Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 15th, 2009

Cổ vật văn hóa Đông Sơn

Theo nhận định của các nhà khảo cổ học, văn hóa Đông Sơn tồn tại vào khoảng 500-600 năm giữa thiên niên kỷ thứ I trước Công Nguyên đến thiên niên kỷ thứ II sau Công Nguyên. Đấy là giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, cũng là giai đoạn đánh dấu một thời kỳ mà nghề luyện kim đạt đến một trình độ rất cao. Chính vì vậy, rất dễ hiểu ảnh hưởng khá sâu rộng của văn hóa Đông Sơn lên các khu vực khác, ngoài miền Bắc Việt Nam còn tác động đến văn hóa Sa Huỳnh miền Trung, giao lưu với văn hóa Nam Bộ và rộng hơn là ra cả khu vực Đông Nam Á.

Cổ vật quý văn hóa Đông Sơn tại Viện Bảo Tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng:

Các hiện vật chủ yếu là đồ đồng, đồ gốm, mang nặng sắc thái của Đông Sơn cổ điển. Phòng trưng bày có nhiều hiện vật chưa từng thấy trước đây trong các sưu tập văn hoá Đông Sơn trong nước cũng như trên thế giới. Đó là những cây đèn hình người, hình hươu, hình bò, hình voi, phản ánh một tư duy tín ngưỡng xa xưa của trung tâm Đông Sơn sông Cả với di tích làng Vạc nổi tiếng.

Đó là những chiếc trống đồng trang trí hoa văn hình người kéo thuyền. Trống đồng này có kiểu dáng và hoa văn khác lạ, chưa từng thấy trong phổ hệ trống đồng Việt Nam. Chiếc trồng này được tìm thấy ở Tây Nguyên, chứng minh sự lan toả mạnh mẽ của Đông Sơn, cũng như tính thống nhất trong đa dạng của văn hoá này trên lãnh thổ Việt Nam và xa hơn.

Đó còn là những thạp đồng có chân trổ thủng, những con dao găm hình người, những chiếc đèn đồng hình thố vừa quen vừa lạ… Đó là những bộ công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức khá điển hình của văn hoá Đông Sơn phía bắc hoà quyện với những di vật Đông Sơn phía nam, đem đến một cái nhìn mới về văn hoá Đông Sơn mà bấy lâu nay chưa mấy ai được chiêm ngưỡng.

Phòng trưng bày cũng giới thiệu bộ sưu tập gốm đặc sắc với sự ảnh hưởng qua lại giữa Đông Sơn và Sa Huỳnh – một nền văn hoá nổi tiếng ở miền trung Việt Nam, tương đương với Đông Sơn.

Một vài hình ảnh về phòng trưng bày “Tiếng vọng Đông Sơn”: ( click trên hình để xem phóng lớn )

 

Đường dẫn xem cổ vật Đông Sơn  qua Video Clip:

http://clip.vn/watch/Trien-lam-nhung-co-vat-Dong-Son,WqSO

nguồn: Viện Bảo Tàng Điêu khắc Chăm

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Văn hóa và cổ vật Óc Eo

Đầu thế kỷ 20, không ít người tin rằng đã tồn tại một đế quốc Phù Nam thịnh vượng, rộng lớn. Khi phồn thịnh nhất lãnh thổ của nó bao chiếm phần lớn khu vực hạ lưu sông Mê Kông.

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

VĂN HOÁ ÓC EO

văn hóa khảo cổ được đặt tên theo di tích Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Di tích được phát hiện vào năm 1942 và được Malơrê (L. Malleret) khai quật lần đầu tiên vào năm 1944. Trước đó vào thế kỉ 19, những hiện vật trôi nổi của nền văn hoá này đã được giới nghiên cứu chú ý đến. Qua những cổ vật này, nhiều người đã liên hệ đến Vương quốc Phù Nam được ghi chép trong các thư tịch cổ, trong minh văn trên bi kí, trên các bệ thờ bằng đá.

covatoceo-1

Văn hóa Óc Eo (VHOE)

Từ 1977, các nhà khảo cổ Việt Nam đã nghiên cứu, thám sát và khai quật trên 90 di tích, làm rõ được phạm vi phân bố, các loại hình di tích, di vật của nền văn hoá này.

VHOE phân bố chủ yếu trong phạm vi các tỉnh Nam Bộ. Các di tích bao gồm: di chỉ cư trú có tầng văn hoá dày trên dưới 3 m, các công trình kiến trúc tôn giáo và các khu mộ táng. Hiện vật vô cùng phong phú. Nhóm tượng thờ có tượng Phật, tượng thần bằng các chất liệu gỗ, đá, đồng; tượng linh vật có yoni và linga, có hiện vật được làm bằng vàng. Nhóm phù điêu và con dấu khắc trên gốm, đá, thuỷ tinh, kim loại. Nhóm tiền kim khí đúc bằng vàng, đồng, chì thiếc, chì sắt. Nhiều hiện vật bằng vàng và vàng lá có hình chạm khắc, nhiều đồ trang sức bằng đá quý, đá màu, thuỷ tinh, kim loại, nhiều loại đồ gốm và những vật dụng bằng đất nung, đá, gỗ.

Những phát hiện mới đã làm rõ thêm vai trò của VHOE và cảng thị Óc Eo theo con đường tơ lụa trên biển đối với vùng Đông Nam Á hải đảo và sang tận Địa Trung Hải. Nhiều tư liệu phong phú của VHOE đã đóng góp vào nhận thức về một nền nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỉ 5. VHOE có sự kế thừa và phát triển lên từ các nền văn hoá tiền Óc Eo n_ trên mảnh đất Nam Bộ từ cuối thời đại đồ đồng. Hậu Óc Eo có liên quan đến nhà nước Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp.

Di chỉ Óc Eo:

Vào thập niên 1920, nhà khảo cổ học người Pháp đã dùng không ảnh chụp miền nam Việt Nam và phát hiện ra địa điểm này cùng với nhiều kênh đào và các thành phố cổ khác. Một trong những kênh đào này đã cắt tường thành của một khu vực rất rộng. Malleret thử tìm kiếm các cấu trúc này trên mặt đất và vào ngày 10 tháng 2 năm 1944, ông bắt đầu đào các hố khai quật. Malleret đã phát hiện được các di vật và nền móng các công trình chứng minh cho sự tồn tại của một địa điểm thương mại lớn mà các thư tịch của Trung Hoa đã từng miêu tả về vương quốc Phù Nam. Khu vực này rộng ước chừng 450 hécta.

Các kênh đào tách ra từ kênh đào chính tạo nên các hình chữ nhật đều đặn bên trong thành. Bên trong các khu vực hình chữ nhật này còn sót lại những dấu tích của các khu sản xuất đồ nữ trang, trong số các dấu tích tìm thấy các “hình khối” dùng để rót kim loại cùng với các đồ nữ trang. Các khu sản xuất thủ công mỹ nghệ khác cũng được tìm thấy tại đây. Malleret cũng khẳng định những di vật văn hóa ở đây thuộc hai giai đoạn. Cũng có các móng nhà bằng gỗ và các móng nhà bằng gạch của các toà nhà rộng hơn. Các viên gạch được trang trí bằng các hình sư tử, rắn mang bành, động vật một sừng và các động vật khác.  Những công bố sau đó của ông về bằng chứng của vương quốc Phù Nam cổ xưa, ước vào đầu công nguyên đến thế kỷ VII, đã gây chấn động trong giới cổ học thế giới.

Không cao niên về tuổi địa chất nhưng đồng bằng sông Cửu Long lại chứng kiến những bước chân văn minh đầu tiên của con người trên trái đất này. Những gì tìm được sơ bộ khi ấy cũng đã cho thấy dấu vết của thời đại đá mới bước sang thời đại kim khí, cư dân này cũng đã biết canh nông và đã có sự giao lưu với các nền văn hoá trong khu vực rộng lớn từ biển Đông thuộc Thái Bình Dương vươn dài về phía tây tới tận vịnh Bengan thuộc Ấn Độ.

Mất hơn 30 năm gián đoạn do chiến tranh, mãi sau 1975 những cuộc tìm kiếm dấu vết của vương quốc bị mất tích này mới được tiếp tục trở lại. Không chỉ có quanh vùng Óc Eo, dấu tích của vương quốc Phù Nam cổ xưa lần lượt hiện lên từ Cạnh Đền (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Gò Năm Tước, Gò Rộc Thanh (Long An) rồi ngày một lan toả ra các vùng Tiền Giang, TP.HCM, Đồng Nai, Vũng Tàu đến Nam Cát Tiên (miền Đông Nam Bộ).

Chắc chắn những vết lộ này còn chưa dừng lại ở đây nếu nó còn được tìm kiếm xa hơn về hướng Tây Nam trên lãnh thổ của hai quốc gia Campuchia và Thái Lan.

Sự phát hiện ngày một phong phú đã dẫn đến nhiều nhận định khác nhau về vai trò của khu di chỉ Óc Eo trong vương quốc cổ: “Là một đô thị rộng lớn, một thị cảng phồn vinh, một trung tâm kinh tế sống động với mối quan hệ giao thương Âu – Á khá rộng rãi.

Đồng thời, đô thị Óc Eo xưa cũng là một di tích tiêu biểu cho nền văn minh của một quốc gia cổ hình thành vào loại sớm nhất ở Đông Nam Á” (theo Louis Malleret); hay: “vùng di tích quanh núi Ba Thê với phạm vi rộng lớn tập trung nhiều di tích thờ cúng, lăng mộ, thật sự là một trung tâm lớn, đã quy tụ nhiều tinh hoa kỹ thuật – nghệ thuật các mặt của nền văn hoá này. Từ vị trí được xác định như vậy, chắc hẳn vùng này cũng là một trung tâm quyền lực” (nhận định của Lê Xuân Diệm).

Dù là trung tâm tập quyền hay kinh thương, cho đến thời điểm này, các nhà khảo cổ trong và ngoài nước vẫn thống nhất với nhau rằng, Óc Eo là trung tâm đô hội lớn nhất của toàn bộ nền văn hoá Phù Nam.

CỔ VẬT ÓC EO PHÁT HIỆN VÀ TRƯNG BÀY

covatoceo-3

năm 1944 ở VN, nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret khai quật cánh đồng óc Eo (xã Vọng Thê, Thoại Sơn, An Giang). Cuộc khai quật ấy khiến người ta củng cố lòng tin về vương quốc Phù Nam vốn đã láng máng biết trước đó qua thư tịch cổ Trung Quốc và minh văn trên bi ký.

TS Phạm Quốc Quân – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử VN – cùng nhiều nhà sử học Đông – Tây nghiêng về phỏng đoán rằng Phù Nam không phải đế quốc cai trị và bóc lột mà chỉ là tập hợp của những tiểu quốc.

GS Lương Ninh, trong một chuyên khảo đã định vị một trong số nhiều tiểu vương quốc đó là Naravaranagara ở miền Tây sông Hậu, mà Óc Eo lại nằm trong đất của quốc gia cổ đại này. Tất nhiên, đây cũng chỉ là một giả thuyết.

Sau 1975, giới khảo cổ VN kế tục công cuộc nghiên cứu của L.Malleret, khai quật hàng loạt di chỉ từ Đồng Nai tới Kiên Giang, mang về cho các bảo tàng Nam Bộ hàng vạn hiện vật giá trị.

Hơn 300 cổ vật đặc sắc văn hoá óc Eo hiện  được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử VN cho thấy quyết tâm muốn chứng minh tính bản địa và sự phát triển của văn hoá óc Eo (TK 2 – TK 8) và vương quốc Phù Nam tại VN của các nhà sử học trong nước.

Từ di tích cư trú, di chỉ di vật kiến trúc, mộ táng, tượng thờ, đồ sinh hoạt và sản xuất…đều cho thấy cư dân óc Eo cách chúng ta 8 – 13 thế kỷ rất giàu có, tôn giáo tín ngưỡng phát triển và nghề buôn bán bằng đường biển thì… cực thịnh.

covatoceo-9

Đá quý, thiếc, thuỷ tinh, vàng, mã não, rồi đồ gốm, chì lưới, mộ táng ở nền Chùa, óc Eo, Đá Nổi, kiến trúc đền thờ Bà La Môn giáo ở Nền Chùa (Kiên Giang), óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp)…, tất cả cho thấy một đời sống sinh động của cư dân Phù Nam. Độ tinh xảo trên một số đồ trang sức thể hiện rõ nét tài hoa của người thợ kim hoàn đương thời.

Sưu tập tiền với nhiều loại chất liệu bạc, đồng, kẽm, có những đồng tiền cắt tư, cắt tám để làm tiền lẻ tìm thấy ở óc Eo cũng khá phổ biến ở nhiều di tích ven Vịnh Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Myanmar.

Như vậy, đã hình thành một dòng chảy thương mại nối liền óc Eo với Ấn Độ Dương bằng đường biển qua Vịnh Thái Lan và có thể bằng cả đường bộ theo đường nội địa. Những quả cân nhỏ bằng kẽm và những con dấu (kiểu bản địa, kiểu ấn Độ, kiểu La Mã, Hy Lạp) là bằng chứng của nền thương mại mang tính quốc tế.

Các nhà khảo cổ VN cũng tìm thấy hiện vật giai đoạn tiền Óc Eo, chứng tỏ sự phát triển theo quy trình tiếp biến của văn hoá Óc Eo. Hơi tiếc, ở cuộc trưng bày, dấu ấn bản địa, nội tại chưa hẳn đậm đặc.

TS Phạm Quốc Quân nói: “Trước đây người ta thường né tránh nhắc tới vương quốc Phù Nam và Champa, nhưng bây giờ chúng ta đã đưa chúng vào Lịch sử VN. Chúng tôi muốn phần nào chứng minh rằng dù có tiếp nhận, tiếp biến từ La Mã, Ba Tư, ấn Độ, thì Óc Eo vẫn là nền văn hóa phát triển nội tại, bản địa tiến tới đỉnh cao của nó là vương quốc Phù Nam”.

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Cổ vật Óc Eo trưng bày tại Viện Bảo Tàng

Ngày 24.6.2004, lần đầu tiên sau giải phóng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh phối hợp với 11 bảo tàng ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, cùng Bảo tàng Mỹ thuật và Bảo tàng Thành phố tổ chức trưng bày “Cổ vật văn hóa Óc Eo” quy mô lớn nhất từ năm 1944 đến nay. Hơn 400 hiện vật quý hiếm từ các vùng đất cực thịnh trước đây đã vén dần những màn sương từng bao phủ một nền văn hóa mang nhiều màu sắc bí ẩn để làm nên một diện mạo chung kể từ thời nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret có công phát hiện.

Hơn 400 cổ vật được trưng bày theo tiêu chí: chất liệu, lọai hình, niên đại; và chia thành bốn nhóm: cổ vật thuộc đồ gia dụng: khuôn đúc đồ trang sức, dụng cụ làm gốm, dụng cụ chế tác đồ kim hòan, nồi nấu kim lọai, bình có vòi, chì lưới, bàn nghiền… Đồ trang sức có các lọai nhẫn có chạm hình bò Nandin, bông tai hình lưỡi liềm, vòng đeo tay, chuỗi hạt, lá vàng hình hoa, chạm hình thú… Đồ trang trí đặc biệt ở cac cổ vật: đầu trụ, tượng đầu người, gạch kiến trúc, lá đề trang trí… Đồ thờ cúng gồm các cổ vật là tượng Phật, tượng thần, Linga, Yoni…

Tuy đây chỉ là một phần văn hóa Óc Eo (khu vực cư trú của nền văn hóa Óc Eo khá rộng, từ một phần đất Campuchia, Thái-lan, phía nam bán đảo Đông Dương, trừ Lào), song tính chất phong phú của bộ sưu tập này đã kích thích các nhà nghiên cứu và khảo cổ học đưa ra những giả thuyết mới. TS Phạm Hữu Công nhấn mạnh, một điều cơ bản mà khoa học chưa lý giải được tận bây giờ là nền văn hóa Óc Eo thuộc dân tộc nào, cho dù đã tìm thấy các bộ hài cốt. Theo nhiều nhà nghiên cứu về cổ nhân học, rất có thể đó là dân tộc đang sống dọc theo rìa Trường Sơn, hoặc ở vùng Bình Phước, Lộc Ninh (Mạ, Xtiêng, M’Nông…).

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Nhưng cũng không phủ nhận được một điều rằng nền văn hóa Óc Eo trong quá khứ từng có mối giao du với những trung tâm văn hóa lớn đương thời như Trung Quốc (trong những di chỉ đào lên), đế quốc La Mã (phát hiện đồng tiền La Mã thế kỷ thứ 2 khắc tên hoàng đế) và Ba Tư qua một số bức phù điêu. Đặc biệt, ảnh hưởng từ Ấn Độ là lớn nhất. Tượng Phật rất nhiều ở các vùng trên đất nước ta (tượng gỗ, đá), tượng thần Rama, Visnu (nhưng điều khó hiểu là ít thấy tượng thần Siva), những mặt người thể hiện trong thần thoại Ấn Độ, những thuỷ quái… Đặc điểm của những tượng mặt người này là sống mũi cao, thẳng, mắt to tròn, rất hiếm tượng có gương mặt của người Đông Nam Á. Đó là một điều đáng chú ý cho các nhà nhân chủng học.

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Điểm thứ hai, tuy không tìm thấy dấu vết tàu thuyền lớn đi các nước, nhưng có thể giải thích rằng đã có nhiều tàu thuyền từ các nước đến đây buôn bán giao dịch. Điểm thứ ba, không hề phát hiện ra vũ khí, nên có thể thấy đấy là một dân tộc sống hòa bình, và sự bình ổn của xã hội Óc Eo thời đó khá cao.

Các hiện vật tìm được gồm nhiều nhóm: đồ gốm, gỗ, đá, đồng, vàng. Nhóm đồ gốm khó có thể nhầm lẫn với đồ đương thời vì hình dáng đặc biệt và chất liệu đất nung do thời đó người ta còn chưa chế được men, như bình có vòi, phù điêu đậm chất Ấn Độ trang trí trên nền tháp, hình mặt người, đầu cột trụ, các viên gạch có hoa văn rất lạ, có in chữ vạn của nhà Phật.

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Nhóm đồ gỗ gồm kiến trúc cột nhà sàn (hoặc biểu tượng linga), một vài vật dụng làm gốm, trục bánh xe và tượng Phật.

Nhóm kim loại có những vật tròn bằng thiếc bên trên có khắc hình mặt trời đang mọc, những đồng tiền cổ bị chặt làm bốn, làm tám, giá hai đầu thú bằng đồng, tượng thần Visnu, nữ thần Ấn Uma, tượng Phật Trung Quốc thời Bắc Nguỵ (thế kỷ thứ 3), gương đồng, các lá bùa bằng thiếc. Đồ vàng là những thành tựu lớn của cư dân Óc Eo: nhiều mảnh vàng được chế tác tinh vi, dát mỏng dính, có hình vẽ thần nhân của Bà La Môn, bò thần Nadin, nhẫn có bò Nadin (vật cưỡi của Siva). Theo TS Công, các cổ vật hiếm quý nhất là pho tượng Phật Thích Ca do chính cư dân Óc Eo chế tác, cao 1,2 m cách đây hơn 1.500 năm, tấm vàng dài ba, bốn tấc trên có khắc minh văn bằng chữ cổ Ấn Độ, đồng tiền La Mã…

Trong số các Bảo tàng tỉnh, Long An là nơi đóng góp nhiều hiện vật nhất: hơn 200. Riêng Đồng Tháp, một trong ba tỉnh giàu hiện vật văn hóa Óc Eo nhất ở Việt Nam (chỉ sau An Giang, trên Long An) lại từ chối mang hiện vật lên TP Hồ Chí Minh do tỉnh và Sở Văn hóa – Thông tin không cho phép. Như vậy, khiếm khuyết lần này là thiếu hụt các cổ vật khai quật ở Đồng Tháp.

Mặt người bằng đất nung.

Mặt người bằng đất nung.

Diện mạo văn hóa Óc Eo đã hiện khá rõ: một nền kinh tế phát triển về thủ công nghiệp, sớm mở mang buôn bán với nước ngoài, có quan hệ với một số trung tâm thương mại lớn trên thế giới và một trung tâm tôn giáo phát triển.

Tổng hợp từ Internet

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Truyền thuyết những viên ngọc thời cổ ở Trung Hoa

Khi nhận xét về thú sử dụng ngọc ở Trung Quốc, một nhà khảo cứu về kim hoàn ở phương Tây, tiến sĩ Alfred Doodan (Mỹ) đã viết: Người Trung Hoa cho rằng ngọc là vật quý, hội đủ 5 đức tính cơ bản của con người, gồm nhân ái, khiêm tốn, dũng khí, công bằng và thông thái. Do đó việc họ tôn sùng nó là điều tất nhiên. Theo ông, đạo đức phương Đông nằm cả trong viên ngọc…

Ngày xưa, người Trung Quốc xem ngọc như một “vật thiêng”, vật trân trọng, quý giá bậc nhất. Chỉ những nhà quyền quý mới có được ngọc trong nhà và những bậc vua chúa mới được quyền sở hữu ngọc và dùng ngọc để làm biểu tượng quyền lực, địa vị tối cao. Ví dụ như ngọc tỷ, tức con dấu riêng của các bậc hoàng đế dùng để đóng dưới các chiếu chỉ, văn kiện. Hay như các ngọc ấn, ngọc bội mang tính đặc trưng mà các đại thần, vương tước thường hay sử dụng để làm vật gia bảo, vật trấn trạch cho riêng mình. Chính vì thế nên có thời ở Trung Quốc, dân thường không được dùng bạch ngọc là của riêng, bởi vì bạch ngọc chỉ để dùng làm ngọc tỷ, ngọc bội. Từ đời Tần cho tới đời Tống, lệ này vẫn còn được giữ.

Những viên ngọc đẫm máu

Miếng ngọc mang hình chim phượng hoàng đã xuất hiện cách đây hơn 7.000 năm.

Miếng ngọc mang hình chim phượng hoàng đã xuất hiện cách đây hơn 7.000 năm.

Khoảng 300 năm trước Công nguyên, ở nước Sở (Trung Quốc), vào triều Lệ Vương, có Biện Hòa là một thường dân, làm nghề buôn bán, may mắn có được một viên ngọc thô (ngọc chưa được trau chuốt), ông ta biết chắc đó là viên ngọc cực quý, nghĩ rằng thay vì sở hữu nó chi bằng đen cống nộp nó cho nhà vua, ắt tỏ rõ được bụng dạ trung thành của mình, đồng thời cũng yên tâm vì trao được vật quý cho người xứng đáng được sở hữu nó. Ông tìm dịp dâng lên Lệ Vương. Nhà vua nhìn thấy viên ngọc thô thiển, có ý xem thường, bèn bảo một tay thái giám mài thử xem thật giả. Tên thái giám ngu dốt sợ rằng nếu Biện Hòa có công dâng ngọc, biết đâu nhà vua sẽ sủng ái ông ta, làm ảnh hưởng đến địa vị của hắn. Do vậy, hắn liền gièm pha rằng đó là viên ngọc giả! Biện hòa bị gán tội khi quân, bị chặt mất một chân. Lệ Vương băng hà, Vũ Vương nối ngôi. Lần này Biện Hòa vẫn nuôi ý định dâng vua viên ngọc. Ông xin được vào cung để dâng lên vua viên ngọc thô tai ác đó. Lần này càng không may bởi người được vua ra lệnh thử viên ngọc vốn là người có tư thù với ông nên hắn chưa thử xong đã vội lắc đầu, chê ngọc giả. Kết quả là Biện Hòa bị chặt nốt chân còn lại! Quá đau đớn uất hận, Biện Hòa bèn ôm lấy viên ngọc, lao đầu vào tường toan tự tử. Vũ Vương kịp ngăn lại và sau đó đích thân xem xét viên ngọc. Cuối cùng ông cũng nhận ra đó là viên ngọc cực kỳ quý giá. Nhà vua hối hận thì mọi sự đã muộn. Biện Hòa đã trở thành người tàn phế, máu của ông loang đỏ cả sân triều. Từ đó viên ngọc quý này được mang tên là “ngọc bích Biện Hòa” – viên ngọc đẫm máu trong lịch sử Trung Hoa.

Còn có một loại ngọc rất kỳ bí, chỉ ở Trung Quốc mới có. Đó là những viên ngọc chôn theo người chết, mà người phương Tây gọi là Grave Jade (ngọc dưới mồ). Theo niềm tin của người Trung Hoa, ngọc thạch có một tính năng siêu phàm: để trị bệnh, để trường sinh bất lão, để giữ xác chết mãi mãi nguyên vẹn, để mang lại phúc lành…

Một trong những ngôi mộ cổ được khai quật gần đây ở miền trung Trung Quốc, người ta tìm thấy trong đó rất nhiều báu vật, trong số này thì ngọc thạch là nhiều hơn cả. Có một điều hết sức phi thường mà khoa học chưa chứng minh được là những mộ huyệt có nhiều ngọc thạch chôn theo xác chết thì lạ lùng thay, những xác chết đó vẫn còn nguyên vẹn, dù sau hơn 2.000 năm, như trường hợp của hoàng tử Liêu Thân và vợ là Tôn Vãn thuộc triều Hán, đã được chôn ngót 2.000 năm. Khi khai quật, những người chứng kiến đã vô cùng kinh ngạc, bởi cả hai xác chết vẫn còn nguyên vẹn, chẳng khác gì các xác ướp trong các hầm mộ của người Ai Cập cổ đại. Điều lạ là, các thi thể chẳng hề được tẩm ướp bất cứ thứ gì, ngoài việc bên cạnh có rất nhiều viên ngọc! Sau khi nghiên cứu kỹ, các nhà khai quật đã cho rằng, chính ngọc thạch đã giữ được sự nguyên vẹn của xác chết.

Một điều lạ nữa là những viên ngọc chôn theo dưới mồ ấy, sau một thời gian dài, khi đào lên, chúng sẽ có sự biến đổi khác thường: bạch ngọc thì từ trong suốt đã biến sang màu trắng đục hơn và từ bên trong ửng lên những vân màu hồng, giống như những sợi chỉ máu. Cẩm thạch thì từ màu xanh lục biến đổi sẫm hơn, ửng hồng như nhuộm với máu. Riêng hồng ngọc, hoàng ngọc, lam ngọc… thì màu sắc cũng có sẫm thêm, nhưng khi đặt dưới ánh sáng mặt trời hay ánh sáng đèn, nó rực lên một thứ ánh sáng lung linh kỳ dị, như từ một cõi u minh nào đó. Người ta nói rằng, những viên ngọc đó đã thấm máu và tinh khí từ cơ thể người, hay đúng hơn là thấm hồn người chết. Do đó nó càng trở thành vô giá, cực kỳ linh thiêng.

Ngọc để trị bệnh và giữ sắc đẹp

Từ Hy Thái hậu

Từ Hy Thái hậu

Tương truyền, nhờ có khả năng kỳ diệu mà ngọc thạch đem lại, Từ Hy Thái hậu vẫn giữ được sự tươi trẻ, uy nghiêm khi sắp qua đời.

Tương truyền, Thái hậu Từ Hy lúc còn trẻ đã có cái thú mê ngọc và xem ngọc như vật bất ly thân. Bà được một nhà sư Lạt ma bí mật chỉ cho cách dùng ngọc để giữ gìn sắc đẹp. Cách đó rất ly kỳ như sau: muốn cho làn da mãi mãi tươi nhuận, dù già mà vẫn không có nếp nhăn thì dùng ngọc trai nấu nhừ, tán nhuyễn, pha với sữa của phụ nữ có con so rồi thoa lên mặt, lên da ở bất cứ đâu mỗi buổi sáng tối như ngày nay phụ nữ thoa kem dưỡng da. Hoạt chất đặc biệt ở ngọc trai sẽ giúp duy trì sự tươi trẻ. Điều này đã được chứng minh, Từ Hy sau này khi đã trên 60 tuổi nhưng nhan sắc vẫn còn như người ở tuổi thanh niên. Tương truyền rằng lúc qua đời ở tuổi 70, nhan sắc của bà vẫn còn tươi tắn! Người ta khẳng định rằng, có được nhan sắc đó là nhờ vào tính năng ưu việt của ngọc thạch. Nguyên là lúc nào trong người của bà Từ Hy cũng mang theo hai viên bạch ngọc thuộc loại quý hiếm nhất, chúng có kích cỡ to bằng quả trứng. Chính các Lạt ma đã bảo đảm với Thái hậu rằng, khi nào bà còn giữ được hai viên bảo ngọc đó trong người thì sinh lực sẽ luôn dồi dào, ngọc sẽ đẩy lùi được mọi bệnh tật…

Đúng hay sai về truyền thuyết trên, cho đến nay chưa ai chứng minh được. Nhưng rõ ràng là người ta vẫn cứ tin rằng ngọc thạch có nhiều khả năng kỳ lạ, huyền bí như những truyền thuyết. Bởi thế, cho mãi đến ngày nay, người Trung Hoa vẫn tôn sùng thứ bảo thạch đó và họ đã đem cái thú đam mê này truyền sang cho rất nhiều người trên thế gian!

Theo khoahoc.com

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Cổ vật Phùng Nguyên – Văn hoá đồ đá

cổ vật Phùng Nguyên

cổ vật Phùng Nguyên

Thú chơi đồ cổ có từ lâu đời, làm say mê, vui buồn bao lớp người giàu sang, quyền quý cũng như dân thường nơi thôn dã. Báu vật – những đồ cổ quý hiếm mang giá trị lịch sử, văn hóa, kinh tế – được giữ gìn bảo quản từ thế hệ trước sang thế hệ sau.

Phùng Nguyên- mảnh đất phù sa ven bờ sông Thao với những đồi cây rậm rạp của vùng trung du, mà dấu vết còn lại là những rừng Quần, rừng Ma Sặc, rừng Giõ… cùng những lớp đá cuội dày đặc trầm tích của những dòng sông cổ.

Văn hóa Phùng Nguyên có hơn 60 di chỉ phân bố trong một phạm vi rộng khắp đồng bằng Bắc Bộ, chủ yếu là dọc theo lưu vực các con sông lớn chảy từ phía Bắc xuống sông Hồng, sông Đà. Ở văn hóa này, các loại hình di tích rất đa dạng, từ di chỉ cư trú, mộ táng đến các di chỉ xưởng sản xuất công cụ lao động và đồ trang sức. Nhiều loại nguyên liệu đá được sử dụng như đá bazan, Diabazan, Spilite… nhưng phổ biến và đặc trưng hơn cả vẫn là đồ ngọc Nephrite và Jadiete. Theo nhiều tài liệu của các nhà khảo cổ học, thì người Phùng Nguyên cũng sử dụng hỗn hợp cả hai loại đá này trong cùng mục đích chung là chế tạo công cụ lao động, vũ khí, đồ trang sức.

Đồ đá ở đây, không những nhiều về số lượng, mà còn phong phú về loại hình. Đặc điểm của đồ đá Phùng Nguyên là được chế tạo với một trình độ kỹ thuật cao, đồ đá sản xuất ra được mài nhẵn bóng, hình dáng cân đối đều đặn, có góc vuông cạnh thẳng hoặc tròn trặn duyên dáng. Kích thước nhỏ nhắn là một đặc điểm nổi bật của đồ đá Phùng Nguyên so với các nơi khác. Ở Phùng Nguyên, số lượng rìu to lớn không nhiều. Nhiều chiếc rìu nhỏ đến mức khiến người ta nghi ngờ khả năng sử dụng thực tế của chúng, có những chiếc dài không quá 2cm. Vũ khí săn bắn ở Phùng Nguyên tuy có, song cũng hiếm. Những mũi tên hình lá hẹp dài có cán hoặc không, những mũi tên dẹt hình tam giác, cùng những mũi tên hình ba cạnh mang dáng dấp đặc trưng riêng biệt .

Covat2

Các loại vòng trang sức cũng là một trong những đặc điểm của đồ đá Phùng Nguyên. Vòng ở đây không những nhiều về số lượng, mà kiểu dáng cũng muôn hình muôn vẻ. Phần lớn những vật đeo này được chế tạo từ những mẩu đá ngọc còn thừa trong các chế tác khác chứng tỏ sự sáng tạo của con người trong văn hóa này. Hạt chuỗi được người Phùng Nguyên sử dụng là những hạt chuỗi hình ống, nhiều chiếc có chiều dài tới 8-9cm nhưng lỗ khoan rất nhỏ. Nhiều hạt được mài vắt chéo ở hai đầu như thể đó là vật chủ trong một chuỗi hạt của người Tràng Kênh. Ngoài ra, hạt chuỗi dạng hạt cườm mỏng cũng rất phổ biến. Về mặt cắt ngang vòng, có đủ loại: Hình vuông, tròn, bán nguyệt, tam giác, chữ nhật, hình thang, và có thêm gờ nổi. Về màu sắc thì từ trắng ngà, tím nhạt đến gan gà, xám xanh, đủ loại. Kiểu loại tuy nhiều, song trong đó, vòng mặt cắt hình chữ nhật dẹt chiếm số lượng nhiều hơn cả. Có tới 424 mảnh vòng loại này trong tổng số 540 mảnh vòng thu lượm được. Nếu cho rằng, loại vòng bản rộng có gờ nổi tiêu biểu cho trình độ cao của kỹ thuật đồ đá Phùng Nguyên, thì cũng có thể nói, sự phong phú loại vòng mặt cắt ngang hình chữ nhật dẹt là một đặc điểm của vòng trang sức Phùng Nguyên. Trong các giai đoạn sau, loại vòng này giảm dần và gần như mất hẳn, mà xuất hiện các loại vòng lớn có mặt cắt ngang hình bán nguyệt hoặc gần tam giác.

Ở Phùng Nguyên, bên cạnh hàng trăm bàn mài hình lòng chảo, bàn mài rãnh hình lòng máng hay vạch sâu hình chữ V, còn phát hiện được loại bàn dập có rãnh nhỏ song song ở hai mặt. Hiện vật này, tuy công dụng chưa được xác định, song rõ ràng, nó là một di vật độc đáo của di chỉ Phùng Nguyên cùng những di chỉ đồng loại mà ở các di chỉ có niên đại sớm hay muộn hơn, cũng như ở những văn hóa cùng thời khác trên nước ta, chưa hề phát hiện được.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »