Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 6th, 2009

Sứ nghệ thuật của Minh Long

Ngày 1-7-2009 tại Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza tỉnh Bình Dương, Công ty Minh Long 1 đã khai trương showroom có diện tích trên 300m2 trưng bày và bán các sản phẩm gốm sứ nghệ thuật.

Đây là lần đầu tiên Minh Long giới thiệu đến khách hàng những tác phẩm gốm sứ nghệ thuật được công ty chuẩn bị đầu tư sau gần 5 năm với 30 nghệ nhân và những họa sĩ giỏi đến từ các nước có nền gốm sứ phát triển lâu đời như Trung Quốc, Thụy Sĩ, Hà Lan.

Tại xưởng vẽ, nữ nghệ nhân đang trổ tài sáng tạo các họa tiết trên thành bình đã được nung 1.380 độ C

Tại xưởng vẽ, nữ nghệ nhân đang trổ tài sáng tạo các họa tiết trên thành bình đã được nung 1.380 độ C

Ông Lý Ngọc Minh, Tổng giám đốc Công ty Minh Long 1 cho biết, khác với nhiều nhà sản xuất gốm sứ trên thế giới thường chỉ vẽ màu nung trên nhiệt độ 850 độ C thì điểm nổi trội của dòng gốm sứ cao cấp này là được công ty Minh Long I ứng dụng thành công công nghệ vẽ màu trên nhiệt độ cao 1.250oC.

Nhờ công nghệ này khiến những đường nét vẽ tay trên tác phẩm còn nguyên vẹn, sự dịch chuyển của màu sắc tạo cho sản phẩm có độ bóng, những hình ảnh được chìm trong lớp men giúp có chiều sâu của không gian ba chiều trông rất sống động và bắt mắt.

Ông Minh cho biết thêm, mỗi tác phẩm đều mang một câu chuyện, một cái tên rất Việt Nam. Sản phẩm được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công, cho ra đời từng chiếc một, nên sau vài năm nghiên cứu công ty chỉ cho ra đời được gần 200 sản phẩm.

Tác phẩm có tên "Đầm sen xanh", chỉ 10 chiếc thế này được sản xuất. Mỗi bình có giá 71,2 triệu đồng.

Tác phẩm có tên "Đầm sen xanh", chỉ 10 chiếc thế này được sản xuất. Mỗi bình có giá 71,2 triệu đồng.


Tác phẩm có tên "sen

Tác phẩm có tên "sen

Cũng là tác phẩm mang tên “Sen” nhưng chiếc bình này chỉ có một phiên bản duy nhất. Món hàng được giảm giá 30% và đã có khách đặt mua ngay. Giá công bố trước đây là 35,6 triệu đồng."Đêm sen" được chào bán với giá 41,5 triệu đồng, sản phẩm này được giảm giá 30% trong 10 ngày tính từ hôm 1/7.

Tác phẩm có tên "Đầm sen xanh", chỉ 10 chiếc thế này được sản xuất. Mỗi bình có giá 71,2 triệu đồng.

gal_4a50ccf505f06

Duyên đỏ” được niêm yết 71,2 triệu đồng, sẽ ra lò 10 sản phẩm. Một hội đồng thi gồm 8-10 người bao gồm ban giám đốc và các nhân viên kỹ thuật của hãng sẽ chấm điểm cho các tác phẩm gốm sứ nghệ thuật này. Theo đó, những mẫu hội đủ 8 tiêu chí sẽ được sản xuất số lượng chuẩn là 10 sản phẩm.

gal_4a50cd198398b

Cặp bình sứ có tên “Hoa hồng” và “Khoe sắc” này có giá gần 120 triệu đồng. Hầu hết khách tham quan đều xuýt xoa vì vẻ tao nhã, thanh lịch của sản phẩm và tròn mắt với mức giá của nó.

gal_4a50cd3d55da1

“Sắc đỏ” nóng bỏng vẫn đằm thắm hòa quyện với gam màu trắng dịu nhẹ, độ bóng và sâu của men sứ khiến cho các họa tiết nổi bật lên trên như vươn ra khỏi chiếc bình. Sản phẩm có giá 30,26 triệu đồng.

gal_4a50cd59b684d

Tác phẩm “Quyến rũ” với hai gam màu đen trắng làm chủ đạo trị giá 53,4 triệu đồng.

gal_4a50cda8db37e

Bình sứ “Hương xuân” làm toát lên vẻ đẹp tươi mới và ngọt ngào của mùa xuân, trên 50 triệu đồng.

gal_4a50cdcd743fd

Tác phẩm “Hương nấm”.

gal_4a50cdee7fa3b

gal_4a50ce1a1b87c

Chủ đề của bức tranh trên thành bình này mang phong cách Á Đông với tên gọi “Thủ tiết”. Nhân vật trong chiếc bình sống động và sắc sảo, các gam màu dịch chuyển tạo độ bóng, hình ảnh uyển chuyển, chìm vào lớp men tạo chiều sâu của không gian làm cho chiếc bình sứ trở nên sống động. Tác phẩm trị giá 53,4 triệu đồng.

Một khách tham quan thích thú với các mẫu bình sứ có họa tiết sinh động, thanh thoát đã tạo dáng chụp ảnh lưu niệm tại show room của Công ty Minh Long 1.

Một khách tham quan thích thú với các mẫu bình sứ có họa tiết sinh động, thanh thoát đã tạo dáng chụp ảnh lưu niệm tại show room của Công ty Minh Long 1.


Trung bình họa sĩ phải mất từ 2-3 tuần sáng tác và vẽ, chưa tính đến thời gian nung và gia công. Bộ sưu tập mới của Công ty Minh Long 1 được ra lò sau 5 năm nghiên cứu. Hiện nay công ty chỉ có 30 nghệ nhân và một số ít chuyên gia bậc thầy nghiên cứu và sản xuất dòng sản phẩm cao cấp này nên mỗi năm chỉ ra lò 40 chiếc, khách muốn mua phải đặt hàng trước.

Nguồn tin: Saigon Times online và tin247.com

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Advertisements

Read Full Post »

Hội họa đường phố

Hội họa đường phố là hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên hè phố, vỉa hè dành cho người đi bộ, hoặc trên quảng trường. Các họa sĩ thường sử dụng các chất liệu không bền.


Tác phẩm của Kurt Wenner

Tác phẩm của Kurt Wenner


Hội họa đường phố nở rộ khắp châu Âu từ thế kỷ 16. Các họa sĩ trẻ người Italia được gọi là madonnari , bởi vì họ thường vẽ các bức họa về Đức mẹ đồng trinh (Madonna).

Trong quá khứ, các madonnari chính là các họa sĩ lưu động, họ thích du lịch và tự do. Khi biết ở đâu có lễ hội, họ lập tức đến và tham gia vào các hoạt động của lễ hội đó. Họ sáng tác các bức tranh, các hình ảnh trên các quảng trường, trước nhà thờ. Chất liệu tạo hình chỉ đơn giản là những mẩu gạch vụn, các mẩu than và ít phấn trắng. Những người xem tranh họ vẽ thường tặng cho các họa sĩ này một vài mẩu bánh mỳ, hoặc ít dầu ô-liu cùng vài đồng xu. Các họa sĩ này thường vẽ các vị thánh, vật cúng tế… Và khi những cơn mưa xuất hiện cũng là lúc các họa sĩ cũng như các bức họa của họ biến mất.


Một họa sĩ trẻ đang hành nghề bên ngoài  trung tâm triển lãm Pompidou

Một họa sĩ trẻ đang hành nghề bên ngoài trung tâm triển lãm Pompidou


Các madonnari xưa thường là các họa sĩ dân gian, họ vẽ các hình ảnh đơn giản trên các chất liệu thô sơ. Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 đã làm ngưng trệ các hoạt động sáng tác tranh trên đường phố, và cuộc chiến này cũng góp phần làm giảm bớt số lượng các họa sĩ dân gian đó. Vào năm 1972, cuộc thi vẽ tranh đường phố quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở Grazie di Curtatone, Italia. Mục đích của cuộc thi này là để ghi nhận và công khai, phổ biến các tác phẩm của các họa sĩ tiền bối của loại hình nghệ thuật này. Họa sĩ nhiều tuổi nhất đã ở độ tuổi 90. Càng về sau, cuộc thi này càng thu hút được sự tham gia của các họa sĩ trẻ và sự quan tâm của nhiều người hơn. Năm 1972, lễ hội đã thu hút được sự quan tâm của các nhà văn hóa. Chính điều này đã khuyến khích và là động lực để tạo nên một thế hệ trẻ các họa sĩ vẽ tranh đường phố. Trong thập kỷ qua, thế hệ họa sĩ trẻ này đã sử dụng các chất liệu tạo hình (phấn mầu) có chất lượng tốt hơn và họ đã tạo ra nhiều kiệt tác nghệ thuật.

Vào năm 1982, một họa sĩ người Mỹ có tên Kurt Wenner đã bắt đầu vẽ tranh trên đường phố ở thủ đô Rome, Italia. Đến năm 1983, ông đã tạo ra một loại hình nghệ thuật mới – tranh đường phố 3 chiều và kết quả, ông đã nhận được nhiều giải thưởng. Năm 1985, ông đã vẽ bức tranh trên đường đầu tiên trên đất Mỹ.


Kurt Wenner đang vẽ tranh tại triển lãm tranh đường phố Old Mission Santa Barbara, ở California, Mỹ

Kurt Wenner đang vẽ tranh tại triển lãm tranh đường phố Old Mission Santa Barbara, ở California, Mỹ

đường phố Old Mission Santa Barbara, ở California, Mỹ


Năm 1987, bậc thầy tranh đường phố Kurt Wenner và Manfred Stader đã giới thiẹu loại hình nghệ thuật này tại triển lãm Old Mission Santa Barbara, ở California, Mỹ. Đây là một trong rất nhiều sự kiện được tổ chức khắp nước Mỹ, triển lãm mô phỏng lễ hội ở Grazie di Curtatone, Italia. Kể từ đó, cả tranh đường phố truyền thống và tranh đường phố 3 chiều trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Các họa sĩ nổi tiếng về thể loại tranh 3 chiều có thể kể đến là Julian Beever, Gary Palmer.


Tác phẩm của Kurt Wenner

Tác phẩm của Kurt Wenner


Sự phát triển của thể loại tranh đường phố trong những năm gần đây được thể hiện khá rõ nét qua việc các họa sĩ sử dụng video và blog để đưa các tác phẩm của mình tới đông đảo người xem trên toàn cầu, đặc biệt là những ai không có cơ hội đến các địa điểm có tranh của họ. Chính nhờ công nghệ hiện đại mà tất cả các họa sĩ, những người yêu nghệ thuật có thể được chiêm ngưỡng và qua đó khuyến khích loại hình nghệ thuật này phát triển.


Nguồn sưu tầm:

1.http://www.kurtwenner.com

2.http://hubpages.com

3.Bách khoa toàn thư wikipedia

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Tranh Sơn Thủy và Giá Trị Văn Hóa, Tư Tưởng Phương Đông

Trung Hoa là đất nước có nền văn hoá phát triển vô cùng đồ sộ cả về bề dày lịch sử lẫn chiều sâu. Trong đó, hội hoạ đạt nhiều thành công rực rỡ. Hội hoạ trong con mắt người Trung Hoa là sự tổng hoà quan niệm về vũ trụ và con người trong đó hình vẽ là những biểu hiện cao cả về khả năng sáng tạo. Thành công rực rỡ của hội hoạ cổ Trung Hoa phải nói tới mảng tranh sơn thuỷ.

Ở châu Âu thế kỷ XVII, cùng với Claude Lorrain tranh phong cảnh mới ra đời với tư cách là thể loại độc lập. Trong khi đó ở Trung Hoa, người ta quan tâm đến thể loại tranh phong cảnh sớm hơn và sáng tạo ra loại tranh sơn thuỷ từ thế kỷ VII. Tranh sơn thuỷ được thâm nhập sâu vào quan niệm thẩm mỹ của mọi tầng lớp trong xã hội Trung Hoa bất kể thời kỳ nào và lòng yêu thiên nhiên phổ cập ở mọi người dân Trung Hoa.


Chùa trên đỉnh núi – Lý Thành(li Cheng)

Chùa trên đỉnh núi – Lý Thành(li Cheng)


Khác với tranh phong cảnh của người châu Âu, tranh sơn thuỷ không chỉ là những hình vẽ mang tính sao chép thiên nhiên mà là những sáng tạo. Ở đây các hiện tượng thiên nhiên trở thành những biểu tượng của tinh thần. Chính vì vậy nói đến tranh sơn thuỷ Trung Hoa là nói đến tư tưởng, lối sống, quan điểm nhân sinh, sự suy nghĩ và tinh thần của người nghệ sỹ trước tạo vật. Tranh sơn thuỷ không chỉ dừng lại ở một bức tranh phong cảnh đẹp mà người xem còn thưởng thức cả phần tư tưởng của tranh. Nó bao quát những quan niệm vũ trụ, biểu thị nguyên lý sống của tạo vật.

Người Trung Hoa từ xưa không có tư tưởng cho mình với vũ trụ, thiên nhiên có gì ngăn cách xa lạ nên người nghệ sỹ thường mượn cảnh nói tình, lấy núi sông trời đất để biểu hiện tư tưởng của mình. Vì vậy tranh phong cảnh Trung Hoa mở ra cho chúng ta một thế giới khác – thế giới đầy mơ mộng nhưng được xây dựng bằng trí tuệ, không vay mượn hiện thực mà là những điều được gợi lên từ cái nhìn bên trong của người nghệ sỹ.

Người phương Tây thường chú trọng và đề cao kinh nghiệm, ý chí, khả năng của mình để tiếp cận chân lý. Họ nỗ lực khám phá, thu hoạch, chiếm đoạt cái vũ trụ khách quan, cái tự nhiên và xã hội bờn ngoài. Tuy nhiên, họ lại tỏ ra đối lập lạnh nhạt và ngờ vực cái vũ trụ khách quan đó. Người phương Tây vẽ tranh phong cảnh với một cái nhìn phân tích bằng thị giác và phản ánh nó bằng các yếu tố của nghệ thuật hội hoạ như đường nét, hình khối, màu sắc. Họ tả khoảng cách và tạo không gian xa gần của cảnh vật bằng cách vẽ mọi vật ở càng xa thì càng nhỏ vút về một điểm tụ ở đường chân trời, các sự vật chịu sự chi phối của ánh sáng và vờn nổi khối theo quy luật ánh sáng. Giá trị của nó ở chỗ làm cho người xem như được nhìn thấy cảnh thực và có sự rung động theo cảnh thực.

Người nghệ sỹ Trung Hoa coi tâm hồn của một người là tâm hồn của trời đất. Cái lý của một vật là cái lý chung cho cả vạn vật. Vận chuyển của một hơi thở cũng như vận chuyển của một ngày. Vì thế tranh sơn thuỷ không chỉ là cảnh sắc khách quan mà chính là tâm hồn, lối tư duy của tác giả. Xem tranh là qua hình tượng, cách biểu hiện khí chất khi biểu tả để thấu hiểu chính tác giả. Trong đó, nó chứa đựng cả sự gửi gắm tình cảm, tâm hồn, tư tưởng của người vẽ. Cũng chính vì vậy tranh sơn thuỷ không lấy lối vẽ phân tích theo cái nhìn tinh tế mô tả chi tiết cho giống với thực thu nhận qua thị giác làm trọng mà thiên về tả ý, lưu lại những hình ảnh, giữ lại cái bóng của sự vật. Họ dường như không nhìn thấy cảnh thật để sao chép nó, họ vẽ những cái tồn tại trong tình cảm của mình, do họ cảm nhận được gây cho người xem cảm giác rất xa lạ mà lại như quen thuộc tự bao giờ. Những cảm xúc đó được chuyển vào nét bút sinh động, cái nồng ấm, sống động vào khí vận của đường bút, cái cao siêu, cái lưu chuyển qua sự tương quan của thực hư, của ý tưởng trong biểu hiện. Các nghệ sỹ Trung Hoa vẽ tranh sơn thuỷ nhằm gửi gắm tâm trạng trước cuộc đời của mình vào trong đó. Cảnh chỉ là một đối tượng để tác giả mượn cớ nói về cái tâm hồn của mình một cách tế nhị. Giá trị của nó không chỉ ở cảnh sắc của tranh mà thông qua bức tranh còn thấy cả tâm hồn của tác giả.

Tranh sơn thuỷ tồn tại với bề dày lịch sử, trải qua nhiều triều đại phong kiến, tuy có những giai đoạn thăng trầm nhưng phải nói loại tranh sơn thuỷ đã có một mạch đập xuyên suốt lịch sử tồn tại chưa hề gián đoạn kể từ Hàn – Tuỳ – Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh vẫn tiếp tục kế thừa và phát huy cao độ, cho nên tranh sơn thuỷ là một loại hình hội hoạ dân tộc nằm trong hệ thống tranh quốc hoa được hun đúc từ truyền thống văn hoá, tư tưởng phương Đông đặc sắc. Đặc điểm nghệ thuật của thể loại tranh này thường được tái tạo qua phương pháp viễn thị chủ quan và sáng tạo nghệ thuật bằng con mắt nội tâm đã trở thành bản sắc dân tộc có ảnh hưởng lớn đến nhiều dân tộc ở phương Đông. Đặc biệt ở nước ta nhất là thể loại tranh thuỷ mắc (đơn sắc) đã có nhiều hoạ sỹ sử dụng mực nho trong tranh rất điêu luyện như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tiến Chung, Sỹ Ngọc … Các thế hệ hoạ sỹ trẻ cũng chịu ảnh hưởng và tiếp thu lối vẽ trong tranh lụa, giấy dó. Và trong sáng tác có cách nhìn thiên về ý tưởng nội tâm, khai thác những tình cảm trong tâm hồn, từ đó xuất hiện những hình ảnh cụ thể và hình ảnh trừu tượng gắn bó chặt chẽ. Người xem tranh sẽ thấy tác phẩm đã vượt qua tính chân thực của sự vật khách quan mà đạt đến một hàm nghĩa trừu tượng, đồng thời tạo một không gian cho người xem suy tư và liên tưởng. Ngay trong trường học sinh viên cũng được học tập, vẽ mực nho, thuốc nước nhất là trong việc đi thực tập chuyên môn ghi chép tài liệu.

Bước ngoặt quan trọng đã đưa thể loại tranh phong cảnh tách khỏi tranh nhân vật vào đời Hàn tới đời Đường thì hoàn chỉnh cả về bút pháp lẫn ý tưởng sáng tạo. Đổng Kỳ Xương (đời Minh), hoạ sỹ – nhà phê bình nghệ thuật đã vạch ra những nét lớn lịch sử của hội hoạ Trung Hoa, phân định trường phái tranh sơn thuỷ Bắc Tông và Nam Tông. Ông kính trọng và thừa nhận Lý Tư Huấn và Vương Duy là những người khái quát ra thể loại “tranh lục sơn thuỷ” và “thuỷ mặc sơn thuỷ”. Tranh của phái Lý theo xu hướng hiện thực lý tưởng gần gũi với cuộc sống theo thể loại “thanh lục sơn thuỷ”, màu sắc nhiều tầng lớp rực rỡ (phái Bắc Tông). Còn tranh Vương Duy (phỏi Nam Tông (theo hướng thoát ly thực tế, tìm về tự nhiên, nói đến tự nhiên một cách an tịnh. Ông sáng lập ra loại tranh đen trắng (thuỷ mặc) đã trở thành bản sắc của quốc hoạ Trung Hoa.


xagiá

Xa giá Đường Minh Hoàng – Lý Tư Huấn(Li zi xun)


Sông núi tuyết tan – Vương Duy (Wang Wei)

Sông núi tuyết tan – Vương Duy (Wang Wei)


Bên cạnh đó sự ảnh hưởng và tác động qua lại của các hệ tư tưởng Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo đến tranh sơn thuỷ đã đưa thể loại tranh này có giá trị nghệ thuật và tầm tư tưởng lớn, trở thành cái đẹp thanh cao, bí ẩn mà người đời luôn luôn nghiên cứu tìm tòi và học tập. Tranh sơn thuỷ không chỉ là một bức cảnh đẹp của thế giới vật chất mà chính là cái đẹp ở thái độ tâm lý của tác giả khi tiếp xúc với thế giới sự vật hiện tượng. Dù chỉ là sỏi đá, là những bụi cây cằn cỗi, mộc mạc nhưng với một thái độ đẹp, một tâm lý đẹp người ta đã chuyển hoá nó thành những bức tranh đậm tình người. Chỉ với một tờ giấy, một mảnh lụa mỏng, một chút mực và một cây bút lông người nghệ sỹ Trung Hoa đã khéo dựng một nền nghệ thuật hội hoạ sơn thuỷ rất độc đáo mang tính chất dân tộc riêng của Trung Hoa có những thành tựu đóng góp to lớn dùng cái đẹp tượng trưng qua bức tranh đã làm cảm hoá lòng người. Tất nhiên mọi thứ đều có những biến động nhưng tranh sơn thuỷ cũng có một thời của nó.

Ths. Nguyễn Thị Trang Ngà

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »