Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám, 2009

“Gốm nông dân” Trung An – Củ Chi (08/2009)

medium_trungan

 

Những chiếc bình, chiếc lọ hay những con vật bình dị của gốm sứ Trung An (Củ Chi) vẫn được dùng làm vật trang trí cho các khách sạn, resort, nhà nghỉ, khu giải trí… ở nhiều quốc gia trên thế giới. Từ châu Âu, châu Á đến châu Phi, Trung Đông, đâu đâu gốm Trung An cũng được sự đón nhận của khách hàng.

 

Ra đời trên “đất thép” Củ Chi anh hùng, gốm sứ Trung An cũng giống như người dân nơi đây, chân chất, mộc mạc nhưng mạnh mẽ và đầy sức sống. Đó là nét đặt trưng mà gốm sứ Trung An không hề “đụng hàng” với bất kỳ các loại gốm sứ nào ở trong nước hay nước ngoài. Cũng vì lẽ đó mà nhiều người đã gọi các sản phẩm ở đây là “gốm nông dân”. Nếu như những con vật ở các cơ sở gốm khác được trau chuốt, bóng loáng, trông giống như thật, thì những con vật trong gốm Trung An có vẻ thô, ngộ nghĩnh và có điều gì đó… hơi khác với thực tế. Ngay cả những chậu, bình, lọ… cũng chẳng giống ai. Điều này đã thể hiện rất rõ trong bộ sưu tập gốm vừa mới được Trung An cho ra đời. Đó là những sản phẩm với hình thù rất độc đáo như đôi bàn chân lớn, bàn tay nắm quả địa cầu, chiếc guốc của người phụ nữ… Những hình thù độc đáo ấy không phải ngẫu nhiên, mà là sự chủ ý của những người thợ để tạo sự độc đáo riêng biệt cho sản phẩm.


Anh Lê Đình Tiến, chủ cơ sở tâm sự: “Tất cả những con vật trong gốm sứ Trung An đều chân chất, mộc mạc, bình dị giống như người nông dân, chứ không như những con vật dự thi “hoa hậu” của những cơ sở gốm khác. Có nhiều người nghĩ rằng, những kiểu gốm bình dị, thô kệch rất khó hấp dẫn được người mua.


Thật ra đó chỉ là cách nghĩ một chiều, bởi khách hàng thượng lưu, trung lưu tham gia vào thú chơi này không nhiều. Có lần tôi đem bày bán những con vật bằng gốm của mình trên vỉa hè thành phố Stuttgart (CHLB Đức). Mặc dù gần đó cũng có rất nhiều cửa hàng, cửa hiệu bày bán những con vật bằng gốm, với những đường nét hoa văn độc đáo, được trau chuốt bóng loáng, nhưng khách đi đường vẫn tấp nập đỗ vào điểm bán trên vỉa hè của tôi để mua; nhiều đứa trẻ còn dốc túi tiền ra mua về làm trò chơi”.



nam-ban-tay


Có thể thấy, khách hàng mà gốm sứ Trung An đang hướng đến chính là những đối tượng bình dân, một lực lượng tiềm năng mà chúng ta chưa khai thác hết. Để  tồn tại và đứng vững, những sản phẩm gốm sứ Trung An được sản xuất theo kiểu mộc mạc, bình dị… và điều quan trọng hơn là mức giá luôn thấp hơn từ 30 đến 40% so với các sản phẩm gốm cùng loại của những cơ sở khác. Đó là lý do khiến gốm sứ Trung An luôn hấp dẫn người tiêu dùng và cả những nhà kinh doanh gốm. Giờ đây, chỉ mới hơn 5 năm ra đời, gốm sứ Trung An đã có mặt trên 20 quốc gia. Một con đường riêng, một lối đi riêng của gốm sứ Trung An đã đem đến cho khách hàng một “món ăn” lạ và không kém phần hấp dẫn.

nguồn: vnciem.gov.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

 Nếu Hội An không còn phố cổ… 

 Hội An không còn là một phố thị đìu hiu sau khi trở thành Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Nhưng vẻ sôi động, nhộn nhịp hàng ngày chỉ là bề ngoài, còn trong sâu thẳm, nỗi khổ của người dân sống trong lòng thành phố di sản cùng bao lo âu về sự hiện hữu, tồn vong của khu phố cổ vẫn còn đó…

“Phố cổ là phố khổ”, “Nhà cổ là nhà khổ”…, nhiều người đã từng nói thế về Hội An. Khổ vì luôn phải thường trực chống đỡ sự xuống cấp của các kiến trúc cổ: nhà ở, nhà thờ họ, đình, chùa, hội quán…, khổ vì phải tuân thủ những quy định bảo tồn của chính quyền địa phương, khổ vì không thể xoay xở được kinh phí để sửa chữa, để hoàn nguyên di tích. Nhưng người Hội An vốn có truyền thống thích ứng với những điều kiện sống nhiều biến cải trong diễn trình lịch sử mấy trăm năm, vì thế khi những giá trị văn hóa của đô thị cổ được thế giới tôn vinh thì việc phải giữ gìn cho được những giá trị ấy được họ xác định là lẽ sống còn. Từ năm 1997, bằng nhiều nguồn kinh phí, Hội An đã đầu tư hơn 66 tỷ đồng tu bổ 166 di tích, hỗ trợ hơn 5,2 tỷ đồng tu bổ 110 di tích, các gia đình cũng đã tự bỏ tiền tu sửa mỗi năm khoảng 200 ngôi nhà…
 
Với 9 năm là di sản văn hóa thế giới, thay thế một Hội An – “phố thị đìu hiu”, một Hội An – “thành phố dưỡng già” là một nhịp sống đô thị với gần 20.000 người dân đang sinh sống sôi động, bán mua nhộn nhịp hàng ngày. Nhưng đó là vẻ bề ngoài, còn trong sâu thẳm, “nỗi khổ” của người dân sống trong lòng thành phố di sản cùng bao lo âu về sự hiện hữu, tồn vong của khu phố cổ vẫn còn đó. Bão lũ là hiểm họa ngày càng rõ nét, đe dọa hàng năm. Bình quân mỗi năm khu phố cổ phải chịu đựng từ hai đến ba cơn lũ, mỗi cơn kéo dài ba, bốn ngày với lưu tốc dòng chảy ngày càng hung bạo. Trong cơn lũ lịch sử vào trung tuần tháng 11/ 2007 có hơn 900 di tích trong tổng số hơn 1.000 di tích bị xuống cấp do phải ngâm nước và chống chọi với dòng nước chảy xiết nhiều ngày.
Nhưng một dòng lũ âm thầm mà không kém phần nguy hiểm đang tàn phá từng kèo nhà, cột nhà… hàng ngày, hàng giờ là mối mọt, nấm mốc. Hầu hết các di tích đều đang xuống cấp, nhiều di tích xuống cấp nghiêm trọng có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Nguồn kinh phí tu bổ một di tích nhà cổ gấp ba, bốn, thậm chí gấp chục lần so với nhà bê tông hiện đại, trong khi nguyên vật liệu để tu bổ như gỗ nhóm I, nhóm II hay ngói âm dương… và những vật liệu truyền thống khác thì không phải muốn mua là có, việc khai thác rừng Quảng Nam đã bị nghiêm cấm, các lò nung vôi, gạch, ngói theo cách thức truyền thống cũng bị cấm hoạt động để bảo vệ môi trường.
Mới đây, tôi có đọc bản dự thảo cuốn phim tài liệu về sự nghiệp bảo tồn Hội An trong vòng 10 năm, từ trước khi Hội An được công nhận di sản văn hóa thế giới (năm 1999) tới nay. Một con số khiến tôi không khỏi bận tâm đó là trong vòng 10 năm qua, ở khu phố cổ đã có 83 trường hợp chuyển nhượng chủ sở hữu và 181 trường hợp cho thuê nhà, nghĩa là đã có 264 chủ những ngôi nhà di tích, tương đương với 3.000 cư dân phố cổ Hội An đã phải rời khỏi ngôi nhà của mình vì bán hoặc cho người khác thuê (hơn 80% số người mua nhà, thuê nhà chủ yếu làm cửa hiệu để kinh doanh). Tất nhiên, việc giãn dân ra vùng ngoại vi khu phố cổ để tránh áp lực do dân số gây ra cho di sản là cần thiết, đúng đắn; việc chuyển nhượng cho thuê nhà khi chủ nhân di tích không đủ điều kiện kinh tế sửa chữa nơi ở của mình là điều không tránh khỏi nhưng con số 3.000 cư dân phố cổ rời khỏi, ngôi nhà mà họ đã gắn bó cả đời, thậm chí từ nhiều đời, thì làm sao khiến lòng người không khỏi xót xa?
 

 

Những dãy phố cổ ở Hội An gần như còn được giữ nguyên vẹn

 

Ngôi nhà Hội An từ bao đời xưa đã là ngôi nhà để buôn bán, tất nhiên rồi, vì nơi đây từng là cảng thị sầm uất với những cửa hiệu lớn đã trở thành thương hiệu nổi tiếng trong nhiều thế kỷ, nhưng ngôi nhà Hội An trước hết vẫn là ngôi nhà để người ta ở trong đó, lấy vợ, lấy chồng, sinh con, đẻ cái… Một ngôi nhà gắn bó máu thịt khác hẳn một ngôi nhà chỉ thuần túy dùng để kinh doanh. Hãy thử vào một vài shop vải lớn đã đổi chủ sở hữu trong khu phố cổ, bạn sẽ không thấy vị trí bàn thờ tổ tiên, không thấy bếp, không thấy giếng trời… đâu nữa. Những vị trí linh thiêng như bàn thờ đã bị dời đi vì chủ nhân mới không ở đây nên không thờ cúng ông bà, họ cũng không nấu nướng ngày ba bữa nên chẳng cần tới bếp, sân trời cũng được che lại để tận dụng diện tích làm nơi bày hàng hóa. Cuộc sống với những người chủ mới đã thực dụng tới mức họ biến nhà bếp với bàn thờ ông Táo thành kho chứa hàng và tận dụng diện tích đến nỗi che luôn khoảng không gian “giếng trời” – vốn được coi là kiến trúc đặc trưng của nhà cổ Hội An.

Người Hội An có muốn bán nhà không? Tôi cho rằng phần đông không muốn. Nhưng họ vẫn phải bán, một phần do không thể lo liệu được tiền tu bổ theo đúng yêu cầu của bảo tồn di sản, phần khác do hiện nay nhiều ngôi nhà đang có quá nhiều chủ sở hữu, giá nhà lên khiến ai thấy cũng muốn đòi chia chác. Vài năm trước, ngôi nhà của ông Trần Sung ở số 98 trên đường Bạch Đằng được Nhà nước hỗ trợ 60% kinh phí tu bổ, tức là ông Sung đã phải bỏ ra 40% của số tiền vài tỉ để ngôi nhà có thể vững chãi như hiện nay. Nhưng sau đó, bốn chị em gái của ông đã đâm đơn kiện đòi chia nhà. Ông Sung đã phải trả tiền cho hết thảy bốn chị em ruột – dẫu từ lâu nay họ đều đã có nhà ở nơi khác. Số tiền đó lớn tới nỗi, cho đến nay, ở Hội An, có lẽ nhân vật như ông Trần Sung vẫn là trường hợp duy nhất có thể trả tiền cho các đồng sở hữu để trở thành chủ nhân duy nhất trong ngôi nhà của mình.

Hai vợ chồng ông La Vĩnh Diệu hiện đang ở ngôi nhà 16 Nguyễn Thái, ngôi nhà này không đứng tên ông. Ông sống ở đây, buôn bán và làm bổn phận của đứa cháu, trông coi nhà thờ tổ tiên. Ngôi nhà có tuổi đời hơn 150 năm nên nhiều phần đã xuống cấp. Thi thoảng bà con họ hàng cũng gửi tiền về nhưng chỉ đủ để tu sửa khu nhà thờ. Mỗi mùa lũ lụt, những người làm công tác bảo tồn Hội An đều đến nhắc nhở và phụ giúp vợ chồng ông chống đỡ nhà bằng những cột chống tạm để nó qua khỏi mưa gió…

Việc bảo tồn ở Hội An cũng không tránh khỏi có khi xảy ra chuyện lơ là hoặc sai sót về chuyên môn. May mắn là khi xảy ra điều đó, người ta đã kịp thời sửa sai. Tôi còn nhớ rất rõ sự quyết liệt của ông Nguyễn Sự – Bí thư Thành ủy Hội An trước những vi phạm trong bảo tồn, sửa chữa nhà cổ: “Với tốc độ vi phạm như hiện nay thì chỉ trong ba, bốn năm nữa chúng ta sẽ không còn phố cổ. Việc giữ gìn từng ngôi nhà, từng đầu hồi, vì kèo, mắt cửa… là vấn đề sống còn. Chúng ta phải quyết liệt, dứt khoát phải quyết liệt xử lý, tôi đã nói rồi, nhà nào lát nền gạch bông phải bóc nền ra, dán la phông trần phải bóc trần xuống, nếu xây lầu cũng phải đập lầu đi…”. Có những chủ cửa hiệu lớn sau khi mua hai, ba ngôi nhà cổ liền kề đã thông tường, đục vách để thuận lợi hơn cho việc kinh doanh nhưng sau đó, theo sự vận động của chính quyền, họ đã trả lại những vách ngăn, bức tường cho căn nhà để giữ lại vẻ đẹp kiến trúc vốn có của ngôi nhà cổ.

Tôi từng nghe về một dự định lớn của Hội An, rằng Hội An sẽ xin Chính phủ và vận động các nguồn vốn có được để mua lại những ngôi nhà cổ và sau đó, Nhà nước sẽ cho chính chủ nhân của ngôi nhà ở lại trong ngôi nhà ấy với giá cho thuê, mong muốn sẽ giữ lại được “chất Hội An” với “hồn phố”, “hồn người”. Để mua một ngôi nhà cổ loại đặc biệt sẽ tốn khoảng trên dưới chục tỉ. Giả sử, chỉ mua một trăm ngôi nhà thôi cũng tốn hàng ngàn tỉ đồng, quả là khó thực hiện, nhất là vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế như hiện nay, nhưng nó cho thấy quyết tâm của người phố Hội. Trên thực tế, chính chủ những ngôi nhà cổ, đặc biệt là những người đã từng gắn bó cả đời, thậm chí nhiều đời với khu phố này, là những người có thể giữ gìn ngôi nhà và khu phố một cách tốt nhất. Dẫu biết dự định ấy có thể sẽ chỉ là giấc mơ, nhưng là một giấc mơ đẹp, cho chúng ta có quyền hy vọng…
Bài đăng trên trang vnciem.gov.vn
Hội An vẫn được xem như một bảo tàng sống
về kiến trúc và lối sống đô thị

Read Full Post »

Nghệ thuật Pháp lam – Loại hình mỹ thuật trang trí độc đáo

untitled


Nếu người Nhật Bản nổi tiếng với Gốm Raku, người Trung Hoa với men ô hộc (cloisonne), thì ở Việt Nam nói chung, Huế nói riêng có Pháp Lam. Đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo của người Huế đó thất truyền hơn vài thế kỷ, đến nay đang từng bước được hồi sinh. Những di sản Pháp lam còn lại trên đất cố đô Huế ngày nay khá đồ sộ, phong phú về số lượng; đa dạng về loại hình và kiểu thức. Những chứng tích ấy là bằng chứng rõ nét nhất chứng tỏ loại hình mỹ thuật độc đáo này đó từng phát triển hưng thịnh và được cố nhân đánh giá về chất lượng nghệ thuật khá cao. Để tôn vinh loại hình nghệ thuật Pháp lam này, đồng thời góp phần bảo tồn, phát triển Pháp lam cho mói đời sau,  Pháp lam đã là một trong ba nghề được tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009, cùng với Gốm và Sơn mài.

Nghệ thuật Pháp lam – Loại hình mỹ thuật trang trí độc đáo thời Nguyễn

Pháp lam là những tác phẩm mỹ thuật hay các chi tiết trang trí trong kiến trúc Huế, cốt làm bằng đồng đỏ, bên ngoài phủ các lớp men nhiều màu tạo nên các họa tiết rực rỡ màu sắc.

Pháp lam có một lịch sử rất lâu đời với việc những sản phẩm Pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước công nguyên khi những người thợ kim hoàn Mycenaean tráng men thuỷ tinh trên những đôi khuyên tai bằng vàng. Kể từ đó các nền văn minh trên toàn thế giới đó du nhập kỹ thuật Pháp lam vào các hình thức nghệ thuật riêng biệt của họ.

Nghệ thuật chế tác Pháp lam được du nhập vào Việt Nam từ năm Minh Mạng thứ 8 (1827). Nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục, gồm 15 người, do Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Xưởng chế tác pháp lam được đặt ở khu Canh Nông trong Thành nội.

Ngoài ra, triều đình cũng mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình) để sản xuất pháp lam, đáp ứng các nhu cầu của triều đình.

Pháp lam Huế có mặt ở các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đõy là buổi thịnh thời của triều Nguyễn: quốc gia thống nhất, kinh tế ổn định. Triều đình lo việc xây dựng kinh đô, lập đền miếu, trang trí tô điểm cho đời sống đế vương.

Hiện vật Pháp lam ở Huế thuộc loại hình Pháp lam hoạ. Do chỉ được sử dụng trong Hoàng cung Huế, nên thuật ngữ pháp lam Huế đó được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam vào thời Nguyễn. Trình độ kỹ thuật chế tác pháp lam thời kỳ này chưa đạt độ sắc nét, tinh xảo, màu sắc không đẹp như pháp lam ở các nước khác, nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, Pháp lam Huế lại khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Pháp lam được xem là một báu vật xa xỉ, quý hiếm, sang trọng, chỉ được dùng để trang trí ở những nơi cung điện, tôn miếu uy nghiêm như điện Thái Hoà (Đại Nội, Huế), điện Hoà Khiêm (làng Tự Đức), điện Biểu Đức (làng Thiệu Trị)… hoặc làm đồ dùng trong cung đình như bát, tô, đĩa, khay, chậu hoa, bình hoa, hộp trầu, hộp phấn… hoặc làm đồ tế tự như lư trầm, bát hương, quả bồng…

Pháp lam Huế chứa đựng những màu sắc tươi sáng lộng lẫy có cường độ mạnh nhưng vẫn quen mắt như các hũa sắc điển hình thường hiện ra trong cuộc sống, thường được phản ánh trong nghệ thuật. Ngày nay, các nhà hóa học phân tích: Thành phần chủ yếu của men màu Pháp lam gồm hỗn hợp của muối axit boric với muối axit silicic, sắc trắng dễ nung chảy vì có nguyên liệu Pháp lam trong đó. Bỏ thêm vào một lượng thích hợp sắc tố kim loại bị oxy hóa (oxit kim loại) tức thành màu men Pháp lam.

Dựa trên các hiện vật pháp lam được trang trí trên các cung điện của triều Nguyễn và các hiện vật pháp lam hiện cũng lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế cũng như trong dân gian, Pháp lam được sử dụng: Trong trang trí ngoại thất các cung điện triều Nguyễn: Loại hình này thường thấy trên các bờ nóc, bờ quyết, cổ diềm tại các cung điện điển hình như ở điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức); điện Thái Hòa (Đại Nội) và các nghi môn ở các lăng trên cũng như khu vực Đại Nội; Pháp lam dựng trong trang trí nội thất: Đó là những hoành phi, câu đối, bình, chóe…; Pháp lam gia dụng và Pháp lam tế tự: Hiện vật nhóm này bao gồm các đồ dùng trong việc tế tự như lư hương, quả bồng, chân đế quả bồng, cơi trầu… và các đồ gia dụng như khay trà, tô, bát, tìm đựng thức ăn.

Trong đó, được chú ý nhiều nhất là loại hình Pháp lam trang trớ ngoại thất: những chi tiết trang trí hình rồng, mây… gắn ở các bờ nóc, bờ quyết của cung điện và các cửa tam quan trong lăng tẩm các vua Nguyễn; các ô, hộc trang trí theo lối “nhất thi, nhất họa” ở cổ diềm, đầu hồi, bờ mái… các ngôi điện lớn như điện Thái Hòa, điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh); những bức hoành trước mộ vua Minh Mạng và trước điện Thái Hòa; các đồ án mây ngũ sắc, bầu thái cực các ô hộc trang trí bát bửu, tứ quý… chính giữa bờ nóc Minh Lâu, điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức) hay ở bờ nóc bờ quyết của điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị)…

Màu sắc rực rỡ của những mảng Pháp lam nổi bật trên các phông màu xám cố hữu của các kiến trúc cổ kính rêu phong đó tạo nên những điểm xuyết sinh động, làm cho các công trình kiến trúc vốn uy nghi, trầm mặc có thêm phần tươi sáng và thanh thoát.

Nguồn gốc của Nghệ thuật chế tác Pháp lam

Dựa vào những tư liệu do Gaide và Henry Peyssonneaux cung cấp trong bài khảo cứu Les tombeaux de Hué: Prince Kiên Thái Vương đăng trên B.A.V.H. (No. 1/1925), đồng thời đối chứng với các sản phẩm pháp lam Huế hiện hữu trên các di tích triều Nguyễn ở Huế, trong Bảo tàng MTCé Huế và trong các sưu tập tư nhân, chúng ta có thể dễ dàng xác nhận rằng, kỹ nghệ pháp lam Huế đó tiếp thu kỹ nghệ Họa Pháp lang của Quảng Đông (Trung Quốc). Kỹ nghệ Họa Pháp lang dựng một lớp men lót tráng lên nền thai cốt, vẽ thêm các họa tiết trang trí bằng men ngũ sắc lên trên nền men lót, rồi đem nung mà thành sản phẩm. Sử sách cho biết trong quá trình xây dựng kinh đô Huế, vua Gia Long (1802 – 1919), Minh Mạng (1820 – 1840) cho mời một số nghệ nhân Trung Quốc sang đảm trách công việc chế tạo các loại gạch, ngói tráng men lưu ly và đồ men pháp lang để phục vụ việc kiến trúc và trang trí đền đài cung điện. Người Việt đó học được nghề, chế tạo được sản phẩm theo ý tưởng, sở thích, nhu cầu của mình, nên đã khai sinh chính thức tại Việt Nam. Do đó vua Minh Mạng đặt tên cho ngành mỹ nghệ cao cấp này là Pháp lam. Cố họa sĩ Phạm Đăng Trí nhận định về màu sắc pháp lam Huế: “Các nghệ sĩ làm pháp lam ở Huế đó sớm biết gia giảm liều lượng đậm lạt, nóng lạnh của màu sắc đến độ tinh vi, đã sáng tạo ra những phương thức dùng mảng, dùng màu và phát hiện ra những hòa sắc tương phản rất là chính xác…”. Pháp lam Huế chứa đựng những màu sắc tươi sáng lộng lẫy có cường độ mạnh nhưng vẫn quen mắt như các hòa sắc điển hình thường hiện ra trong cuộc sống, thường được phản ánh trong nghệ thuật. Trải qua các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, công xưởng chế tạo pháp lam tại kinh đô Huế đó sản xuất rất nhiều vật phẩm dựng để trang trí, cúng tế, sinh hoạt theo yêu cầu của hoàng gia và triều đình. Sau biến cố thất thủ kinh đô (1885), vua Đồng Khánh (1886 – 1888) cho tái lập Tượng cục pháp lam. Nhưng rất tiếc vì tài chính eo hẹp nên không đủ điều kiện nhập nguyên liệu từ nước ngoài về chế tạo pháp lam như trước. Các triều vua cuối Nguyễn (Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại) bãi bỏ Tượng cục pháp lam và ngành nghề này dần dần mất tích ngay tại cái nôi đã phát sinh. Nhưng di sản Pháp lam còn lại trên mảnh đất cố đô Huế khá đồ sộ, phong phú về số lượng; đa dạng về loại hình và kiểu thức, người đời sau phải thán phục. Giáo sư Nguyễn Du Chi nhận định: “Pháp lam Huế đó mang tư cách về một hướng đi đầu tiên của nền hội họa Việt.

Phân loại Pháp lam

Dựa vào phương pháp chế tạo thai cốt và kỹ thuật thể hiện men màu, họa tiết, cú thể chia chế phẩm Pháp lang thành 4 loại:

1. Kháp ti Pháp lam (Cảnh Thái lam): Pháp lang làm theo kiểu ngăn chia ô hộc. Chế tác bằng cách dùng những sợi tơ đồng mảnh và nhỏ kết thành các hoạ tiết gắn lên cốt bằng đồng. Sau đó, đổ đầy men pháp lam nhiều màu lên phần trong và phần ngoài các ô trang trí ấy rồi đưa vào lò nung đốt nhiều lần, cho đến khi bên ngoài sản phẩm phủ kên men pháp lam với độ dày thích hợp. Mài nhẵn và mạ vàng (nếu có) các đường chỉ đồng là khâu cuối cùng, hoàn thành sản phẩm.

2. Hoạ Pháp lam: Pháp lang làm theo kiểu vẽ trên nền men như các tác phẩm hội họa, kiểu này được phát minh ra tại thị trấn Limoges của Pháp trong thế kỷ 15. Là kỹ thuật dựng men pháp lam một màu quét trực tiếp lên cốt kim loại. Theo màu sắc thiết kế của hoa văn, dùng men pháp lam vẽ nên các họa tiết, sau đó đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao. Sản phẩm sau khi đưa ra khỏi lò được mài bóng để hoàn chỉnh. Trên thực tế nhiều hoạ tiết vẽ trên cốt đồng là nhân vật, phong cảnh với các điển tích lịch sử…

3. Tạm thai Pháp lam: Phương pháp chế tác giống Kháp ti pháp lam, chỉ khác ở chỗ hoa văn tô điểm bên ngoài, cốt sản phẩm, được khắc lõm xuống khiến đường viền hoa văn nổi lên. Ở phần lõm này được phủ đầy men pháp lam, sau khi nung đốt thì đem mài bóng để hoàn thiện. Các đường nổi trên sản phẩm Tạm thai Pháp lam tuy rắn rỏi nhưng đạt được sự trang trọng mà mộc mạc trong nghệ thuật.

4. Thấu minh Pháp lam: Chỉ tráng men Pháp lam trong suốt lên cốt bằng vàng, bạc hoặc đồng sau khi được chạm nổi, khắc chìm, rồi đem nung là hoàn thành. Cốt hoa văn được chạm nổi hoặc khắc chìm, đôi khi các đường nét hoa vàn chạm khắc này được thiếp vàng, bạc, hiện ra xuyên qua lớp men Pháp lam một màu như: vàng, lục, lam, tớm… Loại hình Pháp lam này lợi dụng tính chất của lớp men trong suốt hoặc trong mờ để biểu thị sự biến đổi của đồ án hoa văn do độ sáng tối, đậm nhạc mà có.

Pháp lam Huế thuộc Họa Pháp lang và một số vật dụng khác là đồ ký kiểu thuộc Kháp ti Pháp lang được đặt mua tại Trung Hoa.

Hồi sinh một nghệ thuật Pháp lam

Trải gần hai thế kỷ tồn tại trong môi trường khí hậu và thời tiết khắc nghiệt như xứ Huế, lại bị chiến tranh tàn phá, nên nhiều mảng pháp lam trang trí trên các cung điện Huế đó biến mất hoặc bị xâm hại nặng nề. Tìm hiểu các tài liệu, thư tịch và hiện vật pháp lam ở bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, cũng như ở trên các công trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy kỹ nghệ chế tác Pháp lam được nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ, những hiện vật vô giá được trưng bày, quản lý cẩn thận ở Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình và trên các di tích khác ở Huế.

Trong nỗ lực trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc thời Nguyễn – có dấu ấn của Pháp lam Huế, nhiều nhóm chuyên gia bảo tồn đã dày công nghiên cứu chất liệu Pháp lam cổ, xây dựng phương pháp, kỹ thuật chế tác trong điều kiện các thư tịch, bí quyết đều thất truyền. Sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua vô số hoạt động thử nghiệm, nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Đỗ Hữu Triết (công ty cổ phần Kỹ nghệ Pháp lam Sao Khuê – Khuestar JSC) đó thành công và tự hào phục hồi – tôn vinh nét văn hoá – nghệ thuật độc đáo của dân tộc. Hơn một thế kỷ thất truyền, pháp lam Huế đang trở lại nhờ những bàn tay tài hoa của nghệ nhân hiện đại, tâm huyết của những con người yêu quê hương.

Pháp lam Huế ngày nay không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn các công trình kiến trúc thời Nguyễn và cũng không dừng lại ở loại hình hoạ Pháp lam truyền thống. Khuestar JSC đang nỗ lực kết hợp pháp lam với các ngành mỹ nghệ khác như chạm, khảm… nâng lên thành những tác phẩm có giá trị về mặt hội hoạ và hàm lượng nghệ thuật cao.Sự kết hợp phong phú và đa dạng các ngành nghề thủ công truyền thống trong sản phẩm pháp lam vừa tạo sự hấp dẫn riêng biệt mang đậm nét văn hóa truyền thống cho sản phẩm vừa là một cầu nối cho các ngành truyền thống có thể kết hợp lại với nhau.

Sau gần 200 năm thất truyền, Pháp lam Huế giờ đó được tái sinh, có giá trị thiết thực trong việc làm sáng lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc ở cố đô, niềm tự hào của mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế. Vào thời đó, Pháp lam được xem là vật báu xa xỉ, quý hiếm, sang trọng chỉ được dùng để trang trí ở cung điện, tôn miếu uy nghiêm.

Cinet tổng hợp

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Read Full Post »

Luật Di Sản Văn Hóa: Dân có được lưu giử cổ vật mình phát hiện?

Nhiều bất cập được các đại biểu quốc hội mổ xẻ khi thảo luận tại hội trường hôm  02/06/2009 về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa.

ĐB Nguyễn Thị Thu Hà (Tỉnh Gia Lai) phát biểu bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa. Ảnh: Hồng Vĩnh

Nên cho phép dân lưu giữ cổ vật do họ phát hiện và không nên thu phí khi tham quan bảo tàng – là hai nội dung được đề cập nhiều nhất.

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà (Gia Lai) cho biết, theo quy định, mọi di sản văn hóa nằm trong lòng đất thuộc sở hữu nhà nước và khi tổ chức, cá nhân phát hiện phải giao nộp cho nhà nước và  được nhận bồi hoàn có giá trị từ 0,5-30 phần trăm giá trị của di vật, cổ vật.

Thực tế việc thực hiện quy định này chưa thống nhất. Có nơi ngành văn hóa mua lại với giá thỏa thuận, nơi khác dùng biện pháp hành chính để tịch thu. Mức bồi hoàn chi phí cũng không giống nhau. Vì vậy, dân thường không tự nguyện giao nộp khi phát hiện mà đem bán cho người sưu tầm để kiếm lời cao hơn.

“Tôi đề nghị Quốc hội cân nhắc việc cho phép dân có thể được lưu giữ, bảo quản hiện vật mà họ phát hiện được với sự cam kết chặt chẽ các điều kiện cùng nhà nước. Điều này một số nước trên thế giới cũng áp dụng”- Bà Hà đề xuất.

Đại biểu Nguyễn Anh Liên (Thanh Hoá) cho rằng có hiện tượng cứ di tích nào thu hút được nhiều du khách thì tập trung đầu tư, tôn tạo, bảo vệ, thậm chí còn tìm mọi cách khai thác những khía cạnh mê tín dị đoan, phản văn hóa để thu tiền.

Còn những di tích lịch sử dù có ý nghĩa văn hóa, chính trị, nhân văn truyền thống nhưng chưa đẻ ra tiền trước mắt thì hầu như không chú ý đến, khiến một số di tích xuống cấp và không ít khả năng bị mất vĩnh viễn!

Chia sẻ quan điểm trên, đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương (Ninh Thuận) cho hay: “Thực tế còn nhiều công trình văn hóa mang bản sắc văn hóa dân tộc, tín ngưỡng dân gian rất gần gũi với nhân dân địa phương như các đền. Việc bảo quản, trùng tu các công trình này trách nhiệm thuộc về ai?”.

Vào bảo tàng không nên thu phí

Nhìn từ  khía cạnh khác, đại biểu Trần Văn Kiệt (Vĩnh Long) đề nghị nên xem xét lại tiêu chí từng loại di sản và bảo tàng, nếu không thì tình trạng lạm dụng di sản sẽ tràn lan.

Khi đi vào những nơi di tích, tham quan bảo tàng mức phí thu nhiều nơi hiện quá cao. Nếu nói là hưởng thụ, giáo dục thì không nên coi đây là một loại dịch vụ.

“Ở Huế, Chùa Thiên Mụ là di tích, nhưng du khách vào không phải mua  vé, mà  mỗi người bỏ vào thùng từ thiện bao nhiêu là tùy tâm. Nếu vào thăm  di tích, bảo tàng  mà chúng ta quy định là dịch vụ thì tôi cho rằng xã hội sẽ không đồng tình”- Ông Kiệt dẫn chứng.

19/06/2009

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Di sản văn hoá: Sẽ cấp Giấy chứng nhận Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia

Khoản 2, Điều 18 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá vừa được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 18.6, quy định: “Bộ trưởng Bộ VH, TT&DL quyết định công bố Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia và cấp Giấy chứng nhận Di sản văn hoá phi vật thể được đưa vào Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia”.

Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức lập, công bố quy hoạch khảo cổ địa phương

Với 91,89% số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá. Trước đó, thay mặt Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã trình bày Báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá. Về trách nhiệm và biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể (PVT), Báo cáo cho biết, tiếp thu ý kiến các đại biểu, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo sửa đổi, bổ sung 5/11 điều về di sản văn hoá PVT. Cụ thể như, sửa đổi, bổ sung 5 khoản vào Điều 17 (chính sách bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể); sửa đổi, bổ sung 3 khoản vào Điều 18 (trách nhiệm, thẩm quyền, trình tự thủ tục lập Danh mục di sản văn hoá PVT quốc gia); sửa đổi, bổ sung 3 khoản vào Điều 21 (chính sách đối với tiếng nói, chữ viết của cộng đồng các dân tộc VN)…

Về di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, tiếp thu ý kiến Báo cáo cho biết, đã sửa lại khái niệm “yếu tố gốc cấu thành di tích” như sau: “Yếu tố cấu thành di tích là yếu tố có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thẩm mỹ, thể hiện đặc trưng của di tích lịch sử-văn hoá, danh lam thắng cảnh”. Có ý kiến cho rằng khu vực bảo vệ I của di tích phải được bảo vệ nguyên trạng, không nên cho phép xây dựng bất kỳ công trình nào, kể cả trong trường hợp đặc biệt. Báo cáo cho biết, việc xây dựng một số công trình thiết yếu phục vụ công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích trong khu vực bảo vệ I của di tích (như nhà trưng bày, nhà vệ sinh, hệ thống chiếu sáng…) là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, cân nhắc ý kiến đại biểu Uỷ ban Thường vụ QH đã chỉ đạo thể hiện như sau để tránh sự vận dụng tuỳ tiện: “Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở khu vực bảo vệ I phải được sự đồng ý bằng văn bản của cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích đó”. Cũng có ý kiến đề nghị bổ sung về quy hoạch khảo cổ để tránh nảy sinh những phức tạp trong quá trình triển khai xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; có ý kiến cho rằng cần bổ sung quy định về nguồn kinh phí tổ chức thăm dò, khai quật khảo cổ đối với các công trình xây dựng. Tiếp thu ý kiến này, báo cáo cho biết đã cho sửa đổi một khoản và bổ sung hai khoản vào Điều 37 của Luật Di sản văn hoá: khoản 1 giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức việc lập, phê duyệt và công bố quy hoạch khảo cổ ở địa phương; khoản 2 quy định trách nhiệm của chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng công trình ở địa điểm thuộc quy hoạch khảo cổ.

Báo cáo cũng cho biết về việc nhiều đại biểu nêu ý kiến tập trung vào quy định về hoạt động dịch vụ của Bảo tàng. Có đại biểu đề nghị không cho phép làm dịch vụ tại bảo tàng. Tiếp thu ý kiến của đại biểu, trong lần sửa đổi, bổ sung này Uỷ ban Thường vụ QH đã cho thể hiện quy định về hoạt động của bảo tàng như sau: “Tổ chức hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan phù hợp với nhiệm vụ của Bảo tàng”. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá sẽ có hiệu lực từ 1.1.2010.

Luật Di sản văn hoá (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
– Mã sách : TPV-09-19
– Tác giả : Nhà xuất bản Tư pháp,
– Số trang : 68
– Năm xuất bản : 2009
– Giá bìa : 13.500 đ
– Kích thước : 13 x 19 (cm)
– Lượt xem : 144

LỜI GIỚI THIỆU

Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật. Do vậy, sau mỗi kỳ họp của Quốc hội đã có nhiều đạo luật mới, luật sửa đổi, bổ sung được ban hành để khắc phục tình trạng còn có những lĩnh vực chưa được điều chỉnh bằng luật hoặc luật quy định chưa đầy đủ.

Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 5 đã thông qua 11 luật (trong đó có 5 luật mới và 6 luật sửa đổi, bổ sung). Để bạn đọc thuận lợi trong việc tra cứu, vận dụng tìm hiểu các quy định mới được ban hành trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn “Luật Di sản văn hoá (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)”.

Ngoài việc giới thiệu toàn văn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá, cuốn sách còn đăng Luật Di sản văn hoá năm 2001 với nội dung đã được cập nhật các quy định mới theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tháng 7/2009

Nhà xuất bản Tư pháp

 

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Chưa có Bảo vật quốc gia

Theo đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà (Gia Lai) trong số ba triệu hiện vật trong hệ thống bảo tàng và hàng triệu hiện vật khác lưu truyền trong dân gian hiện vẫn chưa có di vật, cổ vật nào được xếp hạng là Bảo vật quốc gia.

Read Full Post »

Ngôi nhà thờ tộc Trương ở Hội An

Phải đến khi được UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương tặng Giải thưởng Công trạng (Award of Merit), những kỷ vật độc đáo tại ngôi nhà thờ tộc Trương ở 69/1 Phan Châu Trinh (Hội An, Quảng Nam) mới dần được biết đến.

Ngôi từ đường trên đất khách

nha-tho-toc-truong-hoian

Khuôn viên tĩnh mịch của nhà cổ tộc Trương

Giữa thế kỷ XVIII, trong số những người Trung Hoa không muốn sống dưới triều nhà Thanh nên bỏ sang Việt Nam thần phục Chúa Nguyễn, có một người tên là Trương Mậu Viễn (xã Cảnh Khanh, Nhị Đô, huyện Chiếu An, phủ Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến). Ông Trương sang định cư tại làng Minh Hương, Hội An thuộc xứ Đàng Trong, trở thành đệ nhất thế tổ của dòng họ Trương – dòng họ đang truyền giữ ngôi nhà thờ độc đáo bây giờ.

Đến thế hệ cụ tổ thứ 3 Trương Chí Cẩn, Binh bộ chủ sự tại triều Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng, việc xây dựng “từ đường Trương Đôn Hậu” mới được đặt ra. Tháng 11.1840, năm Minh Mạng 21, cụ Trương Chí Cẩn đã đặt viên đá móng đầu tiên tại khuôn viên rộng mỗi bề đến vài trăm mét, ở vị trí từ đầu kiệt Sica (hẻm phố đường Lê Lợi ngày nay) kéo dài qua khỏi đường Phan Châu Trinh.

Từ đường Trương Đôn Hậu trở thành công trình được nghệ nhân tài hoa xứ Quảng gia công đặc biệt. Các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng chạm trổ cột, kèo, rui, sườn cùng các bức hoành với những hoa văn kỹ xảo độc đáo. Một số tay nghề mộc xuất sắc nhất được chọn cẩn những chữ, hoa văn phù hợp với lối kiến trúc Á Đông. Riêng đá lót nền được đặt mua tại vùng Non Nước – Ngũ Hành Sơn (TP Đà Nẵng) chuyển vào…

nha-tho-toc-truong01-hoian

Họa sĩ Trương Bách Tường (đời thứ 8) cạnh cáng khiêng võng của cụ tổ đời thứ 3, phía sau là hai câu đối 18 chữ

Đến năm 1906, phố cổ Hội An quy hoạch mở rộng. Ông Trương Đồng Hiệp, quan Huấn đạo Quảng Nam (quan coi về giáo dục) – vị tổ thứ 4 – đã cho di chuyển, bố trí lại từ đường trên khuôn viên hẹp hơn. Từ đường gồm 3 nhà: chính giữa là điện thờ tổ tiên, bên tả dành cho gia đình tộc nhân quản lý từ đường, bên hữu dành cho cháu trai tộc trưởng ở để phụng tự tổ tiên.

Dấu ấn thời gian

Trải bao dâu bể, ngôi từ đường hiện vẫn lưu giữ nhiều bảo vật. Ít người biết rằng, thông tin về thời điểm cụ tổ thứ 3 chính thức bỏ viên đá móng đầu tiên (lúc 5 giờ sáng ngày mồng 5 tháng 10 năm Canh Tý, tức ngày 28.11.1840) đã được khắc ngay trên cây trùng lương ở gian chính điện (nằm bên dưới cây thượng lương). Chính “dấu vết” lưu giữ nguyên vẹn từ năm 1840 này mà công trình đương nhiên được thừa nhận về niên đại, giá trị kiến trúc.

Vào thăm khu nhà chính điện, ngay ở gian khách (bên ngoài), bên tả có treo ảnh thờ quan Huấn đạo Trương Đồng Hiệp. Đặt phía trước là hai cáng khiêng võng của ông. Treo hai bên là đôi câu đối: “Mậu thừa chí đồng hoài đình duy bách thế/Hiếu hữu truyền hậu tự phái diễn vạn niên“. Đây được xem là “bảo vật” của dòng họ, do ông Trương Chí Cẩn (tổ đời thứ 3) đặt ra để con cháu các đời dùng làm chữ lót, mỗi đời một chữ. Ông kế thừa 3 chữ sẵn có (Mậu, Thừa, Chí) rồi đặt thêm thành hai câu đối 18 chữ, mỗi chữ đều có một ý nghĩa riêng cho 18 đời. Nay thì con cháu họ Trương đang ở vào đời thứ 6 đến thứ 10, tương ứng với các chữ lót từ Trương Đình đến Trương Hiếu.

Dẫn chúng tôi vào thăm gian chính điện, họa sĩ Trương Bách Tường (thế hệ thứ 8) đặc biệt lưu ý bức hoành phi lớn từ năm Minh Mạng thứ 15, tức có trước khi khởi công xây dựng từ đường, đến nay vẫn bảo quản nguyên vẹn. Rất nhiều kỷ vật đã từng chịu cảnh lưu lạc trong chiến tranh, nhiều tấm liễn phải giấu xuống ao mới may ra được bảo toàn. Ngôi nhà bên tả, có một bức hoành phi lớn “Tiết hạnh danh văn”, do vua Bảo Đại ban tặng cho người vợ của vị tổ thứ 5…

Giải thưởng Công trạng (Award of Merit) mà UNESCO châu Á – Thái Bình Dương trao tặng cho nhà thờ tộc Trương cùng 5 ngôi nhà cổ khác trên toàn quốc năm 2004 cũng được xem là một “bảo vật” của thế kỷ XXI. Bởi để có được vinh dự này, 3 năm trước đó (năm 2001) các chuyên gia Nhật Bản đã phải kỳ công trùng tu, tôn tạo trong một dự án mang tên “Bảo tồn nhà ở dân gian truyền thống Việt Nam” do Bộ VH-TT Việt Nam ký kết với Tổ chức Hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA).

Điều đặc biệt, nhà thờ tộc Trương với 70% cấu kiện gỗ còn lành lặn là ngôi nhà duy nhất ở Quảng Nam nhận được sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính của JICA và trường Đại học nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) để bắt đầu quá trình tu bổ. Từ công trình này, UNESCO đánh giá rất cao mục tiêu chuyển giao bí quyết nhằm hoàn thiện kiến thức bảo tồn nhà cổ cho thế hệ tương lai và thử nghiệm những phương pháp mới về bảo tồn tại thực địa của dự án.

Theo hoian.vn

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 


Read Full Post »

Thực trạng khảo cổ dưới nước Việt Nam

Hàng trăm nghìn cổ vật được tìm thấy cả dưới lòng sông, đáy biển đã phần nào cho thấy chứng tích của các hoạt động liên quan đến “lịch sử sông nước” Việt Nam; tầm quan trọng, vị trí chiến lược của Việt Nam trong những cuộc giao lưu thương mại quốc tế trên biển, trên sông…

Dù thất thoát không ít bởi nạn săn lùng cổ vật, nhưng ẩn dưới mặt nước sông biển Việt Nam hiện còn nhiều cổ vật vô giá. Nhưng gần 20 năm qua, việc phát hiện và khai thác cổ vật dưới nước hầu hết do ngư dân và chuyên gia nước ngoài hợp tác khai quật.

9043___news__khao-co

Cổ vật bị “chảy máu”

Trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20 ở Việt Nam, khảo cổ học dưới nước – một chuyên ngành mới của khảo cổ học đã được áp dụng để khai thác các di sản văn hóa trong lòng đại dương.

Năm 1990 – 1991, khai quật tàu cổ Hòn Cau tại Vũng Tàu và tàu cổ Hòn Dầm (Kiên Giang); năm 1997 – 2000, khai quật tàu cổ Cù Lao Chàm ngoài khơi vùng biển Quảng Nam; năm 1998 -1999, khai quật tàu cổ Cà Mau; năm 2001 – 2002, khai quật tàu cổ Bình Thuận.

Sự thành công của các cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước đó đã giúp hiểu rõ hơn “con đường gốm sứ” trên biển và phát hiện thêm nhiều giá trị mới của gốm sứ Việt thế kỷ XVI – XVII.

Trong 5 cuộc khai quật tàu cổ trên, chỉ có duy nhất cuộc khai quật tàu cổ Cà Mau hoàn toàn là do các chuyên gia và kỹ thuật viên Việt Nam thực hiện với kinh phí do Nhà nước cấp khoảng 13 tỷ đồng. Đây là cuộc khai quật duy nhất mà Việt Nam có quyền xử lý và định đoạt số phận của toàn bộ hiện vật.

Các cuộc khai quật còn lại, phía khảo cổ học Việt Nam được phân chia hiện vật rất ít, vì hầu hết kinh phí khai quật đều do đối tác bỏ vốn đầu tư. Điển hình như cuộc khai quật tàu cổ Cù Lao Chàm (thu được tới 240.000 hiện vật là đồ gốm sứ Chu Đậu thế kỷ XV) ngoài 789 hiện vật độc bản, Việt Nam chỉ được nhận thêm 72.000 hiện vật (30% số hiện vật thu được). 168.000 hiện vật còn lại thuộc sở hữu của đối tác.

Những lớp cọc trên Bạch Đằng Giang được phát lộ đầu tiên từ năm 1953, khi người dân huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) tiến hành đào đất đắp đê. Bãi cọc thứ hai được phát hiện năm 2005 tại cánh đồng Vạn Muối (xã Nam Hòa, Yên Hưng)… tất cả đều là những chứng tích lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc.

Trải qua thời gian, sông Bạch Đằng chuyển dòng, có chỗ đã bị bồi lấp, có chỗ cạn thành ao hồ, đầm ruộng… Trong quá trình làm ruộng, nuôi cá trên cánh đồng, những người dân đã chạm đến cọc và nhổ đi rất nhiều mang về làm nhà, đánh cây rơm… Nếu như không nhanh chóng quy hoạch tổng thể, khoanh vùng để gìn giữ thì những chứng tích lịch sử quan trọng ấy sẽ dần bị mất đi mà không thể lấy lại được.

Không chỉ là việc bị thất thoát những cổ vật có giá trị, sự vắng mặt của chuyên ngành khảo cổ học dưới nước tại nhiều cuộc khai quật đã dẫn đến tình trạng chất lượng khai quật bị ảnh hưởng. Vụ trục vớt tàu cổ ở Khoái Châu (Hưng Yên) vừa qua là một ví dụ.

Là minh chứng cho hoạt động giao thương tấp nập của vùng phố Hiến xưa, nhưng con tàu cổ Hưng Yên được một người chuyên mò sắt bán phế liệu tìm thấy và vớt lên. Do không có kinh nghiệm, trong quá trình trục vớt tàu đã bị gãy làm đôi.

Và trong khi chờ những quyết định của các cơ quan liên quan, con tàu nằm dầm mưa dãi nắng ở bên bờ sông xã Đại Tập (Khoái Châu) gần 2 tháng mà không hề được bảo quản. Đến khi có quyết định chuyển con tàu về bảo tàng Hưng Yên, việc vận chuyển được giao cho Công ty Vận tải Mạnh Kiên thực hiện. Và để thuận tiện, công ty này đã cưa đôi mảnh đuôi tàu để đưa tàu qua cửa đê… cho dễ.

Khảo cổ dưới nước Việt Nam tụt hậu

Trong khi ngay từ đầu thế kỷ, Thái Lan đã cơ bản lập được bản đồ khảo cổ vịnh Thái Lan, thì khảo cổ dưới nước vẫn còn là khái niệm xa lạ với ngành khảo cổ Việt Nam.

Vì ngành khảo cổ học dưới nước của Việt Nam chưa phát triển, nên các cuộc khai quật tàu cổ thường được tiến hành trong tình thế “chữa cháy”.

100% tàu cổ được phát hiện thời gian qua đều là nhờ ngư dân. Các cuộc khai quật cũng chỉ được tiến hành sau khi các ngư dân đã dùng chài lưới cào quét chán chê và hàng ngàn cổ vật bị thất thoát. Không những thế, khi người dân lấy cổ vật, hiện trường bị xáo trộn, gây khó khăn trong việc xác định nghiên cứu cấu trúc, xuất xứ, nguồn gốc cũng như quản lý các tàu cổ đã chìm.

Cũng vì không có phương tiện, kinh phí và đội ngũ các nhà khảo cổ học dưới nước nên Việt Nam chưa hề có một cuộc thăm dò sơ bộ, xác định có bao nhiêu con tàu cổ đắm ngoài khơi, đắm ở tọa độ nào để vẽ bản đồ khảo cổ và có kế hoạch gìn giữ.

Đành rằng, việc lên được một bản đồ khảo cổ dưới nước là điều không dễ dàng, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, khó có thể hoạch định được việc gì nên làm trước, việc gì nên làm sau trên một diện tích ẩn chứa di sản nếu thiếu quy hoạch. Việc bảo vệ nghiêm ngặt những điểm có tàu cổ, tránh sự phá hủy của những kẻ chuyên săn mò cổ vật dưới nước cũng chỉ được làm tốt khi xác định được mục tiêu.

Trong khi chưa có kế hoạch dài hơi, ngành khảo cổ trước mắt cần đào tạo đội ngũ các nhà khảo cổ, chuyên gia đủ năng lực và trình độ khảo sát về cổ vật dưới nước, cũng như vẽ được bản đồ các di tích khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam, từ đó chủ động xử lý và phát huy giá trị các kho báu ở biển Việt Nam./.

(Tin tức/Vietnam+)

———————————————————————————————-

Bảng dịch tiếng Anh của bản tin:

Hundreds of thousands of antiques have been taken from river and sea beds. However, most of the excavations have been conducted by fishermen and foreign experts.

9043___news__khao-co

The exhibition of antiques from an ancient shipwreck in Cu Lao Cham.

Antique losses

In the late years of the 20th century, underwater archaeology was introduced in Vietnam to discover cultural heritages on the seabed.

In 1990-1991, Vietnam excavated a Hon Cau ancient boat in the sea of Vung Tau and a Hon Dam vessel in the southern province of Kien Giang. An old boat was discovered in the sea of the southern province of Ca Mau in 1998-1999. Another ancient boat was excavated off the coast of the central province of Quang Nam in 1997-2000 and a shipwreck was excavated in Binh Thuan province in 2001-2002.

These excavations revealed much interesting evidence about the “pottery road” on the sea and introduced new values of Vietnamese ceramics in the 16th and 17th centuries.

However, of the five above excavations, only the one in Ca Mau was implemented by Vietnamese technicians and experts, at a funding of 13 billion dong (around $930,000) from the state budget. This is the only excavation of ancient shipwrecks from which Vietnam has the right to determine the fate of all antiques.

In the remaining underwater excavations, Vietnam was given a small share of antiques because most of the funding for the excavations was paid by foreign partners.

For example, of 240,000 antiques of the 15th century collected from the excavation of an ancient shipwreck in Cu Lao Cham, Vietnam received 789 antiques, which are of a single kind, and 72,000 other objects. The remaining 168,000 items belonged to the foreign partner.

The absence of underwater archaeologists at excavations is another reason for the loss of antiques. A recent excavation of a shipwreck in the northern province of Hung Yen is a typical example.

This ancient shipwreck, evidence of the busy Pho Hien in the past, was discovered by a iron scrap finder. Without underwater archaeologists, the boat was broken into two in the excavation process.

While awaiting competent agencies’ decision, the boat was exposed to the sun and rain on the bank of the river for nearly two months without being preserved. When competent agencies decided to move the ancient boat to the Hung Yen Museum, a transportation company was hired to transport the ship to the museum. To facilitate its job, this company chopped the stern into two pieces for “easy transportation”.

Behind the times

Vietnam’s neighbor Thailand had an archaeological map for Thailand Bay in the early 21st century. At that time, underwater archaeology was a new concept in Vietnam.

Since underwater archaeology is underdeveloped, all ancient shipwrecks are found by chance.

All ancient boats have been discovered by fishermen. All excavations were conducted after these boats were visited by fishermen, resulting in the loss of thousands of antiques. The fishermen caused changes in the surrounding environment, raising difficulties for experts later.

Owing to a fund shortage and the lack of professional underwater archaeologists, Vietnam has not made any survey of ancient shipwrecks in the country to draw up a map and a plan to preserve them.

VietNamNet/TTXVN

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Sưu tập gốm men trắng thời Lý Trần thế kỷ XI – XIV

Bát chén Lý trắng (Gọi là đồ đời Lý, nhưng ta gồm cả nơi đây đồ gốm đời Trần. Bởi vì đồ đời Trần tiếp tục cái truyền thống đặc sắc của đồ đời Lý .Cho đến đời Hậu Lê, sự phát triển đặc sắc của đồ gốm Chu Đậu, Bát Tràng mới thực sự trở nên cá biệt, tạo những chiều hướng khác)cùng các bình ấm rất đẹp, một vẻ đẹp thanh nhã mà cao sang, càng nhìn càng ưa. Bình và ấm vẫn theo truyền thống Việt Nam, quai cầm chỉ có tính cách trang trí, không thực dụng. Nước men rất mịn, mầu trắng tuyền, nhìn mát rượi, thảng hoặc có món men trắng trắng ngà hay men trắng thoáng ẩn sắc xanh dương. Có chén nhỏ mà lòng chén tráng men trắng, nhưng bên ngoài lại tráng men nâu. Bình men trắng thường cao khoảng 16 – 22cm, đôi khi có phác họa một vài cánh hoa mầu xám nhạt.

Có loại bình Lý trắng (cao 15cm) có quai cầm là hình một con cá bống nhỏ mầu trắng, mắt đen, rất linh động, nắp bình vẽ hoa cúc, thân bình vẽ cành trúc, cành mai mầu xám nhạt. Những bình khác có quai cầm hình xoắn ốc hay hình một con rồng chui từ trong thân bình ra rồi lại chui vào tạo thành quai cầm để lại chui sang mé bên kia cất cao đầu trở nên vòi rót. Rồng đây không phải là con rồng Trung Hoa, mà là một con rắn mình trơn, có kỳ trên lưng, đầu giống như hình linh vật Naga hay Makara của Ấn Độ. Miệng bình thường khá nhỏ, chỉ có thể dùng làm nậm rượu hay bình nước, chứ không thể thành ấm trà.

Có những tô Lý trắng ám họa hình ảnh của văn hóa Ả Rập, hình ảnh trăng lưỡi liềm và các vì sao cùng với 2 đoản đao bắt chéo…Có những bát, trong lòng toàn là biểu tượng Phật Giáo như chữ Vạn, như hình ảnh bát bửu, hay trong lòng chén, lòng đĩa là cả một bông hoa sen, bông hoa cúc đang nở, có lu nhỏ cao 25cm rộng 18cm mà nắp lu là cả một bông sen và miệng lu cũng chạm nổi những cánh sen đang nở…Có tô đường kính 12cm, đáy tô là một bông cúc nở, qu anh lòng tô là những nhành lá và hoa cúc. Bình ấm rất đẹp, nhiều cái hình quả dưa, quả bầu, hình con tôm càng cưỡi trên long con cá chép…

 

Phụ lục Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »