Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 27th, 2009

Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần cuối)

Roxanna Brown với anh trai Fred của bà tại Cafe 50 ở Santa Monica vào đầu tháng Ba. Anh trai bà kể lại rằng bà túng quẫn và lo lắng về một cuộc điều tra liên bang đối với những đồ vật bị cho là những cổ vật Thái Lan bị đánh cắp

Roxanna Brown với anh trai Fred của bà tại Cafe 50 ở Santa Monica vào đầu tháng Ba. Anh trai bà kể lại rằng bà túng quẫn và lo lắng về một cuộc điều tra liên bang đối với những đồ vật bị cho là những cổ vật Thái Lan bị đánh cắp

Từ một học giả về cổ vật trở thành một đối tượng chủ chốt

Fred Brown, anh trai Roxanna kể lại rằng: Roxanna đã rất túng quẫn và lo lắng.

Trong nhiều năm, Roxanna đã sống nhờ vào một khoản tiền lương khiêm tốn tại một ngôi làng ở ngoại ô Bangkok, bất chấp danh tiếng của mình như là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về gốm sứ Đông Nam Á. Giờ đây đã 61 tuổi, bà nói rằng bà không còn có thể chịu đựng nổi khoản 400 USD mỗi tháng mà bà đã và đang gửi cho người mẹ già 90 tuổi của mình.

Bà đã để chiếc vali vào khoang sau của xe và không biết chắc mình sẽ ngủ ở đâu trong đêm đó, nhưng vẫn nói với anh trai mình rằng bà vẫn sẽ tìm tách xoay xở. Điều giày vò tâm trí bà là một cuộc điều tra về buôn lậu liên bang đã được đưa lên trang nhất các báo ở Thái Lan và Mỹ.

Vào tháng Giêng, hàng trăm đặc vụ đã tiến hành những cuộc truy quét phối hợp đối với bốn viện bảo tàng ở miền Nam California và những nơi khác ở California và Illinois. Theo các lệnh lục soát liên bang được trình vào thời điểm đó, họ đang tìm kiếm bằng chứng về cái bị cáo buộc là một đường dây buôn lậu đưa những cổ vật Thái Lan bị đánh cắp vào Mỹ. Các nhà điều tra cho ràng một vài trong số những đồ vật đó đã được thẩm định để thổi phồng giá trị và hiến cho các viện bảo tàng để hưởng những khoản miễn thuế gian lận.

Vài năm trước đó bà Roxanna Brown đã giúp các nhà điều tra với tư cách là một chuyên gia tư vấn. Bà biết nhiều trong số những người có tên trong các bản khai này.

Đó là Robert Olson, được nêu trong các bản khai là “kẻ buôn lậu”;. Bà Brown nói đã nhìn thấy trong cửa hàng của hắn những xương tay người vẫn còn dính vào các vòng tay đồng cổ.

Đó là những người bạn của bà, Jonathan và Cari Markell, những tay buôn dồ cổ châu Á ở Los Angeles, những người bị cáo buộc nằm ở vị trí trung tâm của kế hoạch trốn thuế.

Và đó là những đồng nghiệp khác của bà tại các viện bảo tàng địa phương; một vài trong số họ đã làm ngơ trước những lần hiến tặng cổ vật bị cướp phá, theo các bản khai liên bang.

Không ai bị buộc tội gì, nhưng giờ đây các nhà điều tra đang cố gắng một lần nữa tiếp cận bà Brown – lần này là với những câu hỏi về các cuộc thẩm định thổi phồng giá trị có kèm theo chữ ký của bà.

Bà tâm sự với anh trai mình bằng bà đã cho phép vợ chồng Markell sử dụng chữ ký điện tử của bà trong cuộc cuộc thẩm định mà có thể đã bị thổi phồng giá trị. Rõ ràng là họ đã sử dụng nó trong những lần thẩm định khác, nhưng bà khăng khăng cho rằng mình không hề cho phép vào những lần đó..

Anh trai bà nhớ lại bà đã nói: “Fred, em không có tiền. Nếu em đang thực sự làm việc này, chẳng nhẽ em lại không có tiền sao? Em không biết tại sao họ cứ làm phiền em bằng những điều nhỏ nhặt như vậy. Nếu họ quấy rầy em, thế chẳng khác nào họ hủy hoại danh tiếng của em. Mà danh tiếng là tất cả những gì em có”.

Ngay sau đó, Brown rút ngắn chuyến đi của mình và bay trở về Thái Lan.

Tài liệu mang tên Roxanna

Những mẫu gốm sứ cuối cùng được Roxanna sưu tập - Nguồn: international.ucla.edu

Những mẫu gốm sứ cuối cùng được Roxanna sưu tập - Nguồn: international.ucla.edu

Khi các điều tra viên liên bang phân loại đống sổ sách lớn mà họ đã thu giữ được vào tháng Giêng, họ tình cờ phát hiện ra một tài liệu trong đống tài liệu thu giữ từ Olson.

Ngoài tài liệu đó chỉ đơn giản ghi: “Roxanna”.

Bên trong tài liệu có các danh sách đánh máy mà trong đó Brown mời chào bán cho Olson hàng chục chiếc vại Thái Lan và những cổ vật khác, theo một bản khai giấy lệnh lục soát được trình bào tháng Bảy.

Các điều tra viên giờ đây tin rằng vị chuyên gia một thời của họ là một phần trong cái âm mưu mà bà đã từng giúp họ tháo gỡ – rằng bà đã rao bán mọi đồ vật mà bà đã dành cả sự nghiệp của mình để bảo vệ.

Trong một tài liệu không đề ngày tháng, Brown đã chào bán cho Olson những vòng tay đồng cổ, những công cụ đồ đá thuộc Thời kỳ đồ đá mới và những đồ gốm sứ Thái Lan lấy từ “nhưng nơi chôn cất giáp biên giới với Miến Điện”, theo các bản sao tập thư từ gắn kèm với bản khai trình vào tháng Bảy.

Trong một thư điện tử đề ngày vào tháng Tư 2002 có mang tên bà, bà xác nhận rằng mình có nhận 14.000 USD từ Olson cho một đồ đồng thời tiền sử. Hai tháng sau, một thư điện tử khác gửi cho cháu của Olson , bà cho biết một tài khoản ngân hàng Thái Lan mà có thể gửi thêm tiền vào đó.

Vai trò của bà trong âm mưu bị cáo buộc này đã tiếp tục tồn tại cho đến khi bà đã giúp các điều tra viên phát hiện ra nó, theo các bức thư gửi qua lại.

Các đặc vụ đã tìm thấy một thư điện tử từ tháng Sáu 2006, được cho là một cuộc trao đổi giữa bà Brown và Jonathan Markell, trong đó bà đã cung cấp chữ ký điện tử của mình để ông ta dùng trong những đợt thẩm định. Trong một cuộc trao đổi qua thư điện tử khác từ tháng Ba 2007, Markell đã yêu cầu bà ký vào 6 đến 8 bản thẩm định khống cho những lần hiến tặng trong tương lai và đề nghị chuyển cho bà 300 USD “về việc sử dụng bà, đúng nghĩa của nó, như một nhà thẩm định…”.

Theo một bản sao thư điện tử được trình kèm theo bản khai, Markell nói rằng: “Nếu bà lo lắng khi làm việc này, xin hãy hiểu rõ rằng những người thuộc Đảng Cộng hòa vẫn còn đang tại vị, IRS (Sở thuế nội bộ) không có đủ nhân sự để kiểm duyệt lại những cuộc thẩm định nhỏ lẻ và những cuộc thẩm định này được thực hiện rất tốt và sẽ không bao giờ bị nghi vấn”.

Các tài liệu này cho thấy rằng bà Brown đã phúc đáp qua thư điện tử vào cùng ngày rằng: “Không thành vấn đề! Tôi rất mừng được làm đối tác của ông trong vụ này”.

Ảnh Roxanna bên những cổ vật - Nguồn: Thestar.com.my

Ảnh Roxanna bên những cổ vật - Nguồn: Thestar.com.my

Giáp mặt tại khách sạn

Vào thứ Năm ngày 8 tháng 5, bà Brown bay đến Mỹ để đọc một bài giảng tại Đại học Washington.

Đón bà là giáo sư Bill Lavely, người đứng ra mời bà. Ông đã đưa bà đến Khách sạn Watertown tại Seattle với kế hoạch gặp nhau vào thứ Sáu để dùng bữa tối.

Theo những cuộc phỏng vấn và bản khai trình vào tháng Bảy, vào chiều thứ Sáu, viên đặc vụ liên bang mà bà đã giúp đỡ 4 năm trước đó, đi cùng với 3 điều tra viên khác, đã giáp mặt bà Brown trong khách sạn .

Cuộc phỏng vấn của họ được miêu tả trong bản khai như sau:

Ban đầu, bà Brown phủ nhận việc bán các đồ vật cho Olson hay cung cấp những chữ ký thẩm định gần đây cho vợ chồng Markell.

Sau đó, khi các điều tra viên cho bà xem bằng chứng họ có được, câu chuyện của bà đã thay đổi. Bà nói rằng mình đã quên mất khoản thanh toán 14.000 USD của Olson cho những cổ vật và thừa nhận rằng đã ký vào những bản thẩm định khống cho vợ chồng Markell.

Bà cũng thừa nhận đã mang một bức tượng Phật Thái và hai bức tượng Phật Miến Điện vào Mỹ cho vợ chồng Markell. Bởi vì bà là một Phật tử, nên bà cảm thấy mình không cần phải xin phép của chính phủ.

Các điều tra viên đã chất vấn bà Brown suốt bốn tiếng đồng hồ khi Lavely gọi từ hành lang khách sạn lên phòng bà. Sau khi đợi một vài phút, ông bước lên gác và gõ vào cửa phòng bà.

Các đặc vụ liên bang nhanh chóng xuất hiện và giải bà ra thang máy trong khi ông Lavely hoang mang đứng nhìn. Ông nhớ lại bà ấy đã nói trước khi cửa thang máy đóng lại: “Mọi chuyện liên quan đến thứ đó ở Los Angeles. Tôi đã phạm phải một sai lầm… Tôi đã gửi fax chữ ký của mình”.

Bà Brown bị bắt và đưa tới một trung tâm giam giữ liên bang gần sân bay Seattle. Chiều hôm đó, một bồi thẩm đoán Los Angeles đã chính thức buộc tội bà là gian lận qua điện tín khi cho phép Jonathan Markell sử dụng chữ ký của mình trong một lần thẩm định thổi phồng giá trị.

Vợ chồng Markell đã từ chối bình luận thông qua luật sư của họ, lấy cớ là việc điều tra đang diễn ra. Olson, người bị cáo buộc tội buôn lậu, đã phủ nhận mọi hành động sai trái.

Cuối tuần đó trong tù, bà Brown lên cơn dạ dày. Đến thứ Hai, bà đã bị nôn khi gặp mặt người bào chữa cho bà do tòa án chỉ định , Michael Filipovic, vị luật sư này kể lại. Một lát sau, khi ông trở lại thì bà Brown lại bị tiêu chảy không thể kiểm soát được. Nhà chức trách liên bang đã phán quyết rằng vì bà quá ốm yếu, không thể có mặt trước tòa vào chiều hôm đó.

Vị luật sư này nói rằng ông đã nói chuyện trong chốc lát với Joseph Johns, ủy viên công tố Los Angeles phụ trách vụ án, người đã khiến ông ngạc nhiên khi nói rằng sẽ có thêm nhiều tội danh nữa. Nếu buộc tất cả mọi tội danh, bà Brown sẽ phải đối mặt với án 36 đến 56 tháng tù.

Filipovic kể lại Johns nói sẽ không thu hồi lại yêu cầu giam giữ bà của chính quyền, nhưng cho biết thêm một khi bà ấy đến Los Angeles, “chúng tôi có thể thả bà khỏi tù để quản thúc tại nhà”.

Johns đã từ chối bình luận về câu chuyện này do việc kiện tụng còn đang treo và việc điều tra hình sự còn đang diễn ra.

Tại Tòa vào ngày hôm sau, tại một phiên điều trần ngắn để quyết định xem liệu bà có được tại ngoại hay không. Bà Brown run rẩy, ngồi trên xe lăn, nhưng trông diện mạo đã khá hơn đôi chút, Filipovic nói.

Các ủy viên công tố phán quyết rằng bà có nguy cơ bỏ trốn, gây nguy hiểm cho cộng đồng. Filipovic phản đối rằng bà đã đề nghị nộp lại hộ chiếu Thái Lan và hộ chiếu Mỹ của mình, và vừa ốm yếu vừa tàn tật do một tai nạn đã xảy ra từ rất lâu. Vậy làm sao bà ấy có thể bỏ trốn khi chỉ có một chân!”.

Filipovic đã yêu cầu hoãn xử một ngày trong khi Tòa xác nhận rằng có ai đó ở Los Angeles có thể tiếp nhận bà Brown. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, ông nói: “Tôi ước mình có thể hỏi bà ấy thêm một vài câu hỏi và tìm hiểu vấn đề sâu hơn một chút”.

Sau đó, người ta kết luận bà Brown đang bị viêm loét dạ dày. Tất cả mọi thứ trong hệ thống tiêu hóa của bà đã bị rò rỉ ra vùng bụng, gây nhiễm trùng cấp tính – đòi hỏi phải phẫu thuật ngay lập tức.

Theo một đơn kiện do gia đình bà Brown trình, những người bạn tù gần chỗ bà bị giam nói với một anh lính gác tù rằng bà ấy đã nôn ra cái gì đó “ngửi giống như phân”. Anh ta đã không trả lời, và những người bạn tù phải đưa bà Brown đến một vòi tắm.

Sau thời điểm đóng cửa buồng giam vào 10h tối, những người bạn tù khai đã nghe thấy tiếng bà Brown kêu cứu. Một số người bắt đầu cầu nguyện cho bà.

Một người lính gác nói với bà rằng phải đợi đến sáng mới được khám bệnh. Đơn kiện nêu rõ. Các quan chức nhà tù đã từ chối bình luận, viện cớ rằng việc kiện tụng còn đang tiếp diễn.

Bà Roxanna Brown chết lúc 2h30 sáng. Những khoảnh khắc cuối cùng của bà rất đau đớn, đơn kiện viết tiếp, “nằm trên sàn của phòng giam, nằm trên những thứ do chính bà thải ra”.

Hàng trăm người ủng hộ

Việc bắt giữ bà Brown và cái chết của bà đã mang đến sự kinh ngạc và phẫn nộ cho những người đã biết bà trong suốt cả cuộc đời – gia đình bà ở miền Trung Tây, các nhà báo thời Chiến tranh Việt Nam, các gia đình ở Đông Nam Á đã cho bà ở chung và sinh sống và các học giả châu Á, những người coi bà như một đồng nghiệp.

Tội danh hình sự duy nhất nhằm vào bà, đã bị bãi bỏ ngay sau khi bà chết, dường như mâu thuẫn với mọi thứ mà những người này biết về một người phụ nữ, người đã chọn một cuộc sống đơn giản và làm việc bền bỉ để bảo vệ những cổ vật châu Á.

“Không chỉ sự tàn nhẫn trong việc giam giữ bà Roxanna Brown, mà cả vết nhơ vấy lên thanh danh bà do những lời cáo buộc dẫn đến việc bắt giữ bà nữa”, đó là lời một là đơn kiến nghị gửi các nhà chức trách liên bang được hàng trăm người bạn và đồng nghiệp của bà ở châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Úc và Mỹ ký ngay sau cái chết của bà.

“Đối với một học giả chính trực như vậy, người luôn tìm kiếm không mệt mỏi nhằm nâng cao chuẩn mực đạo lý trong ngành buôn bán gốm sứ, việc thanh danh bà bị vấy bẩn như vậy là một điều trớ trêu đầy ác nghiệt”.

Giờ đây, khi những chi tiết mới về vai trò của Brown trong cái âm mưu bị cáo buộc được đưa ra ánh sáng, những người buộc tội bà và những người khâm phục bà buộc phải nhặt nhạnh những mảnh vỡ cuộc đời bà để phân tích, chọn lọc.

Bất cứ điều gì sẽ xảy ra sau vụ kiện này hay những thủ tục tố tụng hình sự, thì vẫn sẽ rất khó để ghép chúng lại với nhau một cách trơn tru, để tạo thành một chiếc vại sứ nguyên gốc ban đầu.

Tác giả Jason Felch

Thi Thi dịch từ Los Angeles Times

Nguồn: Vietimes


*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần II)

Roxanna Brown tại một hố khảo cổ Đông Nam Á. Vào giữa thập niên 1990, bà chuyển đến Los Angeles để khôi phục sự nghiệp của mình và đến năm 2004 bà đã có được bằng Tiến sĩ tại Đại học California - Nguồn: Latimes.com

Roxanna Brown tại một hố khảo cổ Đông Nam Á. Vào giữa thập niên 1990, bà chuyển đến Los Angeles để khôi phục sự nghiệp của mình và đến năm 2004 bà đã có được bằng Tiến sĩ tại Đại học California - Nguồn: Latimes.com

Roxanna Brown không bao giờ nhìn thấy chiếc xe đã đâm vào bà.

Nhà chuyên gia 36 tuổi về nghệ thuật Đông Nam Á đang dắt chiếc xe gắn máy của mình ra khỏi một bãi gửi xe ở Bangkok thì bị chiếc xe này húc phải lúc đường đang đông. Bà bị va đập tơi bời dưới những chiếc bánh của một chiếc xe tải chở gạo nặng vài tấn. Sau đó gã lái xe tải dồn số, rõ ràng là có ý định chèn tiếp lên người bà.

Hắn ta đang cố gắng tránh một vụ kiện bằng cách kết liễu luôn đời bà, theo lời bà kể cho những người bạn sau này, nhưng những người qua đường đã lôi được bà ra khỏi gầm xe.

Vụ tai nạn năm 1982 là ngã rẽ cuối cùng trong một cuộc đời nhiều cung bậc lốm đốm những mảng màu khổ ải. Brown đã từ một cô thôn nữ Illinois biến thành một phóng viên mặt trận trong Chiến tranh Việt Nam, rồi thành một chuyên gia hàng đầu về gốm sứ cổ. Nhưng sự nghiệp đầy hứa hẹn của bà đã bị vùi dập bởi cơn nghiện thuốc phiện. Trong thời gian phục hồi trong một ngôi chùa, bà đã yêu một vị sư người Thái trẻ tuổi và về sống với ông tại ngôi làng nghèo ở ngoại ô Bangkok, cùng với cậu con trai lên một tuổi của họ.

Giờ đây bà đang nằm trên đường với đôi chân, xương chậu và các cơ quan nội tạng nát nhừ, thân thể đen xém do bị mài lê trên đường nhựa.

Không có bảo hiểm hay tiền tiết kiệm, bà được đưa tới một bệnh viện mà điều kiện vệ sinh vô cùng tồi tệ. Khi bà bị hôn mê và mất khả năng nhận thức, thì mẹ bà, đã bay từ Illinois sang, hàng ngày đã phải chạy đến một cửa hàng dược phẩm mua thuốc. Bệnh viện không có thuốc điều trị cho bà.

Chân phải của bà Brown bị cắt bỏ một phần. Sau đó các vết nhiễm trùng buộc các bác sĩ phải cắt bỏ thêm, rồi thêm nữa cho đến khi những gì còn lại chỉ là phần đùi.

Do không thể nói, bà đã viết một mẩu giấy cho mẹ mình: “Con đã sẵn sàng để chết rồi”.

Phải mất 6 tháng thì Brown mới đủ khỏe để bay về Illinois, và mất ba năm thì bà mới phục hồi được sức khỏe. Theo những người bạn của bà thì, trong quãng thời gian còn lại của cuộc sống, bà liên tục phải chịu những cơn đau người khủng khiếp, đau nửa đầu và ong tai.

Theo lời kể của người bạn lâu năm và là người đồng hương với bà là Patricia Cheeseman, người đã gặp bà Brown ở Lào vào thập niên 1970, “Brown thoát khỏi các bánh xe trong tình trạng bẹp dí theo đúng nghĩa đen. Tình trạng bẹp dí người của bà còn tiếp tục kéo dài trong nhiều năm, và bị phủ đầy các vết sẹo”.

Bà trở về Thái Lan với con trai, để rồi chứng kiến người chồng rời bỏ bà.

Anh họ của bà Brown là Karen Lindner, người đã đến thăm bà vài lần, nói rằng: “Ông ấy không thể chịu đựng được khi nhìn thấy bà chỉ có một chân. Ở đó thì đây là điều vô cùng hổ thẹn”.

Bà chuyển đến sống ở Chiang Mai, thành phố lớn nhất vùng đông bắc Thái Lan. Là một bà mẹ đơn thân tàn tật, cuộc sống hàng ngày đối với bà là cả một sự vật lộn.

Những người bạn kể rằng, là người tiên phong trong lĩnh vực của mình, song bà chỉ kiếm được chưa đầy 200 USD mỗi tháng nhờ việc giảng dạy về gốm sứ cổ tại Đại học Chiang Mai. Vào các buổi tối, bà làm việc tại một quán bar nhỏ mà bà đã mua lại để có thêm thu nhập. Quán bar này có tên là Hard Rock Cafe – mặc dù nó không phải là một phần của thương hiệu nổi tiếng này, như người ta đã nói với bà khi bà mua nó.

Bà có một cái chân giả không được vừa cho lắm và, theo những người bạn, bà suốt ngày phải ra vào bệnh viện để xử lý các vết nhiễm trùng.

Phần lớn thập kỷ tiếp sau đó của bà Brown là sự đau đớn, tuyệt vọng và mất phương hướng.

Khôi phục một sự nghiệp

Vào giữa thập niên 1990, khi mối quan tâm đến nghệ thuật Á châu bùng nổ mạnh mẽ ở Mỹ, Brown đã chuyển đến Los Angeles, quyết tâm khôi phục lại sự nghiệp gốm sứ của mình.

Bà đã có được một chiếc chân giả vừa vặn hơn, một công việc để thanh toán các hóa đơn sinh hoạt và bên cạnh đó bà còn làm công việc thẩm định nghệ thuật.

Những người bạn nói rằng bà Brown đã bắt đầu lo lắng đến tiền bạc – về khả năng đóng học phí đại học cho cậu con trai tuổi teen của mình, người vẫn ở lại Bangkok với những người họ hàng, và về việc ngày một già đi mà trong tay vẫn chưa có tài sản hay khoản tiết kiệm gì.

Với sự cổ vũ của người bạn lâu năm của bà là Robert Brown, một học giả về Đông Nam Á tại Đại học California, Los Angeles (UCLA) – và không có họ hàng gì với bà – Roxanna ghi tên mình vào chương trình nghiên cứu sinh làm tiến sĩ ở tuổi 53.

Trọng tâm chủ đề của bà là Khoảng trống thời Minh (Ming Gap), một giai đoạn 300 năm ít được nghiên cứu, khi Trung Quốc phong tỏa việc xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ của mình, dẫn tới một sự bùng phát trong hoạt động sản xuất ở khắp Đông Nam Á. Theo những đồng nghiệp, phân tích của bà Brown về những đồ gốm sứ được khôi phục lại từ những mảnh vụn vớt lên từ tàu đắm đã cách mạng hóa sự hiểu biết về các hình mẫu buôn bán trong khu vực.

Barbara Gaerlan, Trợ lý giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á thuộc UCLA, nói rằng: “Tất cả chúng tôi đều khâm phục bà ấy, một bà già quay trở lại nghiên cứu sau đại học bằng câu chuyện lịch sử đáng kinh ngạc này”.

Trong thời gian tại UCLA, bà được làm việc trong một cộng đồng những người nhiệt tình nghiên cứu Đông Nam Á có quan điểm giống nhau. Thỉnh thoảng họ lại tụ tập làm những nghi lễ Phật giáo tại nhà của Jonathan và Cari Markell, là những người sở hữu Phòng trưng bày Con đường tơ lụa, quầy trang trí nhà ở cao cấp trên Đại lộ La Brea.

Trong số khách đến đây có những quan chức bảo tàng địa phương, trong đó có Robert Brown, người đã trở thành người phụ trách nghệ thuật Đông Nam Á trong Viện bảo tàng nghệ thuật Los Angeles vào năm 2000, và David Kamansky, giám đốc danh dự của Viện bảo tàng châu Á – Thái Bình Dương tại Pasadena.

Một người say mê nghiên cứu nghệ thuật bản địa Thái Lan khác là Robert Olson, một công nhân ngành thép đã nghỉ hưu, người đã và đang nhập khẩu các mặt hàng gốm sứ cổ, đồ trang sức bằng đồng và các công cụ bằng đá kể từ thập niên 1980. Olson đã đưa về nước Mỹ các côngtennơ có chứa đầy những đồ cổ và ông bán lại chúng cho một của hàng ở Anaheim. Ông chuyên về những đồ vật đến từ Ban Chiang, một địa điểm di sản thế giới ở miền đông bắc Thái Lan.

Bà Roxanna Brown đã nghe về Olson ngay sau khi bà bắt đầu công việc học tập của mình tại UCLA. Olson nói rằng Robert Brown có lần đã đưa các nghiên cứu sinh đến nghiên cứu các đồ vật tại của hàng của nhà nhập khẩu này. Kamansky nói ông đã đến thăm cửa hàng này cùng với Robert Brown trong thời gian đang cân nhắc về việc tiến hành một cuộc triển lãm chung về chất liệu Thái của với Olson.

Bà Brown cũng đã đến thăm của hàng của Olson vài lần. Bà đã thấy được những đồ vật rất đáng lưu ý – một vài chiếc rổ bằng đồng, chẳng hạn, khi mà được biết chỉ có một số rất ít các rổ thuộc loại đó còn tồn tại trên thế giới, theo những lời phát biểu mà sau đó được quy cho là của bà trong các bản khai tuyên thệ liên bang.

Olson khẳng định với bà rằng những món đồ cổ này đã được nhập khẩu hợp pháp. Nhưng ông ấy cũng cười như nắc nẻ về việc đưa chúng qua mặt các quan chức hải quan của Thái Lan và Mỹ, sau này bà kể lại cho các nhà chức trách.

Bà Brown cũng tin rằng chúng đã được buôn lậu ra khỏi Thái Lan, theo những bản khai mà sau này các nhà điều tra liên bang trình ra.

Thỉnh thoảng, bằng chứng về việc cướp bóc trắng trợn cũng rất rõ ràng. Bà kể lại với các nhà chức trách rằng một vài trong số các vòng tay đồng cổ của Olson vẫn còn dính liền với xương tay người.

Roxanna Brown là một chuyên gia hàng đầu về gốm sứ Đông Nam Á - Nguồn thestar.com.my

Roxanna Brown là một chuyên gia hàng đầu về gốm sứ Đông Nam Á - Nguồn thestar.com.my

Bước vào điều tra

Năm 2002, một đặc vụ liên bang đã tiếp cận bà Roxanna Brown. Ông ta đang điều tra về cái có vẻ như là những cổ vật Đông Nam Á bị cướp bóc và muốn có lời tư vấn chuyên môn của bà..

Bà nói với ông ta rằng những đồ vật mà ông ấy muốn hỏi có thể đã được Olson mang vào nước Mỹ; Olson là người mà bà miêu tả là nhà nhập khẩu thương mại lớn nhất và có thể là duy nhất thuộc loại này ở trong nước, theo một biên bản lục soát được đệ trình vào tháng Bảy. Bà “tin chắc rằng cần phải có những nỗ lực nhằm ngăn chặn tình trạng cướp phá cổ vật” và “cảm thấy Olson và những người khác cần phải bị quy trách nhiệm”.

Theo các tài liệu liên bang, trong hai năm, từ 2002 đến 2004, bà đã đóng vai trò là một chuyên gia tư vấn cho chính phủ. Tuy nhiên, khi được yêu cầu làm chứng chống lại Olson, bà đã do dự.

Bà khai đã có lần làm môi giới cho một vụ làm ăn giữa Olson và một tay buôn cổ vật ở Thái Lan liên quan đến những quả chuông đồng mà tay buôn này đã buôn lậu ra khỏi Campuchia. Bà nói với các nhà chức trách rằng mình làm vậy chỉ là để ngăn chặn tay buôn lậu đã vì tiền mà bán những cổ vật của Thái Lan “chất lượng cao”.

Năm 2004, bà Brown đã nhận được bằng tiến sĩ và trở về Thái Lan, háo hức tìm và nắm bắt những cơ hội mới.

Sau khi nhà sáng lập giàu có của Đại học Bangkok nhờ bà thẩm định bộ sưu tầm gốm sứ của ông, Brown đã thuyết phục ông thành lập một viện bảo tàng và bổ nhiệm bà làm giám đốc. Bà cũng bắt đầu tư vấn về một dự án của Campuchia gần khu di tích Angkor Wat. Dự án này có nội dung huấn luyện những người địa phương cách làm đồ gốm để bán thay vì cướp phá các kho tàng cổ vật.

Nhiếp ảnh gia David Hume Kennerly, một người bạn cũ, nói rằng: “Bà rất quan tâm đến việc bảo tồn những cổ vật tại địa điểm nguyên gốc của chúng. Bà không muốn những thứ này bị chở đi vòng quanh thế giới”.

Khi bà Brown theo đuổi niềm đam mê của bà ở Thái Lan, hoạt động điều tra buôn lậu ở Mỹ đã phát triển rất mạnh.

Hoạt động bí mật

Trong những năm sau khi gặp gỡ với bà, nhân viên điều tra liên bang này đã hoạt động bí mật với cái lốt “Tom Hoyt”, một nhà doanh nghiệp giàu có trong lĩnh vực công nghệ quan tâm đến nghệ thuật châu Á – và trốn thuế.

Trên thực tế, Hoyt đã làm việc cho Cục công viên quốc gia, nơi ông ta đã dành 10 năm để hoạt động bí mật tại các cuộc bán đấu giá, các cuộc gặp gỡ đổi chác và các phòng trưng bày nghệ thuật để tìm kiếm những đồ tạo tác bị buôn lậu. Theo những bản tuyên thệ giấy phép lục soát được đệ trình vào tháng Giêng, trong khi điều tra hoạt động buôn bán các đồ vật châu Mỹ bản địa và thời kỳ tiền Colombia, ông tình cờ phát hiện ra cái có vẻ như là đường dây chính của các cổ vật Đông Nam Á bị cướp bóc đi vào khu vực Los Angeles.

Các tài liệu của tòa án đã miêu tả sự thâm nhập của ông ta vào cái bị cáo buộc là ổ trốn thuế và buôn lậu như sau:

Hoyt chiếm được lòng tin của Olson và bắt đầu mua của Olson những cổ vật Thái Lan. Nhà nhập khẩu này miêu tả chi tiết công việc kinh doanh của mình trong khi nhân viên điều tra bí mật ghi âm lại.

Cuối cùng, Olson giới thiệu Hoyt với vợ chồng Markell, những người lựa chọn những đồ vật từ cửa hàng của Olson và giúp Hoyt hiến tặng chúng cho các viện bảo tàng địa phương. Khi có mặt Hoyt, Jonathan Markell đã tạo ra những cuộc thẩm định thổi phồng giá trị của những đồ vật nhằm giúp người hiến tặng được hưởng một khoản miễn thuế tương ứng.

Để những cuộc thẩm định này hợp thức, ông ta sử dụng chữ ký điện tử của một chuyên gia rất được mọi người xem trọng là Roxanna Brown.

Brown được mô tả trong bản khai tháng Giêng như là nạn nhân của âm mưu này, bị những người bạn của bà là vợ chồng Markell lợi dụng; vợ chồng Markell đã sử dụng chữ ký của bà mà bà không hề hay biết.

Theo cáo buộc của bản khai, trong trường hợp này và các trường hợp khác, Hoyt đã hiến tặng những đồ vật bị thổi giá quá mức cho bốn viện bảo tàng ở miền Nam California và các nhân viên ở đây đã chấp nhận mặc dù họ có lý do để nghi ngờ về xuất xứ bất hợp pháp của chúng.

Vào tháng Giêng 2008, hàng trăm nhân viên điều tra liên bang đã tiến hành những cuộc truy quét có phối hợp đối với LACMA, Bảo tàng châu Á – Thái Bình Dương, Bảo tàng Bowers ở Santa Ana và Bảo tàng Mingei ở San Diego, cộng với chín địa điểm khác ở California và Illinois.

Các đặc vụ này đã thu giữ được hàng nghìn sổ sách và cổ vật trong diện nghi ngờ. Lúc đó không có ai bị bắt giữ cả. Olson phủ nhận bất kỳ hành động sai trái nào và vợ chồng Markell thông qua luật sư của mình đã từ chối bình luận, lấy lý do là cuộc điều tra đang diễn ra.

Trong những sổ sách thu giữ được của Olson, người bị cáo buộc là buôn lậu, có một tài liệu mang tên “Roxanna”.

Nội dung của tài liệu này cho thấy một mặt hoàn toàn khác của Roxanna Brown.

Xem tiếp: Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần cuối)

Tác giả Jason Felch

Thi Thi dịch từ Los Angeles Times

Nguồn: Vietimes


*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần I)

Roxanna Brow, lúc 27 tuổi, trong một chuyến thăm đến Port Tobacco, Maryland năm 1973 -  Nguồn: Latimes,com

Roxanna Brow, lúc 27 tuổi, trong một chuyến thăm đến Port Tobacco, Maryland năm 1973 - Nguồn: Latimes,com

Niềm đam mê nghệ thuật, một sự nghiệp nguy hiểm

“Tôi đang bị bắt”, Roxanna Brown, một chuyên gia có tiếng trong lĩnh vực gốm sứ Đông Nam Á, đang thì thầm những lời như vậy với chiếc điện thoại trong khách sạn.

Dưới cầu thang, nơi hành lang, người mời bà đến là giáo sư Bill Lavely của Đại học Washington không biết phải làm gì. Ông đã mời Brown, giám đốc bảo tàng 62 tuổi, bay từ Bangkok tới để thực hiện một bài giảng tại một hội nghị về gốm sứ ở Seattle.

Lavely đi lại ở hành lang chừng 10 phút trước khi đi lên phòng của Brown và ngập ngừng gõ cửa. Một vài phút sau, bà xuất hiện, bên cạnh là bốn đặc vụ liên bang. Bà bước đi vất vả với cây gậy chống, bước đi khập khiễng do chân phải là chân giả. Trông bà thật phờ phạc và mong manh, Lavely nghĩ vậy. Rõ ràng là bà đang khóc.

“Ước gì tôi có thể giải thích”, Brown nói lắp bắp khi hướng tới thang máy vào chiều tháng Năm hôm đó. “Mọi chuyện liên quan đến thứ đó ở Los Angeles. Tôi đã mắc một sai lầm… Tôi đã fax đi chữ ký của mình”.

Nhớ lại tình tiết câu chuyện hai tháng sau đó, Lavely nói rằng ông không biết bà nói về điều gì. Khi Brown ấn mở cửa thang máy, ông đã hỏi xem liệu mình có thể giúp được điều gì không.

“Tôi cho là không”, Brown trả lời. “À mà có thể có…”

Trước khi bà có thể nói hết câu, cửa thang máy đã khép lại.

Đó là lần cuối cùng mà một người đồng sự của Brown nhìn thấy bà còn sống.

Giới nghệ thuật choáng váng

Việc bắt giữ Roxanna Brown, và cái chết của bà sau đó trong tù, đã gây sốc cho giới nghệ thuật cổ, nơi mà mà đã tiến tới được nhìn nhận như một trong số những chuyên gia uy tín bậc nhất về gốm sứ Thái Lan.

Đối với những người biết bà, thật chẳng có nghĩa lý gì khi bà bị buộc tội, thậm chí là bỏ tù, trong một vụ điều tra buôn lậu quốc tế dẫn đến những cuộc truy quét đối với các viện bảo tàng bị tình nghi ở phía Nam California và nhiều bảo tàng khác. Cuộc đời bà luôn tận tụy với việc nghiên cứu và bảo vệ những kho tàng văn hóa Đông Nam Á lâu đời.

Thậm chí khi còn là một cô gái trẻ lớn lên ở một trang trại nuôi gà ở Illinois, bà đã có lần nói với người anh trai Fred của mình rằng: “Em cảm thấy em chắc hẳn đã sống ở châu Á trong một cuộc đời khác”.

Tại Đại học Columbia, bà học chuyên ngành báo chí nhưng lại cảm thấy bị mê hoặc trước một lớp học về nghệ thuật châu Á. Khi đó hầu như không ai biết tí gì về nghệ thuật gốm sứ Đông Nam Á. Brown nghĩ rằng tấm bằng của bà có thể giúp bà đi ra nước ngoài để trực tiếp nhìn thấy các lò gốm.

Sau khi tốt nghiệp năm 1968, Brown đã ngồi xe môtô gắn máy phóng một mạch từ New York đến Chicago, sau đó vẫy xin đi nhờ một băng môtô đến California. Tại đó bà lên một chiếc máy bay đi Australia, rồi đến Đông Nam Á, quyết tâm theo đuổi trực giác thuở thơ ấu của mình.

Đến tháng Muời hai, cô gái 22 tuổi Brown làm nghề viết văn tự do ở Việt Nam, là một trong những phóng viên cứng trẻ nhất viết về chiến tranh. Đó là chuyến đi đầu tiên của bà tới châu Á, nhưng bà cảm thấy nơi đó như là ngôi nhà thân thuộc của mình vậy.

Hầu hết các nhà báo khác đều sống trong những căn hộ lớn ở Sài Gòn. Brown chuyển đến sống với một gia đình người Việt Nam trong một khu dân cư xoàng xĩnh. Họ dạy bà tiếng Việt và phong tục tập quán địa phương, và bà đóng góp tiền ăn ở khi có thể. Quan hệ đó trở thành một tình bạn lâu dài.

Hấp dẫn và cực kỳ sáng dạ, Brown đã trở thành thành viên của một nhóm nhà báo lúc bấy giờ nổi tiếng với mảng viết về chiến tranh. Theo lời kể của anh trai bà, bà đã có quan hệ hẹn hò trong thời gian ngắn với nhiếp ảnh gia từng giành Giải thưởng Pulitzer là David Hume Kennerly, là bạn với nghệ sỹ kiêm phóng viên báo ảnh Sean Flynn (con trai của Errol) và hay la cà trò chuyện với các phóng viên chiến trường Peter Arnett và David Halberstam.

“Tôi đã tìm lại được niềm đam mê môtô gắn máy của mình sau khi mượn được của bà ấy chiếc xe gắn máy 100 phân khối”, theo lời Ted Koppel trong một cuộc phỏng vấn gần đây.

Vào tháng Ba 1969, khi Mỹ bắt đầu thực hiện một chiến dịch oanh kích bí mật ở Campuchia, Brown là một phần của nhóm những nhà báo tự do trẻ tuổi lai vãng quanh Khách sạn Le Royal ở Phnôm Pênh vào các tối, tìm kiếm việc làm, theo lời kể lại của Koppel, khi đó là phóng viên mặt trận 29 tuổi của hãng tin ABC News.

Nhưng ngay từ đầu, đưa tin về chiến tranh chỉ là một cách để Brown nuôi dưỡng niềm đam mê thực thụ của bà: lượm lặt các mảnh gốm vỡ ở các lò gốm cổ nằm rải rác khắp vùng nông thôn Việt Nam. Bà thường dành một vài ngày để viết một bản tin, sáu đó nhảy lên chiếc môtô gắn máy của mình và phóng đi khắp vùng bị chiến tranh tàn phá để tìm những dấu vết còn lại của nghề gốm sứ cổ.

“Bà ấy có lòng quyết tâm mạnh hơn tôi rất nhiều”, Kennerly nói.

Khi quân đội Bắc Việt Nam tràn vào khu phi quân sự trong một cuộc tấn công vào tháng Tư 1972, các xe tải quân sự của quân đội Nam Việt Nam khi tháo chạy đã làm tắc nghẽn tuyến đường cao tốc chính. Đi len lỏi về hướng bắc qua những mớ hỗn đợn trên chiếc xe môtô gắn máy của mình là một phụ nữ Mỹ xinh đẹp, 26 tuổi, trong bộ đồ dã chiến và mũ mềm, theo lời kể lại của cựu phóng viên mặt trận của tạp chí Time là David DeVoss.

DeVoss đã vẫy cờ ra hiệu cho Brown. Liệu bà có biết là mình đang lao vào chốn nguy hiểm?

“Tôi đang đi tới khu Thành Nội”, Brown nói bằng giọng đầy quyết tâm khi hướng tới cung điện hoàng gia cổ ở Huế. “Tôi cần lượm lặt một số sách sử và đồ tạo tác”.

Xét đến những yếu tố nguy hiểm của chiến tranh, DeVoss vô cùng sửng sốt trước vẻ tự tin của Brown. Ông kể lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây: “Bà ấy rất bình tĩnh và có một mục đích rõ ràng, và chung quanh bà mọi thứ dường như đều tách bạch rõ ràng”.

Sau đó, Brown sống ở Singapore. Bà đã bắt tay viết luận án thạc sĩ tại Đại học Singapore, dưới sự hướng dẫn của William Willets, một chuyên gia người Anh về nghệ thuật châu Á. Một năm sau đó, bà đến Luân Đôn, học tiếng Việt và hoàn thành tấm bằng thạc sĩ tại Khoa nghiên cứu Đông Phương và châu Phi của Đại học Luân Đôn.

Ảnh Roxanna thời trẻ - Nguồn Latimes

Ảnh Roxanna thời trẻ - Nguồn Latimes

Năm 1977, Brown cho xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình mang tên “Đồ gốm sứ Đông Nam Á: Niên đại và cách nhận dạng”. Nó đã trở thành kinh thánh của một lĩnh vực vừa mới phát triển. Kỹ năng chuyên môn của bà đã khiến bà trở thành tài sản vô giá trong con mắt các nhà sưu tầm tư nhân, những người bắt đầu bay cùng bà vòng quanh thế giới để thẩm định những đồ gốm sứ của họ, theo lời kể của Patricia Cheeseman, một người bạn lâu năm và người đồng hương với bà, người đã gặp Brown ở Lào vào năm 1973.

Brown đã có một thời gian sống ở Hồng Kông, nơi bà làm phó tổng biên tập cho tạp chí danh tiếng Arts in Asia (Nghệ thuật ở châu Á) và đã tổ chức một hội chợ quốc tế về đồ cổ châu Á, điều cho phép bà có điều kiện nghiên cứu hàng ngàn loại gốm sứ hiếm.

“Nghiện ngập”

Theo gia đình bà, còn có một lý do nữa để Brown rời khỏi Hồng Kông vào năm 1979. Giống như nhiều người Mỹ trẻ tuổi ở Đông Nam Á vào thời kỳ đó, bà đã thử dùng ma túy. Nhưng Brown đã “ngập” vào đó, theo người anh họ của bà là Karen Lindner.

Bà đã nghiện. Ngay khi công việc kinh doanh đồ cổ đầy hứa hẹn của bà chuẩn bị phát đạt, thì liều lượng ma túy đã vượt ra ngoài khả năng kiểm soát. Những người bạn của bà đã báo cho các nhà chức trách Hồng Kông; họ giam giữ bà trong một thời gian ngắn và sau đó ra lệnh trục xuất bà khỏi nơi này, theo lời anh trai Fred của bà.

Brown viết cho mẹ bà vào tháng Bảy 1979 rằng: “Con không thể giải thích thậm chí cho chính bản thân mình về việc con đã gặp rắc rối với nó như thế nào. Con nghĩ rằng mình chưa bao giờ thực sự có niềm tin vào bản thân – con luôn cảm thấy giống như mình đã lừa gạt mọi người đi đến chỗ nghĩ rằng con lanh lợi hay thú vị hay khỏe mạnh – và con luôn sợ bị mọi người tìm hiểu”.

Với hy vọng chuyển hướng cuộc đời mình, Brown đã đến sống vài tháng ở một ngôi đền Phật Giáo ở Thái Lan.

Có một nhà sư Thái trẻ tuổi, ít tuổi hơn bà rất nhiều, đã quan tâm săn sóc bà trong thời gian bà lui vào ẩn dật và dần phục hồi. Hai người đem lòng yêu nhau. Bà cảm thấy ông ấy đã cứu sống cuộc đời mình, theo lời kể của anh họ của bà Brown là Linder. Ông ấy khâm phục công việc bảo tồn văn hóa Thái của bà.

Khi “Joe” Ngerntongdee hoàn thành thời gian phụng sự trong đền của mình, hai người đã chuyển đến ở tại gia đình của ông ấy tại trong một khu ổ chuột ở ngoại ô Băng Cốc, dựng một ngôi nhà sàn bằng gỗ và không có điện, theo lời Linder, người đã đến thăm ngôi nhà này vài lần.

Họ kết hôn vào năm 1980 theo nghi lễ truyền thống Thái Lan. Gia đình của Joe đến để xin mua lại quyền tự do của Brown. Liner, người họ hàng duy nhất của Brown có mặt khi đó, đã đồng ý trao bà cho nhà trai để đổi lấy một đôi dép tông. Keyes Beech, trưởng phòng đại diện tại Băng Cốc của tờ Los Angeles Times, là phóng viên mặt trận đã nhận được Giải thưởng Pulitzer, đứng ra thay mặt cho cha của Brown.

Các vị sư trong bộ áo cà sa đã tụng kinh nhiều giờ đồng hồ để đổi lấy thuốc lá, sau đó quấn vào đầu và tay của Joe và Roxanna bằng dải ruy băng nghi lễ. Các vị khách phương Tây phải méo mặt ngồi bắt chân chữ ngũ trên sàn gỗ, cố gắng làm sao không hướng gót chân vào mặt các vị khách khác, vì theo văn hóa Thái thì điều này bị coi là cử chỉ xúc phạm.

Gia đình Joe nhanh chóng coi Roxanna như con cháu trong nhà mình. Mẹ Joe đã dạy Roxanna nấu các món đặc sản Thái, và Roxanna đã học nói cả tiếng Thái chính thống lẫn tiếng Thái đường phố một cách khá thành thục.

Hai sau sau, Brown sinh được một con trai. Bà và Joe đặt tên cho con trai là Taweesin “Jaime” Ngerntongdee. Hầu hết bạn bè bà là người Thái, và mặc dù có tiếng là một học giả, bà đã sống đơn giản bằng số tiền kiếm được từ việc dạy tiếng Anh và biên tập cho một tạp chí địa phương.

Theo Cheeseman thì lối sống của bà đã gây sốc cho nhiều người đồng hương của bà đang sống tại Băng Cốc. Nhưng Brown dường như rất hạnh phúc, và an phận.

Nhưng rồi vụ tai nạn đã làm thay đổi tất cả.

Xem tiếp: Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần II)

Tác giả Jason Felch

Thi Thi dịch từ Los Angeles Times

Nguồn: Viettimes

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »