Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 9th, 2009

Thị trường cổ vật Việt Nam – bài 5

Trước đây, dù pháp luật không thừa nhận sở hữu tư nhân về di sản văn hoá và nghiêm cấm mọi hành vi mua bán cổ vật nhưng trên thực tế vẫn tồn tại một thị trường “đen” về cổ vật. Từ “giới thợ chạy” ở các địa phương, cổ vật được tuồn về Hà Nội, về thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng…bày bán công khai trong các tiệm với cái tên danh nghĩa: cửa hàng lưu niệm. Những đường phố Hàng Gai, Hàng Đào, Kim Liên, Đồng Khởi, Lê Công Kiều… từng là những tụ điểm buôn bán cổ vật vô cùng náo nhiệt. Ở miền Bắc, vào những thập niên 80-90, các tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Tuyên, Vĩnh Phú, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Hải Hưng… là những nơi cung cấp cổ vật quí hiếm nhất cho trung tâm Hà Nội. Ở miền Nam, các tỉnh có di tích Sa Huỳnh, Chăm Pa, Óc Eo là vệ tinh của các cửa hàng buôn bán ở thành phố Hồ Chí Minh. Vào thời kỳ ấy, giới buôn lậu chủ yếu săn tìm cổ vật tại các địa phương thông qua đổi chác với vật ngang giá chung là quần bò, áo phông, mì chính…Cổ vật về tay con buôn, được bán bằng ngoại tệ mạnh, phần lớn là cho người sưu tập nước ngoài mà trong đó không ít là con buôn cỡ quốc tế. Cổ vật Việt Nam, vì thế, bị thất thoát, “chảy máu” trầm trọng.

Hiện nay, với sự cho phép của Luật Di sản văn hoá 2001, thị trường cổ vật được công khai hoạt động. Cổ vật được chính thức nhìn nhận dưới góc độ một loại tài sản, loại hàng hoá đặc biệt không chỉ có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học mà còn có khả năng đem lại lợi ích kinh tế cho các chủ sở hữu. Tuy nhiên, không phải mọi cổ vật đều có thể tham gia lưu thông. Đó phải là những hiện vật thuộc sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác ngoài sở hữu toàn dân, sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, phải là những tài sản có nguồn gốc hợp pháp, đã đăng ký sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trên cơ sở những quy định thông thoáng, cởi mở của pháp luật di sản văn hoá hiện hành, thị trường cổ vật nước ta đã “khởi động”. Song, thực tế cho thấy tính lành mạnh và sự vận hành qui củ, trật tự của nó vẫn chưa được đảm bảo. Việc mua bán các tài sản văn hoá có nguồn gốc bất hợp pháp không những chưa chấm dứt mà còn gia tăng một cách sôi động. Các cổ vật có xuất xứ khảo cổ học được đưa vào lưu thông vừa nhiều về số lượng vừa đa dạng về chủng loại, trong đó có cả những đồ “quốc cấm” như trống đồng, thạp đồng…Người ta còn công khai trao đổi, mua bán những cổ vật vốn thuộc về di tích như sắc phong, tượng , lư hương, đỉnh đồng, thanh kiếm, áo thành hoàng…Thậm chí, các chi tiết kiến trúc tưởng không thể tách rời di tích, là một phần khăng khít của di tích như bức phù điêu nổi, các mảng trang trí kiến trúc trên các đầu dư, bức cốn, kẻ chuyền, các linh vật gắn trên mái và nóc đình chùa… cũng trở thành mặt hàng đắt giá. Những điều đó cho thấy nếu tiếp tục buông lỏng quản lý, thiếu kiểm soát chặt chẽ, vô hình trung chúng ta đang dần biến thị trường cổ vật mặc nhiên thành nơi tiêu thụ các tài sản có được do trộm cắp của đình, chùa, đền, miếu… hoặc đào bới trái phép các di chỉ khảo cổ học, qua đó làm tăng thêm nguy cơ chảy máu cổ vật và xuống cấp nghiêm trọng hệ thống di tích.

Ngoài ra, thị trường cổ vật hiện nay còn khá lộn xộn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều các đồ giả cổ, đồ nhái được sản xuất ở trong nước (Bát Tràng, Hà Nội, Nam Định, Huế, Đà Nẵng…) và nhập về từ nước ngoài (Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc…). Bên cạnh việc tranh thủ khai thác kỹ năng tinh xảo của các nghệ nhân trong việc làm đồ nhái cổ “trông như thật”, giới buôn bán cổ vật còn tìm mọi cách để trà trộn cổ vật với đồ mỹ nghệ, “đánh đồng” đồ cổ với đồ giả cổ. Dạng thứ nhất là đồ cổ được làm mới nhằm đánh lừa cơ quan kiểm tra nhà nước bằng cách đánh bóng, làm vệ sinh sạch sẽ, vá víu những chỗ bể. Dạng thứ hai là đồ mới giả làm đồ cổ để đánh lừa khách hàng thông qua mánh khoé: ngâm … cho đồ gốm, ngâm… cho đồ đồng, bôi hắc ín, đất cát cho đồ đá, ngâm nước, bỏ vào tổ mối, phơi nắng mưa hàng tháng trời cho đồ gỗ… Công phu hơn, họ còn lấy mẫu trong catalogue rồi mang sang tận Trung Quốc, Thái Lan đặt hàng, khi làm xong lấy bản vẽ mang về, hàng chỉ chọn một đến hai cái đẹp nhất, huỷ bỏ tất cả những cái còn lại, tạo thành vật độc nhất vô nhị, kích thích mốt sưu tầm những món độc bản của các nhà sưu tập… Mặc dù Bộ Văn hoá – Thông tin (trước đây) và Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch (hiện nay) đã cùng với Bộ Thương mại (trước đây), Bộ Công Thương (hiện nay), Bộ Công an. Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan họp bàn các phương án chống làm đồ giả cổ nhằm hạn chế sự nhầm lẫn khi giám định tại cửu khẩu, tạo thông thoáng cho khách xuất nhập cảnh, tăng cường ngăn chặn xuất lậu đồ cổ…nhưng hiệu quả thực tế còn rất khiêm tốn. Nhà nước vẫn thất thu thuế từ các hoạt động mua bán cổ vật, đồng thời quyền lợi hợp pháp của các nhà sưu tầm chân chính cung không được đảm bảo.

Vậy giải pháp nào để lành mạnh hoá, công khai hoá thị trường cổ vật ở Việt Nam hiện nay ?

– Trước hết, Nhà nước phải có một hành lang pháp lý đầy đủ và chắc chắn để thị trường cổ vật vận hành thuận lợi. Pháp luật cần phải rõ ràng và cụ thể hơn nữa khi điều chỉnh vấn đề nguồn gốc hợp pháp của các sưu tập tư nhân, một mặt nghiêm cấm việc buôn bán, trao đổi những cổ vật có nguồn gốc từ hệ thống di tích và các di chỉ khảo cổ học, mặt khác nên thừa nhận những di vật khảo cổ học đã thuộc về lịch sử, chịu sự chi phối của những hạn chế lịch sử trong thời kỳ trước đây – khi mà giá trị cổ vật chưa được coi trọng đúng mức, cổ vật thậm chí còn bị “đem lót đường, làm chuồng lợn”. Phải xây dựng danh mục các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được phép và không được phép lưu thông, được phép và không được phép xuất khẩu. Phải sớm ban hành qui chế mua bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, quy chế về tổ chức và hoạt động của các cửa hàng mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, quy định cụ thể trách nhiệm của những cửa hàng này trong việc đảm bảo mặt hàng bán ra là cổ vật thật. Đồng thời cho phép việc sản xuất đồ giả cổ trên cơ sở có đăng ký sản xuất kinh doanh có dấu hiệu riêng của nhà sản xuất nhằm góp phần giảm thiểu, hạn chế những hiện tượng tiêu cực, gian dối.

– Bên cạnh loại hình cửa hàng mua bán cổ vật, cần phải có một thị trường đấu giá mang tính quốc gia và khu vực với lực lượng nòng cốt là hệ thống các công ty đấu giá. Thực hiện giải pháp này sẽ kiểm soát được giá cả của cổ vật, khắc phục tình trạng cổ vật bị bán đi với giá rẻ mạt, không tương xứng với giá trị vốn có của nó, đồng thời ngăn chặn dòng chảy cổ vật trong nước ra nước ngoài, đảm bảo nguồn thuế cho nhà nước.

– Đặc biệt, phải tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với thị trường cổ vât. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các cửa hàng mua bán cổ vật. Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hoá với các lực lượng quản lý thị trương, công an, hải quan, kiểm lâm…tạo sức mạnh đồng bộ trong việc xử lý kịp thời, công khai và kiên quyết các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép các tài sản văn hoá.

– Những giải pháp nói trên có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển một thị trường cổ vật lành mạnh, thông suốt và quy củ, từ đó góp phần bảo vệ và phát huy giá trị nguồn di sản văn hoá độc đáo này../.

Tác giả : Th.s Trần Thị Thu Hà

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Advertisements

Read Full Post »

Ngôn ngữ của chất liệu trong hội họa

Picasso cho rằng trường mỹ thuật chỉ đẽo ra những đôi guốc gỗ giống nhau nhưng không đi được! có lẽ Picasso muốn đề cao những kiến thức có được nhờ sự tự học.

kieunguyen-sangson-mai

Không hài lòng với những điều đã có đó chính là khởi nguồn cho những suy nghĩ, những ý tưởng, những thể hiện cho dù có được chấp nhận hay không, tuy nhiên cũng phải ghi nhận một điều: đó là một cách để thoát ra khỏi sự ứ động, trì trệ trong tư duy con người, giúp cho tư tưởng đi về phía trước, giúp cho ta nhìn lại những giá trị đã được xây dựng và khẳng định, những giá trị mà có thể ví như một tòa lâu đài cổ, kiên cố, rất đẹp nhưng nay đã trở nên quá chặt trội, quá ngộp thở, không còn đủ chỗ cho mọi người.

Trong mỗi chất liệu hội họa đều có một vẻ đẹp đặc trưng: Nhẹ nhàng như lụa, chắc khỏe như khắc gỗ, cảm xúc như sơn dầu, sâu lắng như sơn mài… phải chăng là như vậy? Người ta vẫn đi tìm để hiểu và thể hiện vẻ đẹp đặc trưng đó, và có một cảm tưởng nếu không thể hiện được thì là một điều bất ổn. Sức mạnh của một chất liệu, hay việc khai thác thế mạnh tiềm tàng trong chất liệu là ở ngay trong chính chất liệu đó hay là ở trong mỗi người đang sử dụng.

Trong hội họa cũng như trong cuộc sống, họa sĩ biết phát huy sở trường của mình thì sẽ đem lại thành công. Các họa sĩ được ví như những đầu bếp khó tính và giầu óc sáng tạo, họ không hài lòng với việc chế biến món ăn theo thực đơn, họ luôn muốn sáng tạo ra những món mới, những món lạ, những món chưa từng có… không cần biết đến khẩu vị của thực khách – đây là tình trạng chối bỏ sự lập lại-, chính nhờ sự chối bỏ này mà bàn tiệc tinh thần- hội họa- trở nên cực kỳ phong phú đa dạng.

Chất liệu sơn dầu là chất liệu hội họa được phổ biến rộng rãi và là chất liệu chính trong sự chọn lựa của đa số các họa sĩ, một trong các nguyên nhân đó là sơn dầu đáp ứng được nhiều cung bậc của cảm xúc. Sơn dầu vừa thỏa mãn với lối vẽ công bút cho Dali, với lối xây dựng hình một cách bất chợt cho Picasso,… hay với cảm xúc cuộn trào của Van Gogh. Một bức tranh sơn dầu có thể vẽ trong một giờ cũng như có thể vẽ trong nhiều tháng. chất liệu này cho phép họa sĩ đuổi theo cảm xúc bằng những táp cọ hoặc là vẽ bằng bay, cũng như hoàn toàn phù hợp với lối vẽ công bút, là một lối vẽ từ từ, dùng cọ nhỏ vờn tỉa để có được màu và hình như mong muốn. Với mỗi sự lựa chọn cho một lối vẽ thì hoàn toàn là do cá tính, và một chất liệu có thể đáp ứng nhiều cá tính như vậy thì việc trở nên phổ biến là đương nhiên.

Trong cách thức xử lý chất liệu hội họa nói chung, với một sự học tập nghiêm túc, chúng ta cũng đều nhận thấy sự biến tấu hay sáng tạo thật sự thường được dựa trên cơ sở cực kì thành thạo các kiến thức thuộc về chuẩn mực. Một chất liệu để trở nên mạnh mẽ thì không thể nào không thỏa mãn với ý đồ và mong muốn của tác giả. Tìm hiểu và chinh phục một chất liệu luôn là một con đường nhiều chông gai, tuy nhiên sự lựa chọn cho mỗi người lại là hoàn toàn chủ động.

Như vậy khi xem những tác phẩm hội họa người xem không phải chỉ thưởng thức vẻ đẹp, đi tìm nội dung tác phẩm mà tìm hiểu ý tưởng, tâm lý hình thành tác phẩm để có thể ghi nhận và chia sẻ với tác giả.

HK (Theo HM)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Kỷ lục mới về giá của tranh cổ Trung Quốc

Ngày 28/6/2009, kỷ lục đấu giá cho tranh Trung Quốc đã được lập ở Bắc Kinh khi một nhà sưu tầm tư nhân giấu tên mua bức tranh phong cảnh của danh họa Châu Đạp (1626-1705) với giá 84 triệu NDT (khoảng 12 triệu USD).

Kỷ lục trước được lập năm 2007 thuộc về bức tranh The Red Cliff Handscroll của danh họa Cừu Anh (1494-1552), đạt giá 79,52 triệu NDT.

Lotus-and-Birds

Lotus-and-Birds

Danh họa Châu Đạp sinh ra trong gia đình hoàng tộc. Ông lui về ở ẩn trên núi khi triều Minh sụp đổ năm 1644. Những bức tranh đầu tiên của ông thể hiện hoa lá mọc bên đá có đề thơ và được ký bằng nhiều bút danh. Về sau ông thường mượn hình ảnh chim và cá để mô tả nỗi đau của một người thất thế. Có khi ông vẽ hoa sen tàn gãy cuống hoặc phong cảnh thiên nhiên u tịch bằng mực tàu.

Các họa gia đời Thanh vẫn tuân thủ họa pháp đời Minh. Nổi tiếng là Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân, hai di thần triều Minh. Khi Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, Bát Đại Sơn Nhân giả điên giả câm chạy trốn vào núi lánh nạn, một thời làm hòa thượng, một thời làm đạo sĩ. Bát Đại Sơn Nhân thuộc giòng dõi hoàng tộc, tên là Chu Đáp (Châu Đạp). Bút hiệu của ông ngụ ý sâu sắc: Sơn Nhân có nghĩa là người ẩn dật nơi sơn dã, còn Bát Đại 八大 khi viết thảo theo hàng dọc, chữ bát 八 thành hai chấm đè lên chữ đại 大, chúng gần giống chữ tiếu 笑 (cười) hay chữ khốc 哭 (khóc), bày tỏ tâm trạng dở khóc dở cười. Ông dùng hội họa để tiêu sầu, họa pháp chủ về tả ý, đơn sơ mạnh bạo nhưng sống động, chất chứa nỗi lòng u ẩn. Họa pháp của Thạch Đào và Bát Đại sơn nhân phóng túng tiêu sái không tuân theo những qui tắc sẵn có, nên có thể đứng riêng thành một tân họa phái.( Theo Lê Anh Minh)

Nguồn TT&VH

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »