Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 14th, 2009

Khám phá tranh Nude

Như C.Monet rung động trước những bông hoa súng nở khi ông vẽ bức hoạ Đầm hoa súng. Như Nguyễn Tiến Chung rung động trước vẻ đẹp của phong cảnh Chùa Thầy khi ông vẽ bức Xóm núi Sài Sơn. Trong đề tài nude, nhục cảm cũng chính là một phần tạo ra mỹ cảm. Một phần nhỏ thôi nhưng rất quan trọng mang tính đặc thù của riêng thể loại này, hay nói cách khác nhục cảm đã tạo ra cảm xúc cho nghệ sĩ. Thực ra thì cực kỳ khó để phân tích, bóc tách rạch ròi đâu là nhục cảm, đâu là mỹ cảm trong một tác phẩm nude.

Đứng trước một bức tranh ảnh tĩnh vật, phong cảnh hay nude thì hãy xem nó là những tác phẩm nghệ thuật, bởi vì dù là vẽ gì đi chăng nữa thì cũng chính là các nghệ sĩ đang thể hiện mình. Qua một bức tranh, ảnh, quan trọng nhất là phải xem cách tác giả thể hiện đề tài đó như thế nào – tức là ngôn ngữ nghệ thuật của họ chứ không chỉ xem bản thân đề tài đó.

Đề tài thuộc phạm trù nội dung, nó khá tĩnh tại. Nội dung tưởng là quyết định hoá ra lại không hẳn là như vậy. Phần hình thức mới thực sự quan trọng, mới là yếu tố tạo ra phong cách, tạo ra tác giả. Chính vì vậy mà tất cả các cuộc cách tân trong nghệ thuật đều khởi đầu và kết thúc ở phạm trù hình thức. Trong một bức tranh, hình thức chính là cách tạo hình, bố cục, xử lý hoà sắc, đậm nhạt, kích cỡ, chất liệu, bút pháp v.v…

Nghệ thuật là câu chuyện của từng cá nhân, mỗi nghệ sĩ là một thế giới khác biệt. Thưởng thức nghệ thuật là khám phá thế giới đó. Suy cho đến tận cùng, chụp một cô gái nude cũng chính là chụp mình. Vẽ một cô gái nude cũng chính là “tự hoạ” mình, tự “nude” mình, tự thể hiện mình, phơi bày mình ra, mở mình ra, tự khám phá mình mà thôi.

Tuy nhiên mỗi đề tài cũng có một đặc điểm riêng. Nude cũng vậy và tôi muốn nhắc lại nhục cảm là đặc điểm riêng của đề tài này, nếu không như vậy thì các nghệ sĩ đã không chọn các cô gái trẻ đẹp làm đối tượng để miêu tả.

Nếu chỉ cần sự hùng vĩ thì họ đã vẽ một quả núi, nếu cần sự trong sáng thì họ đã vẽ một lọ hoa sen trắng bên cửa sổ sớm mai.

Khi xem tranh nude người xem cũng nên quan tâm đến đặc điểm đó. Nếu không thưởng thức được yếu tố nhục dục ẩn chứa bên trong vẻ đẹp nude thì thật lãng phí. Nếu chỉ cần xem sự thánh thiện thì nên xem những bức tranh phong cảnh, chụp những tịnh thất ẩn mình trong khe núi. Nếu chỉ cần thưởng thức vẻ đẹp thanh cao thì nên xem những bức tranh, bức ảnh thể hiện các lão nông đang làm ruộng, bên trên là trời xanh, mây trắng đã là quá đủ.

Nếu chỉ nhìn thấy nhục dục mà không thấy đẹp thì không cần đến nghệ thuật (hoặc người xem nên xem lại mình). Ngược lại nếu không thấy yếu tố dục ẩn hiện dưới vẻ đẹp thì cũng chẳng cần đến đề tài này. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, người xem cần khám phá được phong cách của từng tác giả và quan trọng hơn hết là người xem phải biết cách làm mới tâm hồn mình, làm đẹp chính mình khi đối diện và tiếp xúc với nghệ thuật.

Click trên hình để xem ảnh lớn của những tranh dưới đây:

Danilo Ricciardi was born in 1958 in Siracusa, located near the southeastern corner of Sicily on the Ionian coast. He became a full-time painter at the age of 22. His paintings have been exhibited in Geneva, Malta, New York, Rome, many cities in Italy, and elsewhere.

Stefan Hadzi-Nikolov was born in 1955 in Skopje, the capital of Macedonia. Landlocked Macedonia is located in southeastern Europe, north of Greece.

 

Stefan Hadzi-Nikolov

Stefan Hadzi-Nikolov

 

 

Stefan finished Teacher’s Training College in Skopje in 1975. He has been a member of the Association of Art Painters of Macedonia since 1984, and has participated in more than eighty group exhibitions in Macedonia and other countries. Stefan has had solo exhibitions in Bulgaria, Czech Republic, France, Greece, Macedonia, Slovenia, Turkey, United Kingdom, and Yugoslavia.

AWARDS

1987 Purchase award “Kliment Ohridski”, DLUM (Macedonian Society of Artists) DRAWING’S 7 – Skopje

1989 A special award for painting of Author’s Agency of Macedonia, Autumn Exhibition of DLUM, Art Gallery, Skopje

1989 Award of Gallery “Labin” at the Exhibition “Painting of a Small Format”

INDIVIDUAL EXHIBITIONS

1982 Skopje, Centre of Culture and Information

1982 Novi Sad, Gallery of the Cultural Centre

1983 Stip, Cultural Centre “Aco Sopov”

1985 Skopje, Lobby of the Macedonian National Theal

1986 Ljubljana, Gallery “Commerce”

1988 Ohrid, Gallery “Labin”

1989 Thessaloniki (Greece), Gallery “K7”

1991 Skopje, Centre of Culture and Information

1992 Sofia (Bulgaria), Gallery “Sredets”

Stefan does not have his own website and his email address is unknown!

Ina Lukauskaite’s biography, below, is quoted from her website [June 2008]:

“I am Ina Lukauskaite. I was born on January 10th in the Lithuanian Republic in the town of Gargzdai. Once upon a time I had a favorite job, reliable friends and a sweetheart. On the whole there remained only reliable friends and the probability that I will not lose them in future. During my studies at Steponas Zukas College of Applied Art in Kaunas I was glad to leave the native town, and really never hoped to return there. But never say NEVER. Today I am in Gargzdai again. The reliable friends have not left me, and my son Matas reminds me of my great love.

“I recognized by chance about a Christmas postcard competition in 1998 announced by the publishing house ‘Saules vejas’. I had painted my postcard in a few nights and won. From that point I began to paint more actively. I held an exhibition of my works in Kretinga (Lithuania), and then two exhibitions in 1999 and in 2000 in my birthplace, Gargzdai. 2001 in Klaipeda (Lithuania).

“I write lyrics. Some of my verses were published in the Lithuanian cultural magazine ‘Nemunas’ (2000).”

Escha van den Bogerd was born in 1972 in The Hague, Netherlands, where she attended the Rudolf Steiner school, a school with many art subjects including painting, drawing, and art history. After leaving school Escha took several art courses around Europe, including Austria, Italy, and Holland. She has traveled extensively, to study, paint, or exhibit her work, in Austria, Italy, Netherlands, New Zealand, United States, the Middle East, and most of Asia and Europe. She met fellow artist and partner David Blair in New Zealand. Today they spend most of their time in Austria, Netherlands, and New Zealand.

Some more Stefan Hadzi-Nikolov’ s nude paintings:

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude paintings

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude paintings

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting for sale at Renoir - Art Gallery

Stefan Hadzi-Nikolov' s nude painting for sale at Renoir - Art Gallery

 

Lê Thiết Cương

– ảnh KhanhHoaThuyNga sưu tầm

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Sưu tập gốm Bát Tràng

Thế kỷ 14 – 19 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ mối quan hệ giao lưu thương mại giữa Đại Việt và nhiều nước trên thế giới. Trong đó, đồ gốm là mặt hàng xuất khẩu được ưa chuộng ở nhiều nước trong vùng Đông Á và Đông Nam Á, đã tạo tiền đề cho nghề sản xuất đồ gốm ở Việt Nam đạt đỉnh cao. Trong thời gian này nghề làm gốm đã phát triển thành những trung tâm sản xuất mang tính chuyên môn hoá như: Bát Tràng (Hà Nội), Nam Sách (Hải Dương), Thổ Hà (Bắc Giang), Phù Lãng (Bắc Ninh) …

Cặp hũ có nắp, men rạn và lam, tk 19

Cặp hũ có nắp, men rạn và lam, tk 19

Đồ gốm Bát Tràng sản xuất chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đặc biệt là những đồ gốm phục vụ nhu cầu tôn giáo như chân đèn và lư hương. Nhiều sản phẩm gốm loại này hiện lưu giữ tại BTLSVN có ghi khắc rõ tên tác giả, ngày tháng và nơi sản xuất tại Bát Tràng.

Sản phẩm gốm Bát Tràng nổi tiếng thuộc dòng gốm hoa lam, hoa nâu, men nhiều màu và men rạn.

Dòng men chủ yếu của lò gốm Bát Tràng là gốm hoa lam.

Đỉnh có nắp, men rạn và nhiều màu, tk 19

Đỉnh có nắp, men rạn và nhiều màu, tk 19

Trong dòng gốm men nhiều màu, đồ thờ tự chiếm một tỷ lệ lớn hơn cả, với nhiều dạng lư hương, chân nến, long đình, song bình, độc bình… trang trí đắp nổi không men đề tài hoa lá, chim muông. Ngoài ra đồ gia dụng như: nậm rượu, bình vôi, bát điếu cũng là các loại đồ gốm khá phổ biến ở Bát Tràng.

Gốm men rạn được sản xuất ở lò gốm Bát Tràng vào khoảng tk 17 – 19. BTLSVN hiện đang trưng bày một sưu tập gồm các loại hình chân đèn, lư hương ba tầng cánh sen, đỉnh có chân đế, lư hương tạo dáng một bông sen, đế lá sen. Ngoài ra, các loại chân nến trúc hoá long, đài thờ, hũ trang trí tứ quý, tượng Kim Cương, tượng Di Lặc, tượng nghê … cũng là những loại hình đặc trưng tiêu biểu cho dòng gốm men rạn Bát Tràng.

 

Nguồn Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Sưu tập gốm men độc sắc Việt Nam

Gốm men độc sắc Việt Nam xuất hiện sớm, phong phú về kiểu dáng, loại hình và hoa văn trang trí. Sưu tập gốm này gồm các dòng men như: men ngọc, men trắng, men nâu, men xanh lục…

gt_gommendocsac1

Gốm men ngọc: gồm 3 giai đoạn phát triển: – Giai đoạn 1, khoảng tk 6 – 10, đó là giai đoạn tiền men ngọc, với men xanh ngả vàng mỏng. Đây là giai đoạn gốm Việt Nam mang phong cách Hán – Đường. – Giai đoạn 2, khoảng tk 11 – 14, là giai đoạn men ngọc Việt Nam phát triển rực rỡ, với nhiều loại hình phong phú, được sản xuất ở nhiều trung tâm như Thăng Long (Hà Nội), Thiên Trường (Nam Định). Gốm giai đoạn này có nhiều màu sắc: xanh cốm, xanh ngả vàng, xanh xám … do độ lửa trong lò không đồng đều và công thức men không định hình, nhưng cũng chính điều này đã làm cho gốm men ngọc Việt Nam có sự khác biệt và hấp dẫn so với gốm Tống – Nguyên của Trung Quốc đương thời. Đặc biệt, gốm men ngọc có chữ Thiên Trường phủ chế (chế tạo ở phủ Thiên Trường) là chứng tích về một trung tâm sản xuất gốm phục vụ cho cung đình ở Việt Nam là khá sớm. – Giai đoạn 3, tk 15 – 16 gốm men ngọc Việt Nam khá định hình về màu sắc nhưng loại hình không phong phú như giai đoạn trước. Gốm men ngọc giai đoạn này chủ yếu được sản xuất ở các trung tâm gốm Hải Dương và Thăng Long (Hà Nội). Ở BTLSVN, sưu tập gốm men ngọc có đủ các đại diện cho 3 giai đoạn phát triển cung cấp cho những người nghiên cứu và yêu thích. Gốm men trắng: xuất hiện từ tk 11 và kéo dài đến ngày nay. Trong lịch sử phát triển 9 thế kỷ, gốm men trắng Việt Nam có 3 giai đoạn phát triển chính: – Giai đoạn Lý – Trần (tk 11 – 14) gốm men trắng Việt Nam có màu men trắng đục, xương gốm mịn khác biệt hoàn toàn với gốm bạch định Tống – Nguyên (Trung Quốc), tạo nên một sự riêng biệt đặc thù gốm Đại Việt. – Giai đoạn Lê Sơ (tk 15 – 16) gốm men trắng Đại Việt đạt đỉnh cao, với mầu men trắng trong, xương mỏng, thấu quang, đạt trình độ sứ trắng. Nhiều đồ gốm tìm thấy ở Thăng Long (Hà Nội), Lam Kinh (Thanh Hoá), tàu cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam), có in nổi chữ “quan” chứng minh đó là sản phẩm sứ cao cấp, phục vụ cho cung đình và xuất khẩu. – Giai đoạn Lê Trung Hưng – Nguyễn (tk 17 – 19): sự xuất hiện men trắng với kỹ thuật rạn to, hiện còn lưu lại trong một số đồ gốm thờ tự, đang được lưu giữ và trưng bày tại BTLSVN.

gt_gommendocsac2

Sưu tập gốm men trắng ở BTLSVN có đủ các đại diện cho 3 giai đoạn phát triển chính với nhiều loại hình phong phú, chắc chắn giúp ích nhiều cho những ai quan tâm. Gốm men nâu: có thành phần men gốc ôxít sắt. Loại gốm này có 4 giai đoạn phát triển: – Giai đoạn 1 (tk 7 – 10): gốm men nâu có phong cách Đường, men mỏng và màu nâu sẫm. – Giai đoạn 2 (tk 11 – 14) thời Lý – Trần, gốm men nâu có nhiều sắc độ do thành phần có nhiều tạp chất và nhiệt độ nung trong lò chưa đủ kỹ thuật khống chế. Sự xuất hiện những đồ gốm ngoài men nâu, trong men trắng là minh chứng của sự ảnh hưởng qua lại giữa các dòng men. – Giai đoạn 3 (tk 15 – 16), gốm men nâu thời Lê có sắc nâu khá định hình và màu nâu tươi tắn. Những trung tâm sản xuất gốm 3 giai đoạn nói trên chủ yếu ở Thăng Long (Hà Nội), Hải Dương. – Giai đoạn 4 (tk 17 – 20), tập trung chủ yếu là đồ gốm thờ tự và gia dụng, thuộc trung tâm sản xuất gốm Phù Lãng Bắc Ninh. Ở BTLSVN, gốm men nâu có đủ đại diện cho các giai đoạn phát triển nêu trên. Gốm men xanh lục: hay còn được gọi là men Islam với thành phần men là ôxít đồng. Có 2 giai đoạn phát triển chủ yếu, đại diện cho 2 kỹ thuật hoàn toàn khác nhau: – Gốm men xanh lục nhẹ lửa (tk 11 – 14), loại hình chủ yếu là bát, đĩa, ấm, liễn… với nhiều đồ án hoa văn đặc trưng cho thời kỳ này. – Gốm men xanh lục nặng lửa (tk 15 – 16), loại hình chủ yếu là bát, đĩa, âu… hoa văn trang trí tiếp nối truyền thống Lý – Trần, nhiều đồ án mang phong cách thời đại. Đây là dòng men không có nhiều, BTLSVN lưu giữ và trưng bày một số tiêu bản điển hình.

Gốm men lam xám: ở Việt Nam dòng gốm này xuất hiện muộn hơn so với các dòng men kể trên, bắt đầu vào tk 15 và kéo dài đến thế kỷ 18. Đó là những sản phẩm gốm có màu lam xám hoặc lam tím dầy phủ trên cốt gốm xốp. Dòng gốm men lam này được sản xuất tại một số trung tâm gốm nổi tiếng như Chu Đậu (Hải Dương), Bát Tràng (Gia Lâm – Hà Nội)… Loại hình chủ yếu là những đồ thờ và đồ gia dụng như : Chân đèn hai phần đắp nổi rồng uốn khúc yên ngựa, lư hương đắp nổi rồng và mây đao mác, ấm tỳ bà, ang hình cầu… Đặc biệt BTLSVN hiện đang lưu giữ nhiều tiêu bản chân đèn men lam có minh văn, ghi khắc tên tác giả chế tạo như gia đình nghệ nhân Đặng Huyền Thông với niên đại tuyệt đối.

Nguồn Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam

Read Full Post »

Sưu tập gốm Việt mười thế kỷ đầu Công nguyên

Đây là thời kỳ dân tộc Việt Nam chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong suốt gần mười thế kỷ đầu Công nguyên, mở đầu bằng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 sau công nguyên. Trong thời kỳ này các ngành nghề thủ công ngày càng hoàn thiện, trong đó, nghề sản xuất gốm tiếp tục phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng Trung Hoa. Hiện nay, BTLSVN lưu giữ một sưu tập khá phong phú và một số sưu tập gốm thuộc thời kỳ này đang được trưng bày tại hệ thống chính. Đây là một bộ sưu tập có lịch sử sưu tầm khá lâu dài, mà đa số thuộc về công lao các học giả Trường viễn Đông bác cổ, thông qua những cuộc khai quật vào những thập niên đầu thế kỷ 20 và một số được sưu tầm trong những năm gần đây.

gt_thiennienky1

Sưu tập gốm men, tk 1 - 3

Loại hình đồ đất nung như: mô hình nhà, mô hình giếng nước, tháp nhỏ, các loại gạch xây tháp, xây thành cùng nhiều đồ đựng, đồ đun nấu như nồi, vò, bát, chén….

Đồ gốm men gồm: ấm, âu, bát, bình, chậu, chân đèn, chén hai tai, cốc đốt trầm, đĩa, đỉnh, lọ, nồi .v.v..

Những đồ gốm này có nguồn gốc thu được từ các ngôi mộ gạch xếp, mộ quan tài thân cây khoét rỗng hay mộ cũi. Dấu tích của loại hình mộ gạch xếp mang phong cách Hán, đã được biết đến từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, trong khu vực các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam xưa. Tập trung nhất là các địa điểm Mạo Khê (Quảng Ninh), Nghi Vệ (Bắc Ninh), Lạch Trường (Thanh Hoá). Nguồn thứ hai là đồ gốm thu được từ những cuộc khai quật di tích sản xuất ở Tam Thọ (Thanh Hoá), Bái Đinh, Đương Xá (Bắc Ninh)…

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Đặc điểm chính của đồ gốm thời kỳ này là ít có hiện vật kích thước lớn, xương gốm dày, lớp men phủ thường không trùm hết, màu men vàng ngà, trắng nhạt hay xám. Các vò, hũ gốm kiểu Hán thường in nổi văn ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S… Một số ấm, âu, hũ có trang trí cánh sen, chim nước, cá, đầu gà, đầu voi. Các loại gạch xếp mộ thường có hình chữ nhật và hình múi bưởi, hoa văn in nổi trên một rìa cạnh gồm: ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S. Nhiều loại hình đồ gốm tạo dáng tương tự đồ đồng cùng thời như ấm đầu gà, chén hai tai, liễm hình trụ, bình con tiện, bình có quai…

 

Nguồn ảnh và chú thích: Bảo Tàng Lịch sử Việt Nam

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »