Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 21st, 2009

Giám định gốm sứ qua bọt khí

Qua rất nhiều các tư liệu, nhất là quan sát rất nhiều các tiêu bản gốm sứ cổ và mới, chúng tôi đã phát hiện ra sự khác nhau giữa các bọt khí của gốm sứ cổ và mới, hay giữa các khoảng thời gian chế tác đồ gốm sứ cổ cũng có sự sai khác giữa các niên đại… Tuy nhiên, cũng không thể đem việc quan sát bọt khí làm tiêu chuẩn duy nhất cho công tác giám định gốm sứ. Tốt nhất là đem kết hợp các phương pháp khác của nó như quan sát độ phong hóa, vết rạn của nước men, mảnh vỡ, phân tích một cách khách quan, toàn diện độ cũ mới của đồ sứ…

I. Nguyên nhân xuất hiện của Bọt khí:

Bọt khí được sinh ra bởi ba nguyên nhân:

1. Do nguyên liệu trong men bán thành phẩm trong khi nung như các chất Cacbon, Axit, Oxit cho đến Oxit sắt,… đều có thể chuyển thành thể khí.

2. Khi cốt thai với chất men đều dùng nước làm mềm (dung môi), khi qua nhiệt thì phần nước còn lại có trong dung môi của men còn lưu lại. Trong quá trình đốt, một số phần nước này biến thành bọt khí nổi lên mặt men, nhưng men khi nóng chảy giữ lại bên dưới (trong men) nên hình thành nên các bọt khí.

3. Sự lắng đọng bụi than của nhiên liệu, dưới nhiệt độ cao đã hình thành các ion hóa hoặc cacbon hóa cũng là nguyên nhân hình thành nên bọt khí.

Căn cứ vào các nguyên nhân sinh ra bọt khí, thông qua các thực nghiệm, trong bọt khí chủ yếu là CO2, CO, H, hơi nước và một số các tạp chất.

II. Bọt khí – Những thông điệp giá trị:

Đồ gốm sứ trong khi nung sẽ sinh ra các bọt khí và được giữ lại trong men khi chất men được nung chảy. Lúc mới đầu, các bọt khí nhỏ được sinh ra rất nhiều, từ chỗ tiếp giáp giữa men và cốt hoặc từ trong men dịch chuyển ra mặt men. Nhiệt độ càng cao, độ liên kết của men ngày càng nhỏ, một số bọt khí nhỏ dần dính vào nhau tạo thành bọt khí có thể tích tương đối to. Khi thể tích của các bọt khí gộp lại đủ to, các bọt khí mới đủ sức để phá ra ngoài lớp mặt men để bay hơi. Vì vậy trong quá trình nung, các bọt khí to ngày càng giảm thiểu. Đây là một quá trình diễn ra liên tục. Khi nhiệt trong lò hạ xuống, bề mặt men kết dính lại, các hoạt động của các bọt khí cũng dừng lại, nếu như lúc đó các vết nổ của các bọt khí vừa mới phá ra chưa kịp liền lại, hình thành nên các “mắt”. Nhưng cũng có một số bọt khí khá lớn chưa kịp thoát ra, do nhiệt độ đã giảm xuống, thể tích bọt liền thu nhỏ lại, nên trên mặt đồ sứ xuất hiện các chỗ lõm xuống. Đây là hiện tượng thường thấy trên các đồ sứ thời Nguyên. Nó đã ghi chép lại rất nhiều tình hình thay đổi của nhiều thời gian nung. Vậy các nhân tố này của bọt khí có ảnh hưởng như thế nào trên đồ sứ? Chủ yếu có mấy điểm sau:

1. Độ kết dính của nước men trong lúc nung: Nếu độ kết dính càng lớn thì thể tích bọt khí càng lớn; độ kết dính càng nhỏ thì thường cả bọt khí to và nhỏ đều tồn tại, nhưng do lực nổi của các bọt khí to luôn luôn vượt qua dịch men tương đối nhỏ đối với sức hấp dẫn của nó để vượt ra. Bởi thế, độ phân chia của các bọt khí to nhất với bọt khí nhỏ nhất trong lớp men sẽ không lớn, mới nhìn đều là các bọt nhỏ mà mật độ đều.

Cốt và men trong quá trình nung có thể giải phóng bao nhiêu khí thì cũng ảnh hưởng bấy nhiêu tới bọt khí: Khi vật bị Oxi hóa, Cacbon hóa ở nhiệt độ cao đều giải phóng khí. Hàm lượng khí của số vật chất này cao bao nhiêu thì ở bọt khí cũng là bấy nhiêu. Ví như bọt khí trong đồ sứ trắng Định diêu thường ít hơn trong các đồ sứ khác, trừ lớp men quá mỏng trên đồ sứ Định diêu ra, đều là do nguyên nhân hàm lượng chất có thể giải phóng khí trong nước men. Điểm này có điều chú ý là, độ khác nhau trong các đồ sứ khác nhau tương đối lớn, nhưng đối với các đồ sứ có cùng chủng loại thì đồ sứ xanh trắng thời nhà Nguyên với đồ sứ xanh trắng giả cổ hiện đại thì lại không khác nhau lắm bởi thành phần của các đồ sứ cùng chủng loại rất giống nhau, đó cũng là điều mà việc giám định độ mới cũ của đồ sứ phải rất cẩn thận.

3. Độ dày của lớp men cũng ảnh hưởng đến độ lớn nhỏ của bọt khí: Nguyên tắc này cũng giống như bơi trong nước có độ sâu khác nhau vậy. Nước càng sâu thì độ nổi của con người với đáy nước càng lớn. Trong những đồ gốm sứ có lớp men mỏng, các bọt khí to không có cơ sở được sinh ra, bởi các bọt này vừa mới sinh ra đã nổi ngay ra bên ngoài mặt men, vả lại cũng di chuyển rất nhanh. Đây cũng là nguyên nhân chúng ta rất khó phát hiện các bọt khí to trên một số đồ sứ có lớp men mỏng. Như vậy các bọt khí nhỏ chỉ có thể tìm thấy trên các đồ sứ trắng hoặc sứ xanh trắng nhỏ. Nên nhớ, bất kể đồ sứ cổ thật hay đồ phỏng cổ, nếu chúng có nước men mỏng thì không thể có bọt khí to, chỉ có bọt nhỏ. Việc giám định chỉ có thể căn cứ vào độ phân bố đều hay không của các bọt khí và số lượng của nó.

III. Những nguyên nhân quyết định độ chảy của lớp men mặt?

Chủ yếu có hai:

1. Các thành phần của lớp men, như lớp men có hàm lượng Oxi hóa, Oxit Cacbon hóa cao, thông thường dưới nhiệt độ cao thì lớp men có độ kết dính tương đối nhỏ, người ta gọi đó là vôi hóa men. Nếu như hàm lượng Kali và Canxi trong lớp men kết hợp, độ chảy của men được gia tăng, quá trình này được người ta gọi là làm vôi hóa – men kiềm. Trong gốm xanh cổ đại, đại khái là bắt đầu từ đời Tống, vôi hóa – men kiềm thường được dùng rộng rãi trong đồ gốm sứ.

2. Nhiệt lò. Rất rõ ràng, đồ gốm sứ trong quá trình nung đốt, nhiệt càng cao, độ dính của men càng nhỏ, tính chảy càng lớn; nhiệt lò càng nhỏ, độ dính càng lớn, tính chảy càng giảm. Nhiệt độ cao hay thấp của lò lại quan hệ rất chặt với nhiên liệu được sử dụng và kết cấu của lò. Thời cổ, lò thường là đất và lấy củi thường để nung đốt gốm. Đến thời Thanh, đồ gốm sứ phần lớn được sản xuất có tính công nghiệp, nhưng cũng có một số đồ sứ đặc thù lại sử dụng củi và cỏ làm nhiên liệu. Đến những năm 60 của thế kỉ XX, Trung Quốc đã khai thác được mỏ dầu Đại Khánh nên đã tiến hành sử dụng dầu trong sản xuất gốm sứ. Đến bắt đầu của những năm 8 – 90, các loại nhiên liệu như khí thiên nhiên, khí than, dầu hỏa đã bắt đầu được sử dụng nhiều trong sản xuất đồ sứ và cũng có một số đồ gốm sứ nhỏ lại sử dụng lò điện. Việc sử dụng các năng lượng mới này cũng đã thay đổi cách thức sản xuất đồ sứ thời xưa, nó không chỉ nâng cao hiệu quả, vả lại còn nâng cao khả năng khống chế sản xuất đồ sứ.

Nhưng chúng ta cũng biết rằng, nhiệt của củi gỗ thông là 1700 – 25000C, mà than đá cao tới 5-7,0000C. Mà nhiệt lượng của dầu khí, dầu cặn, khí thiên nhiên cũng lên tới hơn 10,0000C cũng đã nâng cao hiệu quả, hạ thấp được giá thành, rút ngắn được thời gian nung tạo đồ gốm sứ. Việc chế tạo đồ sứ hiện nay thường nâng cao nhiệt nung đồ sứ trong phạm vi cho phép, khiến các phản ứng nhanh chóng hoàn toàn bởi các hình thức nhiên liệu mới đáp ứng được yêu cầu. Trong chế tạo đồ sứ hiện nay , tuy vẫn có một số dùng lửa củi, nhưng giá thành của chúng rất cao, vả lại dùng củi đốt chỉ là vì muốn “quay lại không khí” của thời củi đốt, mong cầu một mầu sắc men sứ, mà không phải để phỏng tạo lại bọt khí theo ý muốn.

IV. Ảnh hưởng của Lò và nhiên liệu đến mật độ phân bố bọt khí:

Đây là một điểm cực kỳ quan trọng. Thời cổ thường nung gốm sứ bằng lò đất đốt củi, so với việc dùng các lò hiện đại, nhiên liệu có nhiệt lượng cao nên có sự khác biệt rất rõ.

Lò đất đốt củi thường có nhiệt độ thấp, men tương đối đặc. Đây chính là nguyên nhân để trong men có hiện tượng bọt khí to nhỏ. Cái quan trọng nhất là độ phát nhiệt của củi thấp, trong khoảng thời gian ném củi vào (khoảng mười phút một lần), lúc củi cháy thành màu hồng hồng là nhiệt cao nhất, nhưng vừa ném thêm củi vào lò, nhiệt lò lập tức giảm xuống. Đó là một lần thay đổi của nhiệt lò. Việc này xảy ra liên tục sẽ ảnh hưởng đến độ kết dính của dung dịch men. Khi bọt khí chuyển động, các bọt khí nhỏ theo nhiệt cao vừa chuẩn bị hợp nhất với các bọt khí có thể tích to, có thể nhiệt lò đột ngột tăng lên, khiến độ kết dính của dịch men giảm xuống, khiến các hạt khí to nổ ra, từ đó khiến độ căng bề mặt vốn có của các bọt khí này giảm xuống làm các bọt khí nhỏ mất đi tính di động có lực hấp dẫn, mà thay đổi phương hướng, tới chỗ có độ căng bề mặt tương đối cao khác. Chính sự thay đổi nhiệt độ phức tạp này khiến sự phân bố các bọt khí nhỏ vốn đều đặn đã thay đổi, từ đó mà tạo thành cục diện mật độ không đều giữa các bọt khí to và nhỏ. Hơn nữa với công nghệ sản xuất hiệu suất thấp, thời gian đốt tương đối dài. Mà trong công nghệ làm sứ hiện đại không những sử dụng nhiên liệu cao, nhiệt lò lại bị con người khống chế, sự thay đổi của nhiệt lò ít, chu kỳ ngắn, sử dụng lò đốt nhiên liệu thể khí, thậm chí chỉ có một chu kỳ. Dưới nhiệt độ cao, khống chế được nhiệt, thời gian đốt ngắn, là đặc điểm chung của công nghệ chế tạo đồ sứ hiện đại, thì các bọt khí sinh ra trong khi đốt dưới công nghệ tiên tiến, không những độ lớn nhỏ được phân bố đều mà còn rất đều đặn nữa.

V. Các qui luật của bọt khí:

Cách nung đốt gốm sứ trong thời hiện đại không giống với cách phổ thông của thời xưa là bởi điều kiện công nghệ sản xuất quyết định. Đồ sứ phỏng cổ được làm bởi công nghệ tiên tiến, tính khống chế được điều kiện sản xuất, tuy cũng đầy đủ tính phổ thông, nhưng lại mất đi yếu tố ngẫu nhiên, từ những biểu hiện bề mặt của chúng mà chúng ta có thể phát hiện các bọt khí nhỏ mà lại rất đều đặn để đoán định được nó có khả năng là đồ mới. Mặt khác, do sự lớn nhỏ của các bọt khí khiến độ thấu quang của men không giống nhau bởi độ phản quang của đồ mới và sự phân bố đều đặn của các bọt khí.

Qua những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra những kết luận:

Trong việc nung sứ dùng nhiên liệu có nhiệt độ thấp với lò nung lạc hậu do đó tính không thể xác định được của nhiên liệu nhiệt lượng thấp trải qua khi có hiện tượng thổi lửa, các bọt khí thường có to có nhỏ, lớn nhỏ không đều, sự phân bố cũng không đều, phần nhiều là các bọt khí nhỏ. Nguyên nhân do thời cổ nung sứ thường dùng lò đất đốt củi, mà hiện nay lại dùng lò tiên tiến, năng lượng cao, như thế chỉ kết luận là sự phân biệt các tiêu chuẩn trên bề mặt của đồ sứ cổ với đồ mới chăng? Trên lý luận là như nhau, nhưng trong thực tế lại không hoàn toàn như nhau. Bởi vì trên một số đồ sứ thời cuối Minh đầu Thanh cũng đã sử dụng than đá, đương nhiên đối với việc giám định lò sứ xưa, việc quan sát các bọt khí tương đối là lý tưởng, nhưng đối với các đồ sứ xanh trắng của thời Minh Thanh có lớp men mỏng mà nói, có thể dùng bọt khí mà phân tích, nhưng tốt nhất đem phân tích các bọt khí là chứng cứ chủ yếu, lại kết hợp với các mảnh vỡ, các vết sứt với các nhân tố khác của chúng để tổng hợp đánh giá. Tiếp theo dùng bọt khí phân tích độ cũ mới của đồ sứ để dùng phương pháp loại trừ, khi phát hiện thấy một món đồ sứ có bọt khí nhỏ kỳ lạ, cực kỳ dầy đặc, không kể đến sự lớn nhỏ, sự phân bố rất đều đặn của các bọt khí này, chúng ta có thể đoán nó là đồ mới, nhưng gặp một hiện tượng ngược lại như thế cũng không thể khinh suất mà nói đó là đồ sứ cổ. Lại còn kết hợp thêm với độ thấu quang, mảnh vỡ để tiến hành kết hợp phân tích.

Ngoài ra chúng ta còn nên quan sát thêm một chút về độ sáng của bọt khí.

Nguồn gomsu.vn

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »