Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 16th, 2009

Truyền thuyết về Tỳ Hưu – Con vật linh thiêng

Gần đây giới sành chơi thường sắm cho mình một con Tỳ Hưu để mang trên người hoặc đặt trong nhà. Tỳ Hưu có thể được làm nhẫn đeo tay, mặt dây hoặc để trong người với mong muốn mang lại may mắn và lợi lộc. Hoặc đặt trong nhà để tránh tà khí và sinh lợi. Thế nhưng Tỳ Hưu là gì? Và tác dụng của nó ra sao thì chắc ít người biết được.

Tỳ Hưu hai sừng thời xưa

Tỳ Hưu hai sừng thời xưa

Nguồn gốc của Tỳ Hưu

Truyền thuyết về Tỳ Hưu được xuất phát từ chin loại con của Rồng. Rồng sinh ra chín con, là chín loài thần thú nhưng không phải là rồng. Chín loài ấy, có 2 thuyết khác nhau, với thứ tự cũng khác nhau:

Thuyết 1: Tỳ hưu – Nhai xế – Trào phong – Bồ lao – Toan nghê – Bí hí – Bệ ngạn – Phụ hí – Si vẫn.

Thuyết 2: Bí hí – Si vẫn – Bồ lao – Bệ ngạn – Thao thiết – Công phúc – Nhai xế – Toan nghê – Tiêu đồ

Đặc điểm của các loài này được cho là như sau:

1. Tỳ Hưu (Tu Lỳ): Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu một sừng là giống cực kỳ hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái, ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Loại Tỳ Hưu hai sừng là loài chuyên hút vàng bạc, châu báu trong trời đất nên được cho là con vật giữ tài lộc hay còn gọi là Thiên Lộc. Khi đó Tỳ Hưu có đặc điểm miệng to, ngực to, mông to nhưng không có hậu môn (chỉ để hút vào mà không làm mất đi cái gì). Nếu thỉnh một cặp Tỳ Hưu thì con cái là Tỳ, con đực là Hưu.

Tu Lỳ là kiện tác của Tỳ Hưu, với tư thế cuộn tròn, lưỡi cong, răng sắc đón lộc và giữ của. Khi mua Tỳ Hưu rất dễ bị nhầm thành Chó Trời , không hề có tác dụng tốt cho gia chủ.

Tỳ Hưu cũng có đặc điểm là thích âm nhạc, có tài thẩm âm. Vì thế nên Tỳ Hưu thường được khắc trên đầu cây đàn hồ cầm, nguyệt cầm, tì bà.

2. Nhai Xế (Nhai tí): loài mình rồng, đầu chó sói, cương liệt hung dữ, khát máu hiếu sát, thích chém giết chiến trận. Vì thế Nhai Xế được khắc ở thân vũ khí: ngậm lưỡi phủ, lưỡi gươm đao, trên vỏ gươm, chuôi cầm khí giới để thêm phần sát khí.

3. Trào Phong: có thân phượng, có thể hóa thành chim, đặc điểm thích sự nguy hiểm, nhìn ra vọng rộng. Do đó Trào Phong được tạc ngồi trên nóc nhà, đầu mái nhà nhìn về phía xa.

4. Bồ Lao: thích tiếng động lớn, âm thanh vang dội, vì thế quai chuông khắc hình Bồ Lao hai đầu quay ra hai bên ôm chặt quả chuông.

5. Toan Nghê: hình thù giống sư tử, thích khói lửa, mùi thơm, nuốt khói phun sương. Do đó Toan Nghê được khắc trên các lư hương, đỉnh trầm, ngồi trầm mặc trên đỉnh hay bám hai bên.

6. Bí Hí còn gọi là Quy Phu: giống con rùa, thích mang nặng, có thể cõng được tam sơn ngũ nhạc không bao giờ mỏi. Vì thế Bí Hí cõng bia, trụ đá, nhiều người nhầm với rùa.

7. Bệ Ngạn (Bệ hãn) còn gọi là Hiến chương: như con hổ, thích nghe phán xử, phân định; vì thế Bệ Ngạn được tạc ở công đường, nhà ngục, trên các tấm biển công đường.

8. Phụ Hí: mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời văn hay chữ tốt. Vì thế Phụ hí tạc trên đỉnh hoặc hai bên thân bia đá.

9. Si Vẫn (Li vẫn, Si vĩ): miệng trơn họng to, rất thích nuốt các vật lớn, lại có thể phun nước làm mưa. Vì thế Si Vẫn được tạc trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn, khác với Trào Phong là đầu quay vào trong, nuốt lấy xà nhà hoặc bờ nóc.

10. Thao Thiết: thích ăn uống, càng nhiều đồ ăn càng tốt. Vì thế được khắc trên các vạc lớn, lại tượng trưng cho việc thu lấy tài lộc giống Tì Hưu.

11. Công Phúc (Bát phúc, Bát hạ): thích nước, nên được khắc tạc ở chân cầu, đê đập, cống nước để canh giữ.

12. Tiêu Đồ (Thúc đồ, Phô thủ): đầu giống sư tử, thích sự kín đáo yên tĩnh. Vì thế được tạc ngoài cửa, ngụ ý giữ yên cho ngôi nhà. Đầu Phô Thủ ngậm thêm cái vòng để khách đến dùng nó mà gõ.

Tương Truyền về Tỳ Hưu

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.

Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.

Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy.Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.

Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.

Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.

Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

Truyền thuyết về loài Tỳ Hưu

Liên quan tới con vật linh thiêng Tỳ Hưu có nhiều truyền thuyết đáng để ta phải lưu ý. Nó có thể làm mất một triều đại hoặc làm bại một gia đình.

tỳ hưu-1

Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân

Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường. Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người”. Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổ tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.

Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có. Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua. Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là ngọc phỉ thúy xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng bạch ngọc. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.

Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.

Chuyện Tỳ Hưu với nhà Thanh

Trước khi quân đội nhà Thanh nhập quan ải tiến chiếm giang sơn Đại Minh (hồi đó còn là Mãn Châu – tộc Nữ Chân dòng Đại Kim) đã nghiên cứu rất kĩ về văn hóa, phong thủy, biết rằng nhà Đại Minh long mạch đế vương còn thịnh lắm, nếu không phá được phong thủy của Bắc Kinh thì không thể nào chiếm chọn Trung Nguyên được, mà có chiếm được cũng không thể giữ được vì Trung Nguyên rộng lớn, Mãn Châu sẽ nhanh chóng bị nuốt chửng và bị đồng hóa. Trong truyền thuyết, Lưu Bá Ôn đã từng để lại lời dặn cho nhà Minh rằng muốn Đại Minh trường tồn thì phải giữ gìn đặt con Tỳ Hưu trên lầu thành Đức Thắng Môn, mặt ngoảnh về phía Vạn Lý trường thành để trấn áp dân Hung Nô, dân Nữ Chân. Chừng nào mặt Tỳ Hưu còn ngoảnh về phương ấy thì Đại Minh còn.

Mãn Châu biết được truyền thuyết ấy, biết được Sùng Chinh rất tin tưởng vào con Tỳ Hưu này, nên nghĩ ra 1 kế, cho 1 đại sư về phong thủy của mình, lập kế chiếm được lòng tin tưởng của Sùng Chinh, sau đó mới xui Sùng Chinh xoay lại con Tỳ Hưu vào, hướng về nội đô. Vận khí nhà Minh đã hết , Sùng Chinh đã nghe lời xui khiến, và giặc giã nổi lên khắp nơi, đầu tiên là Sấm Vương Lý Tự Thành (cũng là 1 anh hùng áo vải), và sau đó là sự cố Ngô Tam Quế mở ải Sơn Hải Quan, dẫn quân Thanh nhập quan ải. Nhà Minh tuyệt diệt, Sùng Chinh phải tự tay chém Trường Bình công chúa rồi treo cổ tự vẫn.

Bài do TS Phạm văn Long sưu tầm

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Một số phương pháp phát hiện đồ đồng cổ giả

Trong lĩnh vực đồ cổ việc làm giả thưởng xảy ra và rất tinh vi. Bằng các phương tiện vật lý và hóa học người ta có thể kiểm tra để xác định liệu đồ vật đưa ra có đúng là đồ cổ hay không. Ngoài ra người ta cũng còn phải có hiếu biết về lịch sử sản xuất vật liệu và mỹ nghệ nữa. Nhiều khi đúng là đồ cổ thật nhưng nó lại được phục chế hay sửa chữa bằng các kỹ thuật mới rất hiện đại. Trong nhiều trường hợp các nhà khảo cổ đã lật tẩy được những thủ đoạn tinh vi của những kẻ lừa đảo.

THẨM TRA

Sau đây là một vài phương pháp. Trong đồ trang sức bằng vàng các phần mạ vàng được gắn vào đồ vật bằng mối hàn. Khi sử dụng kính hiển vi quét điện tử ngưởi ta phát hiện trong mối hàn có cadmi. Thời cổ đại người ta sử dụng các mối hàn cứng bằng vàng hay đồng còn các mối hàn mềm bằng chì hay thiếc. Các mối hàn bằng vàng chứa cadmi mới chỉ được sử dụng từ những năm 1850 trở lại đây do Cadmi là nguyên tố khó phân lập vì dễ bay hơi (có nhiệt đô sôi 768o). Như vậy có thể kết luận rằng, các mối hàn chứa vàng và cadmi không thể có niên đại trước những năm 1850. Để xác định niên đại của đồ cổ người ta sừ dụng phương pháp đồng vị Phóng xạ, mà phổ biến nhất là đồng vị các bon C14. Một phương pháp nữa là cách xác định thời gian qua sự phân hủy phóng xạ (chu kỳ bán hủy) của một số nguyên tố (như thori, uran, kali) có trong đồ cổ. Phương pháp nung phát quang cũng là một cách để xác định niên đại. Nói chung các phương pháp xác định niên đại kể trên không thật hoàn hảo. Người ta phải tính đến nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến sự chính xác của các phép đo hoặc phải làm theo nhiều cách để đối chiếu với nhau.

TÍNH NIÊN ĐẠI BẰNG PHƯƠNG PHÁP HOÁ HỌC

Các đồ cổ bằng kim loại trải qua thời gian thương để lại các màng gỉ bên ngoài. Hầu hết các kim loại, trừ vàng và bạch kim,đều dễ bị oxy hóa. Các oxyt được tạo ra trước tiên, sau đó là các ion bền vững và quá trình tiến triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào môi trường.

Sau đây là một ví dụ về đồng và các hợp kim của nó. Một đồng xu bằng đồng rơi xuống rãnh nước và chỉ ít ngày sau sẽ xuất hiện một lớp mỏng màu đỏ đục của oxyt đồng, dạng cuprit Cu2O. Sau nhiều tháng, cuprit sẽ chuyển sang màu xanh cây vì sự tạo thành cacbonnat, clorua, hay sunfat đồng. Trong nôi trường nơi tiền bị chôn lại có thể tạo ra một loại hydroxyt cacbonat như malachit màu xanh lá cây (Cu(OH)2CO3 hay hiến hơn là azurit màu xanh nước biển (Cu2(OH)3 Cl). Nếu trong môi trường lại có muối, nó sẽ tạo ra một muối clo như atacamit có màu xanh (Cu2(OH)3Cl).

Ở môi trường bị ô nhiễm như hiện nay, các muối bền vững thường là loại hydrôxyl – sunfat. Như vậy ở đâu có những lớp mỏng màu xanh phủ lên tượng đồng màu đen trong môi trường công nghiệp thì đó chính là brochantit (Cu4SO4 (OH)6 (hay antlerit Cu3SO4(OH)4)

Quá trình ăn mòn tự nhiên ở đồ đồng, thiếc tạo ra một lớp màng mỏng màu xanh.. Đó là khoáng đồng bền vững phủ lên lớp cuprit đồng ở vật thề.

Rõ ràng là việc tạo ra những lớp màng đồng nhân tạo rất có sức thuyết phục đã được bọn làm đồ giả thực hiện với tài khéo léo suất nhiều thế kỷ qua, suốt từ khi mà đồ đồng cổ được sưu tập. Ở Trung Quốc, việc sưu tập này đã có từ hàng ngàn năm về trước. Người ta đào bới đồ đồng cổ từ những ngôi mộ cổ thời nhà Thương khoảng (1500 năm trước công nguyên) hay thời nhà Hán (khoảng 200 năm trước công nguyên đến 200 năm sau CN): Các đồ đồng này có màng gỉ màu xanh lá cây và đồ giả cổ cũng có được màu xanh ấy và dễ được chấp nhận. Người ta tạo đồ giả bằng cách sau: hoặc làm mòn bề lặt kim loại với một hóa chất thích hợp để tạo ra một lớp mỏng thật giống, hay nghiền loại khoáng thích hợp rồi dùng chất kết dính gắn vào bề mặt kim loại.

Đồ đồng giả thời nhà Minh (Trung Quốc) ở thế kỷ 15 sau công nguyên được làm như sau: Xứ lý đồ vật với phèn nóng ở trong một lớp đất sét, sau đó lại xử lý tiếp với dung dịch muối amoni và borat (dùng bàn chải quét hay để trong một lớp đất sét) và cuối cùng là nung ở nhiệt độ thấp trong lò nhiều ngày. Có một cách làm khác là ngâm đồ vật trong phân hay để trên mái nhà ngoài trời lâu ngày. Các lớp mỏng nhân tạo này thường có đúng màu như ở đồ cổ thật nhưng nó lại không đặc chắc bằng. Còn một điều đặc biệt là, trong lớp màng mỏng nhân tạo có cả đồng nitrat mà ở đồ cổ thật không có. Băng phương pháp phân tích tán xạ tia X người ta sẽ phát hiện ra ngay. Khi nghiên các chất khoáng (giống loại khoáng trên mặt đồ cổ) rồi bôi và gắn vào đồ vật thì việc phát hiện thật giả rất khó khăn. Trong trường hợp chất kết dính hữu cơ là loại nối đôi khi được chiếu bởi tia cực tím nó sẽ phát quang. Điều đó chứng tỏ cổ vật được xem xét có cái gì đó không chuẩn xác. Tuy nhiên khoáng chất cerrusite PbCO3 là một thành phần có trong sản phẩm ăn mòn tự nhiên ở đồ đồng thiếc chứa chì cũng là một chất có thể phát quang. Lau chùi đồ vật với một dung môi hữu cơ có thể làm mất lớp màng trên mặt. Tuy vậy nhiều chất phủ bề mặt thường dùng trong nhiều thế kỷ đã qua thì lại không phát quang hoặc không phản ứng gì với dung môi. Nếu có thể cắt hoặc đánh bóng một phần của đồ vật cổ rồi so sánh sự khác nhau giữa các lớp phủ ngoài và lớp bên trong thì sẽ thấy được thật giả lớp bề mặt làm giả dễ bị mất do nông hơn so với lớp bề mặt tự nhiên. Nhưng không dễ gì cắt được bay đánh bóng cổ vật.

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN CẤU TẠO

Nếu phân tích vật liệu cổ vật cũng có thể xác định được tính xác thực của nó. Có thể làm theo hai cách, hoặc so sánh với nguồn vật liệu mà trong quá khứ người ta đã từng dùng để sản xuất đồ vật hoặc so sánh với vật liệu của đồ cổ thật được sản xuất ở cùng niên đại. Cách thứ nhất chỉ đúng khi có ít các nguồn vật liệu được sử dụng trong quá khứ để làm đồ cổ. Thí dụ: Lapis lazuli là loại đá tương đối quý màu xanh da trời được sử dụng khắp Trung Đông thời cổ đại, có nguồn gốc từ thung lũng Badakshan ở Afganistan hiện nay loại đá này không chứa khoáng canxisilicat (Wollastonit) một loại Lapis khác ở gần hồ Baican (Xibêri, Nga) được phát hiện vào thê kỷ 19 thì có Wollastonit. Và gần đây, loại đá xanh quý có khoáng Wollastonit nàylđược tìm thấy ở Chilê.

Vào cuối thế kỷ 19 Viện bảo tàng Anh mua được một đồ cổ có hình đầu chó sói có vẻ như được sản xuất từ thời Ai cập cổ đại. Thế nhưng một vài dấu hiệu đặc biệt khiến người ta nghi ngờ đây là loại đồ giả cổ. Một thí nghiệm phân tích theo phương pháp tán xạ tia X cho thấy, trong đồ vật này có chứa chất khoáng Wollastonit một loại khoáng chưa được tìm thấy ở thời cổ đại ấy. Hợp kim của đồng được nhiều người biềt đến và quen gọi là đồng thiếc vì nó là hợp kim của hai nguyên tố chính là đồng và thiếc, không kể đến các nguyên tốc số lượng nhỏ hơn. Trong đồ đồng cổ hầu hết là loại hợp kim này. Thế nhưng ở thời đại Lamã, hợp kim của đồng và kẽm được sử dụng và được gọi là đồng thau. Điều đó có nghĩa là trong 2000 năm qua có rất nhiều vật làm bằng hợp kim đồng thau. Điều này giúp cho việc xác định tính xác thực của đồ cổ.

Có một lần người ta đã khảo sát hai bức tượng nhỏ giống hệt nhau hình người nằm nghiêng bằng đồng. Theo phong cách thì đây là sản phẩm của thế kỷ thứ 6 trước công nguyên. Có thể một trong hai tượng là phiên bản của cái kia hoặc cả hai đều là phiên bản. Khi phân tích lớp bề mặt của 2 bức tượng người ta thấy ngay rằng một bức được làm bằng hợp kim đồng thiếc có chứa một ít chì phù hợp với niên đại dự đoán. Còn bức tượng kia là hợp kim đồng kẽm có niên đại muộn hơn cái trên ít nhất là nửa thiên niên kỷ (500 năm).

TIẾN TRUNG

Tạp chí Công nghiệp Hoá chất (Số 03/Năm 1998)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Họa tiết hoa văn trong điêu khắc Chăm

tháp Chiên Đàn

tháp Chiên Đàn

Dân tộc Chăm là một dân tộc sinh sống lâu đời trên dãi đất miền Trung Việt Nam. Trong lịch sử phát triển, họ đã đạt được một trình độ cao về tổ chức xã hội, có mối giao lưu rộng rãi, đa chiều với nhiều thành phần cư dân vùng lục địa và hải đảo châu Á. Từ nguồn gốc bản địa, cải biến những yếu tố bên ngoài, người Chăm đã sáng tạo nên một nền văn hoá đa dạng và độc đáo. Ngày nay, trong nghệ thuật tạo hình, người Chăm đã để lại di sản kiến trúc đền tháp đồ sộ và những tác phẩm điêu khắc có giá trị nghệ thuật cao.

Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chămpa Đà Nẵng, hiện nay là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm điêu khắc Chăm có giá trị, với hơn 2.000 hiện vật lớn nhỏ, gần 500 hiện vật đang được trưng bày bên trong nhà bảo tàng, hầu hết đây là những tác phẩm điêu khắc nguyên bản, có nguồn gốc xuất xứ từ các địa phương ở miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum và GiaLai, được chuyển về bảo tàng trong nhiều thời gian khác nhau, thể hiện trên ba chất liệu đá sa thạch, đất nung và đồng. Các tác phẩm này có niên đại từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV, thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau và có tính nối tiếp theo lịch đại như phong cách Mỹ Sơn E1, phong cách Đồng Dương, phong cách Trà Kiệu, Phong cách Chánh Lộ, phong cách Tháp Mẫm…Như vậy ở Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng , chúng ta đã có đầy đủ các tác phẩm điêu khắc Chăm tiêu biểu cho cả nền nghệ thuật Chăm ở miền Trung Việt Nam, đây cũng là điều kiện thuận lợi để chúng ta nghiên cứu một cách cụ thể về các hoạ tiết hoa văn được trang trí, thể hiện trong các phong cách nghệ thuật Chămpa.

HOẠ TIẾT HOA VĂN HÌNH HOA CÚC

Hoạ tiết hoa văn hình hoa cúc được người Chăm thể hiện nhiều trong kiến trúc đền tháp và trong điêu khắc. Trên tác phẩm đài thờ Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VII-VIII), ở tại Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng, những đường viền chung quanh phần trên đài thờ là những dải hoa cúc, lá và hoa được cách điệu khá tinh tế, hoa thường thể hiện 4 cánh, chính giữa có nhị hoa, tuy thời gian và mưa gió đã bào mòn khá nhiều, nhưng nét chạm vẫn còn khá rõ. Trên lanh tô của một cửa tháp ở nhóm tháp Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X), dải hoa cúc lại được chạm khắc một cách sắc sảo hơn, hoa có dạng hình tròn, chung quanh là lá và thân cây được cách điệu một cách mềm mại, mang tính đối xứng, ở chính giữa hoa có nhị hoa và nhiều cánh hoa lại chụm lại với nhau, giống như hoa đang ở độ búp mới xoè nở.

HOẠ TIẾT HOA VĂN HÌNH HOA SEN

vucong-chiendan

Hoạ tiết hoa văn hình hoa sen được thể hiện khá nhiều trong điêu khắc và kiến trúc Chăm, gần như ở hầu khắp các phong cách nghệ thuật. Trong tác phẩm Đản sinh thần Brama ở phòng Mỹ Sơn, thể hiện thần Visnu cầm một cây sen đang nở, phía trên hoa đã nở xoè với nhiều cánh, thần Brama ngồi trên các cánh sen, hoa sen được cách điệu. Trên các đài thờ như đài thờ Trà Kiệu (thế kỷ X), đài thờ nữ thần Uroja (thế kỷ XII), hoa sen được cách điệu bao quanh phần đế các đài thờ với những cánh hoa rất lớn, được chạm sắc sảo, đường nét các gờ nổi rõ. Trên đài thờ Vũ nữ Trà Kiệu hoa sen lại được cách điệu mạnh mẽ hơn, tạo thành các đường gờ lớn nhỏ, nhìn kỹ chúng ta mới biết được đó chính là búp sen, các vũ nữ đứng tựa lưng vào các cánh sen múa hát uyển chuyển, tạo nên một cảnh quang sinh động, có giá trị cao về nghệ thuật.

HOẠ TIẾT HOA VĂN HÌNH HOA DÂY

Hoạ tiết hoa văn hình hoa dây được khắc chạm khá nhiều trên các đền tháp, kể cả trên gạch và trên đá, cũng như trong các tác phẩm điêu khắc lớn nhỏ. Hoa dây thường thể hiện trên các trụ cửa và thể hiện trên các tháp ở Khương Mỹ. Gọi là hoa dây vì hoa, lá và thân hoà quyện vào với nhau rất khó phân biệt, các nét chạm khá sắc sảo, tinh tế tạo thành một dải dài từ trên thân tháp xuống đến chân đế tháp, hoặc từ trên xuống dưới của một trụ cửa. Các hoa, lá, thân (loại dây leo), được cách điệu khá cao, tạo nên những áng hoa văn đạt trình độ cao về nghệ thuật chạm trổ.

HOẠ TIẾT HOA VĂN HÌNH CON SÂU

Gọi là hình con sâu vì các hoạ tiết hoa văn trông giống hình con sâu đo. Những hoạ tiết hoa văn này thường thấy trong các tác phẩm kiến trúc đền tháp và điêu khắc Đồng Dương, thuộc phong cách nghệ thuật Đồng Dương (thế kỷ IX). Tuy nhiên, nếu nhìn thật kỹ và phân tích chúng ta thấy rằng đây cũng chính là những dải hoa dây được chạm trổ một cách khá rối rắm. Trên các ô, hộc trang trí chúng ta thấy các đoá hoa cúc được cách điệu không giống với phong cách Mỹ Sơn, gần như chỉ thấy có nhị hoa ở giữa còn các cánh hoa đã cách điệu khá nhiều. Từng dải hoa và lá cứ đan xen vào nhau, tạo thành sự rối rắm khá lạ ở phong cách nghệ thuật Đồng Dương. Và cũng chính sự khá lạ này mà chúng ta dễ phân biệt được hiện vật điêu khắc và kiến trúc Đồng Dương với các phong cách nghệ thuật khác trong nghệ thuật Chămpa.

HOẠ TIẾT HOA VĂN SÓNG NƯỚC HAY NGỌN LỬA

Hoạ tiết hoa văn hình song nước hay ngọn lửa thường bắt gặp nhiều trong các tác phẩm điêu khắc và kiến trúc thuộc phong cách nghệ thuật Tháp Mẫm (thế kỷ XII-XIV). Trên các lanh tô của các đền tháp ở Tháp Mẫm (Bình Định) thường thể hiện các diềm trang trí hình ngọn lửa hay hình song nước, xen kẽ với nó là hình các mặt nạ Kala hay các con khỉ. Thật ra đây cũng là hình ảnh các hoa và lá cũng như than cây được cách điệu khá đặc biệt, không mềm mại như ở phong cách Mỹ Sơn hay Khương Mỹ, không rối rắm như ở phong cách Đồng Dương, mà lại thô ráp, to bè, nhìn trông giống như hình một ngọn lửa đang cháy hay hình một đợt sóng cuộn lên ào ạt, thể hiện sức mạnh, sức sống tràn trề, mang tính cách mạnh mẽ.

HOẠ TIẾT HOA VĂN HÌNH HỌC

Đó là các hình tam giác, hình thoi, hình vuông, hình chữ nhật, hình viên bi (hình tròn)…thể hiện qua những diềm hoa văn viền quanh các tác phẩm điêu khắc. Không nằm ở trung tâm các phẩm, nhưng những hoạ tiết hoa văn hình học đã góp phần làm sống động tác phẩm, tô đậm thêm cho tác phẩm, làm cho tác phẩm điêu khắc trở nên đầy đủ hơn, nhấn mạnh hơn, tạo thành những yếu tố nghệ thuật độc đáo, khác lạ.

HOẠ TIẾT HOA VĂN HÌNH ĐỘNG VẬT

Voi trang trí chân tượng

Voi trang trí chân tượng

Hoạ tiết hoa văn hình động vật thường trang trí các mặt nạ Kala, Makara, hình ảnh các chú khỉ vui nhộn…với cách trang trí như vậy cũng tạo cho các tác phẩm điêu khắc Chăm những nét đẹp hiếm thấy, những ấn tượng khác lạ trong nghệ thuật, tuy nhiên hình ảnh các loài động vật cũng đã được cách điệu hoá cao.

Nhìn chung, việc trang trí trên kiến trúc đền tháp và trong các tác phẩm điêu khắc Chăm, tuy phần lớn đều thể hiện nội dung các câu chuyện trong thần thoại Ấn Độ Giáo, kể lại các vị thần mang tính huyền thoại, nhưng những nghệ sĩ Chăm – những nhà điêu khắc thiên tài Chăm – đã thể hiện một cách xuất sắc trình độ tư duy của mình trên những tác phẩm điêu khắc với những hoạ tiết hoa văn đạt dến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình. Người Chăm đã vận dụng những gì có trong tự nhiên, như hình ảnh các loài hoa, các con thú, các đường gấp khúc, các hình lượn sóng…để đưa vào nghệ thuật điêu khắc, cách điệu nó lên thành những hoạ tiết hoa văn đẹp vừa mềm mại, uyển chuyển, lại vừa mạnh mẽ, kể cả rối rắm, nâng cao nghệ thuật tạo hình Chăm lên đỉnh cao cùng với các nền nghệ thuật tạo hình của các nước trong khu vực. Người Chăm đã biết học tập kinh nghiệm cũng như tiếp thu có chọn lọc các nền văn hoá trong khu vực, họ có sự sáng tạo riêng cho mình không lẫn với bất kỳ nền nghệ thuật nào khác ở trong khu vực Đông Nam Á. Điều ấy phần nào thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của họ khi sáng tác nghệ thuật và tiếp thu văn hoá.

Th.S Hồ Tấn Tuấn

nguồn Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Phát hiện mới về văn hoá Đông Sơn

Ngày 22.6.2009, một số đồ đồng Đông Sơn đã được phát hiện ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh). Hiện vật không lạ, nhưng góp thêm một bằng chứng thuyết phục về quá trình làm chủ biển Đông từ lâu của cha ông ta.

Hiện vật Đông Sơn được tìm thấy ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) - Ảnh do Bảo tàng Hà Tĩnh cung cấp

Hiện vật Đông Sơn được tìm thấy ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) - Ảnh do Bảo tàng Hà Tĩnh cung cấp

Theo tin từ Sở VHTTDL Hà Tĩnh, ngư dân xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh vừa thu được 2 hiện vật của văn hoá Đông Sơn nằm đã hơn 2.000 năm dưới đáy đại dương trong một chuyến ra khơi đánh cá. Nơi tìm được các hiện vật này có độ sâu khoảng 10m, thuộc vùng biển Vũng Áng, cách đất liền thuộc địa phận xóm Hải Phong của xã vào khoảng 2km.

Hiện vật thứ nhất là chiếc giáo đồng có họng tròn, dài, lưỡi hình lá, có sống nổi, dài 38cm. Đây là chiếc giáo thuộc loại hình quen thuộc của văn hoá Đông Sơn. Hiện vật thứ hai là chiếc rìu đồng xoè cân, cao 13cm.


Lưỡi rìu cong tròn đều đặn, họng rìu gần có hình đuôi cá, mặt cắt ngang họng có hình lục giác. Hai bên góc lưỡi nhô ra như hai mấu tròn. Mặt lưỡi có hoa văn đường chỉ nổi. Loại hình rìu này khá giống với loại rìu xoè cân đặc trưng cho lưu vực sông Lam của văn hoá Đông Sơn, tìm thấy nhiều ở địa điểm khảo cổ học Làng Vạc nổi tiếng, thuộc huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) và giống với nhiều chiếc rìu đồng xoè cân ở Indonesia.

Việc tìm thấy hai hiện vật chắc chắn của văn hoá Đông Sơn ở trong lòng biển khơi đã mang một ý nghĩa quan trọng.

Trước tiên, đây là lần đầu tiên tìm được hiện vật Đông Sơn ở vùng thềm lục địa VN, mở ra một khả năng còn tìm thấy nhiều hiện vật Đông Sơn ở khu vực này nữa. Đã đến lúc cần xúc tiến nhanh hơn việc ra đời một ngành khảo cổ học dưới nước, như nhiều nước ở Đông Nam Á đã có, để nghiên cứu những gì còn trong lòng biển Đông của các nền văn minh cổ xưa ở ta, bắt đầu từ các hiện vật đá của văn hoá Hoà Bình cách đây một vạn năm đến văn hoá Đông Sơn, các con tàu chìm của các triều đại phong kiến.

Bản đồ con đường giao lưu trên biển của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ nhân văn hóa Đông Sơn

Bản đồ con đường giao lưu trên biển của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ nhân văn hóa Đông Sơn

Việc tìm thấy hiện vật Đông Sơn dưới đáy biển đã bổ sung một chứng cớ tối quan trọng về việc làm chủ biển Đông của người Việt cổ: Từ lâu, các nhà khoa học đã tìm được nhiều hiện vật Đông Sơn ở các vùng đảo xa gần khắp Đông Nam Á.

Họ cũng đã nghĩ đến việc người Đông Sơn đóng thuyền để giao lưu văn hoá với nhiều khu vực lân bang, tuy nhiên, chứng cớ trực tiếp của việc đi biển thì chưa có. Nay với phát hiện này, đã khẳng định người Đông Sơn đã đi biển và họ đã để lại dấu vết hiện vật trong lòng biển.

Theo những nghiên cứu mới đây, chúng ta lại càng có cơ sở để khẳng định: Bằng con đường biển, người Đông Sơn đã để lại vết tích vật chất của mình xa nhất về phía bắc là chiếc trống đồng minh khí trong khu mộ Thượng Mã Sơn, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc). Về phía nam, một loạt trống Đông Sơn đã có mặt ở vùng quần đảo Cua ở Indonesia. Về phía tây, các trống Đông Sơn đã tìm được ở vùng đảo Cô Xa Mui, Thái Lan và vùng Công Pông Xun Gai Lang ở Malaysia.

Một điểm lưu ý là nơi tìm thấy hiện vật Đông Sơn mới đây là vùng Vũng Áng, điểm cực nam của địa bàn phân bố văn hoá Đông Sơn. Quá về phía nam là dãy Hoành Sơn, khó khăn cho việc giao lưu bằng đường bộ xuống phía nam đến các nền văn hoá khác cùng thời.

Chính vì thế mà phải chăng cửa biển Vũng Áng là nơi đã từng xuất phát các đoàn thuyền xuôi phương nam của người Việt đến các vùng đất xa xôi. Có thể những chiếc trống đồng và rìu đồng ở Indonesia giống với loại hình văn hoá Đông Sơn khu vực sông Lam đã gợi ý cho chúng ta một mối liên hệ này chăng?

Phát hiện mới này đã làm các nhà khoa học nhớ lại một phát hiện khảo cổ khác vào năm 1984 trên đảo Hòn Rái, thuộc xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, ở gần đảo Phú Quốc. Hòn đảo này cách đất liền gần 30km.

Một trống đồng Đông Sơn được chôn trong lòng đất của đảo. Bên trong trống có những chiếc rìu, lao, mảnh khuôn đúc, đồ gốm và xương người. Đây là một mộ táng của người Đông Sơn. Điều đó càng khẳng định người Đông Sơn là cư dân thạo đi biển. Trong một chuyến hải hành xuôi phương nam, có người đã chết và được chôn tại đảo này.

Phát hiện khảo cổ học mới về văn hoá Đông Sơn đã góp phần dựng nên diện mạo lịch sử của biển Đông cách đây khoảng 2.000 năm: Làm chủ biển Đông bấy giờ có 2 nhóm cư dân cổ đại tổ tiên của chúng ta: Cư dân Đông Sơn có những mối giao lưu ven biển đến các đảo xa phía nam, cư dân Sa Huỳnh lại có mối giao lưu đậm nét hơn băng qua vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để lại dấu ấn trên vùng quần đảo Philippines.

Các bằng chứng khảo cổ học đã chứng minh một cách rạch ròi một sự thật lịch sử là cả một vùng biển Đông rộng lớn đã được cha ông ta khai thác và làm chủ từ cách đây hơn 2.000 năm, còn trước thời điểm các triều đại phong kiến nước ta cử người đi trấn giữ quần đảo Hoàng Sa dễ đến hàng ngàn năm.

PGS-TS Trịnh Sinh

Phỏng vấn PGS-TS Trịnh Sinh

* Từ sự có mặt của 2 hiện vật Đông Sơn ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) để suy luận về con đường giao lưu văn hóa qua biển Đông và xa hơn nữa là quá trình làm chủ biển Đông, liệu có logic không, thưa ông?

TS Trinhsinh

PGS-TS Trịnh Sinh

– PGS-TS Trịnh Sinh: Đây là lần đầu tiên tìm thấy hiện vật Đông Sơn dưới đáy biển. Nên nhớ, trong phạm vi cư trú của người Đông Sơn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có một cạnh là biển Đông. Trước đây, chúng ta cũng đã tìm thấy một loạt di tích và hàng vạn di vật Đông Sơn ở vùng ven biển trải dài từ Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ. Hơn nữa, một trong những đặc điểm văn hóa của người Đông Sơn là chứa nhiều yếu tố biển. Vì vậy, việc họ để lại dấu vết ở biển Đông là điều dễ hiểu.

* Vậy quá trình “làm chủ” biển Đông là hiểu theo nghĩa nào?

– “Làm chủ” biển Đông tức là cư dân Đông Sơn thời kỳ đó đã khai thác, sử dụng, giao thương trên vùng biển liền khoảnh với đất liền của họ.

* Còn phạm vi xa hơn của Đông Sơn dưới đáy biển, về phía Nam thì sao, thưa ông?

– Người Đông Sơn có truyền thống đi biển, và họ đã đi xa đến vùng đảo Kiên Giang. Tại một hòn đảo cách bờ gần 30 km, chúng tôi đã tìm thấy trống đồng, đồ đồng Đông Sơn, xương người và xương người được chôn trong trống (đây là một trong những phương thức mai táng đặc trưng của cư dân Đông Sơn). Điều này chứng tỏ cách nay 2.000 năm, người Đông Sơn đã đi rất xa, vượt qua ranh giới đèo Ngang (Hà Tĩnh). Ngoài cư dân Đông Sơn, cư dân Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam cùng niên đại cũng đã từng một thời làm chủ biển Đông.

* Vậy đến nay đã có bằng chứng nào chứng tỏ phạm vi ảnh hưởng của văn hóa Sa Huỳnh ở biển Đông chưa?

– Văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu phân bố ở miền Trung và một phần phía Nam. Cho đến nay, chúng ta đã tìm thấy những hiện vật của văn hóa Sa Huỳnh nằm rải rác ven biển Đông. Đó là các mẩu xương cá, công cụ chài lưới, những di cốt người được chôn trong các mộ vò ở ven biển, những kiểu hoa văn in hình vỏ sò. Từ năm 1966, nhà khảo cổ học người Mỹ Solhem đã miêu tả con đường giao lưu của cư dân Sa Huỳnh – Việt Nam sang quần đảo Philippines và Thái Lan với bằng chứng là những khuyên tai 3 mấu nhọn, khuyên tai 2 đầu thú – hiện vật đặc trưng của Sa Huỳnh được phát hiện tại đây.

* Nhưng cũng không loại trừ giả thuyết những hiện vật nói trên là sản phẩm của quá trình sản xuất tại chỗ của cư dân Philippines hoặc có thể cư dân Sa Huỳnh đã không băng qua biển Đông để sang Philippines mà đi bằng con đường khác?

– Người Sa Huỳnh không thể đi một đường nào khác để sang Philippines ngoài đường biển Đông, băng qua khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Họ cũng không thể đi vòng lên phía bắc, qua Trung Quốc rồi mới đến Philippines. Trong lịch sử, tuyến đường biển này là một trong những tuyến giao thương vô cùng quan trọng. Trước khi người dân đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi thời Nguyễn đi khai thác vùng biển Hoàng Sa thì tại Lý Sơn đã có 2 làng cổ trong thời văn hóa Sa Huỳnh là Xóm Ốc và Suối Chình với nhiều di vật.

* Có thể đưa ra giả thuyết 2 hiện vật (giáo và rìu) Đông Sơn được tìm thấy ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh) là di vật từ một con tàu đắm thời Nguyễn hay không?

– Cũng có thể giả thuyết cho vui rằng 2 hiện vật Đông Sơn nói trên là của một người chơi đồ cổ thời Nguyễn chăng? Nhưng điều đó khó xảy ra vì mỗi thời đều có một thứ “mốt” chơi riêng. “Mốt” của thời Nguyễn là chơi ấm uống trà, bình vôi, đồ gốm sứ chứ không phải giáo hay rìu. Theo nghiên cứu của chúng tôi, “mốt” chơi đồ cổ Đông Sơn ở các nhà sưu tầm cổ vật mới có khoảng 20 năm trở lại đây, còn thú chơi đồ cổ ở Việt Nam thì không quá sớm và chỉ mới bắt đầu từ thời Nguyễn. Về mặt logic, nếu 2 hiện vật Đông Sơn nói trên là của một nhà chơi đồ cổ thời Nguyễn thì ắt phải tìm thấy cả chiếc tàu cổ bị đắm, chứ không thể chỉ là 2 hiện vật rời rạc.

Y Nguyên (Thanh Niên)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »