Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 11th, 2009

Câu hỏi Nghệ thuật là gì? kéo theo luôn hai câu hỏi khác: Cái đẹp là gì? và Họa sĩ là ai?. Tổng quan hai bài viết của Bart Rosier và Joseph A. Goguen được trình bày dưới đây cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ một phần những vấn đề tuy không mới nhưng vẫn rất nan giải đó. Phần Phụ lục tóm tắt quan điểm về nghệ thuật của Lev Tolstoy có kèm theo lời bàn. Cả ba tác phẩm của Rosier, Goguen va Tolstoy đều có chung một nhan đề Nghệ thuật là gì?

1. Nghệ thuật là gì?

Thời Cổ đại, người ta chia nghệ thuật ra làm bảy loại hình nghệ thuật tự do (artes liberales) là: trivium (3 con đường) bao gồm: Văn phạm, Logic, Hùng biện; và quadrivium (4 con đường) bao gồm: Số học (lý thuyết về các con số), Hình học (các con số trong không gian), Âm nhạc (các con số trong thời gian), và Thiên văn học (các con số trong không gian và thời gian). Mẹ của cả 7 nghệ thuật đó là Triết học. Các nghệ thuật mang tính kỹ thuật như kiến trúc, nông nghiệp, hội họa, điêu khắc, và các nghề thủ công khác được xếp ở hàng thấp hơn.

Thời Trung cổ, nghệ thuật được coi là đứa con của tự nhiên. Dần dần nghệ thuật chỉ còn là những gì mà người xưa coi là nghề thủ công. Từ “nghệ thuật” đòi hỏi một cái gì đó được tạo nên một cách khéo léo bởi người nghệ sĩ. Có điều chính các nghệ sĩ đã phá bỏ các hạn chế do các định nghĩa loại đó tạo ra, thách thức các định kiến của chúng ta, và vượt xa các triết gia, các nhà tâm lý học và phê bình, chứ đừng nói chi đến đại chúng.

M. Duchamp, Đài phun, 1917/1964

M. Duchamp, Đài phun, 1917/1964

Ngày nay, thật khó định nghĩa được nghệ thuật. Đã qua rồi cái thời có thể chỉ ra được cái gì là nghệ thuật, cái gì không phải là nghệ thuật. Sau khi Marcel Duchamp triển lãm chậu đi tiểu vào năm 1917 tại New York, hay Andy Warhol bày ra các tranh in lưới hàng loạt các đồ hộp giống nhau như đúc vào những năm 1962 – 1964, thì bất cứ cái gì cũng có thể là nghệ thuật. Quan niệm này có vẻ phù hợp với nghệ thuật đương đại.

Vậy cái gì làm cho một bức họa trở thành một tác phẩm nghệ thuật? Có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Dưới đây chỉ liệt kê và bình luận một số quan điểm tạm gọi là tiêu biểu nhất.

Có quan điểm cho rằng họa sĩ vẽ tranh, nhưng cần sự giám định của ít nhất một đại diện của thế giới hội họa để khiến bức tranh trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Như vậy một người bình thường không thể trả lời được nghệ thuật là gì. Chúng ta cần người “định hướng nghệ thuật” như tín đồ cần vị cố đạo để nói cho biết chân lý ở đâu. Nếu quan niệm này đúng, nó loại trừ sự huyền bí trong nghệ thuật, sẽ được nói đến bên dưới.

Trái với quan điểm mang tính ngoại suy kể trên, những người theo quan điểm nội suy cho rằng tiêu chuẩn của nghệ thuật nằm trong tính trực cảm của bức họa, rằng hành động vẽ phải có chủ đích, có nghĩa là họa sĩ phải chủ tâm tạo ra nghệ thuật. Hành động vẽ phải được diễn ra theo một cách đặc biệt nhằm tạo ra nghệ thuật. Như vậy người xem sẽ phải học cách làm sao nhận ra được tính trực cảm đó. Ngoài ra, nếu nghệ thuật là cái do nghệ sĩ chủ tâm tạo ra, thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: “Vậy thì nghệ sĩ là ai?”

Quan điểm dựa trên lý thuyết về nguồn gốc của nghệ thuật lại cho rằng nghệ thuật là các đồ vật hoặc hình ảnh do con người tạo ra với một ý nghĩa tượng trưng như một phương thức giao tiếp. Tuy nhiên, không phải tất cả các hình ảnh đó đều là nghệ thuật, mà một số chỉ đơn thuần là các ký hiệu mà thôi.

Gần với quan điểm nguồn gốc nghệ thuật kể trên là phát biểu của nhà vật lý thiên tài Albert Einstein: “Cái đẹp nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm là sự huyền bí.” Như vậy sự huyền bí là nguồn gốc của mọi nghệ thuật đích thực. Chính vì lý do đó chúng ta không có hy vọng có được một định nghĩa rõ ràng về nghệ thuật. Nghệ thuật là cái gì đó chúng ta chỉ có thể cảm thấy mà không tài nào diễn giải được bằng lời. Nó giống như một trải nghiệm huyền bí vậy.

Ngày nay các nghệ sĩ một mặt tiếp tục truyền thống chọc tức xã hội tư sản, xã hội tiêu thụ, mặt khác đã mở rộng vai trò của mình. Thay vì vẽ tranh hay nặn tượng, họ trưng bày xác các con vật ngâm trong formaldehyde, các vật thể đa dạng kể cả sỏi đá, cành cây, và dây thừng. Nghệ thuật môi trường đã giải phóng các triển lãm khỏi 4 bức tường của viện bảo tàng. Các hình thức nghệ thuật mới như trình diễn, sắp đặt, cơ thể, v.v. đã và đang thách thức các quan niệm về ranh giới giữa các loại hình nghệ thuật. Kể cả trình diễn thời trang, trò chơi điện tử video, phun sơn lên tường, và các trang nhà trên internet cũng bắt đầu được coi là nghệ thuật.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của phương Đông và phương Tây cũng xích lại gần nhau hơn, chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Nghệ thuật bonsai của Nhật Bản trở nên thời thượng ở phương Tây. Nhiều nhạc sĩ phương Tây sử dụng nhiều yếu tố âm nhạc phương Đông trong các tác phẩm của mình.

2. Cái Đẹp là gì?

Cái Đẹp thường được đưa ra như một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng nghệ thuật. Tuy nhiên, định nghĩa được cái Đẹp còn khó hơn định nghĩa được Nghệ thuật, vì cái Đẹp phụ thuộc vào văn hóa và thời gian nhiều hơn.

Lý thuyết đơn giản nhất về cái Đẹp là coi cái Đẹp như sự bắt chước tự nhiên. Lý thuyết này định ra một tiêu chuẩn khá lý trí và đơn giản cho cái đẹp. Tiếc rằng nó phụ thuộc chẳng những vào việc tách riêng chủ thể và khách thể, mà còn phụ thuộc vào sự phân chia nghệ thuật và tự nhiên, và thế là lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn về khái niệm nghệ thuật phụ thuộc vào văn hóa, chứ không phải là cái gì đó toàn cầu. Hơn nữa tiến bộ của khoa học công nghệ ngày nay đang làm khó cho định nghĩa tự nhiên là gì. Thêm vào đó rõ ràng là lý thuyết này đã bỏ qua hầu như toàn bộ nghệ thuật đương đại. Cuối cùng, hoàn toàn không rõ là liệu có một cơ sở vững chắc để phán xét một tác phẩm nghệ thuật bắt chước tự nhiên giỏi đến mức nào.

Một cách tiếp cận khác đến cái Đẹp là đo nó bằng cảm xúc của người xem. Phương pháp theo kiểu “tôi biết tôi thích gì” này có vẻ như vô vọng vì nó hoàn toàn chủ quan. Tuy vậy vẫn có những hình thức phức tạp hơn một chút, trong đó người ta dùng các thiết bị khoa học để đo mức độ của phản ứng, thu thập một số lượng lớn các dữ liệu thống kê, và lấy trung bình để đưa ra những kết luận có tính tổng quát nhất. Tuy nhiên phương pháp này cuối cùng cũng vẫn rơi vào việc phân chia chủ thể và khách thể. Nó có thể có ích cho một số lĩnh vực như trong thiết kế nhưng chẳng có giá trị gì mấy cho mỹ thuật nói chung.

Plato cho rằng cái Đẹp phải phản ánh chân lý. Đến đây ta lại vấp phải câu hỏi Pilate đã đặt ra cho Chúa Jesus: “Vậy thì Chân lý là cái gì?”. Theo thi sĩ lãng mạn John Keats chân lý ở đây phải được hiểu là chân lý nghệ thuật. Ông viết: “Cái đẹp là Chân lý, Chân lý là cái Đẹp”, tức là một chân lý mang tính cảm xúc, một biểu hiện chính xác cảm xúc thực của nghệ sĩ, chứ không phải là chân lý theo nghĩa triết học hay khoa học, như là sự thật chẳng hạn.

Heidegger đã phát triển quan niệm nghệ thuật tuyệt đối của Kant . Kant cho cái Đẹp là cái gì đó không có bất kỳ một chức năng nào khác ngoài chức năng làm cái Đẹp. Khi đó một vật thể thể sẽ trở thành thuần túy là một vật thể, hiện ra hoàn toàn chỉ vì nó đẹp chứ không vì bất cứ công dụng nào khác. Như vậy nghệ thuật theo Kant là một cách biểu diễn đẹp của một hình thức, thông qua đó nghệ sĩ mặc sức tưởng tượng để liên tục mở rộng quan niệm về chính cái Đẹp. Điều đó có nghĩa là nghệ thuật đã đi ra ngoài thế giới của lý trí, và cái Đẹp là cái gì đó không thể cắt nghĩa được. Lý thuyết này có nhiều điểm giống với quan điểm của trường phái lãng mạn nói trên. Tuy nhiên nó loại trừ vai trò của nghệ sĩ, của ảnh hưởng văn hóa, cũng như sự chuẩn bị của người xem.

Lý thuyết “hiện đại” về cái Đẹp thì cho rằng một vật chỉ đẹp khi có hình thức phù hợp với công dụng của nó. Chậu đi tiểu của Marcel Duchamp xem ra thỏa mãn tiêu chuẩn này. Trong khi đó tiêu chuẩn như vậy không thể đem áp dụng cho những thứ vô dụng như các bức họa trường phái ấn tượng, các bức tượng lập thể, thơ, cho dù tất cả những thứ đó có thể dùng cho nhiều mục đích khác nhau như làm tiền, làm “lác mắt” bạn bè, hay để thư giãn khi ngắm nhìn chúng. Lý thuyết này hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Oscar Wilde . Ông cho rằng: “Cái cớ duy nhất để làm ra một vật vô dụng là vì ta ngưỡng mộ nó sâu sắc. Toàn bộ nghệ thuật là vô dụng.” Lý thuyết này đã gây ra một số hậu quả như việc tạo ra những kiến trúc quái đản trong các dự án xây dựng hàng loạt nhà cao tầng cho những người thu nhập thấp trong những năm 50 – 60. Một lần nữa, ta thấy đây là một minh họa rất rõ rằng các lý thuyết về cái Đẹp cũng phụ thuộc và điều kiện xã hội và văn hóa.

Trong tác phẩm “Luận về thơ”, Aritsotle định nghĩa nghệ thuật là một sự bắt chước, nhưng ông đã rất khôn ngoan không gọi đó là “bắt chước tự nhiên”, mà là “bắt chước con người hành động”. Hơn nữa ông đã dùng một cách tiếp cận cân bằng, không quy nghệ thuật, hay cách nhìn nhận nghệ thuật, về một thứ. Đặc biệt, ông không hề gợi ý là phải dùng cái Đẹp để đo nghệ thuật. Thay vào đó, ông đã đưa ra một loạt các tiêu chuẩn về chất lượng dựa trên một số ví dụ như bi kịch, chơi đàn lyre, v.v. Aristotle nói rằng mục đích của bi kịch là gây nên nỗi sợ và buồn thương ở người xem thông qua việc bắt chước các hành động mang tính anh hùng. Tiêu chuẩn về sự xuất sắc của ông bao gồm sự thống nhất của không gian và thời gian, việc sử dụng ngôn ngữ thành thạo và khéo léo, đặc biệt cách dùng hình ảnh trong ngôn ngữ, v.v. Cách tiếp cận của ông kết hợp khéo léo các quan điểm giải tích, lịch sử, luân lý và thực dụng về bi kịch, có ảnh hưởng rất lớn cho đến tận ngày hôm nay. Đối với Aristotle, cũng như nhiều nghệ sĩ đương đại, cái Đẹp quá lắm chỉ là mối quan tâm hạng hai.

3. Nghệ thuật và khoa học

Phương pháp của khoa học đòi hỏi các phép đo chính xác có thể lặp lại được, và một tính khách quan tới mức có thể loại trừ tất cả các yếu tố chủ quan từ phía người tiến hành thí nghiệm. Điều này khiến các phương pháp nghiên cứu khoa học hoàn toàn ngược với các phương pháp của nghệ thuật. Nghệ thuật đương đại đòi hỏi tính chủ quan của nghệ sĩ trong các tác phẩm. Nghệ thuật tối kỵ sự lặp lại. Ngay cả khi Monet vẽ một ngôi nhà thờ rất nhiều lần, các bức tranh của ông vẫn rất khác nhau. Ông sử dụng nhiều hoà sắc khác nhau, vẽ ở các thời điểm khác nhau trong ngày, v.v. Các đoạn gọi là nhắc lại trong âm nhạc thực chất không bao giờ được chơi như nhau, mà có thể là cường độ khác nhau, hoặc độ nhanh chậm khác nhau, v.v. Nhận xét về điểm này Anthony Freeman nói: “Thật nghịch lý là nhà khoa học tìm ra chân lý sau nhiều lần lặp lại thí nghiệm và thu được các kết quả giống hệt nhau, trong khi đó nghệ sĩ tìm thấy chân lý sau khi thu được các kết quả hoàn toàn khác nhau.” Những phép đo khách quan, như luật viễn cận, luật hòa sắc, pha màu, hoà thanh, lên dây đàn, v.v. được dùng trong nghệ thuật như sự hỗ trợ về kỹ thuật cho sáng tạo. Xuất phát từ quan sát này là quan điểm cho rằng không hề có một liên hệ nào có nghĩa giữa khoa học và nghệ thuật. Cho dù có không ít người đồng ý, quan điểm này rõ ràng là sai. Một ví dụ hiển nhiên là sự phát triển hình học thời Phục hưng đã kéo theo sự phát triển của luật viễn cận trong nghệ thuật. Công nghệ hiện đại là yếu tố quan trọng sản sinh ra nhiều hình thức nghệ thuật đương đại như điện ảnh, âm nhạc điện tử, nghệ thuật video, v.v.

J. Pollock, Những chiếc sào xanh, 1952

J. Pollock, Những chiếc sào xanh, 1952

Ngày nay khoa học được áp dụng để thẩm định nghệ thuật (qua các phương pháp như đánh dấu carbon, dùng máy tính điện tử để thẩm định các tác phẩm của Jackson Pollock , v.v.). Khoa học cũng được áp dụng để đo các hưởng ứng sinh lý của người trước các tác phẩm nghệ thuật. Các nghiên cứu khoa học về tâm lý con người khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật cũng có hữu ích cho các nghệ sĩ và những người yêu nghệ thuật.

Lại có quan điểm ngược lại cho rằng khoa học và nghệ thuật có thể hòa nhập vì đều dựa trên hoạt động sáng tạo của con người. Tuy nhiên nếu đi sâu vào tính chất của sự sáng tạo, ta thấy rõ các lý thuyết khoa học đều mang tính toán học rất cao, còn các thực nghiệm khoa học đòi hỏi sự lặp đi lặp lại đã nói ở trên, khiến sáng tạo trong khoa học khác với sáng tạo trong nghệ thuật.

Nghệ thuật và khoa học là các thành tố của văn hóa. Vì thế bản chất và quan hệ giữa chúng thực ra khá phức tạp, thay đổi tùy theo thời gian và địa điểm. Sẽ thật ngây thơ khi cho rằng có thể tìm thấy một sự mô tả quan hệ bất biến giữa chúng. Trong tương lai sự tiến triển mau lẹ của nghệ thuật, khoa học và công nghệ sẽ còn đem lại cho chúng ta nhiều điều bất ngờ. Ví dụ internet có liên hệ thế nào với nghệ thuật? Chúng ta sẽ thấy nhiều phương tiện dùng kỹ thuật số, dùng network bandwidth. Chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều loại hình nghệ thuật mới, song liệu chúng ta có thấy các giá trị thẩm mỹ mới không? Có lẽ chúng ta cũng sẽ được thấy sự ra đời của nhiều lý thuyết mới về nghệ thuật. Nhưng liệu chúng có hơn gì những lý thuyết cũ không?

——————————————————————————–

Nghệ thuật là gì, theo Lev Tolstoy

Lev Tolstoy (1828-1910) do Ilya Repin vẽ năm 1887

Lev Tolstoy (1828-1910) do Ilya Repin vẽ năm 1887

Trong tác phẩm Nghệ thuật là gì? được xuất bản năm 1896, tác giả Chiến tranh và hòa bình đã định nghĩa nghệ thuật như một hình thức truyền đạt các cảm xúc mà một người đã trải qua tới những người khác, khiến cho những người này cũng bị lây nhiễm các cảm xúc đó và thấy như mình cũng trải qua những kinh nghiệm đó. Theo Tolstoy, để hiểu nghệ thuật một cách đúng đắn, chúng ta cần từ bỏ thói quen coi nghệ thuật như công cụ tạo nên khoái lạc, như hoạt động nhằm tạo ra cái Đẹp. Cái Đẹp là một khái niệm chủ quan, vì thế không thể dùng cái Đẹp như một tiêu chuẩn khách quan để định ra cái gì là nghệ thuật, cái gì không phải là nghệ thuật. Nghệ thuật là một trong những điều kiện của cuộc sống con người, là một trong những phương thức giao tiếp giữa con người với nhau. Nghệ thuật không phải là của riêng của một giai cấp đặc biệt nào trong xã hội. Việc giới hạn nghệ thuật nhằm phục vụ quyền lợi của một vài giai cấp nào đó, bất kể đó là tư sản, công nhân, hay nông dân, v.v., là chối bỏ chân lý rằng nghệ thuật là quan trọng cho toàn xã hội.

Lời bàn: Như vậy theo Tolstoy, nghệ thuật là phi giai cấp. Mọi quan điểm cho rằng nghệ thuật nhằm phục vụ lợi ích riêng của bất cứ giai cấp, tầng lớp, đảng phái chính trị nào trong xã hội đều là nhảm nhí. Các đảng phái có thể bị tiêu vong, các chế độ chính trị có thể bị suy tàn, nhưng nghệ thuật đích thực tồn tại mãi mãi.

Tolstoy phân biệt giữa nghệ thuật đích thực và nghệ thuật tồi. Ông cho rằng nghệ thuật đích thực bao giờ cũng thông thái nhưng có thể hiểu được. Nghệ thuật tồi thường nông cạn về tư duy nhưng lại rối rắm khó hiểu. Càng giới hạn nghệ thuật cho một số khán giả đặc biệt nào đó thì càng làm cho nghệ thuật trở nên tối tăm và khó được cảm nhận đối với các khán giả khác nằm ngoài số khán giả đặc biệt nói trên. Nghệ thuật đích thực có thể giao tiếp với công chúng rộng rãi vì lẽ nó biểu hiện ý nghĩa theo một cách mà ai cũng có thể hiểu được. Tolstoy thậm chí tin rằng nghệ thuật chỉ là đích thực một khi nó được đa số đánh giá cao, rằng một tác phẩm nghệ thuật lớn chỉ thực sự là “lớn” nếu tất cả mọi người đều hiểu nó. Ông lý luận rằng nếu không chấp nhận nghệ thuật là thông thái và có thể cảm nhận được thì bất cứ biểu hiện nông cạn và khó hiểu nào của tư duy hoặc cảm xúc đều có thể được gọi là “nghệ thuật”. Như vậy định nghĩa của nghệ thuật sẽ mất dần ý nghĩa cho đến khi trở nên vô nghĩa hoàn toàn.

Nghệ thuật đích thực có hình thức và nội dung thống nhất với các ý tưởng và cảm xúc mà nó khơi dậy. Nghệ thuật tồi không có sự nhất quán đó. Nó nông cạn, trùng lặp, sống sượng, nhạt nhẽo, giả tạo, hoặc tầm thường. Theo Tolstoy, phẩm chất quan trọng nhất của một tác phẩm nghệ thuật là tính chân thành. Chân thành ở đây được hiểu như sau: Một tác phẩm nghệ thuật đích thực bao giờ cũng bộc lộ những ý nghĩ và cảm xúc thực, không giả tạo, vay mượn, ép buộc. Ông còn đi xa hơn khi chỉ ra rằng các cảm xúc cao cả nhất mà nghệ thuật có khả năng biểu hiện là những cảm xúc liên quan đến nhận thức về tôn giáo.

Lời bàn: Việc hiểu Tolstoy một cách thô thiển dễ dàng dẫn đến quan điểm nghệ thuật phục vụ đại chúng. Bởi lẽ việc đánh giá nghệ thuật như vậy phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí của một xã hội, một tác phẩm nghệ thuật được đánh giá là vĩ đại ở những nước có trình độ dân trí cao có thể gây ra sự ngỡ ngàng hoặc thậm chí bị lên án tại các nước có trình độ dân trí thấp kém. Vì vậy giáo dục, học vấn và văn hóa đóng vai trò đặc biệt trong việc làm phong phú cảm xúc của con người, giúp con người tự tin vào chính mình, biết hoài nghi để tự kiểm chứng và xử lý thông tin theo quan điểm của riêng mình. Bên cạnh đó, một xã hội tôn trọng tự do ngôn luận, tự do biểu hiện cho phép con người được bộc lộ cảm xúc của mình một cách tự do, thoải mái nhất mà không bị bất cứ một nỗi sợ hãi nào đe dọa. Chỉ có một trình độ dân trí và xã hội dân chủ như vậy mới có chỗ cho nghệ thuật đích thực.

Tolstoi cho rằng tính chuyên nghiệp là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu chân thành trong người nghệ sĩ. Ông lý luận rằng nếu nghệ sĩ phải kiếm sống bằng việc sản xuất nghệ thuật, thì thứ nghệ thuật “xuất xưởng” đó sẽ thiên về đồ rởm, thiếu chân thành hơn là nghệ thuật đích thực. Tolstoi cũng cho rằng diễn đạt lại hoặc phê bình nghệ thuật là điều phi lý và không cần thiết, vì lẽ bất cứ tác phẩm nghệ thuật đích thực nào cũng có khả năng tự biểu hiện tư duy và cảm xúc mà mọi người đều cảm nhận được. Tolstoy cho rằng mọi sự lý giải các tư duy và cảm xúc đều là thừa, vì nghệ thuật truyền cảm xúc và trải nghiệm theo một cách mà lời nói không thể nào diễn tả lại được. Trên cơ sở này, Tolstoy cho rằng giảng dạy nghệ thuật đồng nghĩa với tiêu diệt nghệ thuật, tiêu diệt cá tính của nghệ sĩ. Mọi toan tính dạy dỗ nghệ thuật thực chất chỉ đưa đến việc bắt chước các tác phẩm nghệ thuật của người khác.

Lời bàn: Oscar Wilde có quan điểm ngược với quan điểm của Tolstoy. Theo Oscar Wilde, “bản thân phê bình nghệ thuật cũng là một nghệ thuật, phê bình là một sự sáng tạo theo nghĩa cao cả nhất của từ đó. Phê bình thực chất vừa có tính sáng tạo lại vừa độc lập. Quan hệ giữa nhà phê bình với tác phẩm nghệ thuật mà anh ta phê bình giống hệt như quan hệ giữa họa sĩ với thế giới hữu hình của màu sắc và hình khối, hoặc thế giới vô hình của niềm say mê và tư duy. Phê bình đặt tác phẩm vào một hình thức mới và thú vị. Thực chất đó là một sự sáng tạo trong một sự sáng tạo. Đối với nhà phê bình, tác phẩm nghệ thuật đơn giản chỉ là một sự gợi ý cho một tác phẩm mới của chính nhà phê bình. Tác phẩm mới này không nhất thiết phải giống với cái mà anh ta phê bình” .

Quan niệm nghệ thuật là phổ cập cho tất cả mọi người của Tolstoy khẳng định rằng nghệ thuật là phổ cập nếu nó biểu hiện các tư tưởng và cảm xúc mà bất cứ ai cũng có thể trải nghiệm. Theo Tolstoy, bất cứ ai cũng có thể trải nghiệm các tư tưởng hoặc cảm xúc tôn giáo. Vì vậy nghệ thuật là phổ cập khi nó biểu hiện các cảm xúc mang tính tôn giáo. Nhận thức có tính tôn giáo được thể hiện bằng nghệ thuật là nhận thức rằng hạnh phúc của nhân loại phụ thuộc vào sự hài hòa và hiểu biết lẫn nhau trong xã hội.

Lời bàn: Cách nhìn nhận nghệ thuật của Tolstoy khiến nghệ thuật phải đáp ứng một lúc cả ba yêu cầu: tính thẩm mỹ, đạo đức và xã hội. Nó na ná giống quan niệm nghệ thuật phải đủ “chân, thiện, mỹ” của phương Đông. Vì lẽ đó Tolstoy đã loại nhiều nghệ thuật ra khỏi cái mà ông cho là nghệ thuật đích thực. Ví dụ ông coi âm nhạc của Bach, Mozart, hài kịch của Molière, thơ của Goethe và Hugo, tiểu thuyết của Dickens và Dostoevsky là những ví dụ của nghệ thuật đích thực. Trong khi đó, thơ của Baudelaire và Mallarmé, kịch của Ibsen, âm nhạc của Wagner và Liszt bị ông coi là nghệ thuật tồi (!)

——————————————————————————–

Bart Rosier, What is art?, http://www.geocities.com/SoHo/Coffee…/whatsart.html

Joseph A. Goguen, Journal of Conciousness Studies, 7, Nos. 8-9 (2000) 7.

Leo N. Tolstoy, What is Art? (McMillan, New York, 1960).

Marcel Duchamp (1887-1968): họa sĩ Pháp, một trong các nhà sáng lập ra trường phái Dada vào năm 1915. Ông nổi tiếng vì tác phẩm theo trường phái lập thể-tương lai Khỏa thân đang đi xuống cầu thang, chậu đi tiểu mà ông đặt tên là Đài phun (Fountain). Năm 1917 khi Đài phun được trưng bày lần đầu tiên tại triển lãm của hội các họa sĩ độc lập tại New York, ban tổ chức triển lãm đã phải họp khẩn cấp và bỏ phiếu để cất cái vật thể “đồi trụy” này khỏi phòng triển lãm. Vậy Fountain có phải là nghệ thuật không? Chúng ta làm thế nào để phán xét đây? Đó chính là những câu hỏi mà Duchamp muốn chúng ta nêu ra khi xem tác phẩm của ông. Ông bày nó ra để thách thức người xem.

Andy Warhol (1928-1987): nghệ sĩ Mỹ, một trong những người tiên phong của pop-art, và có ảnh hưởng lớn nhất trong nghệ thuật cuối thế kỷ 20.

Plato (427-347 ): triết gia Hy Lạp, có ảnh hưởng nhất trong toàn bộ nền văn minh phương Tây.

John Keats (1795-1821): một trong 3 thi sĩ Lãng mạn vĩ đại nhất của Anh, bên cạnh Byron và Shelleỵ

Martin Heidegger (1889-1976): triết gia Đức, một trong những triết gia quan trọng nhất của thế kỷ 20, một trong những nhân vật trung tâm của chủ nghĩa Hiện sinh.

Immanuel Kant (1724-1804): triết gia Đức, một trong những triết gia có ảnh hưởng lớn nhất trong toàn bộ triết học phương Tây. Các công trình của ông về siêu hình, nhận thức luận, luân lý, thẩm mỹ học đã ảnh hưởnh sâu sắc đến mọi trào lưu triết học sau ông.

Oscar Wilde (1854-1900): nhà văn, viết kịch, thi sĩ Anh – Ái Nhĩ Lan, rất nổi tiếng ngay từ khi còn sống, bị kết án và bỏ tù vì đồng tính luyến ái.

Aristotle (384-322): học trò của Plato và thầy của Alexander Đại đế, một trong 3 triết gia cổ Hy Lạp vĩ đại nhất, bên cạnh Plato và Socrates.

Claude Monet (1840-1926): họa sĩ Pháp, một trong những người khởi xướng hội họa ấn tượng.

Bức họa Impression: Soleil levant (Ấn tượng: Mặt trời mọc) cuả ông vẽ năm 1873, khi triển lãm lần đầu tiên vào năm 1874 tại một hiệu ảnh ở phố Capucines (Paris) cùng với tranh của 8 họa sĩ khác (Boudin, Degas, Cézanne, Guillaumin, Berthe Morisot, Pissarro, Renoir và Sisley), đã gây một cú sốc có tiếng vang rất lớn. Nhà phê bình Louis Leroy đã mượn tên của bức tranh này để chơi chữ có tính diễu cợt trong bài báo Triển lãm của bọn Ấn tượng (L’Exposition des Impressionistes) đăng ngày 25/4/1874, hoàn toàn không biết rằng mình đã đặt tên khai sinh cho một trào lưu sau này trở thành một trường phái nghệ thuật lớn.

Anthony Freeman: cố đạo và nhà nghiên cứu thần học, bị khai trừ khỏi Giáo hội Anh vì những quan điểm cực đoan, tổng biên tập Tạp chí nghiên cứu ý thức từ năm 1994. Tác phẩm nổi tiếng Chúa trong chúng ta (1993), Ý thức: Hướng dẫn tranh luận (2003).

Jackson Pollock (1912-1956): họa sĩ Mỹ, người tiên phong của trào lưu trừu tượng biểu hiện. Tác phẩm Những chiếc sào xanh (Blue Poles, 1952) của ông được Bảo tàng Quốc gia Úc mua năm 1973 với giá 2 triệu USD – giá kỷ lục cho một tác phẩm nghệ thuật đương thời.

Oscar Wilde, The Critic as Artist,

http://www.greeleynet.com/~maxalla/G…cAsArtist.html

Nguyễn Đình Đăng

Talawas

Advertisements

Read Full Post »

Ứng xử tàn bạo với di tích

Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật” – PGS-TS Trần Lâm Biền

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Một ngôi chùa hơn 400 năm tuổi, được xếp hạng di tích cấp quốc gia, đang bị xuống cấp nghiêm trọng ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Chùa bị “làm mới”

Chùa Linh Tiên (thuộc làng Hội Xá, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm cũ, nay thuộc P.Phúc Lợi, Q.Long Biên, Hà Nội) đã được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH-TT-DL) xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1995. Vào thời điểm đó, chùa còn lưu giữ được hệ thống kiến trúc (tòa Tam bảo) và hệ thống tượng, đồ thờ, chuông, bia niên đại trải dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Đặc biệt, chùa có bộ tượng Tam thế Phật được đánh giá là “độc nhất vô nhị”. Theo hồ sơ xếp hạng di tích cấp quốc gia, bộ Tam thế này vừa mang nét phong cách nghệ thuật phương Nam, lại gần với nghệ thuật Ấn Độ. Tượng để hở nửa ngực, vai và cánh tay bên phải; các nếp áo uốn lượn mềm mại, thể hiện chiều sâu suy tư. Đài sen của cả 3 pho tượng đều mang phong cách nghệ thuật thời Mạc (nửa cuối thế kỷ 16 – nửa đầu thế kỷ 17). Tiếc rằng 9 năm trước, ba pho tượng Tam thế đặt trên ba bệ tượng đều đã bị đánh cắp.

Chùa Linh Tiên có kết cấu hình chữ “đinh” bao gồm Tiền đường (5 gian) và Phật điện. Nhưng đến nay, 3 gian phía bên trái của Tiền đường đã bị đổ sụp, chỉ còn lại 2 gian phía bên phải. Cửa phía trước của tòa Tiền đường thì chắp vá bởi những thanh gỗ khác nhau. Pho Khuyến thiện niên đại thế kỷ 19 bị bật cả đế lên và đổ nghiêng về phía sau. Pho Trừng ác phía bên phải lại đổ nghiêng về phía trước và bị gãy một cánh tay. 9 pho Thập điện Diêm vương thì ở các tư thế nghiêng ngả. Mùa mưa năm 2008, mái ba gian giữa cũng bị “thông thiên”, hệ thống tượng do bị mưa nắng xói mòn đã xuống cấp nghiêm trọng.

Điều đáng kinh ngạc là thay vì tu bổ, sửa sang ngôi chùa cũ, năm 2000 – 2001, nhà chùa và người dân trong vùng lại quyên tiền để xây mới một ngôi chùa cao 2 tầng bề thế. Tam bảo mới xây của ngôi chùa mới không tuân theo bất kỳ quy chuẩn nào. Công trình xây dựng không phép này đã vi phạm pháp luật hiện hành, lại nằm trong khu vực bảo vệ I (tức khu vực bất khả xâm phạm được ghi rõ trong hồ sơ xếp hạng di tích của Bộ VH-TT-DL), phá vỡ cảnh quan gốc, kể cả không gian hình thức và không gian tâm linh của chùa.

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Chính quyền địa phương không có biện pháp ngăn chặn, chấn chỉnh, còn các chuyên gia Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) thì đến bây giờ mới biết “sự cố” này. “Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật. Người ta truất ngôi của “ông già”, viết giấy khai tử cho ông, bằng cách đặt ngay sát ông một “thằng bé” vô hồn lai căng vô lối: chẳng phải Tây, không phải Tàu và chỉ “giả vờ” là Việt Nam”, PGS-TS Trần Lâm Biền (Cục Di sản, Bộ VH-TT-DL) thốt lên.

Tượng hộ pháp đổ nát

Tượng hộ pháp đổ nát

Đình cũng chẳng còn

Trong cuộc gặp với chính quyền và người dân Hội Xá mới đây, các nhà khoa học và quản lý di tích đều bày tỏ sự “đau lòng”, “chua xót” trước thực trạng của cụm di tích chùa Linh Tiên và đình Hội Xá. Ông Nguyễn Doãn Tuân, Trưởng ban quản lý di tích, danh thắng Hà Nội đã yêu cầu UBND Q.Long Biên phải nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và phối hợp với các chuyên gia tư vấn, bảo tồn để lập quy hoạch tổng thể mặt bằng cho cụm di tích, đồng thời lên phương án tôn tạo lại ngôi chùa chính và ngôi đình đã hư hỏng nghiêm trọng. Riêng với ngôi chùa 2 tầng mới, Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) sẽ cân nhắc để có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí có thể tính tới phương án phá bỏ.

Đình Hội Xá (có từ thời Lê) nằm cạnh chùa Linh Tiên, tạo thành quần thể di tích. Theo hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1994 thì đình Hội Xá vẫn còn khá vững chãi. Các bức ảnh chụp cho thấy đình được dựng với mặt bằng chữ “nhị”, có cánh cửa đề 3 chữ “Phúc Thọ Môn”. Nóc của đình được chạm trổ kỹ lưỡng với các họa tiết vân xoắn, lá cúc cách điệu… Ngoài ra, trong đình còn nhiều ngai, bài vị, y môn và một số đồ thờ tự mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18. Đáng chú ý là 2 bức phù điêu hình chữ nhật chạm rồng nổi. Còn theo tư liệu của PGS-TS Bùi Xuân Đính (Viện Dân tộc học), đình Hội Xá là một trong những ngôi đình thuộc loại bề thế ở miền Bắc. Thế nhưng, tới nay, ngôi đình gốc này cũng không còn vì người dân đã tự tiện dỡ ra để làm mới. Giờ đây, đình Hội Xá chỉ còn trơ lại một ngôi nhà nhỏ, được làm theo kiểu chữ “đinh”, ba gian tường hồi, bào trơn đóng bén, chẳng khác gì một ngôi miếu!

Theo Thanh Nien online

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Lãng quên những di vật quý của tiền nhân

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

Đáng tiếc là ở Thừa Thiên Huế, tiền nhân đã để lại báu vật, nhưng con cháu lại đã và đang thờ ơ, lãng phí với những báu vật đó.

Huế một thời là đất của trăm nghề với việc triều Nguyễn thành lập chế độ Tượng cục (công xưởng triều đình), tập hợp và quy tụ tất cả những người thợ thủ công tài hoa và giỏi nhất của cả nước về Huế để phục vụ cho việc xây dựng vương triều. Những sản phẩm tinh tuý nhất của họ hiện vẫn còn lưu giữ ở các cung điện, đền đài, lăng tẩm…, đặc biệt là ở Bảo tàng cổ vật cung đình. Đáng tiếc là tiền nhân đã để lại báu vật, nhưng con cháu lại đã và đang thờ ơ, lãng phí với những báu vật đó.

Mất phương hướng

Hôm rồi dạo một vòng quanh các quầy bán hàng thủ công mỹ nghệ ở thành phố Huế, thấy có nhiều nơi “bỗng dưng” có những mặt hàng bằng gỗ, đồng… rất đẹp và tinh xảo. Hỏi mấy người bán: “Hàng này ai làm mà đẹp thế này?”, cô nào cũng nhanh nhẩu: “Huế mình làm chớ ai nữa!”.

Hỏi tiếp, Huế mình làm, cụ thể là ai làm, ở đâu thì người đối diện lúng túng ậm ờ. Hỏi mãi một chủ quầy hàng ở trong Đại Nội mới thành thật tâm sự: “Nói thiệt với anh, hàng ở đây và nhiều nơi khác trong thành phố toàn là hàng về từ Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, thậm chí cả Trung Quốc. Khách hỏi thì phải bấm bụng mà nói là Huế làm cho dễ bán, chớ Huế mình tài mô mà làm được hàng đẹp như ri!”.

Huế là một trung tâm dịch vụ du lịch hàng đầu của Việt Nam, là nơi trong quá khứ đã từng làm ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đẹp nhất, tính xảo nhất, trong đó có nhiều sản phẩm thuộc hàng quốc bảo. Nhưng nghịch lý là suốt mấy chục năm nay, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Huế, đặc biệt là sản phẩm phục vụ du lịch lại phát triển èo ọp, lay lắt vì không tìm được đầu ra.

Không phải đến bây giờ, mà từ nhiều năm trước, nhiều người có trách nhiệm ở Huế đã lên tiếng rằng việc phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống Huế đã và đang mất phương hướng do các yếu tố: Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, thiếu sự liên kết. Những người làm nghề luôn có tư tưởng giấu nghề, sợ người khác giỏi hơn mình. Và đặc biệt là mẫu mã hàng thủ công mỹ nghệ giá thành luôn cao, nhưng lại quá xấu so với những mặt hàng tương tự ở các địa phương khác, thậm chí cả Trung Quốc.

Đáng nói là nhiều năm nay, năm nào tỉnh, thành phố cũng có tổ chức các cuộc thi sáng tác mẫu mã hàng thủ công mỹ nghệ, nhưng hiệu quả và sự tác động của những cuộc thi này nhìn từ góc độ thị trường là không nhiều.

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

“Tôi có cảm giác rằng đó là những cuộc thi tài, để xem giữa chúng tôi, ai là người có tay nghề cao hơn, chứ không phải là thi thiết kế mẫu mã, bởi nó thiếu tính ứng dụng, cũng như chưa xác định được đối tượng khách hàng, nhu cầu thị trường…” – một nghệ nhân (xin giấu tên) đã nhiều năm tham gia những cuộc thi thiết kế mẫu mã hàng thủ công mỹ nghệ ở Huế – tâm sự.

Song song với những cuộc thi là hội thảo. Đã có không biết bao nhiêu cuộc hội thảo để bàn cách vực dậy, tìm hướng đi cho các nghề và làng nghề truyền thống trong nhiều năm qua. Thế nhưng, thực tế rất đau lòng là “hết xôi rồi việc”, xong hội thảo là xong chuyện, bởi thiếu một sự kết nối đáng ra phải có giữa những nhà khoa học, nghiên cứu và những người làm quản lý.

Một hướng đi đầy hứa hẹn

Tại cuộc Hội thảo “320 năm Phú Xuân – Huế, nghề truyền thống bản sắc và phát triển”, tổ chức vào năm 2007, TS Trần Đức Anh Sơn, lúc đó là Giám đốc Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế đã đưa ra một gợi ý rất hay để góp một giải pháp cho việc phục hồi các nghề thủ công thất truyền của xứ Huế thông qua việc khai thác hiệu quả nguồn hiện vật mà bảo tàng đang lưu trữ, trưng bày.

Theo TS Trần Đức Anh Sơn thì hiện tại, Bảo tàng cổ vật cung đình đang lưu trữ gần 9.000 cổ vật với 16 sưu tập hiện vật tiêu biểu đang trưng bày ở nội thất và ngoại thất điện Long An. Trong số đó, có nhiều tác phẩm thủ công mỹ nghệ xứng đáng liệt vào hàng quốc bảo của Việt Nam như những món pháp lam Huế; những bộ cành vàng lá ngọc; những đồ gỗ chạm khảm và sơn son thếp vàng: Các cổ vật bằng đồng do Chú tượng ty và do các nghệ nhân ở Phường Đúc xưa thực hiện…

Với nguồn cổ vật hiện có và với những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật, mỹ thuật, phong cách, niên đại… các cổ vật này của đội ngũ bảo tàng viên ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế, TS Trần Đức Anh Sơn cho rằng, bảo tàng có thể đóng góp vào chiến lược phục hồi và phát huy các nghề thủ công truyền thống ở Huế, đặc biệt là các nghề đã thất truyền theo các hướng sau: Giới thiệu các mẫu cổ vật là những tuyệt tác thủ công mỹ nghệ ngày trước cho các nghệ nhân tham khảo, lấy mẫu để phục chế.

Cung cấp các kết quả nghiên cứu về các sản phẩm này cho các nghệ nhân để họ có thêm các chứng cứ khoa học, kỹ thuật trong việc phục chế, tân tạo các dòng sản phẩm thủ công mỹ nghệ danh tiếng của Huế xưa…

Những mặt hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ hai đầu đất nước và tận Trung Quốc đang bày bán ở Huế.

Những mặt hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ hai đầu đất nước và tận Trung Quốc đang bày bán ở Huế.

Theo TS Trần Đức Anh Sơn thì: “Trong việc phục hồi và tái tạo nguồn hàng thủ công mỹ nghệ để phục vụ khách du lịch và để duy trì, phát triển bền vững các nghề thủ công ở Huế, cần phải xây dựng một quy trình dài hạn mang tính khoa học, khôn ngoan và cùng hưởng lợi”. Cụ thể phải “cần có 4 đối tượng tham gia quy trình này, gồm: Các nhà nghiên cứu; những người sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; các cơ quan hữu quan; các công ty du lịch”.

Theo đó, giới nghiên cứu có nhiệm vụ chỉ ra những sản phẩm đặc trưng và nổi tiếng của từng nghề và làng nghề để tư vấn và cung cấp mẫu mã cho các nghệ nhân những sản phẩm tiềm năng nhất.

Nghệ nhân là những người có tay nghề cao, biết chuyển những thành quả nghiên cứu của các học giả và những kinh nghiệm do tổ tiên trao truyền cho họ để làm ra những sản phẩm chất lượng cao, giá thành hợp lý, liên quan đến truyền thống, lịch sử (chính sử và huyền sử) của địa phương.

Các cơ quan hữu trách phụ trách công tác giám sát chất lượng, giá cả gắn biển chứng nhận uy tín và chất lượng cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đồng thời, phải bảo vệ tác quyền tác giả cho những mẫu mã, những sản phẩm có đăng ký bảo hộ quyền tác giả, tránh tình trạng sao chép, làm hàng nhái, hàng giả.

Các công ty lữ hành, thông qua hệ thống hướng dẫn viên, đưa khách đến những cửa hàng hay làng nghề có hàng hoá tốt, mẫu mã đẹp, chất lượng dịch vụ đảm bảo và được hưởng tiền hoa hồng từ lợi nhuận do du khách mang đến qua việc mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ lưu niệm…

Còn nhớ lúc đó, tham luận của TS Trần Đức Anh Sơn được đồng thuận và đánh giá rất cao, bởi đó là một trong những giải pháp mang tính bản lề đối với việc phục hồi và phát triển ngành thủ công truyền thống Huế.

Tuy nhiên, hai năm trôi qua, khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đi dò hỏi từng “nhà” một xem có “nhà” nào quan tâm đến, dù chỉ một phần nhỏ trong những ý kiến rất hay và tâm huyết của TS Trần Đức Anh Sơn hay không. Nhưng tiếc là đến đâu cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Thậm chí có “nhà” còn ngạc nhiên và không hề nhớ rằng cách đây hai năm đã từng có một cuộc hội thảo như vậy, dù “nhà” nọ đã có người tham gia hội thảo và tất cả các tham luận đã được in thành kỷ yếu (!?).

————————————————————————————–

Trong tờ dụ của Vua Khải Định ban hành ngày 24.8.1923 về việc thành lập Bảo tàng Khải Định – tiền thân của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế bây giờ, có đoạn viết: “Thiên tài của một dân tộc được biểu hiện qua các tác phẩm mỹ thuật, phản ánh những sinh hoạt xã hội, lễ nghi, chính trị và cuộc sống nội tâm của họ… Nước ta đã tiếp nối được những kiểu thức đẹp đẽ về mỹ thuật của các thế hệ tiền bối từ những thế kỷ trước. Nền mỹ thuật này cần phải được bảo tồn để hình thành và duy trì sở thích và tình cảm của các thế hệ mai sau…

Chúng ta hôm nay thành lập trong kinh thành Huế một bảo tàng khả dĩ thu thập và bảo tồn những kiểu thức đẹp đẽ về nghệ thuật và kỹ thuật An Nam để các nghệ sĩ và nghệ nhân tương lai có thể thấy được những sản phẩm của tiền nhân và phỏng theo đó một cách hữu ích”.

————————————————————————- ————-

Tháng 3.2009, UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt đề án khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, làng nghề và ngành nghề TTCN tỉnh TT- Huế đến năm 2015, với tổng kính phí một năm 100 tỉ đồng. Tuy vậy, trong phần giải pháp thực hiện, UBND tỉnh TT-Huế cũng chỉ đề ra các giải pháp về thị trường; khoa học công nghệ, môi trường; phát triển làng nghề gắn với du lịch…và không đề cập gì đến việc yêu cầu hoặc khuyến khích việc khai thác vốn cổ của tiền nhân hiện đang lưu giữ trong Bảo tàng cổ vật cung đình, cũng như gợi ý về sự kết hợp “4 nhà” như đã dẫn.

Nguồn báo Lao Động

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Tác phẩm “Võ sĩ vàng” tiết lộ: kho báu của Thiên Hoàng

Bí ẩn lịch sử lớn nhất thế kỷ 20 đã được tiết lộ qua tác phẩm, Võ sĩ vàng, khẳng định người Nhật đã ăn cướp của các nước bị xâm chiếm một lượng tài sản khổng lồ có thể mua cả thế giới này!

Những thỏi vàng được đúc cùng kích cỡ

Những thỏi vàng được đúc cùng kích cỡ

Trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Thiên hoàng Nhật Bản đã dùng vũ lực xâm chiếm 12 quốc gia châu Á, đồng thời thực hiện “Kế hoạch Kim bách hợp” vơ vét hàng vạn tấn châu báu, vàng bạc, đồ cổ… Số của báu này hiện nay ở đâu? Tại sao Mỹ không đánh phá hoàng cung và các cơ sở tài chính lớn của Nhật như Mitsubishi, Misui… Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản được hình dung là một nước nghèo xơ xác, thế mà chỉ sau 7 năm đã phục hồi “nguyên khí”, trở thành một cường quốc về kinh tế. Sự phát triển thần kỳ này ngoài nỗ lực tự thân và vận may ra chẳng lẽ không có một nhân tố tài chính nào khác hỗ trợ? Đó là những vấn đề mà Võ sĩ vàng đề cập.

Nếu chỉ là câu chuyện như Alibaba và 40 tên cướp thì có lẽ cuốn sách Võ sĩ vàng của đôi vợ chồng nhà văn người Mỹ Sterling và Peggy Seagrave đã không gây chấn động dư luận thế giới đến như vậy. Và tác giả của nó cũng không đến nỗi phải bỏ ra 18 năm trời thu thập tư liệu, sống ẩn cư tại một vùng quê ở Pháp, hạn chế tối đa tiếp xúc với bên ngoài vì sợ mưu sát bởi đã tiết lộ một bí ẩn lịch sử lớn nhất thế kỷ 20… Cần nói thêm: Sterling và Peggy Seagrave là đồng tác giả của những bộ tiểu thuyết lịch sử sống động: Vương triều họ Tống, Vương triều Marcos, Vương triều Đại Hòa (tức Nhật Bản) và đã nhiều lần bị truy sát vì đưa ra ánh sáng những bí mật lịch sử ngỡ đã chôn vùi…

“Kế hoạch kim bách hợp” và 6.000 tấn vàng

Năm 1937, Nhật hoàng Hirohito cùng các thành viên hoàng gia đã lập ra một kế hoạch bí mật, gọi là “Kế hoạch Kim bách hợp”, mục đích là vận chuyển, bảo vệ số lượng vàng bạc châu báu chiếm được ở 12 quốc gia Đông Á và Đông Nam Á đưa về Nhật Bản một cách an toàn nhất. Thành phố Nam Kinh được coi như điểm khởi đầu để thực hiện kế hoạch này.

Hàng ngàn năm qua, Nam Kinh là thành phố giàu có của Trung Quốc, thu hút rất đông những người có tiền, có địa vị đến đây sinh sống, buôn bán. Nam Kinh cũng không phải là lần đầu tiên bị tấn công, cướp phá, nhưng đây là lần bị tàn sát, cướp bóc có hệ thống nhất. Các tiểu đội hành động hiến binh đặc biệt thực hiện “Kế hoạch Kim bách hợp” ở Nam Kinh đã sử dụng mọi thủ đoạn: thu giữ tài sản Chính phủ Trung Quốc, phá các kho bạc, cướp đoạt vàng, đá quý, châu báu, tác phẩm nghệ thuật, tiền mặt của những người giàu có, các thương nhân.

Theo số liệu thống kê, riêng tại Nam Kinh, quân Nhật đã thu gom 6.000 tấn vàng, chưa kể các báu vật khác. Số chiến lợi phẩm này được vận chuyển trực tiếp bằng thuyền từ Thượng Hải về Nhật Bản hoặc dùng xe lửa, xe tải chuyển đến Mãn Châu để xử lý, tiến hành phân loại những báu vật hiếm có. Những thứ đồ trang sức bằng vàng được nấu chảy ra rồi đúc khuôn thành những thỏi vàng có kích thước thống nhất, sau đó chuyển về Nhật. Khi chiến tranh sắp kết thúc, số châu báu không chuyển kịp được cất giấu trong những hầm bí mật đặc biệt ở một số nước, hoặc tạo ra những vụ đắm thuyền có chủ ý…

175 kho vàng ở Philippines

Phần lớn những của cải chiếm được từ Đông Á và Đông Nam Á trong “Kế hoạch Kim bách hợp” được chuyển về Nhật Bản từ Triều Tiên, nhưng từ năm 1943, tàu ngầm của Mỹ đã phong tỏa toàn bộ đường biển nên quân Nhật chỉ có thể vận chuyển số vàng bạc châu báu còn lại đến Philippines mà thôi. Dưới sự giám sát của các thành viên hoàng gia Thiên hoàng, tướng Yamashita đã chỉ huy kế hoạch xây dựng “175 kho báu hoàng gia” tại Philippines.

Một hầm vàng người Nhật chôn ở Philippines

Một hầm vàng người Nhật chôn ở Philippines

Đầu tháng 6-1945, khi xe tăng của Mỹ cách Bambang không đến 35 km thì tại một căn hầm lớn chứa đầy vàng có tên là “đường hầm số 8”, ở sâu dưới lòng đất, một bữa đại tiệc từ giã 175 nhà thiết kế của 175 kho báu được bắt đầu. Họ uống rất nhiều rượu sakê, hát những ca khúc yêu nước và thỉnh thoảng lại hô vang “vạn tuế”. Đến nửa đêm, tướng quân Yamashita và các thành viên hoàng gia nhanh chóng rời khỏi căn hầm ra ngoài, đồng thời tại đường thông ra bên ngoài hàng khối thuốc nổ đã chuẩn bị sẵn được điểm hỏa, tất cả các nhà thiết kế kho tàng và nhân viên tham gia xây dựng đều bị chôn vùi.

Chỉ duy nhất có một người Philippines tên là Ben Valmores, vốn là nô bộc của Takeda Tsuneyoshi – thành viên hoàng gia giám sát việc xây dựng các kho tàng ở Philippines, đã được chủ nhân động lòng cho thoát ra ngoài từ đường hầm số 8 ngay khi phát nổ. Ben Valmores năm nay 76 tuổi, đã kể lại với Sterling và Peggy những gì mình trải qua trong thời gian 1943-1945.

Bí mật bại lộ

Ngày 2-9-1945, cách 3 tháng sau khi các thành viên hoàng gia đi tàu ngầm về Tokyo, tướng Yamashita cùng các nhân viên tham mưu từ cứ điểm cuối cùng Kiangan, Philippines giao nộp vũ khí đầu hàng cho quân đội Mỹ do thiếu tá Jack Kenworthy chỉ huy. Yamashita bị bắt và xử như một tội phạm chiến tranh nhưng vấn đề các kho báu hoàng gia vẫn còn là bí mật. Tình báo Mỹ quyết định khai thác từ người lái xe thân cận của Yamashita là thiếu tá Kashii, việc này do sĩ quan tình báo người Phi gốc Mỹ là Santa Romana (biệt danh là “Ông già Noel”) đảm nhiệm, giám sát Santa là G.Lansdale thuộc Cục Tình báo chiến lược Mỹ (OOS), người rất nổi tiếng trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Đến tháng 10-1945, cuối cùng Kashii đã chịu cung khai, đưa Lansdale và Santa đến một số điểm nghi là nơi chứa kho báu ở vùng núi phía Bắc Manila, Philippines, trong đó có 2 điểm tương đối dễ khai quật. Sự việc đã được báo lên cho tướng J. McCloy và tổng thống Truman. Một kế hoạch khai quật được bí mật tiến hành. Tháng 11-1945, McCloy, Lansdale bí mật bay đến Manila thị sát kho vàng mà Santa đã mở. “Họ đi chậm rãi bên những dãy thùng cao 2 m chứa đầy những thỏi vàng”, chỉ tính riêng ở đây số vàng đã có giá trị vài chục tỉ USD… Số vàng do Lansdale và Santa khai quật từ năm 1945 đến 1957 đã được gửi cẩn thận bằng 172 tài khoản tại ngân hàng lớn của 42 nước.

Năm 1975, tổng thống Philippines là F. Marcos đã khai quật được một kho gồm toàn vàng thỏi có giá trị 8 tỉ USD. Marcos cùng hai người Nhật Bản và đại diện Chính phủ Mỹ đã cùng nhau chia số tài sản khổng lồ này. Người giúp Marcos chuyển dịch mật mã của tấm địa đồ kho báu này tên là Kedis. Về sau, Marcos muốn giết Kedis để diệt khẩu, nhưng Kedis đã nhanh chân trốn thoát mang theo bản sao tấm bản đồ cùng các băng từ liên quan đến việc này. 20 năm trước, khi Sterling và Peggy thu thập tư liệu viết nên tác phẩm Vương triều Marcos đã liên lạc được với Kodis và ông này đã trao cho họ toàn bộ tài liệu liên quan để viết nên Võ sĩ vàng, góp phần làm sáng tỏ một trong những bí ẩn lớn nhất của lịch sử.

Dư luận và võ sĩ vàng

Ra đời năm 2005, đến nay, Võ sĩ vàng đã được dịch sang hàng chục thứ tiếng, nhiều tổ chức, đoàn thể đã bắt tay vào việc tìm hiểu, xác minh những tư liệu trong Võ sĩ vàng. Trong 18 năm viết Võ sĩ vàng, Sterling và Peggy đã tiếp cận hàng ngàn văn bản, tài liệu mật, đã phỏng vấn hơn 1.000 giờ những nhân vật liên quan.

Tác phẩm Võ sĩ vàng được dịch ra tiếng Hoa

Tác phẩm Võ sĩ vàng được dịch ra tiếng Hoa

Tờ Thời báo Kinh tế Tài chính của Trung Quốc đã liên lạc qua mạng với hai tác giả, đồng thời tổ chức các buổi hội thảo gồm các chuyên gia, học giả với hy vọng tìm ra manh mối phía sau câu chuyện này. Nếu những tư liệu trong Võ sĩ vàng là có căn cứ, thì tổng giá trị những vàng bạc châu báu mà quân Nhật đã chiếm được lên đến hàng vạn tỉ USD, so với hiện nay tổng GDP toàn cầu không quá 4 ngàn tỉ USD. Trên lý thuyết có thể nói ai nắm giữ và sử dụng khối tài sản khổng lồ này có thể mua cả thế giới.

“Nhất định là tồn tại. Nếu không, sau chiến tranh Nhật Bản làm sao có thể giàu nhanh như vậy?”- bà Vương Tuyển, chủ nhiệm Ủy ban Quản lý Quỹ Vì hòa bình, nhân quyền và lịch sử Trung Quốc, khẳng định. “Mục đích của chiến tranh là gì? Chỉ là giết người suông? Chiếm đoạt của cải mới là quan trọng nhất”. Nhiều học giả cũng cùng chung quan điểm. Về tính chân thực của những con số, ông Tăng Cương, chuyên gia thuộc Phòng Nghiên cứu tài chính Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, cho rằng: “Hàng vạn tỉ USD là con số quá lớn, cảm thấy có chút khó tin”, nhưng tác giả của Võ sĩ vàng thì nói rằng điều này hoàn toàn có thể lý giải vì quân Nhật đã thực hiện chiếm đoạt một cách có hệ thống tại các quốc gia “có hàng ngàn năm lịch sử văn minh”.

Theo Xã Hội Luận Bàn

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Bộ sưu tập quý giá nhất của Tử Cấm thành tại… Đài Loan

Bộ sưu tập quý giá nhất của Tử Cấm thành không phải nằm ở Bắc Kinh, mà là tại… Đài Loan! Hàng trăm ngàn bảo vật vô giá của nhiều đời thiên tử Trung Hoa, trải qua nhiều thời kỳ ly loạn, vì sao cuối cùng lại trôi dạt ra đến đảo?

Câu “thần chú vô địch” tại Đài Loan

National Palace Museum (Viện Bảo tàng quốc gia) là một câu thần chú vô địch tại Đài Loan. Phải công nhận, đây là một viện bảo tàng độc nhất vô nhị trên thế giới, nằm tại Waishuang-his, ngay ở ngoại ô Đài Bắc, trải dài trên lưng chừng một ngọn đồi cây cối rậm rạp với những mái ngói xanh, uốn cong.

Viện Bảo tàng quốc gia tại Đài Loan ngày nay cũng bí hiểm như Tử Cấm thành ngày xưa của đế quốc Trung Hoa

Viện Bảo tàng quốc gia tại Đài Loan ngày nay cũng bí hiểm như Tử Cấm thành ngày xưa của đế quốc Trung Hoa

Điều khó tin nằm trong các căn phòng, tầng lầu và sau mỗi chiếc tủ kính. Đây là một quyển sách học đặc biệt, viết riêng cho các hoàng tử với những hình ảnh đẹp đến kinh ngạc. Kia là một con tàu, chạm khắc trên trái ô liu, với cả thủy thủ đoàn và hành khách bằng ngà voi cực kỳ tinh xảo, món đồ chơi vô giá của chú bé Phổ Nghi, vị Hoàng đế Trung Hoa cuối cùng. Xa xa trong một góc là bộ bàn ghế trong cung của Hoàng tử Kung, hay một chiếc bàn bằng ngọc chạm khắc vào thời Đông châu liệt quốc, trên đó Hoàng đế Càn Long đã khắc thêm những bài thơ và đóng ấn của mình lên… Khắp nơi đều là dấu tích của thiên tử, có một không hai trên cõi đời.

Tiến sĩ Lin Mun-Lee, giám đốc Viện Bảo tàng quốc gia thì thầm: “Cái mà bạn nhìn thấy là bộ sưu tập của Tử Cấm thành, tài sản tinh hoa nhất của chúng tôi. Còn nhiều báu vật khác không được trưng bày, do thiếu chỗ. Trong tháng này, chúng tôi sẽ mở rộng thêm một khu trưng bày mới nữa”. “Có thể nào xem bên trong kho chứa không?”. “Đừng có mơ! Ngay cả nhân viên như chúng tôi, nơi đến cũng còn bị cấm nghiêm nhặt”. Không có giấy phép của chính phủ, chẳng ai làm được gì cả. Nơi đây trực thuộc quyền của thủ tướng.

Hành trình 16 năm của kho báu

Viện Bảo tàng quốc gia Trung Quốc đầu tiên được xây dựng vào ngày 10-10-1925, ngay bên trong thánh địa Tử Cấm thành, nơi đang sinh sống của các vị Hoàng đế Trung Hoa. Sau vụ án Lư cầu kiều ngày 18-9-1931, Nhật Bản đánh chiếm Mãn Châu, mối đe dọa trở nên rõ rệt. Sớm hay muộn, các đoàn quân cũng sẽ nhắm hướng mục tiêu Bắc Kinh tiến đến.

Ngày 4-2-1933, thống chế Tưởng Giới Thạch ra lệnh di dời kho báu của Tử Cấm thành. Ngay trong đêm đó, vô số xe kút kít đi lại như mắc cửi giữa vùng cấm địa và nhà ga xe lửa, chuyển đi 19.557 thùng hàng, đến hai chuyến xe lửa đặc biệt mà điểm đến là Pukou, nằm trên bờ sông Dương Tử. Khi đến nơi, đoàn xe quý giá này phải chờ đợi tại nhà ga suốt một tháng để nhận lệnh mới.

Lần này nó đi về hướng Thượng Hải bằng tàu biển. Chúng được đưa vào một nhà kho và tiếp tục chờ đợi thêm 4 năm nữa để… chuyển đến Nam Kinh! Một viện bảo tàng đã được sắp xếp để tiếp nhận kho báu. Vừa bày biện ra xong, lại phải tức tốc gom thu để tiếp tục… chạy nữa! Ngày 9-8-1937, quân Nhật tấn công Thượng Hải. Nam Kinh lâm nguy.

Thế là tiếp tục một cuộc trường chinh khác, kéo dài trong 2 năm. Từ xe tải chuyển sang tàu, rồi lên xe lửa….họ đi thẳng về hướng Tây, khi mặt trận ngày càng co cụm dưới những trận mưa bom. Cuối cùng kho báu đến được Omei, thuộc tỉnh Sichuan, vào ngày 11-7-1939. Nó cứ ở lại đó cho đến khi kết thúc chiến tranh.

Ngày 6-2-1947 kho báu lại bị gom thu đưa xuống tàu, chở đến Nam Kinh. Đến cuối năm, nó được đưa vào viện bảo tàng, như ý muốn của Tưởng Giới Thạch. Không lâu, chiến tranh lại bùng phát. Kho báu tiếp tục “chạy”. Mưa như thác đổ vào ngày 29-1-1949 khi chiếc cuối cùng trong 3 tàu biển được huy động để chở kho báu rời lục địa, vĩnh biệt cảng Nam Kinh. Nó bỏ lại sau lưng hàng ngàn thùng báu vật chưa kịp chất lên tàu. Chỉ có 22% kho tàng rời Bắc Kinh đến được Đài Loan! Nhưng đó lại là những vật quý hiếm nhất.

Kho tàng vô giá

Viện bảo tàng có hơn 5.000 bức tranh vẽ mà cổ nhất là tranh đời nhà Đường (618-90). Một loại bảo vật khác của Tử Cấm thành là đồ gốm. Thiên hạ vô song. Tiến sĩ Lin Mun-Lee nói: “Cả thế giới chỉ còn 30 món đồ gốm màu lục nhạt của lò gốm Ju, dưới triều nhà Tống. Thế mà chúng tôi lại có đến 24 cái. Cái chén nhỏ của hoàng cung vẽ hình những con gà của thế kỷ 15 có thể cầm chỉ bằng hai ngón tay, được bán đấu giá đến 12 triệu USD. Và chúng tôi có vô số những món giống như vậy”.

images167886_i5cc

1- Chân dung Vua Tống Nhân Tông (thời Bao Công). 2- Hai chiếc ấn bằng ngọc của Vua Càn Long. 3 – Cái chén hoàng cung thời Trịnh Hòa, được bán đấu giá 12 triệu USD. 4- Trên thế giới chỉ còn 30 món đồ gốm màu lục nhạt, thời Tống (960-1279). Đây là một món trong số đó.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Trong suốt 10 thế kỷ, hàng triệu kiệt tác mỹ nghệ được gom thu từ khắp 4 phương trời để dâng lên cho nhiều đời thiên tử Trung Hoa. Nhiều vật dụng được sử dụng bình thường, trước khi trở thành đồ sưu tập để làm chứng tích của từng thời đại.

Nói chung tất cả đều là hàng tuyệt hảo. Chẳng hạn Hoàng đế Khang Hy đã làm tặng bà nội của mình, Hoàng thái hậu Xiaozhuang, gốc là người Mông Cổ một quyển kinh Tây Tạng đẹp tuyệt vời. Kinh được viết bằng chữ vàng trên nền giấy xanh đen, mà mỗi trang được nhuộm màu đến 20 lần, để có thể làm nổi rõ lên từng chữ. Tổng cộng quyển sách kinh Phật, theo hệ phái Tây Tạng này có 50.000 trang giấy! Trên mép của từng trang giấy đều có in đến 8 biểu tượng của Phật giáo. Bìa sách làm bằng gỗ chạm khắc, sơn màu, cẩn đá quý và bọc tơ lụa, tinh xảo.

Bảo vật do chính công chúng Đài Loan bầu chọn làm biểu tượng của viện bảo tàng là một bắp cải, được chạm khắc bằng đá cẩm thạch màu trắng và xanh ngọc. Nó được chọn như một cái gì đó rất gần gũi với đời sống và lai lịch của báu vật cũng thật hấp dẫn. Màu xanh ngọc và trắng là tượng trưng cho sự thanh khiết. Hai con côn trùng, một cào cào và một con bọ dừa, biểu tượng cho sự sanh nởû. Viên ngọc lớn chạm khắc tinh xảo này là lễ vật dâng tặng cho Vương phi Ching Fei, một thời gian ngắn trước khi đế quốc Trung Hoa sụp đổ.

nguồn tintuconline

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »