những cơ sở tín ngưỡng đình chùa, miếu điện… hay trong dân gian. Những nghệ nhân trong ngành đồ tượng học đã nghiên cứu những pho tượng cổ điển đồng thời gia công cải tiến lại từng khuôn mặt, thể dáng, thủ ấn, trì vật sao cho thích hợp. Chính do những gia giảm các chi tiết của đồ tượng, mà nghệ nhân ngành chế tác tượng hình có thể biểu đạt nguyên tắc nghi qui và đồ tượng. Nghi qui là cácnghi lễ, tư thế, trang phục thích ứng. Đồ tượng là hình thể củatượng đi, đứng hay ngồi. Việc thực hiện đồ tượng phải vâng theo: (a) kinh điển ghi chép của từng vị; (b) quy pháp và Phật thoại; (c) nguyên tắc tạo hình trong nghệ thuật điêu khắc.

Hình tướng Phật và La Hán: Về hình tướng Phật tượng nói chung, dựa theo những nguyên tắc trong nghệ thuật tạo hình, thường phân chia ra các loại: Phật hình, Bồ Tát hình, La Hán hình, Thần Vương hình, Thiên Vương hình, Quỷ hình và Súc hình. Mỗi thể loại còn được chế tác theo nguyên tắc cách điệu, biểu trưng, tả chân, ấn tượng. Điều cơ bản để tạo nên sự khu biệt ấy một phần quan trọng là do các tư tọa lập, các thức thủ ấn, trang phục.

Tượng Phật: Có 5 cách thể hiện Phật Thích Ca diễn tả những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của đức Thế Tôn: (a) Tượng Cửu Long (chín con rồng chầu) thể hiện lúc đức Thích Ca đản sanh. (b) Tượng Tuyết Sơn: thể hiện giai đoạn tìm đạo, tu khổ hạnh. (c) Tượng Niệm Hoa: thể hiện giai đoạn đức Bổn sư cầm hoa sen thuyếtpháp. (d) Tĩnh toạ: đức Phật thành chánh quả. (e) Nhập diệt: đức Phật nhập Niết bàn, trong tư thế nằm.

Tượng Phật đản sinh: Tượng nầy được chế tác nhiều loại khác nhau bằng tượng gốm ở khắp mọi miền đất nước. Đặc trưng của pho tượng nầy là tượng Ngài đứng trên một đài sen, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất. Chi tiết biểu thị Phật trong hình tượng là hai taicó thùy châu dài theo lối hiểu “tai dài như tai Phật”. Trong những pho tượng tạc bảo lưu đến nay, sự tuân thủ vào quy pháp tạo hình cũng không thống nhất: chẳng hạn: pho tượng đức Thích Ca Đản sanh tại nhiều ngôi chùa ở miền Bắc và miền Trung thì tay phải chỉ lên trời; còn pho tượng lưu hành tại chùa Tây Phương, chùa Yên Tử, chùa BáoQuốc thì ngược lại, tay trái chỉ lên trời. Tính chất không nguyên tắc nầy cũng thấy trong những pho tượng gỗ, tượng đồng ở các ngôi chùa miền Nam. Về sau từ thập niên 60 của thế kỷ XX, trong những loại tượng đúc thành khuôn bằng thạch cao hay bằng xi măng, thì mới phổ biến hàng loạt những pho tượng “tay mặt chỉ lên trời”.Những pho tượng nầy đều dựa theo ý niệm “trụ như sơn” chứ không theo lối “hành như phong” ở những pho tượng Phật đản sanh còn lưu hành tại miền Nam VN hiện nay,sự tuân thủ đúng nguyên tắc đồ tượng cũng được áp dụng trong những loại tượng khác.

Tượng Di Đà toạ thiền: Tượng Phật nầy được chế tác chân phương và có phần đăng đối. Đầucó tóc xoắn ốc, giữa đỉnh đầu có nhục kế nổi cao, tai dài xuống gần vai, áo cà sa rộng trùm cả hai bả vai, cổ tròn, tay áo dài rộng. Phật ngồi theo thế kiết già trên tứ phượng toạ; chung quanh trang trí hình sen. Hai tay đặt chồng lên nhau theo thế “thủ ấn thiền định” (Dhyana mudra). Đây cũng là họa tiết và kiểu thức của các pho tượng Bồ Tát Quan Âm, mà có những đường nét theo kiểu tượng hình Di Đà Tam tôn; nhưng nhiều ngôi chùa miền Trung và miền Nam lại không thấy tượng của ngài Bồ Tát Đại Thế Chí. Nhìn chung, tượng đức Phật Di Đà được chế tác theo đúng chuẩnmực, thể hiện được “tướng hảo quang minh” và “tùy hảo vô lượng”.Chưa thấy có đủ các loại tượng “tam thập nhị tướng” và “bát thập tùy hản” mà kinh sách thường ghi chép.

Tượng đức Phật Di Lặc: Trong đồ tượng học, tượng Phật Di Lặc là tập hợp dược thể hiện trong diện mạo hình tướng “Di Lặc Lục tặc”: đầu tròn, áo hậu,ngồi bệ lập phương, y toạ, tĩnh tâm, thiền định.

Tượng Quan Âm: Những pho tượng lưu hành đều theo sáu cách thể hiện quy định (a) Quan Âm Chuẩn Đề: theo công thức thì tượng nầy có ba mặt và 18 tay. (b) Thiên thủ, Thiên nhãn: đức Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt như pho tượng ở chùa Bút Tháp. (c) Quan Âm tọa sơn: thể hiện đức Quan Âm ngồi trên đỉnh núi. (d) Phật Bà: thể hiện Phật bà Quan Âm đội mũni, ngồi toà sen. (e) Quan Âm Tống Tử: thẻ hiện đức Quan Âm ngồi bế đức bé, một bên có Thiện Sĩ (biểu trưng bằng hình con vẹt).

Tượng Bồ Tát Chuẩn Đề: Trong đồ tượng, xét về hình tướng của Bồ tát Chuẩn Đề không khácgì so với Quan Thế Âm Bồ Tát. Pho tượng thường trình bày nhiều tay: có tượng 6 tay, có tượng tay, có tượng 18 tay, biểu trưng cho công năng trong từng giai đoạn và trường hợp hành trì. Tại chùa Trăm Gian và chùa Diên Hựu, pho tượng Bồ Tát Chuẩn Đề lại thêm nhiều taynữa, ngồi kiết già. Tại một số chùa khác thì đài toạ và tư thế có hai loại tượng khác nhau: Một loại trình bày Chuẩn Đề cỡi công (gọi là Khổng Tước tọa); loại thứ hai gọi là Chuẩn Đề Lục giác toạ.Nếu so với quy pháp đề tượng chính thức của Ngài Chuẩn Đề thì cácpho tượng Chuẩn Đề ở nhiều chùa chiền Việt Nam có phần được giảnlược hơn. Những trì vật thông thường là Nhật Nguyệt Quan Âm.

Địa Tạng Vương Bồ Tát: Trong tập hợp những loại đất nung về đồ tượng đức Địa Tạng Vương Bồ Tát được phân chia ra làm hai loại chính: Loại thứ nhất làtượng ngồi trên ngai, chung quanh có các thị hầu oai nghiêm; loại thứ nhì, Ngài ngồi trên con thanh sư, mỗi biểu trưng cho việc hành trì chánh pháp. Cả hai đều có những điểm chung nhất trong nghệ thuậttạo hình: đầu đội mũ Tì Lư (hay Thiên Sứ Tì Lư), toàn thân khoác Y bá nạp, một tay để ngửa trước bụng, trên có một Hồ bình hay Bửu bát; tay kia giơ cao lên; ngón áp út khuyên tròn lên ngón cái.

Phật thoại ghi: Tướng pháp nầy biểu trưng cho ấn thí vô úy. Ngoàira, một số tượng biểu trưng cho “ấn an ủy”. Trong một số đồ tượng khác, tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát còn cóhai đệ tử theo hầu: Mẫn Công và Đạo Minh. Một số tượng khác thì còn thêm Chủ Mạng Quỷ Vương. Trong nhiều thể loại tượng đất nung về pho tượng nầy thì gậy tích của ngài Địa Tạng Vương lại thấy ở tượng của Chủ Mạng Quỷ Vương; trong khi đó trái châu biểu hiện cho thần lực của Ngài thì thấy ở pho tượng Mẫn Công. Giải thích điều nầy, Pháp Thoại ghi: Hình tướng Địa Tạng Vương ở đây là một trong 6 trường hợp hoá thân của Ngài, được gọi là Lục Địa Tạng. Lục Địa Tạng là: Đàn Đầu Địa Tạng, Bảo Châu Địa Tạng, Bản Ấn Địa Tạng, Trì Địa Địa Tạng, Trừ Chướng Địa Tạng và Nhật Quang Địa Tạng.

Tượng La Hán: Hình tướng của các bộ tượng La Hán ở tập hợp tượng đất nung, hầuhết được biểu hiện dưới dạng Thinh Văn hình. Biểu tướng nầy còn gọi là Tỳ Kheo hình, tức là có hình tướng chiếu theo hình tướng của đúc Bổn Sư Thích Ca khi còn tại thế; tuy nhiên tóc không xoắn mà đầu cạo trọc, đỉnh đầu không có nhục kế, áo hậu có dây thắt lưng. Nói chung, hình tướng La Hán có phần thoát sáo, và trong chừng mực nào đó, đã thoát khỏi những nét đặc trưng nhân dạng của người Tây Vực hay Trung Hoa, mà lại có nhân dạng Việt Nam khá rõ nét.

Ở nhóm tượng nầy thường có hai loại: ngồi trên ngai và cưỡi thú. Nhưng dù thuộc thể loại nào chăng đi nữa, thì hình tướng cũng có phần hiện thực hơn so với các tượng thuộc nhóm Phật hình, Bồ Táthình, hay những nhóm tượng thuộc Thiên Vương, Hộ Pháp, Thiện Hữu,Ác Hữu, Kim Cang, thường được gọi chung là Thiên Thần Hộ Pháp.

Tứ Thiên Vương: Tứ Thiên Vương còn được gọi là Hộ Thế Tứ Vương là 4 hình tướng tiêu biểu cho Thiên Vương Hình. Cả bốn vị đều ngự ở cõi trời “Tứ Thiên Vương Thiên” (Caturmaha Rajakasika) thuộc về cõi trời dục giới; lưng chừng trên ngọn núi trung tâm vũ trụ gọi là “Tu Di Sơn”, thấp hơn cõi trời Đao Lỵ của Đế Thích. Tứ Thiên Vương là ngoại thần của Đế Thích có trách nhiệm thống quản cõi trời theo 4 hướng: Trì Quốc Thiên Vương (Virudka) (Hướng đông), Quảng Mục Thiên Vương (Viruphaka) (Hướng tây), Tăng Trưởng Thiên Vương (Dhirtarastra) (Hướng nam), Đa Văn Thiên Vương (Dhananda) (Hướng bắc). Tứ Thiên Vương đã từng nghe đức Phật thuyết pháp kinh Đại Thừa vàcũng đã nguyện độ trì Tam Bảo. Do vậy mà các chính điện chùa chiền đều có tượng Tứ Thiên Vương. Biểu tướng của các tướng Thiên vương là một tướng nhà trời oai nghiêm: đi giày trận, mặc áo giáp, đầu đội kim khôi, tay cầm bửu bối; đàn tỳ bà, bảo kiếm, vòng kim cang, ngọc châu, che dù, có con “hoa hồ điêu”. Đó làhình tướng phổ biến trong các tượng thuộc đề tài nầy cũng nhưtrong điệu múa “Tứ Thiên Vương” ở loại diễn xướng cung đình Huế. Một số làng miền Nam cũng theo nghi lễ như vậy. Tuy nhiên, ở đây, các loại bửu bối đã được giản lược bớt, chẳng hạn như mũ kim khôi được thay bằng mũ “ngũ Phật” với hình 5 cánh sen.

Bát Bộ Kim Cang: Đây là các vị Kim Cang Lực Sĩ (Vajrapani) cũng được gọi là Kim Cang Thần; thường chỉ chung các vị thần cầm chày Kim Cang (như Kim Cang Thủ, chấp Kim Cang) biểu hiện uy thế lớn lao, bảo vệ Phật pháp ở khắp tám bộ chúng (Thiên, Long, Quỷ Vương, Dạ Xoa, Càn Thát Bà,A Tu La, Khần Na La, Ma Ha La Già). (theo Đoàn Trung Còn). Nghiên cứu kỹ những đồ tượng đất nung và đồ gốm cải tiến, thì những vị Kim Cang Thần được chế tác với dạng các võ tướng: đầu đội kim khôi, mình mặc áo giáp, vai có phong đai, tay cầm hoa sen, ngọc châu… Tuy là Thiên Hình tướng như Bát Bộ Kim Cang đều có diện mạo thanh tú, khuôn mặt hiền hậu, phúc đức. Điều nầy khácvới vẻ oai vệ và dữ dội của các loại tượng Kim Cang khác.

Điêu khắc tiêu biểu:

Một trong những ngôi chùa còn được bảo lưu từ thời Lê Sơ khá hoàn thiện là chùa Tây Phương, tại núi Câu Lậu, huyện Thạch Thất, ngoại thành Hà Nội. Những công trình điêu khắc tại chùa Tây Phương khá hoàn chỉnh, đãđóng vai trò chính yếu về điêu khắc cuối thế kỷ XVIII, với sắc thái Tịnh Độ Tông. Những pho tượng tại chùa nầy không điêu khắc cùng một lúc nhưng phần nhiều đều được hoàn tất vào năm 1794, trong lễ khánh thành chùa. Có pho tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát 12 tay vào thế kỷ XVII là tượng cổ nhất của thế kỷ XVII còn lưu lại; muộn nhất trong nhóm tượng nầy là 2 tượng Kim Cương, được mang từ nơi khác đến; tượng đức Quan thế Âm 112 tay vào thế kỷ XIX sau đó; còn hầu hết đều thuộc thế kỷ XVIII.

Những nhóm tượng tại chùa Tây Phương còn lại thì phải kể đến:

(1) 7 pho tượng Kim Cương. (2) Bộ tượng Di Đà Tam Tôn; tượng Thích Ca Tuyết Sơn, tượng Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tượng Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3) Bộ tượng Tam Thế. (4) 18 pho tượng các vị tổ Thiền tông.Sự sắp đặt các hệ thống nầy có tính loại hình cao, mang tinh thần nhập thế của Phật Giáo.Tuy là Bát Bộ Kim Cương (8 pho tượng) nhưng hiện nay chùa Tây Phương chỉ còn 7. Tất cả đều có chiều cao vào khoảng 2,2m tính từ đầu xuống không kể tầm vươn của các binh khí, thể hiện được trình độ rất cao của nghệ thuât điêu khắc, lắp ghép các thành phần gỗ, cũng như cách bố cục, chuyển động, trên một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ.

Các chi tiết trang trí mang tính chất hiện thực, về khuôn mặt mỗi người thì theo một khác nhau, mang tính chất cường điệu. Chiều cao vào khoảng ba mét, được sắp đặt chung quanh góc chùa trong thế phù trì. Những nghệ nhân nổi tiếng tại huyện Ba Vì đã chăm lo điêu khắc;họ đã căn cứ vào đức tính và chức năng của mỗi vị Thần, để từ đó,bố cục, trang trí những đường nét sao cho hợp lý về cử chỉ cũng như trang phục cho từng vị một. Những tay thợ khéo cũng đã nghiên cứu từng binh khí, giáp trụ, từng chiêu thức tiến thoái, bàn tấn trong võ thuật, tạo những đường nét sinh động, tinh vi lạ thường. Những nét chính của sự sáng tạo và nghiên cứu tâm lý nầy mà những pho tượng Bát Đại Kim Cương nầy đã trở thành mẫu mực về nghệ thuật diễn đạt dung mạo của chư Thánh.

Linh động nhất trong toàn thể những công trình nầy thì phải kể đến các pho tượng chư vị La Hán. Tượng lớn bằng người thật, có tượng đứng, có tượng ngồi, ở phía tường hậu của thượng điện. Tất cả còn lại 14 pho tượng (trước kia là 18 pho); mỗi pho tượng đều biểu hiện cử chỉ, phong thái riêng, trang phục riêng.

Một số La Hán chùa phương Tây:

 

 

nguồn: buddhismtoday.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Bộ ấm cũ

Vèo nghe lá rụng đầy sân, ngồi rình những bước đi im ắng của thời gian để nay đốc chứng ôm khư khư mấy cục đất sét nung khô…Cũng chẳng vô tri bất mộ gì quá lắm, chẳng qua nhè cái tuổi lục tuần nhi nhĩ thuận rị mọ làm quen với mấy bộ ấm trà nắp rồng, quai chảo được nặn, véo cáo cạnh mới đâu đây.. Để rồi sáng sáng nhìn nắng lên, lửng lơ cùng tri giao quái ngã sầu đa mộng, trộm vía thấy có cụ lên tận mây xanh tìm sao hôm, sao mai, lại có cụ lóp ngóp bò lên ngồi chễm chệ trên bàn thờ ngóng chờ Phật. Nghĩ cũng hay, vì vậy người viết mới có chuyện chiều chiều ngắm hòang hôn xuống, để lặng lờ nhớ nhà trong điếu thuốc cùng khói huyền bay lên cây với con quay, con vụ của cái buổi ấu thời. Để rồi ăn mày quá khứ bằng vào mới chớm gió heo may cùng những ngày cận tết, được nghe bà láng giềng vén váy chửi mất gà. Tối ba mươi ngồi bên góc bếp canh nồi bánh chưng xem các dì, các cô kết tốt đỏ, tốt đen. Mùng một đi chùa, gặp cái bình vôi đất Thổ Hà nằm lăn lóc dưới gốc cây đa. Chiều về đã thấy các cụ đo giường vật vã với nàng tiên nâu, nhỏm dậy hít vài bi thuốc lào Tiên Lãng.

Rồi chiêu…một tách trà.

Bỗng quan hòai, mang mang cùng những cái thú chơi mấy cái ấm cũ của các cụ ta xưa, thế nên một ngày hòai cố nhân, ngồi gõ mõ với mấy bộ “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Ngày trời tháng Bụt, gặp lúc trái nắng trở trời với gió nồm, gió hanh, để rồi tự hứa sẽ đặt bút xuống lân la qua chuyện các bà nhà quê chửi nhau có vần có điệu nó ra làm sao. Một thương hai nhớ để chẳng thiếu vắng cái bình vôi, bộ bài tam cúc, cái tẩu thuốc phiện. Rồi đảo qua cái bát điếu làng Bát Tràng, nõ viền bạc, hoa văn cỏ gà cùng những người xưa năm cũ.

Và bụng bảo dạ rằng chẳng sớm thì chầy sẽ có một ngày …

Thế nhưng nay ôm rơm rặm bụng với những chiếc ấm đất lỡ mà láo ngáo đụng tới trà kinh, trà đạo thì cứ như con kiến bò quanh miệng chén, hoặc giả như con kiến mày đậu cành đào, leo phải cành cộc lèo vào leo ra, thế nên chả dại. Vì rằng hí hoáy với Trà Kinh của Lục Vũ như lạc lõng vào rừng trà bao la bát ngát, thoai thoải bên sườn đồi hay cạnh sông Dương Tử mãi tận bên Tầu với cả trăm loại tên khác nhau, như lớ ngớ vào tiệm thuốc bắc, kệ trên ngăn dưới với thục địa, đương quy, trần bì phục linh..v..v..Với mấy ông con trời thì trà cũng có năm, có tuổi, có tướng mạo, có kim, mộc, thủy, hỏa thổ, có mầu sắc, có hương vị và khí phách khác nhau, Chúa ơi! Chẳng khác nào như…rượu vang vậy. Lại chẳng thỏa mái cho mấy với Trà Đạo của Okakura Kakuro, đâu đó cũng chỉ ba cái lễ bộ lăng nhăng như bỏ một nhúm trà vào ấm gọi là ngọc diệp hồi cung, tráng trà là cao sơn trường thủy, pha trà là hạ sơn nhập thủy, nhấc chén trà lên bằng ba ngón tay là tam long giá ngọc, đưa trà lên mũi hít hà thì cũng nên đưa từ phải qua trái, để được tôn vinh là…du sơn lâm thủy.

Chao ôi là nghi thức, là cầu kỳ quá đỗi.

Ấy là chẳng đặng đừng phải mầy mò vặn vẹo với chữ nghiã, bạn đọc cũng chẳng nên lắc đầu ngao ngán thở ra với người viết. Vì rằng chỉ một chén trà bé bằng cái hột mít không thôi, các cụ ta xưa đã tốn nhiều giấy mực như cụ Nguyễn Trãi với “Tảo tuyết chỉ trà, hiên trúc hạ”, cụ thưởng trà nào có khác một thiền sư: “Thắp hương trước án bên mai lũy – Quét tuyết đun trà trước trúc hiên” hay trong “Vũ Trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ thì “Trà tiên, rượu thánh”, hoac gia trong “Hương Trà” của Đỗ Trọng Huề với trà ướp như trà sen, trà cúc. Riêng cụ Nguyễn Du để lại cho đám hậu sinh với “Trà tầu, tửu quán” để sau này có…quán rượu. Lậm bàn thêm một chút nữa thì trong “Những chiếc ấm đất” của cụ Nguyễn Tuân, lão ăn mày nhấp một ngụm trà thấy có mùi vỏ trấu ở trong bã trà cũng khí hơi bị lọng cọng. Hoặc giả lão phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại vì cái thú uống trà thì cũng có hơi quá đáng chăng. Vì thế cho nên tạp ghi này chỉ bóp méo vo tròn, như gà què ăn quẩn cối xay với cụ Lê Qúy Đôn qua tập “Vân Đài Lọai Ngữ” cùng nhất thủy, nhị trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh vậy thôi…

Người viết khốn khổ với một mảng văn chương của cụ chẳng phải là ít, đọc thóang qua “ngũ quần anh” là hoang tưởng ngay đến…“Võ Lâm Ngũ Bá”. Chớp được hai chữ “tam bôi” lại nặng nợ với dòng nhạc đại chúng “quan hà xin cạn chén ly bôi”, đã chén còn…bôi bác làm gì nữa hở giời. Trước đèn đọc sách thấy thưởng trà chẳng ngon sơi, nào quạt than, đun nước, pha trà, than phải là than đá, than quả bàng. Nước nên là nước suối đầu nguồn, sôi sủi đầu tăm, đầu đũa, mắt cua, mắt cá. Trà phải là lục trà, hắc trà. Hắc trà ráng mà hiểu dùm là trà nó đột xuất ra…mầu hồng, khó vậy đấy . Bôi đây là chén, chén đây là chén quân, chén tống. Bình không thể là bình thiếc mà là ấm Nghi Hưng. Còn “ngũ quần anh” chẳng thể thiếu vắng độc ẩm, song ẩm với ngưu ẩm này kia.

Đã chìm đắm với gợn sóng trong chén trà, lại liên tưởng đến chè mạn và có người đã căc cớ hỏi cớ sự gì lại gọi là “chè” để gây ra một cuộc bút chiến dài mệt nghỉ, sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Rồi thì giết ruồi bằng dao mổ trâu, dẫn chứng bao nhiêu điển cố, điển tích, nào là bà chúa chè Đặng thị Huệ với chúa Trịnh Sâm. Hay lá gì bỏ vào nồi nấu được gọi là chè, như chè xanh, chè vối, chè tươi. Nhưng chung cuộc thì giản dị và cũng dễ hiểu thôi, là người miền Trung kêu trà là…chè, rắc rối mô tê chi cho mệt.

Hay là tạm gác lại với những cái tên vô bổ ấy đi, hãy làm hai, ba tuần trà của Tầu và Việt. Nếu có trà dư tửu hậu, thì hãy đến với trà thất của Nhật, thiết nghĩ cũng chẳng muộn màng gì cho lắm. Có đầu có đũa thì tự lâu lắm rồi, trà sử nước ta qua Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ năm 1547, có truyện Gã Trà Đồng nguyên văn như sau:

Dương Đức Công tên Tạc, người phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng, đời vua Huệ Tông nhà Lý, ông là phán quan ở Tuyên Quang, xử phạt rất công minh. Năm 50 tuổi vẫn không có con trai nối nghiệp nhà, chợt một hôm ốm nặng rồi mất, một hồi lâu sống lại và kể cho người nhà nghe rằng, vừa mới chết ta được đưa vào gặp Nam Tào, Bắc Đẩu, hai vị này dở sổ và sì sầm bàn bạc với nhau, trần gian hiếm ai có như ông này, chỉ tiếc số không thọ và dòng nam lại không có người nối dõi, việc này ắt phải tâu lên thượng đế. Bèn truyền cho ta nghỉ ở hậu liêu, nửa ngày sau, hai vị ấy trở lại và bảo, thượng đế có lời khen và ban cho ngươi thêm hai kỷ, thêm một thằng con trai. Vậy mau về đi, cố gắng làm điều âm đức cho mai hậu. Bà vợ cũng kể lại vào cuối canh một có ngôi sao nhỏ chui tọt vào bụng, rồi có mang, đầy năm sinh một đứa con dặt tên là Thiên Tích, lớn lên thông minh đĩnh ngộ, học giỏi, lại hay thích…uống trà. Sau mới biết gã là trà đồng, tức kẻ hầu trà cho Ngọc Hòang, nay đầu thai nhà họ Dương.

Có thể vì vậy, cái bình trà trong dân gian được gọi nôm là…”cái ấm tích” chăng.

Theo An Nam Chí Lược của sử gia Lê Tắc có ghi “Vào tháng 5 năm thứ 8 niên hiệu Khai Bảo, Định Liễn có tiến cống nhà Tống sừng tê giác, ngà voi và trà…lưỡi chim”. Lần mò sách Địa Dư Chí Lược của cụ Nguyễn Trãi, ấy là trà Tước Thiệt, còn gọi là trà móc câu hay trà mi thuộc Châu Ô, Châu Lý. Ngành khảo cổ đã khai quật tại vùng Nông Giang, Thanh Hóa, đã tìm thấy được nhiều chén trà, đĩa trà, cùng thời với đời Tống. Dựa vào sử Tầu, tục uống trà người Nam ta có từ thời nhà Tiền Lê, sử chép rằng trước sứ thần của thiền triều, Lê Hòan tức vua Lê Đại Hành vừa uống trà vừa múa hát. Cũng theo sử thi, trà Việt phát triển vào đời vua Lý Nhân Tông với Viên Chiếu Thiền Sư, sau này cụ Nguyễn Du, cụ Nguyễn Khuyến đã đẩy đưa phong thái uống trà lên cao như một thú tiêu dao phóng đãng. Và cực thịnh vào thời vua Tự Đức cùng câu thơ thi xà con thuyền Nghệ An, vì rằng ấm trà phải đặt tự bên Tầu và được phong tước hầu như…người vậy. Nước pha trà do cung nữ sáng sáng chèo thuyền hớt sương mai đọng trên lá sen, mà giời ạ, sen cũng phải lấy giống ở bên Tầu cơ đấy !!!

Cứ như truyện…hư cấu, nghe mất sướng..

Trà Tầu, cùng truyền thuyết thì khởi nguyên từ cụ vua Thần Nông rong chơi mạn núi Lĩnh Nam và nghỉ chân dưới một tàng cây nọ, cho người đun nước sôi, bỗng có ít lá khô rơi lả tả vào nồi nước. Đang mỏi mệt, vô tình cụ vua uống vào thấy lâng lâng, trong một lúc sảng khóai, cụ vỗ đùi một cái đét, buột miệng kêu một tiếng…“cha” nên vua cho lấy giống về trồng và được gọi là “cha”. Từ cái tên này, các nhà nho ta cũng chẳng khó khăn gì mấy, xổ tọet cho một nét ngang thành chữ Nôm là…”trà”. Một thuyết khác, trà từ Ấn Độ theo Đạt Ma Bồ Đề Sư Tổ vào Trung Hoa, trong suốt 9 năm tĩnh tâm trong hang đá, Ngài đã ngậm lá trà để chống buồn ngủ trong cơn thiền. Chứ chẳng phải như tích Ngài ngáp ngáp, nhổ lông mi, quẳng bừa xuống đất và mọc lên cây trà như truyện phong thần. Rồi thì trà từ đời Tam Quốc, đời Đường lan rộng qua đời Tống vì nhà Nguyên chiếm ngôi nhà Tống, tạo nên một lớp cuồng sĩ, sinh bất phùng thời cùng thuyết vô vi ẩn dật như ẩn sĩ lúc trong rừng trúc, khi thưởng nguyệt ngắm hoa ở lan đình để …nốc trà và phe phẩy quạt làm thơ.

Theo Nhật sử thế kỷ tứ 6, thiền sư Eichu mang đạo Phật và trà về nước qua ngả Đại Hàn. Thế kỷ thứ 10, nước Nhật bị nhà Tống cô lập, nên một số tu sĩ và doanh thương vào nước ta qua bến cửa biển Vân Đồn, vì vậy một số trà cụ triều Lý, triều Lê đã du nhập vào nước Nhật qua ngả này (thứ phi của vua Lê là một kỳ nữ Nhật) và cực thịnh nhất là thời nhà Mạc ở cảng Cổ Trai (Hải Phòng). Đến thế kỷ thứ 16, thời Mạc Phủ tướng quân (Shômu) cùng các hiệp sĩ đạo (samurai), thiền sư Sen Reikyu đã đưa trà xanh từ chùa vào cung đình cùng nghi thức uống trà (chanoyu) để có trà đạo (théisme) ngày nay, và lãnh chúa Hideyoshi, cũng là người đã dựng lên trà thất ở thời kỳ ấy.

Năm 2005, các nhà khảo cổ trong nước tìm thấy di tích kinh đô nhà Mạc là Dương Kinh vào thế kỷ 15-16, cố đô thứ hai sau Thăng Long tại thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy. Khác với cung điện Tức Mặc (Nam Định) thời Trần hay Lam Kinh (Thanh Hóa) thời Lê Sơ chỉ là nơi nghỉ nghơi, thờ tự của vua chúa. Dương Kinh ngòai điện Dương Tự, Tường Quang, Phúc Huy, phủ Quốc Hưng, còn có kho lúa, đồn binh và có cả trường Quốc Học như Văn Miếu và họ đà đào sới đưoc những di vật như bia đá, tượng Phật và đồ gốm…v…v..

Treo đầu dê bán thịt chó, người viết muốn khơi lại một thời hòang kim cùng nền cũ lâu đài bóng tịch dương với Dương Kinh là kinh đô kinh tế, kinh đô cảng sầm uất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử nước nhà, sau đấy mới có phố Hiến và Hội An. Dương Kinh trở thành đô thị ven biển xứ Đông, nhà Mạc còn cho xây một số thương cảng trên bến với những phố phường như phố Lỗ Minh Thị, phố An Quý, phố Do Nha…Cũng từ bến cảng này, đồ gốm cổ truyền nươc ta đã trải dọc theo ven biển phía nam, nay đã có mặt ở trong các bảo tàng viện của Negara-Mã Lai, Adam Malik-Nam Dương, Ryukyus-Brunei và từ Ai Cập đến Trung Cận Đông như Cairo-Ai Cập, Tehran-I Rắck….

Trà Việt, ấm Tầu cùng nhà nho phương Nam, chạy trời không khỏi nắng, vẫn không thoát ra ngoài vòng cương tỏa của thanh đàm phương Bắc với gió thoảng mây trôi, nhưng không phải lúc nào cũng uống trà liên tử, ngâm nôm Thúy Kiều mà thỉnh thoảng cũng vương vương chút sầu vạn cổ, đắng chát trong men trà như: “Thượng đế trên cao, chiều độc ẩm – Mạt lộ, ta ngồi chốn hạ phiên”. Hai câu thơ hơi hướng Đường thi ấy, chẳng phải của Tô Hiệu, Vương Bột, mà xin thưa là của kẻ sĩ An Nam Nguyên Sa Trần Bích Lan, nằm tận cùng ở cuối thế kỷ thứ hai mươi ở miền đất ấm tình nồng.

Tự thuở khai thiên lập địa, trời tháng bẩy mưa ngâu âm u ảm đạm, thượng đế trên cao ngồi độc ẩm nên khí buồn da diết, ngài bèn vác cục đất sét nhồi, nặn ra…”Thằng người” để có bạn song ẩm. Ngài cũng lúi húi bỏ vào trong lò nung với nướng, nhưng lửa qúa già, móc ra để chết giấc với tác phẩm đầu tay là “Thằng da đen”, qủa thật là ngất ngư quá đỗi. Ngài lại mó máy nắn với véo, lại quẳng vào lò, lần này lửa hơi non, lôi ra thì hỡi ơi, đích thị là “Thằng da trắng”. Quá bất tam, ngài ngồi chồm hổm thổi phì phò, củi lửa âm ỉ bẩy ngày bẩy đêm, nghệ thuật vị nhân sinh, cuối cùng ngài có một tuyệt phẩm cho hậu thế: Ấy là “Thằng da vàng”.

Không biết ngài có quần ẩm với ba tên này hay chăng, nhưng sử liệu có ghi rằng: Sau này “Thằng da vàng” gốc Tầu có mặt trên trái đất từ thời kỳ đồ đá qua thời kỳ đồ đồng, ăn không rồi đến thời kỳ…đồ gốm, theo nghiệp tổ với cái bàn quay, cũng bóp với nắn, vẽ vời với ba loại ấm bằng đất sét đỏ không tráng men, để cũng biết đến, ấy là “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Tất cả do ba lò chế tạo danh tiếng ở tỉnh Nghi Hưng thuộc Giang Châu, vùng này với lọai đất sét có chất sắt, tùy theo lượng sắt nhiều hay ít để có mầu sắc khác nhau, gọi chung là “ấm tử sa”. Lò Thế Đức nặng về ấm gan gà mầu nâu đậm đỏ, lò Lưu Bội với ấm gan heo, trư can chi sắc, mầu đen nhạt và lò Mạnh Thần nghiêng về loại ấm da chu mầu da nai.

Gần đây người viết được nhòm thấy hình ảnh mấy cái của nợ này trên báo bổ thì thấy như mấy cục đất ráo hỏanh và khô không khốc. Thế nên chẳng lẽ mồ cha không khóc, đi khóc mấy cái tổ mối, thôi thì hãy trở về dăm làng gốm quê nhà với những cái nồi nung hay ấm đất. Tích rằng từ đời Triệu Đà 207 có ông Tầu tên Hoàng Quảng Hưng dậy dân làm chum vại ở làng Đậu Khê, tỉnh Hải Dương, truyền nhân của ông là Trương Trung Ái, sau này được lập đền thờ là tổ sư của nghề đồ gốm. Năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vây hãm Châu Khiêm, Châu Liêm, bắt được về một số tù binh và phát lưu vào Thanh Hóa, từ đó có đồ gốm Đông Thanh.

Đời nhà Lý 1127, ba vị quan đi sứ Bắc Tống là ông Đào Trí Tiến, Hứa Vĩnh Cảo và Lưu Phương Tú, trên đường về nước qua Quảng Đông học được nghề làm đồ gốm chân truyền, khi về nước đi khắp nơi để truyền bá. Ông Cảo truyền cho làng Thổ Khối nước men trắng. Ông Tiến truyền cho là Thổ Hà Bắc Ninh nước men sắc đỏ. Ông Tú truyền cho làng Phù Lãng Hà Nam nước men vàng thẫm. Mỗi vùng, mỗi làng chuyên biệt về một ngành khác nhau, như làng kẻ Trần chuyên làm những bộ ấm tích với hoa văn thôn dã như tàu lá chuối, nhánh rong, chim chích chòe, con cá bống.

Sau có hai anh em người Việt gốc Tống tên Nguyễn Ninh Tràng bỏ lò gốm trường Vĩnh Ninh thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, Thanh Hóa tới làng Thổ Khối hợp với con cháu nhà Tống lánh nạn giặc Nguyên qua đây và lập nên lò gốm. Theo Đại Việt Sử Ký Tòan Thư chép rằng: “Năm 1376, trong cuộc Nam chinh đòan chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Nhị đi qua “bến sông xã Bát”. Vì vậy tên Bát Tràng khởi nguyên từ hai chữ ghép của thổ ngơi tổng Bạch “Bát” của anh em ông Nguyễn Ninh “Tràng” mà có. Sách Địa Dư Chí Lược của cụ Nguyễn Trãi chép rằng: “làng Bát Tràng làm đồ bát chén” và viết thêm: “Làng ấy cung cấp cho Trung Quốc 70 bộ bát đĩa…”.

Nhất bộ nhất bái, bàn dân thiên hạ chỉ biết đồ gốm Bát Tràng không thôi. Ấy mà chuyện đồ gốm người mình với cái bàn xoay, như truyện cổ tích ăn khế trả vàng, hoặc giả như tái ông mất mã vậy.

Chuyện rằng:

Vào năm 1983, ông đại sứ Nhật Makato Anabuki ở Hà Nội bầy vẽ cho các quan chức chốn cung đình rằng chính mắt ông nhìn thấy ở viện bảo tàng Topkapi Saray tại thủ đô Istanbul nưoc Thổ Nhĩ Kỳ cái bình với dấu ấn “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”. Dịch nôm là ở năm Thái Hòa thứ 8, bà họ Bùi phóng bút vẽ chơi cảnh đất Nam Sách. Các quan chức lăng Ba Đình ngâm cứu sách vở tam sao thất bản mới ngã ngửa ra rằng năm Thái Hòa thứ 8 là năm 1450 đời vua Lê Nhân Tông và phủ Nam Sách là tên cổ của Hải Dương, đất của nhà Mạc cũ.

Từ đó các nhà khảo cổ ”điên dã” ùa về làng Chu Đâu và đào dưới vườn nhà bác nông dân tên Vạn và họ đã tìm thấy những di tích đồ gốm đã có mặt vào thế kỷ 13, 14. Ngòai làng Chu Đậu, họ còn tìm thấy những đồ gốm không men như chum, vại, bát nhang trong các ngôi mộ cổ, đình chùa, nhà từ đường tại các làng Ngói, làng Gốm…của các họ Đặng, họ Đỗ…Và đặc biệt nhất là làng Cậy, chuyên làm ấm chén có…quai vòng cong vì đồ gốm đời Trần, đời Lý trở về trước đào được ở cổ thành Thăng Long, vì ảnh hưởng của vương quyền và Phật giáo nên những ấm trà quai là những con rồng, con rùa hay những cánh sen, cọng rau muống. Nhờ có đất sét chu sa ở vùng này, họ làm ấm trà dân diêu không thua gì những bộ ấm của các lò Cổ Nguyệt Liêm hay Cảnh Đức Trấn và được đặt tên rất hương đồng cỏ nội như ấm quả sung, quả vả, quả bương, quả na. Còn chén được gọi là chén hạt mít, chén mắt trâu, chén khẩu mía, chén chuông.

Đèo bòng với điển tích thì vào thế kỷ 14, nhà Nguyên mang quân xâm lăng Nhật Bản, chiến thuyền bị đắm giữa đường nhưng cả hai nước vẫn có những tỵ hiềm. Người Nhật mượn bến Vân Đồn và Cổ Trai làm ngõ thông thương qua đất Đại Việt và Xiêm La để mang về tơ lụa và đồ gốm. Thời ấy, nghệ thuật uống trà chưa lên cao, nên nghề làm đồ gốm của họ vẫn còn thô sơ. Trà cụ đầu tiên do thiền sư Raku Zengoro, người phò lãnh chúa Ashikara mang về cho thiền viện Kasuga có dáng bát trà đời Lý, đời Trần được gọi là An Nam Yaki của làng Chu Đậu, vì rằng người Việt uống chè xanh, chè vối bằng bát nên ảnh hưởng đến chén tống temmonlu của họ sau này. Thương nhân Ozawa Shrouemon thời lãnh chúa Togugawa từ Hội An mang về một số đồ gốm làng Thanh Hà được gọi là Kochi Yaki. Kochi phiên âm từ chữ Giao Chỉ mà ra để phân biệt đồ gốm Đằng Trong hiện còn đang được trưng bày ở bảo tàng viện Tokyo.

Ngu ngơ thế nào lại lạc vào đất Nhật để thấy họ cũng..khó khăn không kém và bằng một cách khác, họ đi tìm cái vô ưu qua tách trà, những giây phút lắng đọng của tâm thức qua nét thanh tịnh của cỏ cây để nâng nghệ thuật uống trà như một nghi thức, từ đó có trà đạo và vườn cảnh. Như trong vườn dựng cái “chòi”, mà họ gói là sukiya tức trà thất. Nước pha trà là nước mưa hứng giữa trời, bằng cách họ lấy miếng vải căng bốn góc với bốn khúc tre, tương tự như căng vó và dưới là cái vại (chozubachi). “Hồng trần bất đáo” trước khi nhập thất, ngay cửa ra vào, họ đặt một hòn đá khóet rỗng như cái thố lớn để hứng nước mưa qua những đốt tre gộc (kakeiki) và một cái gáo. Trước khi đốt lò, chủ nhân cúi đầu sát đất để chào một cây quạt ở ngay cửa, cánh quạt này tượng trưng cho những kiếm sĩ xa xưa. Sau đó, tất cả đều ngồi thế tĩnh tọa và đắm chìm qua làn khói trà nhẹ tênh, tan loãng.

Theo điển tích thì tất cả những bộ ấm trà của các cụ từ thời Trịnh Nguyễn được gọi chung là đồ “ký kiểu”, hiểu theo nghĩa là vẽ kiểu trước và ký là dấu ấn hay một bài thơ ngắn. Khởi đầu từ chúa Trịnh Sâm, người được coi là trà sư của nghệ thuật uống trà, tự nhận mình là “trà nô”, với chén bạch định hay bạch trản ký hiệu “Nội Phủ”. Sau đó, cụ Nguyễn Du mang về cho vua Gia Long bộ ấm “Giáp Tý 1804”, riêng cụ có bộ Mai Hạc với hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen”. Tiếp đến vua Minh Mạng có bộ “Chữ Nhất”, vua Thiệu Trị với bộ “Mãn Hoa Tùng Đình” và vua Tự Đức cùng bộ “Ngọan Hảo”. Các bộ ấm đặt làm cho các quan, với “chữ đề” gọi là “chấm”. Quan võ thích chấm “Tam Cố thảo lư”, hoặc “Tây Sương ký”. Quan văn ưa “Trúc lâm thất hiền” hay “Đạp tuyết tầm mai” này nọ…

Từ các bộ ấm của các quan, sau rơi rớt lại trong dân gian qua cụ Tú, cụ Cử, cụ Nghè…Các cụ xem bộ ấm trà như vật gia bảo để đi vào giai thoại: Như cụ cử Lưu làng Nguyệt Ánh, tỉnh Hà Đông, cụ có bộ ấm trà “Bạch định” để không thì trắng cả trong lẫn ngoài, nhưng nếu rót trà vào ấm thì hiện lên một bức họa “Thanh sơn bạch vân” thêm bốn câu thơ nhỏ li ty, mỗi câu ở mỗi chén. Năm 1922, cụ cử Nguyễn Kỳ tri huyện Thanh Trì, muốn xem bộ ấm chén đó phải nhờ cụ đồ Thục tiến dẫn và được hương hào, lý trưởng làng Nguyệt Ánh xuất tuần phu, trống rong cờ mở, hương án bái vọng như thiên tử tuần du. Tháng sau, cụ cử Lưu lại khăn gói qủa mướp như trẩy hội qua làng Hoàng Mai để đáp lễ và cũng để thưởng ngoạn bộ chén trà văn kỳ thanh, bất tướng kỳ hình có cái tên “Kim tiên kỳ ngoạn” còn được gọi là bộ “Long linh” từ đời Minh Vĩnh Lạc, khi soi dưới ánh sáng mặt trời thấy “lưỡng long tranh châu”, nét như sợi chỉ và phủ ngoài một lớp men nên nhìn sơ qua chỉ thấy mầu trắng không. Khi nào rót trà, nhìn vào lòng chén, sẽ thấy hai con rồng cử động và ngo ngoe như thật.

Từ các lò gốm của người Trung Hoa như đã kể lể ở trên, các quan ta đi sứ đặt làm đồ ngự dụng và quan dụng cho triều đình và bạn bè để các cụ ta có cái thú chơi ấm trà. Một bộ ấm đầy đủ lễ bộ gồm “dầm, bàn, tống, quân”: Dầm là một lọai đĩa nhỏ đựng một cái chén tống, bàn là đĩa lớn chứa nhiều chén quân. Có người cho rằng chén tống từ đời Tống mà ra. Chén tống còn gọi là thố hào trản và trản là chén và cũng theo cụ Vương Hồng Sển, trước để uống trà, sau để uống rượu. Đến đời Khang Hy vì tửu lạc vong bần nên bị cấm chỉ, thế nên chén được làm nhỏ hơn để uống trà. Vì “quân” là cái bàn xoay đất sét, nên thợ đồ gốm họ đặt cho cái này. Nếu có một chút nào đầy đặn là ở cái ấm, chọn được cái ấm vừa ý, các cụ nười mình tẩn mẩn úp hẳn ấm xuống mặt bàn, cho ấm ngửa trôn lên, cứ xem miệng vòi, quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng thì đích thị là…”ấm Tầu”. Về nhà, nếu ngại là đồ mã thì các cụ cứ thả vào chậu nước, nổi như lông vịt, không lềnh bềnh chao đảo. Rồi thì nồi nào vung nấy, các cụ cứ lẩn mẩn xoay xoay cái nắp quanh miệng ấm, thấy khít khao, nghe không rồn rột mà lại thanh thanh thì chăc như đinh đóng cột là …ấm Tầu.

Với cái ấm Tầu đã tránh “Nhất thủy, nhì…” thì vỏ dưa gặp vỏ dừa, ngược lên phương bắc lại gặp Lục Tào Xán, để nín thở qua sông với “Tục Trà kinh”. Nào là nước pha trà phải là “Sơn thủy thượng, giang thủy chung, tĩnh thủy hạ”, tức là nước đầu nguồn, giữa dòng sông hay giếng sâu. Với Lục Vũ cũng cá mè một lứa với “Nước là trà hữu, lửa là trà sư”, hữu ráng mà bóp chán hiểu là…“bằng hữu”, thế nên nước sủi tăm đâu đó như ngư nhãn, giải nhãn. Khiếp đảm hơn nữa là cái tục rót trà phải theo vòng tròn (Quan Công tuần thành), mỗi chén một chút như chó đái giắt, rồi rót vòng ngược lại để trà không đậm nhạt giữa chén đầu chén cuối. Hoặc giả chuyên từ chén tống qua chén quân (Hàn Tín điểm binh) cho đều nước. Ôi thôi là nhiêu khê với phiền hà, trong khi quay về với đất lề quê thói cùng các cụ ta xưa, mò mẫm bên rặng cau ngòai vườn cùng hương đồng cỏ nội, chém chết thể nào cũng có cái chum hứng nước mưa qua tầu lá chuối để pha trà cho quanh năm suốt tháng, bình dị và mộc mạc. Cái lu nước và cái gáo ở nhà quê, cái bể nước mưa với cái gầu ngòai thành phố. Cả hai như gắn liền với các cụ cùng bộ ấm trà trong những những ngày tà tà bóng ngả về tây…

****************************************************************

Những ngày ở phố hàng Đường, căn nhà hình ống mái âm dương dài hun hút, âm u và ẩm ướt, khỏang trống có ánh sáng ngăn cách giữ nhà trên và cái bếp là cái sân nhỏ lát gạch tầu vuông vức với cái bể nước mưa xây bằng gạch doc theo bờ tường loang lổ. Mờ suơng dậy đà thấy ông bà ngọai đối ẩm ở cái bếp chỉ to bằng hai manh chiếu, hai cụ ngồi ở đấy vừa gù gù châu đầu vào nhau, thì thầm nói chuyện. Với động tác quen thuộc hàng ngày, bà bê cái khay trà gỗ, mở miếng khăn màn, chậm rãi lau nhè nhẹ ấm và chén từ trong ra ngòai. Lớn lên người viết mới biết bộ ấm này là bộ ấm qúy mà ông ngọai vớ được với giá hời ngòai chợ Đồng Xuân…Nhưng nhắm chừng cũng lâu lắm rồi, vì nhìn kỹ mới thấy cái vòi hơi sứt một miếng nhỏ.

Ông lui cui bắc cái siêu đồng lên cái đầu rau đặt ngay mép bàn và âm thầm cân đo cái mồi lửa tí tách qua mấy cục than chỉ to bằng quả trứng gà, lặng lè ngắm nhìn cái vòi siêu đồng, đợi khói lên….Khói đã vẩn vơ bốc cong queo ngoằn ngòeo, ông nhấc cái siêu nước, rồi dùng nắp cái ấm để cân trà, ông châm nước ngang nửa bình, đợi một lát đổ đi và châm nước mới. Ông nhẹ ôm cả cái ấm trà trong lòng bàn tay, thăm chừng độ ấm và trà vừa đủ ngấm…Ông rót qua chén tống, chuyên qua hai chén quân cho bà cho ông, như đong đưa vơi đầy, gạn nhặt những chiếc bã trà còn vương vấn. Ông ngồi thẳng, hai tay trang trọng bưng cái chén ngang miệng và nhấp từng ngụm nhỏ. Một ngày như mọi ngày, hai ông bà lại rù rì chuyện trò, hết một tuần trà, bà lại lặng lẽ lau bộ ấm từ ngòai vào trong và phủ cái khăn màn lên.…

Sau gần 30 năm trở lại quê nhà, lang thang ở dẫy phố bán đồ cổ Trương Công Kiều sau bến xe búyt chợ Bến Thành, thấy bộ ấm Nhật bằng sứ với cánh đào cong queo nhưng rất quen thuộc từ ngày di cư mà tết nhất nhà vẫn bầy biện cạnh điã hạt sen, điã hạt dưa. Nhưng cũng chỉ ơ hờ cùng một nhớ hai quên, nói cho ngay, buổi ấy người viết chưa biết nhất thủy, nhị trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh là gì cùng gan gà, gan lợn. Đảo về quê nội, thăm cái nhà tranh vách đất ba gian hai chái của ông cậu, ụ rơm vẫn còn ở góc sân bên vườn, nhin cái ấm tích ít nhất cũng hai đời đã lên nước và cũng chẳng quan hòai gì mấy, vì làng gốm cổ xưa chỉ thóang qua sách vở.

Ngược về Hà Nội, tìm lại căn nhà hình ống cũ, qua hàng Đào thấy có một tiệm đồ cổ, chợt bắt gặp cái ấm quả bứa mốc meo với bốn cái chén hạt mít đã lên men vàng ố nằm chơ vơ sau cánh tủ. “Nhật mộ hương quan hà xứ thi – Yên ba giang thượng cổ nhân sầu” , lại vẩn vơ bồi hồi đến các cụ ta xưa của một thời hoang vắng đã hiu hắt cưỡi hạc về trời, nay chỉ còn ẩn hiện lại qua lớp cát bụi chân ai của bộ ấm trà đã lạc tinh. Hàng Đào, hàng Đường cùng một con phố ngắn, chỉ cách nhau hai, ba con ngõ nhỏ, đứng bên cạnh cái cột đèn sơn hắc in từ thời 54…Chợt quan hòai đến ông bà ngọai gần đây, ngày nào năm ấy trong căn bếp ắng lặng, để bâng khuâng chẳng biết cái bình sứt vòi năm xưa bây giờ lưi lạc ở phương nao, về phương trời nào…

Trích dẫn: Bài viết được dựa vào tác phẩm và tác giả:

Khảo Về Gốm Cổ, Sành Xưa – Vương Hồng Sển

Thuật Uống Trà – Nguyễn Kỳ Hưng

Đồ Gốm Cổ Truyền – Bùi Ngọc Tuấn

Thư Tịch Gốm Cổ VN – Trần Anh Tuấn

Gốm Trà Việt Nam – Phan Quốc Sơn

Làng Gốm Cổ Truyền VN – Khuyết Danh

Gốm Bát Tràng – Nguyễn Đình Chiến

– Thời nhà Lê, làng được gọi là Bát với một chữ không thôi, làng thuộc huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc. Thời nhà Nguyễn 1822, trấn Kinh Bắc đổi thành Bắc Ninh và làng được gọi là làng Bát Tràng (tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên, sau thuộc ngọai thành Hà Nội…). Ngòai ra có sách khác viết tên làng Bạch Thổ vì vùng này có đất sét trắng. Theo một cụ cao niên, người làng Bát Tràng, trươc cũng có làm đồ gốm thuật lại cho biết làng Bát Tràng từ chữ Nôm, bát chỉ đồ gốm và chữ Hán, tràng (hay trường) là đất hay vùng dành cho làng nghề. Làng không làm…gạch, tất cả chỉ là sự ngẫu nhiên, để nung bát, đĩa, dân làng làm gạch để kê, sau mới có gạch Bát Tràng.

Phí Ngọc Hùng

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Chuyên mục cộng đồng: Trao đổi ý kiến về đồ gốm sứ bạn đọc của blog sưu tầm

Tích “đạp tuyết tầm mai” trên đồ sứ ký kiểu:

Bạn đọc Lê Phước cần thông tin về đề tài “đạp tuyết tầm mai” trên đồ sứ ký kiểu nên đã gửi cho blog hình ảnh chiếc hủ đựng trà dưới đây:

DTTM1

DTTM2

DTTM3

Chúng tôi xin góp ý về đề tài này:

1/- Xuất xứ trên thơ văn chử Hán của thành ngữ “đạp tuyết tầm mai” :

踏雪尋梅

數九寒天雪花飄,

大雪紛飛似鵝毛。

浩然不辭風霜苦,

踏雪尋梅樂逍遙。

Đạp tuyết tầm mai

Sổ cửu hàn thiên tuyết hoa phiêu ,

Đại tuyết phân phi tự nga mao .

HẠO NHIÊN bất từ phong sương khổ ,

Đạp tuyết tầm mai lạc tiêu diêu .

**********************************

踏雪尋梅

平生春興十分深,

長恐梅花負賞心。

偶有一枝斜照水,

前村踏雪也須尋。

張道洽

Đạp tuyết tầm mai

Bình sanh xuân hứng thập phân thâm ,

Trường khủng mai hoa phụ thưởng tâm .

Ngẫu hữu nhất chi tà chiếu thủy ,

Tiền thôn đạp tuyết dã tu tầm .

Trương Đạo Hiệp

*************************************

臨江仙

庭院深深深幾許,

雲窗霧閣常扃,

柳梢梅萼漸分明,

春歸秣陵樹,

人老建康城。

感月吟風多少事,

如今老去無成,

誰憐憔悴更雕零,

試燈無意思,

踏雪沒心情。

李清照

Lâm giang tiên

MAI

Đình viện thâm thâm thâm kỷ hử ,

Vân song vụ các thường quynh ,

Liễu sao mai ngạc tiệm phân minh ,

Xuân quy Mạt Lăng thụ ,

Nhân lão Kiến Khang thành .

Cảm nguyệt ngâm phong đa thiểu sự ,

Như kim lão khứ vô thành ,

Thùy liên tiều tụy cánh điêu linh ,

Thí đăng vô ý tứ ,

ĐẠP TUYẾT một tâm tình .

Lý Thanh Chiếu

(nguồn trích dẫn forum của website Viện Việt Học)

2/- tác giả Phí Ngọc Hùng dựa trên các các tác phẩm:

Khảo Về Gốm Cổ, Sành Xưa – Vương Hồng Sển

Thuật Uống Trà – Nguyễn Kỳ Hưng

Đồ Gốm Cổ Truyền – Bùi Ngọc Tuấn

Thư Tịch Gốm Cổ VN – Trần Anh Tuấn

Gốm Trà Việt Nam – Phan Quốc Sơn

Làng Gốm Cổ Truyền VN – Khuyết Danh

Gốm Bát Tràng – Nguyễn Đình Chiến

Trong một tiểu phẩm nói về ấm trà của mình, đã viết như sau:

Theo điển tích thì tất cả những bộ ấm trà của các cụ từ thời Trịnh Nguyễn được gọi chung là đồ “ký kiểu”, hiểu theo nghĩa là vẽ kiểu trước và ký là dấu ấn hay một bài thơ ngắn. Khởi đầu từ chúa Trịnh Sâm, người được coi là trà sư của nghệ thuật uống trà, tự nhận mình là “trà nô”, với chén bạch định hay bạch trản ký hiệu “Nội Phủ”. Sau đó, cụ Nguyễn Du mang về cho vua Gia Long bộ ấm “Giáp Tý 1804”, riêng cụ có bộ Mai Hạc với hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen”. Tiếp đến vua Minh Mạng có bộ “Chữ Nhất”, vua Thiệu Trị với bộ “Mãn Hoa Tùng Đình” và vua Tự Đức cùng bộ “Ngọan Hảo”. Các bộ ấm đặt làm cho các quan, với “chữ đề” gọi là “chấm”. Quan võ thích chấm “Tam Cố thảo lư”, hoặc “Tây Sương ký”. Quan văn ưa “Trúc lâm thất hiền” hay “Đạp tuyết tầm mai” này nọ…

DTTMpmb

Tương truyền khi đi sứ sang Tầu vào năm 1813, cụ Nguyễn Du đến thăm một xưởng chế tạo đồ sứ danh tiếng lấy hiệu đề Ngoạn Ngọc ở tỉnh Giang Tây. Lúc bấy giờ xưởng đang chuẩn bị chế tạo bộ trà Mai Hạc. Với nhã ý đáng ca ngợi, vị chủ hãng ngỏ lời xin quan chánh sứ phẩm đề một câu để quảng cáo cho kiểu đồ trà này.,. quan chánh sứ lại dùng chữ Nôm viết nên câu:

Ngao du vui thú yên hà Mai là bạn cũ, hạc là người quen

Cây mai ở bộ chén đĩa trà này vẽ theo kiểu chữ “Nữ”女 . Cây mai uốn cong rất nhiều hoa, một tảng đá và một con chim hạc đứng trên tảng đá. Câu thơ viết theo hai cách: 6/2/6 hoặc 6/8 theo dòng dọc kiểu chữ nho. Chén dĩa màu men xanh ngọc và ký hiệu hãng “Ngoạn Ngọc” chế tạo. Nói cho xác đáng thì cây mai ở bộ chén đĩa “Mai Hạc” không lấy gì làm mỹ thuật lắm, và nó cũng không diễn tả được cái cốt cách cương nghị của loài mai. Cũng hình vẻ này nhưng lại có loại chén dĩa có đề câu thơ chữ Hán “Hàn mai xuân tín tảo”” 寒 梅春信早”, tức là cành mai lạnh báo tin xuân về sớm. Loại chén đĩa chữ Hán này không nổi tiếng bằng bộ trên, có lẽ vì câu thơ Nôm quá có giá trị chứ không vì cây mai đẹp. Một bộ chén đĩa trà khác vẽ một cây mai rất đẹp, không có hoa nở chỉ có cành và búp, không có lá. Dưới gốc mai có mấy tảng đá lớn nhỏ khác nhau, có cỏ non và đầy rêu. Một cây cầu nhỏ vắt ngang con suối, một cao sĩ cưỡi lừa qua cầu đi trước, một tiểu đồng vác cành mai theo sau. Bên kia chén đối diện với tranh vẽ có câu thơ: “Độc thám mai hoa sấu”独“探 梅花瘦 viết thành hai dòng: “Độc thán mai” ở dòng thứ nhất, “Hoa sấu” ở dòng thứ hai, dưới hai chữ này có khuôn dấu vuông thành sáu vị trí đối nhau. Câu thơ này vốn là của Khổng Minh trong Tam Quốc: “Kỵ lô quá tiểu Kiều, độc thám mai hoa sấu”,騎驢過小橋 独探 梅花瘦 có nghĩa là: cưỡi lừa qua cầu nhỏ, để kiếm cành mai gầy. Đề tài này các trà hữu thường gọi là đạp tuyết tầm mai tức là dẫm lên tuyết lạnh để tìm hoa mai. Bộ chén đĩa có nhiều nước men: men màu vỏ trứng gà so do hãng có đề hiệu “Nhã Thâm Trân Tàng” chế tạo; và men màu xanh ngã trắng của đề hiệu “Nội Phủ”. Cây mai ở bộ chén đĩa này đẹp hơn cây mai ở bộ “Mai Hạc” rât nhiều. Tính chất vừa thanh nhã vừa cao khiết đều có ở cây mai của bộ đồ trà đạp tuyết tầm mai này

DTTMpmb2

3/- Mùa thu năm 1868, nhà văn Đặng Huy Trứ (1825-1874) đã đặt làm một loạt đồ sứ để cúng tế tại nhà thờ. Hiện nay còn tồn tại 7 loại dĩa, tô, chén, bình hoa vẽ cá, nai, lên, hoa, đặc biệt dĩa bàn trà vẽ tích “Đạp tuyết tầm mai” ghi câu thơ :

Tuyết trung vị vấn điều canh sự

Tiên cú bách hoa đầu thượng khai.

(trong tuyết giá chưa hỏi đến việc nhà vua giao phó, câu đầu tiên để thưởng thức hoa mai nở trước trăm hoa) nói lên sự phấn khởi, hứng thú của thi nhân được thưởng thức hoa mai nở trước mọi hoa khác. Dĩa nầy hiện nằm trong bộ sưu tầm của nhà khảo cứu Trần Đình Sơn

Tác phẩm “ những nét đan thanh” của nhà khảo cứu Trần Đình Sơn được tác giả Hoài Hương giới thiệu như sau , xin trích dẫn :

Những nét đan thanh” , một sưu tập thơ văn trên dĩa trà ký kiểu men lam rất đặc trưng của Việt Nam vào thời Nguyễn, từ thế kỷ 18-19, lọai đồ sứ “Ngự dụng” trong cung Vua, do nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn sưu tầm,Nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản, như một món quà xuân đến những người yêu thích cổ ngọan và cả những người có tâm hồn thi nhân luôn cảm khái cái đẹp ngôn ngữ xưa từ các câu thơ, điển tích được chép lại qua bàn tay nghệ nhân làm đồ sứ.

Có lẽ trước khi mở “Những nét đan thanh”, để thưởng ngọan,nên pha một ấm trà sen, độc ẩm hay đối ẩm hay… , và cầu kỳ hơn tí nữa, đốt một lư trầm, tạo một không gian xưa,một làn khói trầm phảng phất bãng lãng, một thóang hương thơm thanh thóat của sen, và ngòai trời kia là mùa xuân đang đâm chồi nảy lộc…134 chiếc dĩa sứ men lam với 134 điển tích, thơ, văn của những thi nhân, đặc biệt là những chiếc dĩa trà in danh lam thắng cảnh nước Việt với những câu thơ như họa cho cảnh vật hùng linh hư ảo, trầm tư như một khỏanh khắc thiền trong tâm.Và thú vị hơn là trong bộ sưu tầm dĩa trà ký kiểu này còn có những câu thơ, điển tích chúc phúc mùa xuân đầy ý nghĩa.

Mở mấy trang đầu “Những nét đan thanh”, thật ấn tượng với nét vẽ như tranh sơn thủy, in hình trên dĩa là danh thắng non nước miền Trung, xứ Thuận Hóa- Huế. Ấn tượng bởi đây là đồ sứ ký kiểu, đặt thợ nhà Thanh- Trung Quốc, nhưng cảnh vật in trên đĩa lại là non nước Việt, là những câu thơ Nôm- ngôn ngữ Việt.

Chiếc đĩa có hiệu đề”Thanh ngọan”, vẽ tòan cảnh cửa biển Tư Dung- Thuận Hóa, với lời đề thơ chữ Nôm của Đào Duy Từ(1572-1634):”…Một bầu riêng rẽ thú yên hà/ Nghi ngút hương bay cửa Đại La/Ngày vắng đỉnh đang chuông bát nhả/Đêm khuya dắng dõi kệ Di Đà/Nhặt khoan đàn suối ban mưa tạnh/Eo óc cầm ve thuở ác là…”. Một chiếc dĩa khác vẽ cảnh chùa Thái Bình ở núi Tam Thai- Quảng Nam ,với bài thơ Nôm tả cảnh rất đẹp:”Tạo hóa khéo đúc hình/ Non nước song thanh/Ai dặm đỉnh ngao giữa đáyNgát một thức xanh xanh”. Dĩa “Tùng quân”, vẽ đàn cá bơi đớp bóng trăng, đàn chim bay trên không giữa cảnh non nước,với 2 câu thơ của Hàn Than thời Trần”Hàn than ngư hấp nguyệt/Cổ lũy nhạn minh sương”.

Hai chiếc dĩa vẽ tòan cảnh núi Thúy Vân và chùa Thánh Duyên, hai thắng cảnh mang trong mình những sự tích từ thời Vua Gia Long. Trên đĩa vẽ chùa Thánh Duyên có chép thơ của Vua Thiệu Trị(1840-1847), thấm chất thiền:”Gió thiền chuông điểm rừng sâu dội/Cõi diệu hương đưa biển pháp nhuần/Cây vướng mây lành lên cảnh Bụt/Đường xuyên guốc sãi lấm hồng trần…”. Ngòai những chiếc dĩa vẽ cụ thể một danh thắng, còn nhiều dĩa khác vẽ phong cảnh với những bài thơ Nôm họa lại bằng ngôn ngữ, ngắm dĩa, đọc thơ, vẻ đẹp như được tăng thêm, không phải là cổ vật in trên giấy, mà hình như có hồn xác lay động thật sự.

Những chiếc dĩa mang các bức vẽ sự tích, điển tích rất nhiều, nhưng có lẽ “gần” với dân gian người Việt là những điển tích “Ngưu Lang Chức Nữ”,”Từ Thức gặp Giáng Hương”, “Lưu Nguyễn nhập thiên thai”,”Như chim liền cánh, như cây liền cành”, “Long Hổ tranh hùng”, “Cá chép hóa rồng”, “Ngư ông đắc lợi”… Với những ai có một chút kiến thức về Nho học, có thể tìm thấy trên nét vẽ và những câu thơ chép ở bộ sưu tập dĩa trà ký kiểu này nhiều bài học về “đạo” làm người, đối nhân xử thế, như dĩa “Đạp tuyết tầm mai”, “Tam cố thảo lư”,… Những bậc thi nhân yêu cái đẹp của Đường thi, cũng có thể tìm được tri âm từ các hình ảnh họa lại thơ của các thi nhân nổi tiếng thời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Vương Xương Linh, Giả Đảo, Bạch Cư Dị…

DTTM4

DTTM5

Bạn Lê Phước nên tìm hiểu cuốn sách này, chúng tôi không có cuốn này!

4/- Một trích đoạn tư liệu đáng lưu ý khi bàn về đồ ký kiểu có các bài thơ Hán Nôm:

Dù đồ sứ của Huế dưới thời Nguyễn phần lớn được đặt hàng từ nước ngoài, cuốn sách của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn cho thấy những đồ cổ này không phải là đồ Tàu, đồ Pháp xuất khẩu sang Việt Nam. Chúng chính là những sản phẩm của người Việt. Bởi người Việt đã thiết kế chi tiết từng mẫu mã, kiểu dáng gửi sang đặt hàng thợ nước ngoài chế tác. Điều đặc biệt, trên những loại đồ cổ này hầu hết đều được khắc thơ, văn chữ Hán Nôm.

Đoàn Phước Thuận là người đam mê những món đồ vẽ mai hạc đề thơ Nôm. Trong sưu tập của anh có hơn hai chục món mai hạc, nhưng đặc sắc nhất là chiếc dĩa trà có hai câu thơ Nôm viết theo thể “bát – lục”. Đây là món đồ mai hạc độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Trong 10 tác phẩm thơ văn chữ Nôm có trên đồ sứ ký kiểu, hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ hạc là người quen” viết kèm trên đồ mai hạc có tần suất xuất hiện nhiều nhất, cũng là những câu thơ chiếm kỷ lục về viết sai và viết xấu: sai cả tự dạng lẫn bố cục xếp đặt câu thơ. Nguyên do là vì đây là hai câu thơ viết bằng chữ Nôm, thứ chữ do người Việt “sáng chế” và vay mượn từ chữ Hán mà thành. Chữ Nôm thì mỗi vùng, mỗi thời lại có những kiểu thức “sáng chế” và vay mượn khác nhau, nên đôi khi cùng một nét nghĩa và một âm Nôm, nhưng lại có nhiều tự dạng khác nhau. Việc này gây bối rối cho người thợ Tàu, khi họ phải viết chữ Nôm lên những món đồ sứ vẽ mai hạc. Do không hiểu nghĩa chữ Nôm, lại thấy tự dạng chữ Nôm giống với chữ Hán nên thợ Tàu cứ tùy tâm phóng bút nên viết sai chữ rất nhiều. Ngoài ra, vì thơ lục bát là thể thơ riêng của người Việt, thợ Tàu không biết nên cứ tùy nghi phân đoạn thơ Nôm theo “kiểu Tàu”: họ cắt hai câu lục bát thành ba câu (6 chữ – 2 chữ – 6 chữ), hay bốn câu (5 chữ – 2 chữ – 5 chữ – 2 chữ ; 4 chữ – 3 chữ – 4 chữ – 3 chữ). Đoàn Phước Thuận là người duy nhất có chiếc dĩa mai hạc có hai câu thơ Nôm được viết theo thể “bát – lục”: “Nghêu ngao vui thú yên hà mai là / bạn cũ hạc là người quen”. Ngoài ra, anh còn có một chiếc dĩa mai hạc khác, cũng ghi hai câu thơ trên nhưng viết thành bốn dòng và… sai trật lấc: “là bạn cũ hạc là / người quen / nghêu ngao vui thú yên / hà mai”.

5/- Cũng xin lưu ý phân biệt khi bàn về biểu tượng hoa mai trong thi ca TQ; và thể hiện trên gốm sứ với ý nghĩa “tứ quân tử” hoặc “ tuế hàn tam hữu” đó là loài hoa Mai mơ của xứ lạnh, chứ không phải giống hoa mai vàng ngày tết ở miền nam:

Hoa của mai mơ được yêu quý và tôn vinh ở cả Trung Quốc và Nhật Bản. Tại Trung Quốc, nó được sử dụng rộng rãi trong trang trí nhân các ngày Tết. Hoa mai mơ là chủ đề phổ biến trong nghệ thuật Trung Hoa và nó nằm trong số các loài hoa được ưa chuộng nhất của người Trung Quốc. Tuy nhiên, không giống như người Nhật, người Trung Quốc nhìn nhận ở hoa mai mơ như là biểu tượng của mùa đông nhiều hơn là vật báo hiệu mùa xuân. Chính xác là vì nguyên nhân này mà hoa của nó được yêu quý, do nó nở hoa với sức sống mãnh liệt giữa tuyết trắng của mùa đông trong khi các loài cây khác đang khô héo vì giá lạnh. Vì thế, nó được nhìn nhận như là ví dụ của sự kiên cường, kiên nhẫn trước nghịch cảnh, do vậy nó được sử dụng như là phép ẩn dụ để hình tượng hóa cuộc đấu tranh. Do nó nở hoa vào mùa đông, nên mai mơ, cùng với tùng, và trúc được gọi là 岁寒三友 (tuế hàn tam hữu, nghĩa là ba người bạn của giá lạnh).

Bên cạnh đó, hoa mai mơ là một trong “tứ quân tử” (四君子) tại Trung Quốc (cùng lan, cúc, và trúc) và chúng là biểu tượng của sự cao quý, hào hiệp. Bốn loại hoa này cũng xuất hiện trên bộ quân bài của trò chơi mạc chược – ma tước (麻雀). Ngoài ra, nó còn xuất hiện trong bộ tùng, cúc, trúc, mai với ý nghĩa tương tự như của bộ lan, trúc, cúc, mai.

Hoa mai mơ là loại hoa biểu tượng của thành phố Nam Kinh. Năm 1964, Hành chính viện của Trung Hoa dân quốc đã phê chuẩn hoa mai mơ 5 cánh làm quốc hoa của quốc gia này.[5]. Nó cũng là biểu tượng của China Airlines, hãng hàng không quốc gia của Trung Hoa dân quốc. Hoa mai mơ cũng xuất hiện trên Tân Đài tệ và các biểu tượng quốc gia khác. Ở Trung Hoa đại lục loài hoa này có trên nhân dân tệ và một số biểu tượng quan trọng khác.”

(trích từ  Wikipedia VN mục ý nghĩa văn hóa của hoa mai mơ)

Ở trên là một số thông tin có liên quan đến đề tài “đạp tuyết tầm mai” trên đồ sứ ký kiểu mà chúng tôi có được. Các bạn đọc của blog có quan tâm và có ý kiến gì mới, xin mời đóng góp thêm ( tại mục phãn hồi). Bạn Lê Phước với kiến thức riêng của mình cũng có thể trình bày bổ xung thêm cho đầy đủ.

Đây là bài đầu tiên trong chuyên mục cộng đồng, xin mời độc giả đóng góp thêm bằng ý kiến phãn hồi hoặc tự đặt vấn đề khảo cứu, tìm hiểu thông tin cho món đồ mình sưu tập băng cách liên hệ với blog để đăng bài lên cho mọi người cùng nghiên cứu và học hỏi.

KhanhHoaThuyNga

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »