Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 13th, 2009

Văn hóa Trà Tân Cương

xinjiangch010609

Trà có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc, văn hóa trà dân tộc thiểu số của Khu Tự trị dân tộc Uây-ua Tân Cương Trung Quốc là một bộ phận quan trọng trong văn hóa trà truyền thống của dân tộc Trung Hoa. Các loại trà như: trà bánh, trà bơ, trà hoa, trà thuốc vv là những thứ không thể thiếu được trong cuộc sống của nhân dân các dân tộc Tân Cương. Mùa hè nóng bức, uống chén trà có thể giải khát; Mùa đông giá lạnh, uống chén trà có thể ấm lòng.

Tân Cương không phải nơi sản xuất ra trà, nhưng vì Tân Cương là đoạn đường tất yếu trên con đường tơ lụa cổ trong hoạt động thương mại, cho nên lượng buôn bán trà cũng rất lớn. Thói quen uống trà cũng dần dần đi vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân các dân tộc Tân Cương.

Ở Tân Cương có câu nói “Trong một ngày, thà không ăn cơm chứ không thể không uống trà”. Qua câu nói này chúng ta có thể thấy trà đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của dân tộc thiểu số Tân Cương, mà điều này lại liên quan chặt chẽ tới thói quen ẩm thực của họ.

Đa số người dân dân tộc thiểu số sinh sống ở Tân Cương là dân chăn nuôi và dân trồng trọt, họ chủ yếu ăn các loại thịt bò, cừu, uống sữa vv, uống trà không những có thể giúp tiêu hóa, giảm ngấy, mà còn có thể bổ sung vi-ta-min. Tổng Thư ký Hội Văn hóa trà Khu Tự trị Uây-ua Tân Cương Lý Viên nói:

“Theo tôi được biết, nhìn từ lịch sử phát triển của văn hóa trà ở Tân Cương, người dân tộc Uây-ua uống trà theo phong cách quý tộc và phong cách bình dân, bất kể là phong cách nào cũng đều rất cầu kỳ. Phong tục uống trà, trà đạo thuộc văn hóa dân tộc Uây-ua có thể sánh vai với trà đạo của Nhật. Tôi từng được thăm một số gia đình trước kia là quý tộc, họ kể lại rằng, lúc bé những túi vải đựng chè phải do các cụ bà có uy tín trong dòng họ may lấy, chẳng hạn như thêu bông hoa màu phấn hồng trên mặt túi, rồi thêu chiếc lá gì cho hợp với hoa, phải do người được chỉ định thêu lấy.. Sau khi cho chè vào túi, phải để túi ở nơi cao hơn đầu người.”

Khi khách ngồi vào bàn, để bày tỏ lòng thành kính, chủ nhà sẽ tráng bát uống chè trước mặt khách, sau đó rót nước tráng vào bát của mình để uống. Tổng Thư ký Hội Văn hóa trà Khu tự trị dân tộc Uây-ua Tân Cương Lý Viên nói:

“Thông qua những lời kể trên, chúng ta có thể thấy rằng trình tự pha trà rất cầu kỳ, cũng rất nghiêm ngặt. Nếu khách không uống nữa phải úp bát, hoặc lấy tay đặt lên miệng bát.”

xinjiangch010609a

Đến thăm gia đình dân tộc thiểu số Tân Cương, chủ nhà sẽ rót một bát trà nóng hổi mời khách để bày tỏ niềm hân hoan đón khách phương xa. Chủ nhà nhiệt tình hiếu khách sẽ thiết đãi các loại thức ăn thịt cừu, thịt nướng, sữa chua vv, sau khi uống một chén trà sẽ thấy dạ dày dễ chịu hơn.

Ỏ vùng Ca-chê, Hoà Điền miền nam Tân Cương, có loại trà thuốc dân gian gồm trà bánh, đinh hương, vỏ quế, hồi hương vv, dân địa phương gọi là “Trà Uây-ua”. Tổng Thư ký Hội Văn hóa trà Khu tự trị Uây-ua Tân Cương Lý Viên nói:

“Ở Hoà Điền, nhà nào nhà nấy đều có một ấm pha trà, họ thường cho một nắm trà đã trộn sẵn vào ấm để pha. Loại trà cũng có tên là “túi trà”, do các cụ ở địa phương tự pha chế theo tỷ lệ nguyên liệu nhất định. Lúc uống có vị hơi cay cay, có tác dụng chống cảm cúm. “

Người Hòa Điền thường có tuổi thọ cao, điều này được coi là liên quan với uống trà. Khi trà mới được nhập vào Hòa Điền, người dân địa phương coi trà là thuốc, pha nước uống cùng với cây cỏ, chất khoáng đặc biệt của địa phương, có thể chế biến thành trà thuốc thiên nhiên có tác dụng làm cho con người tỉnh táo, giải nhiệt, giã rượu, giúp tiêu hóa, sống lâu vv.

Ngoài trà bánh, trà thuốc ra, trà bơ cũng là một loại trà quan trọng của Tân Cương. Kết hợp hương thơm, màu sắc của trà và sữa tươi, trà bơ có hương vị thơm phức, độc đáo, trên mặt trà thường phủ một lớp váng sữa, uống rất thơm ngon.

Loại trà Rô-bu-ma được trồng ở bờ sông Ta-li-mu và sông Khổng Tước có thể phòng chống điều trị bệnh cao huyết áp, có tác dụng đặc biệt đối với sức khỏe. Tổng Thư ký Hội Văn hóa trà khu tự trị Uây-ua Tân Cương Lý Viên nói:

“Chè Tân Cương đều nhập từ bên ngoài, trà bản địa chỉ có trà Rô-bu-ma. Trà Rô-bu-ma là một sản vật quý báu của Tân Cương, loại trà này sinh trưởng trong vùng sâu sa mạc, rất sạch, không bị ô nhiễm.”

Ngoài những loại trà nói trên, người Tân Cương còn thích uống trà hoa hồng và chè Hê-gia-lun. Hiện nay, càng nhiều người biết đến chè nội địa và dần dần thích tìm hiểu và thưởng thức trà.

Năm 2002, Khu tự trị Uây-ua Tân Cương thành lập Hội văn hóa trà, tiến hành đào tạo tay nghề pha trà, nghệ thuật pha trà, kiến thức trà đối với nhân viên công tác ở phòng trà, đơn vị hội viên vườn trà, đồng thời cấp giấy chứng chỉ tay nghề dành cho nhân viên đủ tiêu chuẩn. Điều quan trọng hơn là, Khu tự trị Tân Cương đang tích cực bắt tay vào việc khai thác và chỉnh lý văn hóa trà dân tộc thiểu số Tân Cương.

Phó Hội trưởng thường trực Hội Văn hóa trà Tân Cương Thừa Hiến Minh nói:

“Hội sẽ tìm hiểu tình hình thị trường ngành trà, quảng bá văn hóa trà, quan niệm kinh doanh phòng trà, phát triển ngành nghề theo hướng công nghiệp hóa, tổ hợp hàng loạt nhà kinh doanh có năng lực và có tầm nhìn xa trông rộng, lôi kéo sức ảnh hưởng của cả ngành nghề, gây dựng thương hiệu, dẫn dắt toàn ngành phát triển lành mạnh. Quảng bá văn hóa trà, để càng nhiều người hiểu biết về nội hàm của văn hoá trà.”

Biên khảo: Đức Chính


*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

II. Các đặc trưng văn hoá của hình tượng hồ lô

1. Các đặc trưng văn hóa của hình tượng hồ lô

a. Tính biểu trưng

Từ khi chiếc hồ lô tự nhiên thăng hoa, hình tượng hồ lô được dân gian các tộc người Trung Hoa gửi gắm vào đấy nhiều ước vọng ở đời:

– Biểu trưng nữ tính – phồn thực: đặc trưng nổi bật nhất của hình ảnh chiếc hồ lô dân gian.

Về hình dáng, hồ lô được cho là 1) giống với bộ ngực căng tròn của người mẹ đang trong thời kì cho con bú; 2) giống với sinh thực khí nữ (nội âm lẫn ngoại âm); 3) giống với phần thân của người phụ nữ có mang. Ngoài ra, hồ lô nhiều hạt, dễ sinh sôi nên được dùng với ý niệm cầu mong phồn thực.

Tại vùng Đài Giang và Kiếm Hà tỉnh Quý Châu, người Miêu có tục “hồ lô phóng tinh rượu” vào ngày tế bái tổ tiên. Thanh niên lấy hồ lô đựng đầy tinh rượu, sau đó cầm hồ lô phóng tinh rượu về phía các cô gái trẻ. Các cô gái này hân hoan đón nhận tinh rượu như đón nhận biểu trưng “dương tinh” cần thiết cho sự sinh sôi.

– Biểu trưng may mắn: theo phân tích ngữ âm – ngữ nghĩa ở phần tên gọi hồ lô thì hình ảnh hồ lô mang biểu trưng của phúc lộc, thăng tiến. Các tộc người Miêu, Bố Y vùng Quý Châu có tục rước thần hồ lô. Dân gian dùng gỗ đẽo thành mặt nạ hồ lô thần có tay cầm. Phụ nữ tế tự hồ lô thần để cầu hạnh phúc tương lai [www.china.com]. Người La Hô kết hình hồ lô trên cổ áo, hàm ý may mắn v.v…

– Biểu trưng tổ tiên: Người Cơ Nặc 基诺 /Ji Nuo/ và người Di 彝/Yí/ là các trường hợp điển hình. Danh từ riêng Cơ Nặc có nghĩa là “(giống người) chui từ hồ lô ra” [www.nikerchina.com]. Ngoài người Cơ Nặc, người Di Vân Nam cũng coi hồ lô là hóa thân của tổ tiên. Trên bàn thờ hay vách thờ thường có khắc họa hình ảnh hai chiếc hồ lô (mỗi chiếc tượng trưng cho một thế hệ (nội, cha). Mỗi khi gia đình có một vong linh mới thì mời vu sư đến cử hành đại lễ gửi linh hồn vào chiếc hồ lô mới. Cùng lúc đó mang hồ lô chứa linh hồn của thế hệ cao nhất thiêu hủy. Trong phong tục này, tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn lưu giữ rất sinh động. Nếu người mẹ qua đời trước, người Di rước vu sư làm lễ gửi linh hồn vào hồ lô cái. Đến khi người cha qua đời, vu sư lai tiếp tục làm lễ gửi linh hồn cha vào cùng. Nếu cha mất trước, vu sư gửi tạm linh hồn vào một chiếc hồ lô đực nào đó, đến khi người mẹ mất, người ta đổi một chiếc hồ lô khác, gửi linh hồn người mẹ vào trước rồi rước linh hồn người cha vào cùng [Từ Kiệt Thuấn 2001: 96].

– Biểu trương hài hòa âm dương: Hồ lô là loại bầu bí có hoa tự thụ phấn, do vậy nó tự mang trong mình sự hài hòa âm dương (nhụy và nhị). Cũng từ đó, theo dân gian Trung Hoa, Phục Hy – Nữ Oa – hóa thân của hồ lô tượng trưng cho hình ảnh người cha thủy tổ và người mẹ thủy tổ, cả hai hòa hợp sinh ra nhân loại. Trên vách đá hang động có từ thời tiền sử, hình ảnh Phục Hy – Nữ Oa được vẽ thành đầu người thân rắn, hai đuôi quấn vào nhau thể hiện sự khắng khít âm dương. Thần thoại người A Xương kể rằng Thiên Công Địa Mẫu yêu nhau, mang thai chín năm thì sinh được một hạt hồ lô. Về sau, từ trong hồ lô, thủy tổ nhân loại bước ra [Lâm Hà 2001: 139]. Xa hơn nữa, hồ lô còn là biểu trưng của tình yêu.

– Biểu trưng vũ trụ: Trong Đạo giáo, không gian bên trong là thế giới của thần tiên, là vũ trụ độc lập với bên ngoài, có thể biến to, cũng có thể thu nhỏ, thông với bên ngoài bằng một cửa hẹp: miệng hồ lô. Vũ trụ bên trong hồ lô chỉ có hạnh húc, có tiên cảnh, có sự thăng hoa mà không hề có chiến tranh, bất ổn của thế giới nhân sinh. Tác phẩm Thần Tiên Truyện của Cát Hồng (葛洪284-364) là một ví dụ:

Truyện kể rằng Phí Trường Phòng (费长房) làm tiểu quan trông chợ vùng Nhữ Nam (nay Hà Nam). Trong vùng có lão Hồ công đến chợ bán thuốc. Thuốc rất hiệu nghiệm nên ông rất được tin yêu. Ông đựng thuốc trong chiếc hồ lô bên thân. Tối, ông chui vào hồ lô mà ngủ. Phí Trường Phòng rình biết được, bèn tìm cách tiếp cận Hồ công. Ngày nọ, Hồ công dặn Phí Trường Phòng trời tối hãy đến. Đúng hẹn, Hồ công mời Phí Trường Phòng cùng ngao du bên trong hồ lô. Trong hồ lô, Phí Trường Phòng nhìn thấy khắp nơi đều là tiên cảnh, đài các, sơn thủy…

Bên trong hồ lô không chỉ có vũ trụ riêng mà còn có cả chuỗi không gian độc lập với thế giới bên ngoài: “non tiên chỉ bảy ngày, thế giới đã ngàn năm” (山中方七日,世上已千年sơn trung phương thất nhật, thế thượng dĩ thiên niên).

…Phí Trường Phòng chỉ ngao du hồ lô chưa đến một ngày đã trở về. Người nhà của ông không nhận ông, cho rằng ông đã chết từ bấy lâu rồi. Thì ra, thời gian đã trôi qua hơn một năm.

Trong một tích Đạo giáo khác, hai đạo sĩ Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên tiên đài, sống với các tiên nữ chỉ non nửa năm mà khi trở lại hạ giới, thời gian đã hơn 10 đời trôi qua [Trình Tường 2001: 122-123]. Từ điểm này chúng ta hiểu được vì sao các đạo sĩ thường lên non tu tiên ở những nơi “sơn cùng thủy tận”, đặc biệt là các “tiên động” (hang động) mà lối ra vào đều rất hẹp.

– Biểu trưng linh thiêng: một số tộc người vùng Tây Nam như Di, Miêu, Thủy, Cách Lao còn lưu truyền tục lấy hồ lô vẽ thành đầu rồng hay mộc hồ treo ở cửa ra vào với mục đích xua đuổi tà ma [www.china.com]. Khi cúng tế tổ tiên, một số dân tộc thiểu số mang hồ lô treo ở phía trước đàn tế, ngụ ý cấm người lạ vào nhà [Lâm Hà 2001: 145]. Trẻ em đeo chiếc hồ lô nhỏ trước ngực làm bùa và hy vọng đứa bé ấy sẽ có em trai, em gái về sau. Vào ngày tết Đoan ngọ, người dân mang hồ lô ra treo ngược trên đòn giông nhà, đợi đến giữa trưa thì mang xuống vứt đi, ngụ ý hồ lô hút hết độc khí, ám khí, hút hết xui xẻo.

b. Tính đa dụng

Tất cả các biểu trưng trên đây của hình ảnh chiếc hồ lô trong văn hóa đã tạo nên tính đa dụng của nó. Hình ảnh chiếc hồ lô vừa gần gũi, giản dị, phàm tục lại vừa linh thiêng, gợi vào lòng người một ý niệm xa xôi của biểu tượng thần tiên. Chiếc hồ lô xuất thân từ đời sống thường nhật của tầng lớp dân dã, qua bàn tay chế tác, khắc vẽ khéo léo của nghệ nhân đã trở thành những vật thưởng ngoạn của cả tầng lớp quý tộc lẫn bình dân. Hồ lô vừa là một dụng cụ đắc lực trong đời sống thường nhật (bình đựng, dụng cụ gieo trồng, v.v.) vừa là biểu tượng của tâm linh. Hồ lô mang trong mình nhiều ý nghĩa thiết thực nhưng cũng không kém phần triết lý: biểu trưng của linh hồn tổ tiên; của phúc lộc; của nữ tính; của ước vọng phồn thực; của ước vọng viên mãn, sung túc…

c. Tính phổ biến

Với các tính năng đặc thù của mình, hình ảnh chiếc hồ lô đã trở thành biểu tượng văn hóa của hàng loạt các tộc người tại Trung Hoa. Nó không chỉ là sản phẩm văn hóa của riêng tộc người nào, mà là thứ linh vật chung của cả khối cộng đồng. Xét về phân bố không gian, quả hồ lô được trồng rộng khắp cả vùng Nam Dương Tử, vùng Tây Nam Trung Quốc và một số nơi ở Hoa Bắc như Sơn Đông, Cam Túc, Thiểm Tây v.v. [Du Tu Linh 2001]. Với đặc tính dễ trồng, dễ sinh sôi, dễ thu hoạch, hồ lô tư nhiên đã trở nên rất phổ biến trong số các loại cây rau, củ, quả tại các địa phương. Xuất phát từ phạm vi không gian rộng như thế, khi hồ lô trở thành một thứ biểu tượng, nó hiện diện khắp nơi tại các vùng có trồng hồ lô. Xa hơn thế, qua quá trình giao lưu-truyền bá văn hóa, hình ảnh chiếc hồ lô văn hóa đã lan rộng khắp đất nước Trung Hoa.

Tại Đông Nam Á, hình tượng hồ lô sinh sôi cũng xuất hiện rộng rãi trong văn hoá các dân tộc với nhiều hình tượng bầu bí. Công năng và ‎nghĩa văn hóa của chiếc hồ lô cũng phong phú như ở Trung Hoa. Tại Việt Nam, tiêu biểu là vùng văn hóa Tây Nguyên, người dân vẫn dùng bình (bầu/nậm) hồ lô để đựng rượu, thuốc và các vật dụng cần thiết khác. Trong văn hoá người Việt, hình ảnh chiếc hồ lô sinh sôi được thay thế bằng một loại hình tượng gắn với tình đoàn kết các dân tộc anh em: sự tích quả bầu sinh ra các tộc người Việt Nam.

2. Chất phương Nam trong biểu tượng hồ lô

Xét về mặt không gian, hình tượng hồ lô phát sinh đầu tiên ở những vùng trồng trọt hồ lô tự nhiên. Tại Trung Hoa, đó là các vùng đất tương đối ẩm ướt, thuộc các đới khí hậu ôn đới ấm, cận thiệt đới tại lưu vực Dương Tử, Hoa Nam, Hoa Trung, cao nguyên Vân Qu‎ý v.v.. Các khu vực này trong lịch sử là vùng đất cư trú của các cộng đồng cư dân phi Hán như Miêu Man, Bách Bộc và Bách Việt. Cả ba cộng đồng này đều mang nguồn gốc nông nghiệp phương Nam. Điều này cũng dễ dàng lý giải, bởi vì hồ lô (bầu bí) là sản vật phổ biến của nền văn minh gieo trồng Đông Nam Á cổ. Chỉ mãi về sau, khi mà kỹ thuật canh nông của người Trung Hoa đã tiến bộ, người ta đã cho lai giống hồ lô và đem gieo trồng ở một số vùng đồng bằng Hoàng Hà và Trung Nguyên [Triệu Thân 2001: 87]. Ngày nay, các vùng quê Ngũ Lĩnh, Hải Nam vẫn trồng giàn hồ lô trước cửa nhà vừa cung cấp một lượng thực phẩm nhất định vừa thể hiện ước vọng phồn sinh.

Xét về mặt chủ thể, trong số 26 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có tục sùng bái hồ lô được khảo sát thì đa phần là các tộc người thiểu số sống rải rác ở khu vực Ngũ Lĩnh và cao nguyên Vân Qu‎ý. Ngay ở tộc người Hán thì việc sử dụng hồ lô làm biểu tượng văn hóa cũng chỉ phổ biến nhất tại miền Nam. Quá trình cộng cư, hợp chủng và giao thoa văn hóa đã “trao tay” cư dân người Hán truyền thống quý‎ trọng và sùng bái hồ lô.

Xét trên bình diện văn hóa dân gian thì hai lĩnh vực tín ngưỡng – tôn giáo và thần thoại thể hiện nhiều chất phương Nam nhất của hình tượng hồ lô. Trong tín ngưỡng – tôn giáo, thực tế tục sùng bái hồ lô gắn liền với tục sùng bái Phục Hy – Nữ Oa, sùng bái Bàn Hồ thần, sùng bái biểu tượng phồn thực v.v. phổ biến nhất ở vùng văn minh gieo trồng Nam Dương Tử. Đích xác hơn, các tín ngưỡng này thể hiện sâu sắc và gần với thời viễn cổ nhất trong văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số Nam Man, chẳng hạn như người Cơ Nặc ở Vân Nam, người Di ở cao nguyên Vân Quý và lòng chảo Tứ Xuyên, người Lê ở Hải Nam, người Choang ở Quảng Tây v.v.. Với tố chất nông nghiệp, cư dân Nam Trung Hoa vốn có tư duy trừu tượng, tổng hợp ở mức cao đã “biến” chiếc hồ lô thiên nhiên trở thành một thứ linh vật, một biểu tượng tâm linh, văn hóa. Còn trong tôn giáo, chỉ có Đạo giáo và Phật giáo tiếp nhận hình tượng hồ lô một cách tích cực, sâu sắc, đặc biệt là Đạo giáo. Hồ lô gắn liền với thế giới thần tiên, nơi chứa đựng bí quyết trường sinh bất lão, báu vật của các đạo sĩ. Đạo giáo hình thành ở phương Nam nên triết l‎ý – tư tưởng của Đạo giáo thấm đượm tinh thần phương Nam, gần gũi.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

I. Hồ lô và hình tượng hồ lô – những vấn đề chung

1. Hồ lô

a. Hồ lô thiên nhiên

Hồ lô là một loại quả thực vật, họ bầu bí [hình 1], được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt, cận nhiệt đới trên khắp thế giới. Qua tư liệu khảo cổ cho thấy các vùng đất Nam Trung Hoa, Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, đồng bằng sông Nile… đều có sự hiện diện của quả hồ lô [Du Tu Linh 2001: 10]. Ở Việt Nam, hồ lô xuất hiện khắp nơi, từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng đến vùng núi cao.

Hồ Lô-1Hồ Lô-2

b. Về tên gọi hồ lô

Về tên gọi tiếng Trung, phổ biến nhất là hồ lô /húlu/ với nhiều cách viết: 葫芦, 壶卢, 胡卢, ngoài ra còn được biết đến với tên gọi phố lô (蒲芦/púlu/) v.v.. Tên gọi hồ lô thể hiện ý nghĩa may mắn. Theo lối hài âm, hồ đọc là /hú/ gần với phúc /fú/, lô đọc là /lu/ gần âm với lộc /lù/. Trong văn hoá dân gian, người dân mượn hình ảnh quả hồ lô căng tròn để gửi gắm ước vọng phúc lộc song tiến. Ngoài ra, khèn hồ lô gọi là sênh (笙/sheng/), trùng âm với từ sinh (sôi) (生/sheng/) trong sinh cơ (生机/shengji/) hay thăng tiến (升/sheng/) [Triệu Thân 2001: 80]. Trong tiếng Anh, hồ lô là calabash, tiếng Tây Ban Nha là shekere, tiếng Sanscrit là tumba, trong tiếng Việt là bầu (bí)v.v…

c. Phân loại

– Về phân loại, theo Bản Thảo Cương Mục của Lý Thời Trân (1518-1593) dựa vào hình dáng, kích cỡ quả hồ lô, có thể phân hồ lô ra năm loại tiêu biểu sau: (1) Hồ (瓠): hình trụ tròn, dài, đáy lõm vào giữa; (2) Huyền hồ (悬瓠): hồ lô đầu nhỏ, phần dưới phình to, đáy lõm vào giữa; (3) Hồ (壶): hồ lô hình quả tim ngược; (4) Bào (匏): hồ lô hình quả bưởi; (5) Phố lô (蒲芦): hình hồ lô có hai phần trên, dưới phình to, eo nhỏ [hình 5].

– Còn nếu phân loại theo đặc điểm vị ngọt – đắng thì có thể phân ra hai loại: hồ (瓠) – hồ lô ngọt; và bào (匏) – hồ lô đắng.

d. Lịch sử xuất hiện quả hồ lô ở Trung Quốc:

Không ai biết hồ lô được thuần dưỡng tự bao giờ. Qua nghiên cứu khảo cổ ở di chỉ Hà Mẫu Độ (河姆渡,lưu vực sông Dương Tử) cho thấy hồ lô đã được trồng ở Đông Nam Á cổ từ hơn 7000 năm trước. Chủ nhân của chúng là các tiền dân Bách Việt, Miêu Man, Bách Bộc. Giáp Cốt Văn thể hiện chữ hồ 壶 (tức hồ lô) bằng hình ảnh một chiếc bình có nắp đậy và có quai cầm [hình 2]. Có lẽ phần nút đậy bằng cành trúc đồng thời cũng là tay xách khi mang đi. Phần quai cầm được gắn thêm vào để tiện rót nước, rượu hay các vật đựng bên trong. Thời Tây Chu, hồ lô bắt đầu đi vào văn học nghệ thuật, được Khổng Tử thể hiện trong bộ Kinh Thi “Tháng bảy hái ăn, tháng tám lấy quả, tháng chín dựng lại giàn” (“七月食瓜,八月断壶,九月筑场圃thất nguyệt thực qua, bát nguyệt đoạn hồ, cửu nguyệt trường phố” bài Thất Nguyệt, chương U Phong) [Triệu Thân 2001: 87]. Thời Đông Chu, do kỹ thuật vun trồng được cải tiến, nhiều giống hồ lô mới, quả to được trồng khắp nơi, kể cả ở vùng Hoa Bắc. Từ Hán – Đường về sau, người ta đã có thể trồng các loại hồ lô quả cực to. Ngày nay, một số vùng Ngũ Lĩnh, Vân Quý, Hải Nam.. nhiều nhà trồng giàn hồ lô trước sân nhà.

Có thể quả hồ lô đã trở nên quen thuộc với con người từ thưở mông muội, khi mà hoạt động hái lượm hay thu hoạch các loại sản phẩm từ thực vật trở nên phổ biến. So với việc săn bắt động vật thì việc sử dụng sản phẩm thực vật tự nhiên có ưu thế hơn. Các tính năng đặc biệt đã làm cho quả hồ lô dần dà thoát khỏi cái “vỏ tự nhiên”, khiến nó được con người “nhân cách hóa”, “thần bí hóa” và tạo ra muôn vàn thần thoại, truyền thuyết gắn với chúng.

e. Công năng của quả hồ lô

* Phần ruột:

(1) Dùng làm thực phẩm. Phần hoa, đọt non, ruột, vỏ quả hồ lô non có thể được dùng chế biến món rau bổ sung lượng chất xơ và vitamin đáng kể cho cơ thể con người (trừ loại hồ lô đắng). Hồ lô non còn có thể được phơi khô dùng làm “rau khô” trong suốt mùa đông băng giá.

(2) Dùng làm dược phẩm. Loại được dùng làm dược phẩm chủ yếu là loại hồ lô đắng. Hồ lô đắng có dược tính đặc biệt, chủ yếu là tính hàn. Theo ghi nhận, có hơn 30 loại thảo dược có dùng dược liệu từ hồ lô. Cụ thể trong Bản Thảo Cương Mục có ghi nhận thảo dược hồ lô chủ tiêu khát, giải nhiệt, giải tâm nhiệt, lợi tiểu tràng, lợi tiểu, nhuận tâm phổi, trừ phiền muộn [Vương Thế Tương 2001: 4]. Chính nhờ đặc tính này, vỏ hồ lô được các thầy lang dân gian dùng để đựng dược liệu [hình 3]. Một số loại hồ lô đắng qua chế biến có thể dùng thay thế trà [Lâm Hà 2001: 145].

* Phần vỏ

Hồ Lô-3

(1) Dụng cụ chứa đựng. Bình hồ lô có thể dùng để đựng nước, rượu, gạo, thức ăn, dược liệu v.v.. [hình 3]. Vỏ hồ lô khô có thể cắt làm bát, đĩa, bôi trong ăn uống. Trong cuốn Hàn Phi Tử có viết “Hồ lô đực thuộc hàng quý, có thể dùng để chứa đựng” (夫瓠所贵者,谓其可以盛也Phu hồ sở quý giả, vị kì khả dĩ thịnh dã)[Từ Kiệt Thuấn 2001: 92]. Trong hôn nhân của người tiền Hán, người ta lấy chiếc hồ lô cán dài xẻ đôi thành hai cái “bao cẩn” (包卺) [hình 4], dùng trong nghi thức uống rượu giao bôi. Từ đó, thành ngữ “hợp cẩn giao bôi” (合卺交杯) được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, hồ lô nhỏ còn được chế tác thành dụng cụ hút thuốc tương tự như dụng cụ hút thuốc lào ở Việt Nam.

Xuất phát từ việc sử dụng hồ lô làm vật dụng chứa đựng, dần dà người nguyên thủy đã phát minh, chế tác các loại đồ gốm dùng để chứa dựng có hình dáng mô phỏng hồ lô [hình 5]. Hiện tại, thuyết “đồ gốm phỏng hồ lô” đã được giới nghiên cứu công nhận rộng rãi [Từ Kiệt Thuấn 2001: 92; Sơn Mạn 2001: 107]. Quá trình biến đổi từ sử dụng hồ lô tự nhiên sang chế tác các loại đồ gốm phỏng hình hồ lô hoàn toàn hợp với quá trình diễn hóa văn hóa.

Hồ Lô-4

(2) Công cụ giao thông thủy: nhờ đặc điểm rỗng ruột, chỉ cần bịt kín phần miệng, hồ lô sẽ trở thành một loại “phao” đặc biệt. Các sách Kinh Thi, Trang Tử, Quốc Ngữ đều có nhắc đến loại “công cụ” giúp người qua sông, suối này. Dân gian Trung Hoa gọi loại “công cụ” đặc biệt này là “thuyền eo” (腰舟yếu chu) [hình 6]. Ngày nay, vùng nông thôn Hà Nam, Sơn Đông, Tứ Xuyên vẫn còn dùng loại công cụ này khi qua sông, suối nhỏ. Người Khách Gia ở Quảng Đông khi đánh cá dưới sông đeo quanh eo vài chiếc hồ lô cứu sinh. Trẻ em đeo vài chiếc hồ lô nhỏ quanh thân ngụ ý trừ tà, đồng thời sẽ giúp cứu trẻ trong trường hợp bị rơi xuống nước. Ở đảo Hải Nam, người Lê dùng một quả hồ lô to rỗng, bịt kín miệng, thả xuống sông, suối, ôm trầm lấy mà bơi qua. Ở Đài Loan, người Amei, người Cao Sơn cũng làm cách này [Tống Triệu Lân 2001: 19-20, 38-39]. Ở một số vùng khác, người ta làm bè hồ lô qua vượt qua những khúc sông có quá nhiều ghềnh thác. Trong thần thoại, hồ lô rỗng với đặc tính nổi trên mặt nước đã được mượn làm biểu tượng cứu sống nhân loại. Học giả Văn Nhất Đa (1899-1946) tiến hành phân tích 49 thần thoại hồng thủy của các dân tộc thiểu số kết luận rằng hồ lô là dụng cụ cứu sinh phổ biến nhất (chiếm 57,2% trong số các dụng cụ hồ lô, thùng gỗ, giường, trống, thuyền v.v..; xem phần sau) [Tống Triệu Lân 2001: 35].

Hồ Lô-5Hồ Lô-6

(3) Nông ngư cụ. Trong nông nghiệp, không ít nông dân dùng bình hồ lô đầu nhọn, khoét miệng vừa đủ để rót hạt giống. Trong ngư nghiệp, vỏ hồ lô khô còn được dùng làm phao nổi mắc vào lưới, giúp ngư dân định vị được vị trí mảnh lưới của mình trên mặt nước.

(4) Chế tác vũ khí. Lịch sử chiến tranh ở đất Trung Hoa xưa đã từng tồn tại loại vũ khí đả thương có tên gọi là “hồ lô hỏa dược”. Có thể phân ra các loại: Hồ lô hỏa hoành trận (衡阵火葫芦); Hồ lô đối mã thiêu nhân (对马烧人葫芦); Pháo lôi qua (雷瓜炮); Lạn cốt qua dầu thần (烂骨瓜油神); Hỏa dược phi lôi (火药飞雷) v.v.. dùng trong chiến tranh, khai phá đất đai và săn bắt thú rừng [Tống Triệu Lâm 2001: 20-21].

(5) Chế tác nhạc khí. Hồ lô khô rỗng ruột khi vỗ sẽ phát ra một loại âm thanh khá đặc trưng, được các tộc người ở Trung Hoa chọn làm một trong “bát âm” phổ biến, gồm kim loại, đá, tơ, trúc, bào, đất, da thuộc và cây. Trong đó, bào (匏) chính là cái khèn (笙竿sênh can / 竽vu) [hình 7]. Từ thời Chiến Quốc đến Tây Hán, vùng cao nguyên Vân Quý đã mô phỏng khèn hô lô tự nhiên để chế tác loại kèn hồ lô đồng (khai quật được ở vùng Giang Xuyên, Ninh Phổ – Vân Nam). Điều này cho thấy hồ lô tự nhiên đã được chế tác thành nhạc khí từ rất lâu trước đó. Trong các sách Man Thư, Tân Đường Thư, Lĩnh Ngoại Đại Đáp.. đều có phần ghi chép về loại nhạc cụ này [Tống Triệu Lân 2001: 20-21]. Trong nghi lễ rước linh hồn người chết vào hồ lô tổ linh của dân tộc Di (Vân Nam), các vu sư phải thổi khèn hồ lô để múa cúng tế. Tộc người La Hô (拉祜) có 136 bộ múa khèn, và hơn 400 bài múa có sử dụng khèn hòa tấu [www.cwineasy.com].

(6) Dùng làm tang cụ. Một số dân tộc như người Di, Thủy, La Hô dùng bình hồ lô chứa xương tro của người chết với hy vọng linh hồn người chết sẽ được “quay về” nguồn cội. Loại hồ lô này được gọi là “hồ lô tổ linh” (祖灵葫芦).

(7) Đồ thưởng ngoạn. Chủ yếu là các loại hồ lô nhỏ, qua bàn tay chế tác, họa vẽ của nghệ nhân có thể trở thành một loại hàng mỹ nghệ để trưng bày, trang trí hay chứa đựng những thứ quý giá trong nhà.

(8) Các dụng cụ khác: Vỏ hồ lô còn dùng làm bát nến, đồ đo lường (rượu, giấm, dầu), nuôi dế

Hồ Lô-7

2. Chủ thể văn hóa hồ lô

Hiện có ít nhất 26 dân tộc ở Trung Quốc có tục sùng bái hồ lô hay có thần thoại hồ lô, gồm Hán, Thái, Di, Lật Túc, Miêu, Dao, Xá, Tạng, Bạch, Hồi, Hà Nhì, Choang, Cơ Nặc, Đức Ngang, Bố Y, Ngõa, Lê, Thủy, Cách Lao, Nộ, Đồng, Cao Sơn, A Xương, Nạp Tây, Cảnh Pha, La Hô [www.nikerchina.com]. Về không gian, ngoài tộc người Hán, các tộc người nói trên đa số phân bố ở các khu vực cao nguyên Vân Quý, lòng chảo Tứ Xuyên, cao nguyên Thanh Tạng, Lĩnh Nam. Một số tộc người sống rải rác ở vùng Hoa Đông, Tây Bắc và đảo Đài Loan.

Theo lịch sử, vùng đất phía Nam Dương Tử vốn là khu vực cư trú của ba tập đoàn lớn: Bách Bộc ở vùng Tây Nam; Bách Việt ở vùng Đông Nam; Miêu Man ở phía đông cao nguyên Vân Quý và vùng phụ cận. Tác giả Lâm Hà [2001: 152-153] thì cho rằng chủ thể văn hóa hồ lô chính là tập đoàn Bách Bộc. Ông cho rằng Bách Việt là hậu duệ của Bách Bộc – một quan điểm hiếm thấy trong giới nghiên cứu. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không tập trung vào mối quan hệ giữa Bách Bộc và Bách Việt mà chỉ khẳng định rằng cả hai nhóm này đều là chủ thể của văn hóa hồ lô.

Hồ Lô-8

Sách Sở Từ có viết “Bộc tại Sở Tây Nam” (仆在楚西南), “Bộc nhân vi đan sa” (仆人为丹砂), “Bộc nhân vi thần sa” (仆人为神砂) [Lâm Hà 2001: 153]. Có thể thấy, cư dân vùng đất rộng lớn phía tây nam nước Sở gọi chung là Bộc nhân (仆人). Trong lịch sử, khu vực này vốn dĩ phức tạp vì cả ba tập đoàn lớn Bách Bộc, Bách Việt, Miêu Man cùng cộng cư, cùng giao thoa văn hóa. Tù nhân, nô lệ gốc ở ba tập đoàn này đều bị người Trung Nguyên gọi chung là “nô bộc” (奴仆) một cách rất phiếm diện.

Trong Giáp Cốt Văn, từ bộc xuất hiện sớm [hình 11]. Chữ bộc bao gồm năm phần chính: phần thân người, phần “đuôi”, phần đội đầu, phần cầm trên tay, và các hạt li ti. Hiện có hai cách diễn giải ý nghĩa của chữ bộc như sau [hình 12]:

Hồ Lô-9

Có thể thấy hai cách diễn giải rất khác nhau do được nhìn nhận từ hai góc độ rất khác biệt. Theo cách diễn giải của các tác giả người Hán đại diện là Văn Nhất Đa [2001] thì danh từ Bộc nhân mang ý nghĩa nô bộc nên nhìn đâu cũng ra nô bộc (quan điểm vô thần). Còn tác giả Lâm An thì đứng ở góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử để quan sát nên cho kết quả khác. Theo chúng tôi, thứ chữ này do tiền nhân người Hán tạo ra (Giáp Cốt Văn) nên ít nhiều nó mang quan niệm “dĩ Trung Nguyên vi trung” của mình. Song, ở một khía cạnh khác, Giáp Cốt Văn là loại chữ tượng hình, chủ yếu dựa vào hình dáng của vật thể tự nhiên để cách điệu tạo chữ viết nên có thể chữ bộc này thể hiện hình ảnh của một vu sư đang tiến hành nghi lễ. Cơ sở của ý kiến này nằm ở các khía cạnh sau:

1/ Phần đuôi không thể là phần kéo dài của trang phục. Người nô lệ không thể mang theo phần đuôi này khi đang làm việc.

2/ Phần đội đầu cho là hình cụ thì không thể lý giải nổi tại sao “người nô bộc này” vừa cầm ki vừa đội hình cụ?

3/ Nếu phần tay cầm là cái ki rác thì người nô bộc không thể nâng ki rác cao đến như thế, vì như vậy sẽ là vô lễ đối với giới chủ.

4/ Một số tác giả người Hán chưa giải nghĩa hết ý nghĩa của chữ Bộc (仆). Bộc không chỉ có nghĩa là nô bộc, mà còn là hồ lô. Bộc nhân: dân tộc hồ lô (theo quan niệm của Lâm An [2001], Diệp Minh Giám [2001]). Còn từ Bộc trên Giáp Cốt văn được tạo thành từ cách mượn âm diễn ý của người Hán. Gốc ban đầu của từ bộc có âm đọc là Bu, Bô, Bua, Pu, Po…[xem mục hình tượng hồ lô trong ngôn ngữ].

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Ý nghĩa 9 con của rồng phương Đông

Trong truyền thuyết phương Đông, rồng có chín con ( hậu duệ linh vật) với hình dáng và sở thích hoàn toàn khác nhau. Các con của rồng được dân gian sử dụng làm linh vật trang trí và bái vọng ở những vị trí, những vật dụng khác nhau với những ngụ ý đặc biệt khác nhau.

1. Bị hí (tên khác là bá hạ, bát phúc, thạch long quy), là con trưởng của rồng – linh vật có hình dáng thân rùa, đầu rồng. Bị hí có sức mạnh vượt bậc, chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ cho các bệ đá, cột đá, bia đá v.v..

2. Li vẫn (còn gọi là si vẫn) – con thứ hai của rồng, là linh vật có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn. Tương truyền, li vẫn thích ngắm cảnh và thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài v.v. ngụ ý cầu trấn hỏa, bảo vệ sự bình yên cho công trình.

Rồng-1

3. Bồ lao – con thứ ba của rồng, là linh vật thích âm thanh lớn, thường được đúc trên quai chuông đồng với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn.

4. Bệ ngạn (còn gọi là bệ lao, hiến chương) là con thứ tư của rồng, có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn. Theo truyền thuyết, bệ ngạn rất thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy bệ ngạn thường được đặt ở cửa nhà ngục hay ở pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sống lương thiện.

Rồng-2

5. Thao thiết – con thứ năm của rồng, là linh vật có đôi mắt to, miệng rộng, dáng vẻ kỳ lạ. Thao thiết có tính khí tahm ăn vô độ, được đúc trên các đồ dùng trong ăn uống như ngụ ý nhắc nhở người ăn đừng quá háo ăn mà trở nên bất lịch sự.

6. Công phúc – con thứ sáu của rồng, là linh vật thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè, v.v.. với mong muốn công phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ muôn dân.

Rồng-3

7. Nhai xế – con thứ bảy của rồng – là linh vật có tính khí hung hăng, thường nổi cơn thịnh nộ và ham sát sinh, thường được chạm khắc trên các loại vũ khí như đao, búa, kiếm, mâu v.v.. ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơi trận mạc.

8. Toan nghê (còn gọi là kim nhê) – con thứ tám của rồng – linh vật có mình sư tử, đầu rồng, thích sự tĩnh lặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút. Toan nghê được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát.

9. Tiêu đồ (còn gọi là phô thủ) – con thứ chín của rồng – là linh vật có tín khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình. Tiêu đồ được đúc trên cánh cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở cửa, ngụ ý răn đe kẻ lạ, bảo vệ sự bình yên cho chủ nhà.

Rồng-4

Ngoài 9 con nói trên, gia đình rồng còn có một số linh vật khác như: tù ngưu – linh vật giỏi về âm nhạc; trào phong – linh vật được gắn trên nóc nhà ngụ ý chống cháy và thị uy kẻ xấu (giống li vẫn); phụ hí – linh vật bảo vệ bia mộ..

Rồng-5

nguồn Daisuquan.net

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC



Read Full Post »

Con rồng Việt Nam qua tác phẩm điêu khắc nghệ thuật “Ông Rồng”

Nhân dân Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình xây ngôi miếu trong khu đền thờ Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh, đặt rồng đá khai quật từ lòng đất lên bệ thờ, quanh năm hương khói, tôn vinh là “ông Rồng”

Một ngày cuối năm 1992, cụ Phan Đình Phô (mất 1993 hưởng thọ 78 tuổi) người Bảo Tháp dọn gạch vỡ, đá quanh đền, thấy một hòn đá dưới gốc cây bàng trước cổng đền nhô lên, liền lấy xà beng đào bới. Lạ thay, cụ Phô đào bới hồi lâu, mở rộng miệng hố thấy lộ ra khối đá lớn được đẽo, chạm đường nét tinh sảo, cụ lấy làm mừng, cố sức khoét sâu, mở rộng miệng hố thì thấy lộ nguyên hình đầu rồng. “Tiếng lành đồn xa”, bà con trong xóm kéo đến giúp sức và báo hiện tượng lạ với ủy ban nhân dân xã Đông Cứu. Trai tráng lực lưỡng nườm nượp kéo đến hợp sức, người dùng đòn tre khiêng, người dùng xà beng, thanh gỗ làm đòn bẩy, chẳng mấy chống rồng đá ước chừng 3 tấn được chuyển lên sân đền.

Rồng đá được đẽo, chạm miêu tả đầu, hai chân trước và một phần thân. Từ mặt đất lên đỉnh sọ rồng cao 0,76 mét, chiều ngang từ phải sang trái rộng 1,12 mét; chiều dọc từ trước ra sau dài 0,96 mét (xin lưu ý: số đo chia hết cho 8). Rồng được chạm vẩy; tai phải đặc, tai trái rỗng, hai chân trước gân guốc, mỗi chân xoè rộng 5 ngón nắm chặt hai khúc thân kéo vào trước ngực; đầu gục xuống, mắt trợn tròn, miệng há rộng để lộ hàm răng lởm chởm ngoạm khúc thân, quằn quại. Về tầm cỡ rồng đá, ông Lê Viết Nga – Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh khẳng định: “Rồng đá to nhất khu vực Đông Nam á”. Về thời điểm lịch sử và ý tưởng của nhà Điêu khắc gửi gắm qua tác phẩm này, có nhiều giả thiết khác nhau. Song về thời điểm lịch sử qua hình tượng rồng Việt Nam, sách đã từng chép như sau: Rồng thời Lý “Mào, mũi và bờm là những thành phần cơ thể được cấu tạo rất sinh động, bằng những nét độc đáo và được mang theo một ý thức nhất định: Mào thoát ra từ môi đến đường sống quyện với răng nanh, xoắn xuýt, rung rinh bốc lên như ngọn lửa; bờm ở sau gáy cuồn cuộn bốc lên nhiều đợt từ cổ họng, cùng với túm râu ở hàm dưới đều uốn lượn nhịp nhàng như làn sóng và bay lướt tựa lá cờ đuôi nheo được gió, mũi cấu tạo bằng những đường cong xếp chồng nhau phập phồng gây ra ấn tượng về nguồn nước…”. Rồng Thời Trần “Thành phần cấu tạo của đầu rồng không chặt chẽ như trước: Văn dạng xoắn ốc đôi không thể vắng ở bất cứ con rồng nào thời Lý, thì nay mất dần, bờm và râu kém nhịp nhàng, mào không linh lợi, dần mọc thêm cái tai và cặp sừng cùng kiểu với cái mũi biến dạng đều thuộc về loại thú bốn chân”. Rồng thời Lê “Đầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, tai thú, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón”. Rồng đời Cảnh Hưng (1740-1786) “Thể hiện yếu ớt, mảnh khảnh, đi vào công thức cân đối khô khan kết hợp với chạm nông, nên hình bẹt và cứng, lại bị biến dạng rắc rối. Râu rồng thường bố trí đều đặn, đuôi cong xoắn lại hình xoáy ốc”. Rồng nhà Nguyễn “Gượng gạo, ngơ ngác, chắp vá, vụn vặt, cố làm ra vẻ nghiêm chỉnh mà không đường hoàng được, bộ mặt trở thành gớm ghiếc, đe dọa… thường xuất hiện với phượng, lân, rùa để hợp thành bộ “Tứ linh” (Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo, Chu Quang Chứ – NXB Mỹ thuật 2001, trang 307, 309, 310, 314, 315). Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển con rồng có một tính cách riêng, phù hợp yêu cầu thời điểm lịch sử xã hội. Nó chính là thứ ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình, giúp chúng ta nhận biết tương đối chính xác thời khắc ra đời của các công trình kiến trúc, điêu khắc, và hội họa được sáng tạo không ghi niên hiệu.

Con rồng trong dân gian gắn với cội nguồn nòi giống “Con rồng cháu tiên”. Về nguồn gốc người Việt sách chép rằng “Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con trai của Kim Dương Vương. Vua lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh ra trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: Ta là giống rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về miền Nam (có bản chép về Nam Hải). Phong con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi vua (Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập I – NXB Văn học, trang 63). Mặt khác, rồng còn hàm chứa ý nghĩa của sự phồn thực, những mong mưa thuận gió hoà, rồng phun nước tưới cho cây trồng tốt tươi, bởi cư dân nông nghiệp. ý nghĩa xã hội của con rồng trong dân gian dần mờ nhạt, khi mà ý thức hệ nho giáo phong kiến nhà Lê giữ địa vị độc tôn thì vua chúa lấy con rồng làm biểu tượng uy nghiêm của ngôi báu, điều này được các sách chép, như sau “Con rồng truyền thống Việt Nam bị ức chế, phải tiếp nhận nhiều chi tiết ở rồng Trung Quốc và lộ rõ tính tượng trưng cho uy quyền nhà vua” (Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ Thuật Phật giáo, Chu Quang Chứ – NXB Mỹ Thuật, trang 309). “Từ đời Hán Cao Tổ, con rồng 5 móng là biểu tượng cho uy quyền nhà vua – thiên tử. Hình tượng rồng có ở trên áo bào, ngai vàng và các vật khác. Hoàng tử, con trai trưởng kế vị ngai vàng cũng được sử dụng hình tượng rồng 5 móng” (Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ, Tiến sĩ Nguyễn Văn Cung – NXB Văn hóa Thông tin, trang 216).

Quá trình miêu tả và phân tích trên, cho phép chúng ta nhận định rồng đá được đẽo chạm vào thời Lê. Nhà Điêu khắc tài hoa đã gửi gắm ý tưởng sâu sắc qua rồng đá khái quát hình tượng vua Lý Nhân Tông đớn đau, quằn quại tự giầy vò cõi lòng sâu thẳm về sự đã rồi, bởi vua chỉ bằng một tai nghe lời đường mật của kẻ xiểm nịnh lỡ đầy đọa thầy học của mình, dập vùi hiền tài của đất nước (Trạng nguyên Lê Văn Thịnh hầu Lý Nhân Tông học thuở nhỏ, khi xảy ra nghi án hồ Dâm Đàm, ông ở cương vị Thái Sư, bị Lý Nhân Tông bắt đi đầy ở trại Thao Giang). ý tưởng và giá trị nghệ thuật của rồng đá của nhà Điêu khắc xem như lời nhắn gửi các bậc vua chúa, quan lại và người đời, khi giải quyết bất kỳ công việc lớn, nhỏ đều phải thận trọng nghe bằng hai tai, phải xuất phát từ thực tế khách quan, công tâm, sao cho thấu tình, đạt lý.

“Ông Rồng” – tác phẩm nghệ thuật Điêu khắc độc đáo, một chứng tích lịch sử, một thông điệp gửi người đời để thấy mù sương Dâm Đàm tan biến, thấu hiểu Lê Văn Thịnh trung thần oan nghiệt.


Nguyễn Thượng Luyến – Hội Mỹ Thuật Việt Nam

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

BIỂU TƯỢNG LƯỠNG LONG TRIỀU NGUYỆT

Trong văn hoá tâm linh về tín ngưỡng tôn giáo có những không gian, biểu tượng thiêng liêng và đồ án cát tường để phục vụ niềm tin tâm thức. Thờ cúng tổ tiên có gian thờ trong nhà, thường bố trí gian giữa, thờ cúng dòng họ có nhà từ đường, thờ Thánh Hoàng có đình làng, thờ Phật có chùa, thờ thánh thần có đền, miếu, thờ Thượng Thanh, Ngọc Thanh, Thái Thanh (đạo giáo) có quan đạo.

Trong không gian thiêng liêng ấy có đồ án quen thuộc, phổ biến là “Lưỡng Long Triều Nguyệt” thể hiện ở hình vẽ, phù điêu và hay gặp nhất hình tượng trên nóc đình, đền, miếu, trên trán bia đá. Ngoài con Long ra còn có con Li, Rùa, Phượng, dân gian gọi là “tứ linh” (Long, Li, Quy, Phượng). Con Li trên nóc trụ biểu tượng về sự bình yên. Con Phượng trên trụ biểu tượng sức mạnh, may mắn, nó được cách điệu như ngọn nến, búp sen mềm mại đẹp mắt. Con Long (Rồng) khởi nguyên là con Giao Long. Sách “Hoài Nam Tử” nói rằng: “Da nó có từng hột, người đời cho miệng nó là gươm đao”. Nham Sư Cổ trong “Tiền Hán Thư” dẫn lời Quách Phác: “Con Giao Long hình như con rắn mà có bốn chân, cổ nhỏ… giống to đến mấy ôm, sinh trứng to bằng một hai cái hộc, có thể nuốt người được (Đào Duy Anh – Lịch sử Cổ Đại Việt Nam 2005 – 31). Rồng Việt Nam là con cá sấu và con rắn hoá thân mà thành nó là con vật huyền thoại. ở Phú Thọ – Đất tổ có câu chuyện Đại Hải đánh Thục. Chuyện kể rằng trong La Phù (Huyện Thanh Thuỷ) có một vị quan tên là Đặng Hồng, có vợ thứ là Ngọc Dung đi tắm ở Giếng Giá có thuồng luồng lên phủ khắp người, sinh ra một cái bọc, nở ra một con vật đầu rồng mình rắn. Tản Viên giao cho cầm quân, dàn trận ở núi Quỳnh Nhai đã thắng lớn. Trong tâm linh người Việt, Rồng là chúa tể nơi sông, hồ, biển cả. Có tài biến hoá, ẩn sâu dưới vực, bay lên 9 tầng mây, nổi gió, khạc ra lửa thiêu đốt tà ma, có lợi cho Nông nghiệp. Bởi vậy Rồng biểu tượng cho nền văn hoá Việt Nam mang tính tổng hợp linh hoạt và hoà hiếu (biến cá sấu hung ác thành rồng hiền lành có ích). Chuyện Lạc Long Quân lấy bà âu Cơ đẻ ra một bọc “Long bào bách noãn”. Bọc rồng trăm trứng nở thành một trăm con trai trấn giữ đầu non góc biển của nước Văn Lang xưa. Không phải ngẫu nhiên mà người Việt nhận mình là “Con Rồng – Cháu tiên”. Theo đó người Việt thời Thượng Cổ săm mình hình Giao Long (rồng) để bảo vệ mình. Suốt dòng chảy lịch sử từ thời Hùng Vương đến phong kiến tự chủ các triều đại Đinh, Lí, Trần, Lê, Nguyễn vẫn lấy Rồng làm biểu tượng tài trí cao sang, quyền uy, may mắn để phản ánh tư duy tâm hồn của Vương quyền mình.

Trong dân gian Việt Nam còn bảo lưu biết bao nhiêu câu chuyện thần thoại liên quan đến Rồng; thường theo mô típ người ăn ở phúc hậu, hiền lành, được gặp Rồng mà đẻ ra người con trai tuấn tú, trí dũng, trung với nước hiếu với bố mẹ dân làng. Về di vật trong trống đồng Đông Sơn có khắc con Rồng trông mượt mà, khoẻ khoắn có 4 chân, mõm dài đuôi to cong lên trông tựa con cá sấu. Đến thời nhà Lý Rồng mình thon thon dài, uốn lượn nhiều khúc cong nhỏ dần về phía đuôi, môi dưới có râu, môi trên có mào, sau gáy có bờm, chân móng sắc nhọn như móng chim, tung bay ngang dọc giữa mây trời, thể hiện tâm hồn, ước mơ tự do độc lập. Rồng nhà Trần tiếp thu Rồng nhà Lý có thêm tai, cặp sừng, trông đẫy đà, táo bạo đầy sức sống gắn liền với khí phách thắng quân Nguyên Mông hung hãn. Rồng nhà Lê nối tiếp nhà Trần, mình rắn khoẻ có mào, sừng, song có ảnh hưởng một số chi tiết Rồng Trung Quốc, nom giữ tợn hơn lộ rõ uy quyền nhà vua gắn liền với thời kì Nho giáo thay thế Phật giáo làm quốc giáo. Rồng nhà Nguyễn có dáng mạnh mẽ, giữ tợn tương tự như nhà Lê nhưng có phần hung hãn hơn bởi Nho giáo giữ địa vị thống trị, nhưng đã đi vào giai đoạn mạt kì. Qua đó ta thấy con Rồng đã đi vào kí ức thẳm sâu của con Người Việt biết chừng nào. Sức sống của nó mãnh liệt theo suốt chiều dài dựng nước kể từ thời bình minh đến các triều đại phong kiến tự chủ nó luôn là biểu tượng cao sang quyền uy thịnh vượng và may mắn.

Dựa trên lý ấy và triết lý kinh dịch mà có biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt”. Trong đó mặt trăng ở giữa hai bên là Rồng, mặt trăng chiếu sáng ban đêm và có liên quan đến con người sinh vật. Người xưa làm lịch theo chu kỳ tuần hoàn của mặt trăng mặt trời quanh quả đất phục vụ nông nghiệp và săn bắt gọi là âm lịch nên mặt trăng mang tính âm ký hiệu nét đứt (–), con rồng biến hoá linh hoạt mang tính dương ký hiệu nét liền (-). Theo đó biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt” ký hiệu theo quẻ dịch là ( ) gọi tên quẻ li. ý nghĩa quẻ này: về thiên thời: ban ngày, về địa lý: phương nam, Ngũ hành: thuộc hoả, về nhân vật là nhân văn – về tính cách: tài học, thông minh, sáng, đẹp, về hướng: Nam, về thời gian: tháng 5, mùa hạ, nóng.

Vậy rõ ràng biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt” phù hợp với đất nước con người Việt Nam. Một biểu tượng cát tường. Biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt” là “hồn việt”.

Mặt trống đồng trang trí rất nhiều chim, có những con mỏ dài, cánh ngắn, thân thon xếp đặt thành một vòng ngoài cùng (chim lạc) có con trang trí trên nóc nhà sàn Đông sơn mỏ ngắn đuôi dài cong không có mào, trông rất hiền lành, không giống con Phượng hai cánh xoè ra như nan quạt, hai chân dạng ra mắt to sắc, sau gáy có bờm trông khí phách, dữ tợn (Phượng chạm gỗ đình Yên Bảng, Hà Bắc).

Ai đó đã lựa chọn con chim lạc ở mặt trống đồng để thế vào vị trí con Rồng, con Phượng là không phù hợp với truyền thống văn hoá Việt Nam. Phải nói rằng trong ký ức Việt chỉ có “Long, Li, Quy, Phượng” là những con vật linh thiêng và trong tâm thức người Việt cũng chỉ có cặp “Rồng – Tiên” mới coi như: Vật Tổ của mình. Do vậy trong văn hoá tâm linh ở các di sản kiến trúc Việt, suốt mấy nghìn năm trải qua nhiều thời đại chỉ thấy mô típ “Lưỡng long triều nguyệt” rất quen thuộc khắp mọi nơi từ thôn làng đến kinh thành, có những hiểm lưỡng phượng triều nguyệt, mà không thấy con chim lạc triều nguyệt.

ở đình biểu di của kiến trúc văn hoá tâm linh, ông cha ta chọn 4 con chim phượng chụm 1 vào nhau tạo thành một bông hoa đang nở mượt mà, đầy sức sống nhìn tựa như ngọn đèn thắp sáng vĩnh cửu – ý tưởng ngưỡng mộ, đối tượng tôn thờ, nhưng tài tính khéo léo đẹp mắt cát tường, chứ không như ở trên đỉnh trụ biểu đền thờ đương đại có đền thay bằng 4 con chim lạc bố cục rời rạc khô cứng trông lạ mắt không mấy cảm hứng.

Theo phong thuỷ hình thái của một biểu tượng liên quan về “Khí” thu năng lượng của vũ trụ nó có thể tác dụng tích cực hoặc phản cảm (Sui) đến con người.

Người xưa nói: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” ý nghĩa rất sâu xa đối với văn hoá tâm linh là niềm tin thiêng liêng cao cả, niềm tin ấy thanh khiết bền vững trong tín ngưỡng, tôn giáo, trong tâm thức con người.

Vào giữa tháng giêng năm Mậu Tý (2008) tôi cùng đoàn nhà văn chi hội văn học nghệ thuật Phú Thọ đến thăm thành phố Côn Minh tỉnh Vân Nam Trung Quốc giáp biên giới Việt Nam. Tôi đã thăm thủ phủ của Ngô Tam Quế (Phục Minh chống Thanh, thăm chùa Hoa Đình Tự, ngôi chùa cổ kính thâm nghiêm nổi tiếng của Vân Nam, nơi hội tụ 500 tượng La Hán và cả trên dọc đường từ Hà Khẩu đến Côn Minh không thấy có biểu tượng “ Lưỡng Long Triều nguyệt” mà chỉ thấy biểu tượng “Lưỡng Long triều quả bầu”, quả bầu có liên quan đến câu chuyện thần thoại Trung Quốc. Tôi suy ngẫm và bất ngờ nhận ra rằng biểu tượng “ Lưỡng Long Triều Nguyệt” tiếng vọng kỳ lạ của quá khứ thắp sáng mãi theo dòng lịch sử xưa và nay là hồn Việt.

Nguyễn Xuân Đài – Hội Mỹ Thuật Việt Nam

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tranh dân gian mất khách, làng giấy dó cũng lụi tàn

Giấy dó Phong Khê (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) vốn nổi tiếng vì gắn liền với làng tranh Đông Hồ. Nay tranh Đông Hồ mất khách nên nghề làm giấy dó cũng theo đó lụi tàn. Cả làng 1.800 hộ gia đình thì 600 hộ sản xuất đủ loại giấy và chỉ 4 hộ còn làm giấy dó.

Ông Nguyễn Văn Chuyển, cán bộ UBND xã Phong Khê, giải thích nghề làm giấy dó ra đời từ đời Tiền Lê, khi nhu cầu sử dụng giấy xuất hiện, nhất là khi có khoa cử. Giấy dó của làng thực sự nổi tiếng khi gắn liền với tranh Đông Hồ. Hồn giấy là những bức tranh dân gian khắc gỗ làng Đông Hồ, một làng cổ Kinh Bắc khác, cách Phong Khê gần 20 km. Những Đám cưới chuột, Hứng dừa, Đánh ghen, Cá chép… chỉ nổi tiếng khi in trên giấy dó Phong Khê.

Cây dó nguyên liệu được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Nhưng người Phong Khê kén chọn, ít khi chọn thứ dó Yên Bái, Lào Cai mà phải là của Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và cũng chỉ mua dó vào tháng 8 âm lịch. Dó mang về, lột tiếp lớp vỏ đen, lấy lượt vỏ trắng ngâm nước vôi 24 tiếng mùa hè, 36 tiếng mùa đông. Sau đó vớt ra, bó thành từng mớ, ngâm vào nước vôi tôi. Chuyển sang thùng nấu, cứ một thùng là 50 kg dó hết 20 kg than, than tàn dó cũng chín đúng độ. Một ngày sau, dỡ ra lại ngâm nước cho hết vôi, nhặt bỏ từng mấu nhỏ còn sót lại. Dó đem đi rửa tiếp, cho vào bể ngâm 15-20 ngày, rồi vớt ra, cho vào cối giã nhuyễn, đem đãi lấy nước trong, cho vào bể… Tính sơ sơ từ cây dó ra được tờ giấy phải qua 10 công đoạn, tức là gần một tháng.

Ông cụ Lưu, một lão nghệ nhân lôi ra xấp giấy chính hiệu Phong Khê khoe với khách: “Giấy dó xịn phải trong, mỏng, mịn, sờ vào mát tay như lụa tơ tằm thế này chứ!”. Cụ tự hào vì mấy hôm trước được Bảo tàng Dân tộc học mời về giới thiệu nghề làm giấy dó Phong Khê. Song đến khi trở về làng, cụ lại buồn. Đông Hồ giờ đã chuyển nghề làm hàng mã. Cả làng tranh dân gian nổi tiếng chỉ còn 2 người gắn bó với nghề: nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam. Nhưng cả hai giờ đã già, làm tranh khắc gỗ không phải để mưu sinh mà chỉ để chơi, để đỡ nhớ nghề. Giấy dó Phong Khê vì thế cũng lay lắt theo.

Để tồn tại, Phong Khê chuyển sang làm giấy bản, giấy in, bao bì và cả… giấy vệ sinh. Chị Ngô Thị Thu, một trong số 4 hộ gia đình còn giữ nghề, cho biết, giấy dó bây giờ có dăm bảy loại. Họa hoằn lắm có người đặt hàng, nhà chị mới làm thứ giấy cao cấp từ cây dó Cao Bằng, mỗi lần cũng chỉ dăm ba nghìn tờ. Mỗi tờ giá có 400 đồng, lãi lời chẳng thấm tháp vào đâu so với nhu cầu mưu sinh hằng ngày của hai vợ chồng và cậu con trai đang học ĐH Bách khoa năm cuối. Giấy dó nuôi sống gia đình chị là loại chất lượng kém, pha tạp nhiều.

Làng Phong Khê giờ rất giàu. Cụm công nghiệp làng tập hợp hơn 120 xí nghiệp sản xuất giấy, mỗi doanh nghiệp có vốn từ vài tỷ đến 50 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người gần 20 triệu đồng/năm. Anh Phúc, chủ doanh nghiệp sản xuất giấy Phúc Hân, tự hào rằng khu công nghiệp mỗi năm làm ra hơn 40.000 tấn giấy. Chất lượng chỉ kém giấy Bãi Bằng, còn cỡ giấy Tân Mai thì chẳng có gì phải ngại. Chuyển sang chuyện giấy dó, anh Phúc có vẻ bần thần: “Biết sao được, làng tôi không những phải sống mà còn lo chuyện làm giàu. Xã hội không dùng giấy dó thì sản xuất ra bán cho ai?”.

Theo dongho.bacninh.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Older Posts »