Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 4th, 2009

Khám phá “con đường gốm sứ” trên Vịnh Hạ Long

Với rất nhiều phát hiện khảo cổ học, nhất là những năm gần đây di tích Thương cảng Vân Đồn đã được biết đến không chỉ bởi một vài bến cảng cổ ở quần đảo Vân Hải, cụ thể là đảo Quan Lạn, Cống Đông, Ngọc Vừng… nữa, mà bao gồm một hệ thống các bến cảng cổ kéo dài từ Móng Cái đến Hạ Long, Hoành Bồ, Yên Hưng.

Nhìn một cách tổng thể bản đồ các di tích bến cảng cổ, có thể thấy Vịnh Hạ Long chính là một điểm quan trọng để ”con đường gốm sứ” đi từ vùng đồng bằng Bắc Bộ ra hải ngoại và ngược lại…

Đảo Cống Đông - Một trong những nơi để lại dấu ấn đậm nhất về "con đường gốm sứ" trên Vịnh Hạ Long.

Đảo Cống Đông - Một trong những nơi để lại dấu ấn đậm nhất về "con đường gốm sứ" trên Vịnh Hạ Long.

Tại hầu hết các bến bãi thương cảng cổ đã phát hiện, dấu tích còn sót lại nhiều nhất là những mảnh gốm sứ. Đây là một trong các hàng hoá chủ yếu mà các thương nhân thời Lý – Trần – Lê dùng để trao đổi, buôn bán qua thương cảng Vân Đồn. Mật độ, số lượng của các mảnh gốm sứ là minh chứng cho quy mô của bến cảng khi nó còn tồn tại. Tại các di tích bến cảng đã phát hiện, gốm sứ Việt Nam chủ yếu là sản phẩm của làng gốm cổ Chu Đậu (nay thuộc thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương) nổi tiếng thế kỷ 15-16, và có thể cả của làng gốm cổ Kim Lan (nay thuộc xã Kim Lan, huyện Gia Lâm, Hà Nội) mới được phát hiện những năm gần đây. Về phía gốm sứ Trung Quốc, chủ yếu là dòng gốm sứ cao cấp của các triều đại Nguyên, Minh trong đó có sản phẩm của lò Long Tuyền, Cảng Đức Trấn nổi tiếng của tỉnh Giang Tây. Gốm sứ và các hàng hoá khác từ nước ngoài vào, từ nội địa ra đều chỉ có một con đường duy nhất bấy giờ là qua Vịnh Hạ Long. Vô hình Vịnh Hạ Long trở thành một vùng ”cửa khẩu” sôi động với nhiều bến cảng, điểm giao hàng hoá mọc lên và ở một số điểm trọng tâm, sự ra đời của bến cảng còn kéo theo sự ra đời, hình thành nên các giá trị văn hoá, tín ngưỡng nữa.

Để có cái nhìn toàn cảnh hơn về ”con đường gốm sứ” của thương cảng cổ Vân Đồn, nếu có dịp du khách hãy ghé thăm các làng gốm cổ Chu Đậu, Kim Lan, Thổ Hà (Bắc Giang), Bát Tràng (Hà Nội) để hiểu tường tận từ xuất phát điểm của nó. Bằng không, du khách có thể bắt đầu từ các bến bãi cổ ở ven cửa sông Bạch Đằng, thuộc huyện Yên Hưng như Seo Bè, Vập Dạt (thuộc xã Tân An, Tiền An), Đượng Hạc (xã Hoàng Tân). Tại Đượng Hạc (đối diện đảo Tuần Châu), mấy năm trước đây ngoài gốm sứ, các nhà khoa học còn phát hiện được dấu tích của các công trình kiến trúc tôn giáo như đình hoặc chùa của thời Trần – Lê (thế kỷ 14-17), chứng tỏ bến cảng này từng phát triển khá quy mô. Cách cửa sông Bạch Đằng không xa là một loạt các bến cảng cổ khác tương tự nằm rải rác ở xóm Nam đảo Tuần Châu (Hạ Long), ven sông Bang thuộc xã Thống Nhất (Hoành Bồ) mà đến nay người dân địa phương vẫn giữ được những cái tên cổ như bến Gạo Rang, bến Bang, bến Đâm Gạo…

Nếu như coi các bến cảng là lớp thứ nhất thì bến vụng Chân Voi, cách đảo Tuần Châu không bao xa, được cán bộ BQL Vịnh Hạ Long phát hiện giữa năm 2008 có thể coi là lớp thứ hai. Đây là một vụng kín gió trên Vịnh Hạ Long và bởi thế nó đã được người xưa chọn (có thể) làm điểm giao hàng hoá. Trên dấu tích bến cũ hiện còn đó rất nhiều mảnh vỡ gốm sứ, nhiều nhất là đồ sành gồm các loại đồ đựng gia dụng như lon, âu, bình, hũ… Rất có thể các khu vực lân cận cũng còn những bến bãi tương tự mà các nhà chuyên môn chưa phát hiện ra chăng?

Quy mô nhất và được biết tới hơn cả là các bến bãi cổ nằm ở lớp ngoài cùng, đó là các đảo thuộc quần đảo Vân Hải. Nằm tiếp giáp với khu vực bảo vệ tuyệt đối của di sản Vịnh Hạ Long và cách đảo Cống Đỏ không bao xa là đảo Cống Đông, Cống Tây. Nhìn trên bản đồ, hai đảo này trông gần giống như hai chiếc… bánh mì nằm song song nhau. Trên đảo Cống Đông ngày nay vẫn còn đó dấu vết bến cảng cổ với bãi gốm sứ hàng trăm mét vuông, lớp lớp xếp chồng lên nhau. Đặc biệt là dấu tích các chùa, tháp như chùa Lấm, chùa Vụng Chuồng Bò, chùa Vụng Cây Quéo. Vừa qua, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cùng BQL các di tích trọng điểm tỉnh đã phối hợp khai quật và làm sáng tỏ thêm nhiều điều về ngọn bảo tháp khổng lồ được xây dựng trên đảo vào thời Trần (thế kỷ 14). Năm 2004, khi xếp hạng di tích thương cảng cổ Vân Đồn, ban đầu Bộ VH-TT (nay là Bộ VH-TT&DL) đã cấp bằng công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia Thương cảng Vân Đồn cho đảo Cống Đông, xã Thắng Lợi. Tuy nhiên, ngay sau đó trước sự ”đấu tranh” của chính quyền, nhân dân xã đảo Quan Lạn, Bộ VH-TT đã phải cấp một bằng khác cùng nội dung cho địa điểm bến Cái Làng thuộc xã đảo Quan Lạn. Đây có lẽ là sự kiện khá hy hữu trong việc cấp bằng công nhận di tích của Bộ VH-TT cho các địa phương. Trên thực tế, bến Cái Làng hay bến Cống Đông là trung tâm của hệ thống Thương cảng Vân Đồn xưa – nơi được chép trong Đại Việt sử ký Toàn thư về Thương cảng Vân Đồn thuở sơ khai mới thành lập ”…có hai ngọn núi chầu vào, một lạch nước chảy thông ở giữa. Thời Lý – Trần, thuyền buôn các nước thường tụ tập ở đó buôn bán…” thì tới nay các nhà khoa học vẫn tranh luận chưa ngã ngũ. Dẫu vậy, các nhà khoa học đều công nhận rằng dù Cái Làng hay Cống Đông thì đây đều là nơi tiền đồn giao thương của nước Đại Việt với các quốc gia bên ngoài. Từ đây, ”con đường gốm sứ” bắt đầu từ đồng bằng Bắc Bộ, theo hệ thống sông Hồng qua Vịnh Hạ Long nối ra các nước trong khu vực thuộc ASEAN ngày nay.

Do diện phân bố của các di tích thuộc hệ thống Thương cảng Vân Đồn trải rộng nên để khám phá hết được đòi hỏi du khách phải có thời gian. Hơn nữa, ở góc độ chuyên môn, nó thích hợp với các nhà nghiên cứu, các du khách ưa thích tìm hiểu về lịch sử, văn hoá của Vịnh Hạ Long nói riêng, “con đường gốm sứ” của Việt Nam trong lịch sử nói chung.

Nguồn: Baoquangninh.com

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Luận bàn: Chiếc bát gốm đen thời Lý Trần

Theo sách "Gốm Việt Nam" của Trần Khánh Chương

Theo sách "Gốm Việt Nam" của Trần Khánh Chương

Đặt một chiếc bát gốm ngày nay bên cạnh một chiếc bát gốm thời Lý Trần, người ta không khỏi băn khoăn sao lại có lúc con người sống đẹp và khỏe mạnh như vậy, không khỏi nghi ngờ về văn minh hiện tại như là sự tụt hậu của phẩm chất nhân tính. Chiếc bát Trần chân cao, vẽ hoa văn lam loáng thoáng như cây cỏ, dáng giản đơn gồm khối lòng bàn tay ở trên chồng lên khối trụ ở dưới, đặt khít tay những tráng sỹ đánh quân Nguyên. Chiếc bát Lý thì thanh nhã, mỏng và lượn vành, như bông hoa trên tay. Kiểu dáng đồ vật nói lên cái đời sống sinh ra nó, người sử dụng nó. Chắc hẳn Lý Trần là thời kỳ người Đại Việt sống rất thanh thản trong tinh thần Phật giáo. Đó chỉ là một phỏng đoán, vì hai thời đại đó cũng đầy rẫy chiến tranh, khốc liệt đằng khác, nhưng một phong cách nghệ thuật cho cả nước, cho thấy tính thống nhất của cộng đồng dân tộc. Gốm hoa nâu là sản phẩm đặc biệt của gốm Lý Trần, được gọi theo mầu nâu bôi trên các phần trang trí không men. Mầu nâu này chiết xuất từ đá quặng có mầu nâu đỏ, có hàm lượng oxyt sắt, khi nung gốm tới nhiệt độ 1300 độ C, chúng có mầu nâu đen bánh mật, nâu cà phê, nâu đỏ nhạt, nâu vàng. Trang trí gốm hoa nâu, người ta làm theo hai cách: hoặc là hoa văn nâu nền men trắng, hoặc hoa văn trắng, nền nâu. Bát gốm đen là một trong những kiểu thức đặc biệt của gốm hoa nâu, vì chúng có mầu sẫm hơn, thiên về đen bánh mật. Qua bẩy tám trăm năm dưới lòng đất, lớp mầu nâu đen trở nên đen bóng hơn và bề mặt lỳ hơn. Không rõ người ta sẽ dùng chúng để ăn cơm hay đựng thức ăn gì, hoặc chỉ để uống rượu, như ta thường thấy trong các phim lịch sử Trung Quốc .

Loại bát gốm đen lòng nông, mầu đen bôi chừng 2/3 phía trên, còn phía dưới để mộc vốn phổ biến từ Trung Quốc tới Việt Nam, có lẽ từ khoảng thế kỷ 10. Nếu không được tạo hình đẹp, chúng chỉ là loại bát thông thường rẻ tiền, dễ vỡ, giống hệt như bát đàn thế kỷ 18, do làng Bát Tràng sản xuất. Loại bát gốm đen có tính nghệ thuật hoặc chân thắt nhỏ, miệng loe rộng, có thể vuốt chìm thành từng khía như cánh hoa súng trong thành bát, hoặc chiết trung từ dáng chiếc bát hình thuyền thời Hán Đường và dáng chiếc âu miệng rộng. Hai loại bát này người ta hoặc bôi đen toàn bộ, hoặc trang trí hoa văn chân chim có mầu trắng, do cạo bớt mầu nâu đi, để lộ xương gốm. Việc trang trí hoa văn chân chim được làm tinh xảo tới mức, người ta có cảm giác một con chim nào đó vừa đi qua, dẫm lên chiếc bát và để lại những dấu chân. Cùng là một dáng, đáy thắt nhỏ, miệng loe rộng, nhưng phủ men ngọc khác hẳn với bôi đen. Bát men ngọc có sự nhẹ nhàng, tinh nhã, gợi ý cho việc đựng đồ ăn ngọt, hay yến sào. Bát gốm đen chắc khỏe, có vẻ trầm ấm, hợp với việc cầm vò rượu đổ vào đấy những bát đầy. Cách mà các tráng sỹ thời cổ muốn tỏ sức mạnh của mình trong ẩm thực, gọi là Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu (Uống rượu gặp người tri kỷ thì ngàn chén cũng ít). Bát gốm đen chiếm lượng nhỏ trong đồ gốm Việt, và sau này hình như nó không còn được ưa chuộng nữa, nên tự nó là hiếm hoi và đặc sắc.

Minh họa dấu chân chim trên bát Lý nâu

Minh họa dấu chân chim trên bát Lý nâu

bát lý nâu-2

bát lý nâu-2

Thời xa xưa, người phương Đông thường làm những chiếc bát gỗ quét sơn đen và đỏ son. Lớp sơn ta có khả năng chống thấm, dùng nhiều nước sơn bóng và nhẵn. Đây có lẽ là gợi ý cho loại bát gốm đen sau này. Mầu đen, tùy từng thời đại, cũng là mầu được ưa chuộng, ở trong chất vải, chất gỗ và chất gốm nó gợi nên cảm giác trang trọng, đơn giản và thượng võ. Khi sang Đại Việt, vào thời Trần (1226 – 1400), sứ Tầu đã ghi lại : dân tình thường mặc đồ đen trông như một bầy quạ, ra đường thường không mang binh khí và thích đấu võ tay không. Ta hình dung con người thời đó mạnh mẽ cương trực, lại có độ khoan dung của những Phật tử, họ dùng những bát gốm đen lớn để uống rượu, ăn cơm và rau bằng những chiếc bát men ngọc thanh nhã. Bát đũa tuy là đồ dùng thường nhật nhỏ mọn, nhưng cái thường nhật lại thể hiện mức độ văn hóa rõ nhất. Nhìn vào đồ gốm Lý Trần thấy rõ đây là thời võ công thịnh trị, thời mà văn minh Việt có được sự tập trung, dưới ánh sáng của tinh thần Phật giáo, có được cái mà vua Trần Thái Tông đã viết trong Khóa hư lục : Chớ có cắm cổ nhai cơm, mà uổng phí cả đời người.

dấu chân chim

dấu chân chim

dấu chân chim

dấu chân chim

dấu chân chim

dấu chân chim

Phan Cẩm Thượng – 2007

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Bộ di vật gốm sứ Hoàng thành Thăng Long

Kẻ chợ thế kỷ XVII, có hai thương điếm Hà Lan và Anh (S.Baron).

Kẻ chợ thế kỷ XVII, có hai thương điếm Hà Lan và Anh (S.Baron).

Phát lộ di tích Hoàng thành Thăng Long – 18 Hoàng Diệu, cùng với hàng triệu di vật khảo cổ đã được khai quật của nước Đại Việt cách nay đã hơn 1.000 năm bị chôn vùi dưới lòng đất từ thời thành Đại La (thế kỷ VII-IX).

Đây là bộ di vật đồ gốm sứ khổng lồ có vẻ đẹp tinh mỹ, sự độc đáo đến từng chi tiết, của các vương triều Lý – Trần – Lê (thế kỷ XI-XV) (đã được các nhà nghiên cứu khẳng định, chúng được sản xuất tại lò gốm Thăng Long) và những di vật gốm sứ khác của đa quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Á… cũng được phát lộ ở nơi đây, đưa cho giới khoa học một cái nhìn mới mẻ về sự hội nhập, giao thoa văn hóa giữa các vương triều nước ta đã qua hàng bao thế kỷ với các nước trong khu vực, trên thế giới và sự tiếp biến văn hóa qua các triều đại nước Đại Việt.

Khi khai quật tại khu A và khu di tích Hậu Lâu, một số lượng lớn đồ gốm các loại bát, đĩa, chén, bình vò… thời Lê có loại xương gốm dày và mỏng, các loại gốm men trắng, gốm hoa lam và gốm nhiều màu…

Ngay lập tức các nhà nghiên cứu bị cuốn hút bởi những đồ gốm này vì thành trong trang trí in nổi hai con rồng chân có 5 móng, giữa lòng có chữ Quan, rất khác với gốm thời Lý và thời Trần trang trí hình rồng chân chỉ có 3 hoặc 4 móng và không có chữ Quan.

Căn cứ vào chữ Quan và hình rồng có 5 móng có in trên các sản phẩm gốm để khẳng định đấy là đồ ngự dụng (vua dùng). Trong quan niệm của người phương Đông, con người gắn với Phật pháp vũ trụ và thế giới tâm linh, rồng biểu trưng cho uy quyền tối thượng, chỉ có vua mới được sử dụng những trang trí có hình rồng.

Rồng 5 móng (ngũ trảo) biểu thị cho ngũ hành: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Rồng 4 móng (tứ trảo) biểu thị cho tứ phương: Đông – Tây – Nam – Bắc, hay cho 4 mùa: Xuân – Hạ – Thu – Đông. Và phải chăng 3 móng (tam trảo) biểu thị cho Trời – Đất – Người, “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.

Trong lịch sử Trung Hoa phong kiến chỉ duy có thời Tống là đồ ngự dụng được khắc chữ Quan dưới đáy, từ thời Nguyên trở về sau thì không còn điều này nữa. Ở Hàn Quốc, chữ Quan cũng được khắc trên các đồ dùng trong Hoàng cung. Sự phân biệt đẳng cấp rất rõ dưới thời Lê giữa vua và các nội tộc trong cung, kể cả hoàng hậu … chỉ có vua mới được dùng sản phẩm khắc chữ Quan.

Theo sử sách chép lại, Trường Lạc Cung là cung của Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hằng, vợ Vua Lê Thánh Tông và là mẹ của Vua Lê Hiển Tông, nằm trong Cấm thành Thăng Long, khi so sánh các loại gốm được khai quật ở đây với đồ ngự dụng những sản phẩm đồ gốm này chủ yếu in nổi một bông hoa cúc nhỏ có 5 hoặc 6 cánh, dưới có in chữ Trường Lạc hoặc là không có hoa văn, tuyệt nhiên các đồ gốm dùng trong cung Trường Lạc không có chữ Quan, điều này làm cho nhà nghiên cứu Tiến sĩ (TS) Bùi Minh Trí, Phó chủ nhiệm Dự án Hoàng thành Thăng Long khẳng định dưới vương triều Lê chữ Quan chỉ dùng cho vua mà thôi.

Và cũng chính ông tìm được một điều thú vị là: Nếu như đồ dùng của các hoàng hậu có hình chim phượng, không được in hình rồng thì ngược lại vua có quyền dùng cả những hình in kết hợp rồng và phượng. Điều đó được thể hiện qua các đồ án rồng vẽ trên đồ gốm nhiều màu của đồ ngự dụng, chân rồng có 5 móng lồng ghép, đan xen với hình chim phượng xòe rộng đôi cánh.

Ở thời Lê, sự phân định quá rạch ròi, nhận thức vua tôi, và hệ thống pháp quyền mà chỉ có vua là tối thượng, tất cả mang một bầu không khí nặng về hình thức, lễ nghi…

Do ảnh hưởng của Nho giáo, việc thi cử để chọn người tài được coi trọng, bên cạnh đó là sự du nhập của một số tà giáo từ Trung Hoa, nên vào thời Hậu Lê, đạo Phật ở Việt Nam đã mất vị trí thống trị. Nho giáo ủng hộ triệt để chế độ xã hội có tôn ti và đẳng cấp, trong đó Hoàng đế là người có quyền lực tối cao, đại diện cho trời ở chốn trần gian cai quản muôn dân.

Chính vì vậy, hình tượng rồng xuất hiện khắp nơi trong kiến trúc Hoàng thành và trên các đồ gốm ngự dụng. Rồng thời Lê không uốn theo hình lá đề như thời Lý – Trần và chân của nó thường phổ biến có 5 móng sắc nhọn.

Đồ gốm thời Lê sơ đạt đến giai đoạn cực thịnh trong hành trình phát triển đồ gốm nước ta. Có vô số những sản phẩm đồ gốm vô cùng phong phú về chủng loại, các loại bình, vò, bát, đĩa với những mẫu mã, kiểu dáng hoa văn trang trí tinh xảo.

Sản phẩm gốm được dát mỏng như vỏ trứng, rồi điểm tô vàng thật trên các đồ gốm cao cấp (hàm lượng vàng ở đây là 99,3%), trang trí hoa văn độc đáo, đường nét và kỹ pháp điêu luyện của những người thợ gốm tài hoa bậc thầy của kinh thành Thăng Long xưa làm người ta nhớ lại những lô hàng gốm được vớt lên từ những con tàu đắm dưới lòng đại dương ở Hội An (miền Trung Việt Nam), Panadan (Philippines) hay các di tích khảo cổ tại các quốc đảo của vùng Đông Nam Á như Indonesia, Philippines, có sự trùng khớp nhau về kiểu dáng, màu sắc, kích cỡ, chất liệu vàng thật.

Điều này dẫn đến nhận định của các nhà khảo cổ những lò gốm sứ cao cấp tại Thăng Long ngoài việc chuyên sản xuất cho cung đình còn có nhu cầu xuất khẩu sang các nước Hồi giáo ở Đông Nam Á vào thế kỷ thứ XV. Vì đặc điểm địa lý của nước ta nên mọi sự giao lưu kinh tế văn hóa đều được diễn ra trên biển.

Sử cũ ghi lại, những sản phẩm gốm cao cấp của Việt Nam được sử dụng như những đồ vật quý, thích hợp trong các nghi lễ quan trọng ở các quốc đảo Đông Nam Á đương thời.–PageBreak–

Ngay từ những năm đầu của Công nguyên, Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam qua đường biển từ các thuyền buôn của Ấn Độ. Phật giáo Trung Quốc từ thời Đường truyền bá mạnh vào Việt Nam nhanh chóng có chỗ đứng, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của những con người Đại Việt. Thời Lý và thời Trần đất nước hoàn toàn sống trong bầu không khí Phật giáo, đâu đâu cũng xây chùa, làm tháp, nhà vua cũng muốn đi tu…

Như Vua Trần Nhân Tông sau khi đánh thắng quân Nguyên Mông tìm sự thanh tịnh ở chốn cửa chùa nên đến đỉnh núi Yên Tử sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Sử chép lại rằng, trước đấy cũng đã có một vị đạo hạnh, cao tăng người Trung Quốc sang Việt Nam và tu tại ngọn núi thiêng này. –PageBreak–

Trong vô vàn những cổ vật thu lượm được ở Hoàng thành Thăng Long vào thời Lý có rất nhiều những viên gạch có hình tháp Phật, những mảnh tháp sứ men trắng chạm hình tiên nữ (Apsara) đang say trong cung điệu với đường nét múa đầy uyển chuyển, vô cùng quyến rũ mang đậm phong cách nghệ thuật Chămpa.

Hình ảnh về chim thần (Garuda) hay nữ thần chim (Kinnari) hòa quyện với những trang trí hình rồng và hoa lá với đường nét tinh tế, điêu luyện mang đậm phong cách Việt có sự dung nạp kết hợp của nghệ thuật Chămpa. Tại di tích còn tìm thấy viên gạch khắc chữ Chămpa hay những mảnh vỡ của loại bình rượu quý tạo dáng hình nữ thần chim (Kinnari).

Đó chính là những nhân tố tạo nên sắc thái riêng biệt, độc đáo của nghệ thuật Lý và đã làm nhà nghiên cứu – TS Bùi Minh Trí đưa ra nhận định: “Đây là một minh chứng sinh động về sự ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ giáo đến Thăng Long vào thời Lý bằng con đường gián tiếp qua các nước Đông Nam Á trong đó có Chămpa”.

Phật giáo được bước ra từ tinh thần và hiển hiện ngay trong đời sống sinh hoạt, vật chất được thể hiện qua chất liệu gốm thời Lý trang trí phổ biến là hoa sen, hoa cúc, hình rồng, tiên nữ… (tất cả đều đậm màu sắc của Phật giáo).

Tại khu di tích khảo cổ cùng với những dấu ấn nghệ thuật độc đáo của Phật giáo qua hình lá đề, hoa sen tìm thấy trong khắp các kiến trúc di tích thời Lý, Trần, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy nhiều hình ảnh tháp Phật cao 7 tầng, 9 tầng cùng nhiều mô hình tháp Phật bằng đất nung hay sứ trắng.

Trong hình lá đề thường chạm hình rồng, phượng, tháp Phật. Hình hoa sen, cánh sen là kiểu trang trí khá phổ biến trên đầu ngói ống, đá chân tảng kê ở cột nhà. Người ta phát hiện ra một viên gạch có chữ “Hưng Hóa thiền tự”, vấn đề được đặt ra là có một ngôi chùa Hưng Hóa nào đó quanh đây?

Giáo sư sử học Phan Huy Lê nhận định: “Việt Nam về vị trí địa lý là một nước Đông Nam Á, từ rất sớm đã có quan hệ giao lưu và tiếp nhận ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc và Ấn Độ. Nhiều giá trị mang ý nghĩa toàn cầu của văn minh Trung Hoa, Ấn Độ đã được biểu thị rất rõ trong kiến tạo kinh đô, nghệ thuật kiến trúc xây dựng của khu di tích.

Nhưng các giá trị bên ngoài luôn luôn được tiếp nhận và kết hợp với những giá trị nội sinh, tạo nên những giá trị mang tính hỗn dung và vận dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên của đất kinh kỳ, phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa dân tộc”.

Đồ gốm men trắng trang trí rồng và hoa sen thời Lý, thế kỷ XI.

Đồ gốm men trắng trang trí rồng và hoa sen thời Lý, thế kỷ XI.

Với những vẻ đẹp hiển hiện qua các di vật, một lần nữa khẳng định văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần đã đạt đến một trình độ phát triển hoàn mỹ và toàn diện. Nền văn hóa Đại Việt lúc đó được gọi là nền văn hóa Thăng Long. Mùa xuân năm 1428, Nguyễn Trãi khi phò Vua Lê Lợi đã viết trong “Bình Ngô Đại Cáo”: “Duy ngã Đại Việt chi quốc/ Thực vi văn hiến chi bang”, dịch nghĩa: Nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến.

Vùng đất Thăng Long – Hà Nội có nhiều sông hồ nên giao thương buôn bán tấp nập, cùng với chính sách cởi mở về giao lưu kinh tế, văn hóa của Thăng Long trong lịch sử đã đưa đến cho vùng đất kinh kỳ sản phẩm trù phú về số lượng và nguồn gốc.

Ở 18 Hoàng Diệu, không chỉ tìm thấy những di vật gốm đặc biệt qua các thời kỳ Lý – Trần – Lê của Nhà nước Đại Việt mà còn cả số lượng lớn các đồ gốm sứ của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Á… Việc đó đã đem lại nhận thức mới cho các nhà nghiên cứu khoa học.

Như những sản phẩm đồ gốm sứ cao cấp thời Tống – Nguyên tìm thấy ở đây dù rằng chỉ còn sót lại những mảnh vụn di tồn nhưng theo TS Nguyễn Đình Chiến (Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), nguyên nhân đã đưa chúng đến Hoàng thành Thăng Long, có thể là một trong những quà tặng, biếu của cung đình, hay cũng là hàng hóa do các sứ bộ Đại Việt mua về để cho triều đình hoặc do triều đình mua lại của các sứ giả thiên triều đã mang sang theo lộ trình đi sứ?

Gốm thời Minh – Thanh của vương triều Trung Quốc cũng đã được tìm thấy ở Hoàng thành Thăng Long vào (thế kỷ XV-XIX), đồ gốm tập trung nhiều hơn cả tương ứng với giai đoạn Lê sơ của nước Đại Việt vào (thế kỷ XV-XVI) nhưng đến cuối thế kỷ XVI-XVII, có thể tạm coi là thời kỳ trầm lắng trong buôn bán mậu dịch Trung – Việt. Đưa ra nhận định như vậy, vì rằng, các nhà khảo cổ tìm thấy rất ít ỏi số gốm sứ Trung Quốc trong giai đoạn này.

Khoảng năm 1371-1567, Trung Quốc thi hành chính sách cấm hải, khiến cho việc buôn bán các mặt hàng truyền thống giữa Trung Hoa và Nhật Bản bị cấm vận. Các thuyền buôn của Nhật Bản và phương Tây phải tìm địa điểm khác để thuận lợi trong việc kinh doanh thương mại bao gồm: Việt Nam, Ấn Độ, Xiêm La…

Các cảng thị vùng Đông Nam Á trong thời kỳ này vô cùng sầm uất, trở thành nơi chuyên chở giao lưu hàng hóa không chỉ ở các nước trong khu vực mà còn mở rộng ra từ vùng biển Thái Bình Dương nối với các dải đất khác trên thế giới từ châu Á sang châu Âu, và ngược lại. Tại Hoàng thành Thăng Long người ta thu lượm được đồ gốm sứ Hizen có nguồn gốc từ Nhật Bản (cuối thế kỷ XVII).

Khi không thấy gốm sứ Trung Quốc xuất hiện trong thời kỳ này tại Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, các nhà nghiên cứu đã suy luận: “Phải chăng đồ gốm sứ Nhật Bản đã chiếm lĩnh thị trường Việt Nam và các nước trong khu vực thay thế cho đồ gốm sứ Trung Quốc?”.

Trong sử sách và các nguồn tài liệu ghi chép, gần như không có một dòng nào cho việc gốm Islamic có nguồn gốc từ đất nước kỳ bí Ai Cập xa xôi lại “đổ bộ” vào thị trường Việt Nam là có sự giao lưu văn hóa, kinh doanh thương mại giữa Đại Việt với Tây Á.

Việc tìm thấy những mảnh gốm men xanh lam Islamic (loại gốm nổi tiếng thế giới từ khoảng thế kỷ IX-X) trong Hoàng thành Thăng Long làm cho các nhà khảo cổ đầy hưng phấn. Trong một chuyến công du tới Bảo tàng Guimet (Paris) vừa qua, TS Bùi Minh Trí đã tiếp xúc với những mảnh gốm Islamic của Ai Cập hay Syri, niên đại thế kỷ XI-XIV.

Những mảnh gốm này do Maspéro mang về từ Việt Nam và tặng lại cho Bảo tàng Nghệ thuật châu Á quốc gia Guimet năm 1989. Cũng theo TS Bùi Minh Trí, thì “Những mảnh gốm này đều là những mảnh vỡ nhỏ thuộc loại gốm màu, được tìm thấy tại khu vực kinh thành Thăng Long xưa”.

Với những tài liệu mới này, TS Nguyễn Đình Chiến đưa ra nhận định: “Đây có lẽ là bằng chứng duy nhất đầu tiên cho biết mối quan hệ giữa đại Việt và Tây Á vào thế kỷ XI-XIV, dưới thời Lý – Trần”. Tuy việc khai quật và phát lộ những di vật ở Hoàng thành Thăng Long, những mảnh gốm Islamic tìm được không nhiều nhưng đối với các nhà nghiên cứu khoa học, nó chứng minh mối giao lưu kinh tế giữa Đại Việt và Tây Á.

Hình ảnh hiện trường khảo cổ cùng di vật:

Các cán bộ khảo cổ đang phân loại các di vật.

Các cán bộ khảo cổ đang phân loại các di vật.

Khảo sát giếng nước thời Trần.

Khảo sát giếng nước thời Trần.

Giếng nước thời Đại La (TK VII-IX).

Giếng nước thời Đại La (TK VII-IX).

Khách đến tham quan tìm hiểu về một số cổ vật ở Khu Hoàng thành Thăng Long xưa tại Văn Miếu - Hà Nội.

Khách đến tham quan tìm hiểu về một số cổ vật ở Khu Hoàng thành Thăng Long xưa tại Văn Miếu - Hà Nội.

Giếng nước thời Trần (TK XIII-XIV).

Giếng nước thời Trần (TK XIII-XIV).

Tượng chim uyên ương thời Trần (TK XIII-XIV).

Tượng chim uyên ương thời Trần (TK XIII-XIV).

Lá đề hình rồng thời Lý - Trần.

Lá đề hình rồng thời Lý - Trần.

Gạch "Đại Việt quốc quân thành chuyên" thời Đinh - Tiền Lê.

Gạch "Đại Việt quốc quân thành chuyên" thời Đinh - Tiền Lê.

Ngói ống đầu lá đề hình rồng thời Lý (TK XI-XII).

Ngói ống đầu lá đề hình rồng thời Lý (TK XI-XII).

Vò men xanh nhạt Đại La (TK VII-IX).

Vò men xanh nhạt Đại La (TK VII-IX).

Đĩa men ngọc thời Lý (TK XI-XII).

Đĩa men ngọc thời Lý (TK XI-XII).

Bình vòi men trắng thời Lê Sơ (TK XV).

Bình vòi men trắng thời Lê Sơ (TK XV).

 	 Tượng "Đầu rồng ngậm châu" thời Trần (TK XIII-XIV).

Tượng "Đầu rồng ngậm châu" thời Trần (TK XIII-XIV).

Trần Mỹ Hiền

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần – Hồ

Giới thiệu chung

Cùng với sự lớn mạnh về chính trị và kinh tế, các vương triều Lý, Trần, Hồ đã chứng kiến một sự phát triển rực rỡ về văn hoá. Đây là giai đoạn thịnh đạt của nền văn hóa Đại Việt. Như Lê Quý Đôn đã nhận định “Nước Nam Ở hai triều Lý, Trần nổi tiếng là văn minh”.

Đây là những thế kỷ phục hưng của nền văn hóa Việt cổ bản địa (văn minh Văn Lang – Âu Lạc) trên nền tảng của sự khôi phục độc lập dân tộc và sự giữ vững chủ quyền quốc gia qua những cuộc kháng chiến của Đại Việt chống Tống, Nguyên thắng lợi. Vị thế độc lập về chính trị – dẫn đến ý thức độc lập về văn hóa “Nam Bắc đều chủ nước mình, không phải noi nhau” (lời Trần Nghệ Tông). Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức tìm về cội nguồn đã thấm đậm trong môi trường văn hóa thời Lý -Trần.

Cùng với sự phục hưng, văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần – Hồ đã trở nên phong phú và phát triển ở một tầm cao mới qua một quá trình tiếp biến và tích hợp văn hóa. Trên cơ sở cốt lõi của nền văn hóa Việt cổ, với tư cách là những vương triều phong kiến độc lập, các triều đình Lý, Trần đã tự nguyện, chủ động tiếp thu và cải biến những yếu tố của văn hóa Đông Á Trung Hoa, cũng như của nền văn hóa Champa phương Nam chịu ảnh hưởng Ấn Độ, tích hợp vào nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên lúc này, những ảnh hưởng văn hóa ngoại sinh du nhập còn ở mức độ hạn chế, được gạn lọc luyện hợp thành những yếu tố nội sinh.

Cũng như về mặt xã hội, văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần – Hồ đã pha trộn và hỗn dung giữa những yếu tố Nam Á và Đông Á trong một vị thế cân bằng văn hóa. Sự cân bằng đó thể hiện trong tính đối trọng lưỡng nguyên và đan xen giữa Phật, Đạo và Nho, giữa văn hóa dân gian làng xã và văn hóa quan liêu cung đình. Xu hướng phát triển là từ yếu tố vượt trội của văn hóa Nam Á dân gian Phật giáo trong thời kỳ đầu chuyển dần sang sắc thái văn hóa Đông Á quan liêu Nho giáo trong giai đoạn cuối.

Nguồn: Tiến trình Lịch Sử Việt Nam – Nhà Xuất Bản Giáo Dục – PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc. Tr 94-95

Tôn giáo tín ngưỡng

Nhìn chung, các nhà nước Lý – Trần đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho. Đó chính là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo tịnh tồn ở thời kỳ này. Nói như Phan Huy Chú, “thời Lý – Trần, dù là chính đạo hay dị đoan đều được tôn chuộng, không phân biệt”. Trên nền tảng đó, nhìn chung các tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo và đặc biệt là Phật giáo đã được tôn sùng.

Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín ngưỡng thần linh, vật linh, tục thờ Mẫu, tục sùng bái anh hùng, pha trộn với Đạo giáo đã được tự do phát triển và khuyến khích. Trong hai tác phẩm Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái, rất nhiều vị thiên thần và nhân thần, các anh hùng và danh nhân đã được truyền thuyết hóa và tôn vinh. Theo dã sử, đời Lý Thần Tông, có Trần Lộc, dựa trên các tín ngưỡng dân gian đã lập nên đạo Nội tràng. Hình tượng Phật Mẫu Man nương (có nguồn gốc từ chùa Dâu) đã được sùng bái, thờ cúng ở rất nhiều nơi.

Các đạo sĩ Đạo giáo đã giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh thời Lý – Trần. Họ được triều đình mời đi trấn yểm các núi sông trong nước, vào cung làm lễ tống trừ ma quỷ đêm 30 Tết, làm phép cầu đảo chống hạn, trừ sâu lúa, giảng giải cho vua về phép tu luyện. Những đạo sĩ nổi tiếng là Thông Huyền, Hứa Tông Đạo Huyền Vân. Một số đạo sĩ kiêm thiền tăng như Trần Tuệ Long, Trịnh Trí Không, Nguyễn Bình An. Một số đạo quán đã được xây dựng như Thái Thanh cung, Cảnh Linh cung, Ngã Nhạc quán. Đạo học, cùng với Phật học và Nho học đã được đưa vào nội dung các kỳ thi Tam giáo.

Đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội thời Lý- Trần, được coi như một Quốc giáo. Hầu hết các vua Lý (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông, Anh Tông) và nhiều vua Trần (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông) đều sùng Phật, sai dựng chùa tháp, tô tượng đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật…. Như năm 1031, vua Lý xuống chiếu phát tiền, thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ. Nhiều quý tộc tôn thất đã quy Phật như Hoàng hậu Ỷ Lan, Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung. Khắp nơi, nhiều chùa chiền đã được xây dựng như các chùa Diên Hựu (Một Cột), Phật Tích, Long Đội, Báo Thiên, Bối Khê, Thái Lạc, Phổ Minh, cụm quần thể chùa tháp ở Yên Tử. Phần lớn các công trình này đã được nhà nước tài trợ. Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo Phật. Lê Quát sống vào cuối đời Trần, nhận xét :”Từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền… Dân chúng quá nửa nước là sư…”.

Thời Lý – Trần, có rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị- xã hội. Có thể kể các nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Thông, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Giác Hải, Pháp Loa Huyền Quang. Có 3 tông phái chủ yếu: Tịnh Độ tông thờ đúc Phật Adiđà, chú trọng đến lễ thức lên chùa lễ Phật, phổ biến trong quần chúng bình dân làng xã; Mật tông là tông phái Phật giáo có sử dụng nhiều phép lạ, phần nào có ảnh hưởng của Đạo giáo (như các nhà sư Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không) ; Thiền tông vốn có truyền thống từ lâu, là tông phái có thế lực lớn nhất, chú trọng đến thiền định về tư tưởng, chủ trương Phật tại Tâm, được các giới quý tộc, trí thức hâm mộ. Có 2 phái Thiền tông chính: Phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông sáng lập, có nơi trụ trì chính là chùa Khai Quốc (Trấn Quốc, Hà Nội); phổ biến hơn cả là phái Trúc Lâm, do 3 vị tổ sáng lập:Trần Nhân Tông (tức Điều Ngự Giác Hoàng), Pháp Loa và Huyền Quang, nơi trụ trì chính là cụm chùa ở núi Yên Tử (Đông Triều, Quảng Ninh).

Nhà nước Lý – Trần tôn chuộng đạo Phật, trong bối cảnh của sự khoan dung, hòa hợp tôn giáo “Tam giáo đồng nguyên”, chủ yếu là sự kết hợp giữa Phật và Nho, giữa giáo lý và thực tiễn đời sống. Trần Thái Tông nói : “Đạo giáo của đức Phật là để mở lòng mê muội, là con đường tỏ rõ lẽ tử sinh. Còn trách nhiệm nặng nề của tiên thánh tà đặt mực thước cho tương lai,nêu khuôn phép cho hậu thế”. Trần Nhân Tông thì chủ trương “Sống với đời, vui vì đạo” (Cư trần lạc đạo). Đạo Phật thời Lý – Trần đã ảnh hưởng đến đường lối cai trị của Nhà nước (chính sách thân dân, khoan dung), là đối trọng tư tưởng của Nho giáo, tạo nên thế cân bằng tôn giáo.

Cuối thời Trần, khi Nho giáo và Nho học phát triển, trong điều kiện xuất hiện một bộ phận tăng ni biến chất và thoái hóa, Phật giáo đã bước đầu bị một số nho sĩ như Lê Văn Hưu, Lê Quát, Trương Hán Siêu bài xích. Hồ Quý Ly ra lệnh sa thải bớt tăng đồ, ai chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phật giáo vẫn rất sâ đậm trong xã hội, nhất là trong các làng xã.

Cùng tồn tại với Phật giáo, nhưng Nho giáo thòi Lý – Trần đã có xu hướng phát triển ngượ lại với Phật giáo. Trong khi thế lực Phật giáo có chiều hướng suy giảm dần, thì thế lực của Nho giáo lại ngày càng tăng tiến, từ chỗ lúc đầu mới chỉ là một nền văn hóa giáo dục được nhà nước phong kiến chấp nhận trên nguyên tắc dùng làm học thuyết trị nước tới chỗ sau đó (thời cuối Trần) đã trở nên một ý thức hệ đang trên đà thống trị xã hội.

Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc dưới một phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế, vì vậy, trong hơn 10 thế kỷ, nó vẫn chỉ là một lớp váng mỏng đọng lại trong tầng lớp ưu tú, ảnh hưởng xã hội rất nhỏ bé. Đến thời Lý – Trần, nó đã trở thành một nhu cầu tư tưởng thiết yếu cho việc xây dụng một thiết chế quân chủ tập quyền theo mô hình Đông Á Trung Hoa, cũng như những nguyên lý cơ bản của phép trị nước, trong đó một biện pháp chiến lược là chế độ khoa cử. Do vậy, các nhà vua sùng Phật thời Lý – Trần vẫn cần đến một sự bổ trợ của Nho giáo. Trần Thái Tông nói: “Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau. Như thế đủ biết đạo giáo của Đức Phật phải nhờ đến tiên thánh [chỉ Khổng Mạnh] mà truyền lại cho đời…”.

Thời Lý, Nho giáo được nhà nước chấp nhận, nhưng vẫn giữ một vị trí khá khiêm tốn. Năm 1070,Văn Miếu được xây dựng, thờ Chu Công, Khổng Tử và các vị tiên hiề, làm nơi dạy học Hoàng Thái tử. Năm 1075, nhà Lý tổ chức khoa thi Thái học sinh đầu tiên, người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh;năm 1076, mở trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1086, Triều đình lập Hàn lâm viện, nho sĩ Mạc Hiển Tích được tuyển bổ làm Hàn lâm học sĩ. Qua thời Trần, Nho giáo và Nho học khởi sắc hơn. Nhiều trường Nho học được mở, khoa cử đều kỳ hơn. Các vua Trần đã cố gắng dung hòa Phật – Nho trong đường lối trị nước. Tầng lớp nho sĩ ngày một phát triển, trong đó có những gương mặt nổi bật như Lê Văn Hưu, Đoàn Nhữ Hài, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An… Họ đã dần dần tham chính, nắm giữ các chức vụ trọng trách trước đây chỉ dành cho tầng lớp quý tộc tông thất. Trường hợp của Đoàn Nhữ Hài, từ một nho sinh giúp vua làm tờ biểu tạ tội, sau được thăng đến chức Hành khiển, là một ví dụ tiêu biểu.

Thời cuối Trần, quá trình Nho giáo hóa đời sống chính trị – xã hội đã diễn ra một cách quanh co phức tạp. Một mặt, một số Nho sĩ đã nhiệt thành cổ vũ tuyên truyền cho đạo Nho và mô hình Nho giáo, bài xích Phật giáo. Trương Hán Siêu tuyên bố: “Đã là kẻ sĩ đại phu, nếu không phải đạo Nghiêu Thuấn, không bày tỏ, không phải đạo Khổng Mạnh, không trước thuật…”. Nhóm nho sĩ Lê Quát, Phạm Sư Mạnh đề nghị triều đình tiến hành cải cách thể chế theo hướng Nho giáo hóa, mô phỏng thiết chế Trung Hoa nhà Minh. Mặt khác, quá trình Nho giáo hóa đã gặp sự phản ứng từ nhiều phía, trước hết từ chính bản thân một số vua Trần. Minh Tông cho rằng “nhà nước đã có phép tắt nhất định, Nam Bắc khác nhau”. Nghệ Tông kiên quyết phản bác: “Triều trước [nhà Lý] dựng nước , có luật pháp, chế độ riêng, không theo quy chế của nhà Tống, là vì Nam Bắc, nước nào làm chủ nước đó, không phải bắt chước nhau. Khoảng năm Đại Trị [đời Trần Dụ Tông] bọn học trò mặt trắng được dùng, không hiểu ý nghĩa sâu xa của việc lập pháp, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục phương Bắc như về y phục, âm nhạc… thật không kể xiết”. Và nhà vua này chủ trương bảo lưu thể chế cũ.

Ở các làng xã, quá trình Nho giáo hóa lại càng mờ nhạt hơn. .Dân chúng vẫn sống theo những phong tục cổ truyền, chưa bị ràng buộc bởi những quy phạm Nho giáo. Sứ giả Trung Quốc Trần Cương Trung sang Việt Nam đời Trần nhận định : “Dân chúng vẫn giữ những phong tục rất nông nổi. Không biết đến lễ nhạc Trung Hoa”. Nho thần Lê Quát phàn nàn : “Ta thuở trẻ đọc sách, ít nhiều hiểu đạo thánh hiền để giáo hoá dân chúng, mà rút cuộc vẫn chưa được một hương nào tin theo. Ta thường dạo xem sông núi, vết chân trên khắp nửa thiên hạ, đi tìm những học cung, văn miếu mà chưa hề thấy một ngôi nào. Đó là điều khiên ta vô cùng hổ thẹn.”

Trong khuôn khổ những cải cách của mình nhằm xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền mạnh, Hồ Quý Ly đã đẩy mạnh quá trình Nho giáo hóa xã hội Đại Việt như cho dịch và chú giải các Kinh Thư, Kinh Thi, mở trường Nho học ở các địa phương và tổ chức thi Hương. Tuy nhiên, ở đây là một thứ Nho giáo thực dụng, không giáo điều và có phần sáng tạo độc lập, dung hợp với những tư tưởng Pháp gia nhằm nâng cao hiệu quả công việc trị nước.

Nguồn: Tiến trình Lịch Sử Việt Nam – Nhà Xuất Bản Giáo Dục – PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc. Tr 95 đến 99

Giáo dục, khoa cử

Thời đầu Lý, nền giáo dục Đại Việt có thể chủ yếu là Phật học. Lý Công Uẩn đã học ở chùa Lục Tổ. Các sư tăng đồng thời cũng là những trí thức. Dần dần, cũng như Nho giáo, giáo dục khoa cử Nho học ngày càng phát triển.

Thời Lý – Trần, Nho học phát triển từ trên xuống dưới. Năm 1070, Văn Miếu được thành lập, cũng là nơi dành riêng để dạy học cho Hoàng Thái tử. Lúc đầu, khi mới mở trường Quốc Tử Giám (1076), chỉ có các quý tộc quan liêu và con em được theo học. Nhìn chung, việc giáo dục Nho học ở thời Lý còn khá hạn chế.

Giáo dục Nho học đã có nhiều tiến bộ dưới thời Trần. Quốc Tử Giám, với những tên gọi mới (Quốc tử viện, Quốc học viện) đã được củng cố và mở rộng đối tượng học tập. Năm 1236, đặt chức Thượng thư tri Quốc tử viện, đưa con em văn thần và tụng thần [chức quan tư pháp] vào học. Năm 1253, Nhà nước sai sửa sang Quốc học viện, đắp tượng Không Tử, Chu Công và Mạnh Tử, vẽ tranh Thất thập nhị hiền để thờ, lại xuống chiếu vời Nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng Tứ thư lục kinh. Năm 1272, xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, có thể giảng bàn ý nghĩa của Tứ thư, Ngũ kinh sung vào hầu nơi vua đọc sách.

Ngoài Quốc tử viện là một loại trường Nho học cấp cao, thời Trần còn một số trường Nho học khác. Ta có thể kể : trường phủ Thiên Trường, trường Lạn Kha thư viện (ở chùa Phật Tích), trường của Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc và trường Cung Hoàng của Nho sĩ Chu Văn An, trước đó đã từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1397, triều đình lại đã chính thức sai đặt nhà học và chức học quan (được nhà nước trợ cấp phần ruộng công thu hoa lợi) ở các lộ phủ địa phương như Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, với chức năng là “giáo hóa dân chúng, giữ.gìn phong tục, dạy bảo học trò thành tài nghệ, chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình”.

Cùng với giáo dục, khoa cử ở Đại Việt đã có từ thời Lý. Năm 1075, mở khoá thi Minh kinh bác sĩ Nho học đầu tiên. Lê Văn Thịnh người Bắc Ninh là người đỗ đầu Thái học sinh (Tiến sĩ sau này), được đưa vào giúp vua học, sau này thăng đến chức Thái sư. Tuy nhiên, Nho học và khoa cử thời Lý vẫn chưa ổn định. Sau vụ Lê Văn Thịnh bị buộc tội mưu phản (có thể là kết quả của một âm mưu chống Nho học của các thế lực Phật giáo), khoa cử hầu như đã bị đình hoãn lại. Cả triều Lý có 3 khoa thi. Năm 1195, nhà Lý có mở khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Đạo), loại thi này còn tồn tại đến đầu thời Trần.

Các kỳ thi Thái học sinh đời Trần được tổ chức quy củ và thường xuyên hơn, niên hạn là 7 năm một kỳ. Cả thời Trần có tất cả 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy đỗ 282 người đại khoa, có học vị Thái học sinh. Năm 1374, có tổ chức thi Đình cho các tiến sĩ. 3 người đỗ đầu được gọi là Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. (Sau đặt thêm một học vị cấp cao nữa là Hoàng giáp). Có một thời gian. nhà Trần đã chia thành hai loại Trạng nguyên: Kinh Trạng nguyên và Trại Trang nguyên (dành riêng cho vùng Thanh – Nghệ). Các vị tân khoa được nhà vua trọng đãi: ban mũ áo, dự yến tiệc, được dẫn đi thăm kinh thành Thăng Long trong 3 ngày. Có một số người đỗ đại khoa khi tuổi đời còn rất trẻ: Trạng nguyên Nguyễn Hiền (l3 tuổi), Bảng nhãn Lê Văn Hưu (18 tuổi), Thám hoa Đặng Ma La (14 tuổi), Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn (16 tuổi).

Quy trình và nội dung khoa cử đời Trần lúc đầu gồm 4 kỳ, lần lượt là các bài thi : ám tả cổ văn, kinh nghĩa và thơ phú, chiếu chế biểu và đối sách (văn sách). Năm 1397, Hồ Quý Ly cải cách thi cử. Nội dung của 4 kỳ thi bỏ ám tả cổ văn và được sắp xếp lại : kinh nghĩa, thơ phú, chiếu chế biếu và văn sách. Đồng thời, bắt đầu tổ chức thi Hương ở địa phương.

Khoa cử được tiếp tục dưới triều Hồ (2 khoa). Nguyễn Trãi là người thi đỗ Thái học sinh năm 1400. Hồ Hán Thương đã tiếp tục cải cách thi cử, đưa thêm vào môn toán và viết chữ.

Nguồn: Tiến trình Lịch Sử Việt Nam – Nhà Xuất Bản Giáo Dục – PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc. Tr 99 đến 100

Văn học nghệ thuật

Văn học thời Lý- Trần phản ánh những tư tưởng và tình cảm của con người thời đại, nhìn chung mang nhiều yếu lố tích cực, lạc quan của những

vương triều đang ở thế đi lên. Cơ sở tư tưởng của nó là Phật giáo và Nho giáo. Có 2 dòng văn học chính : văn học Phật giáo và văn học yêu nước dân tộc.

Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý – Trần chủ yếu là tư tưởng của phái Thiền tông. Nó bao gồm các tác phẩm về triết học và những cảm hứng Phật giáo, cùng là những tác phẩm về lịch sử Phật giáo thời Lý – Trần. Nhiều bài thơ phú, kệ, minh do các sư tăng trí thức viết, bàn về các khái niệm sắc – không, tử – sinh, hưng – vong, quan hệ giữa Phật và Tâm, đạo và đời, con người và thiên nhiên, phản ánh sự minh triết và niềm lạc quan của cá nhân trong cuộc sống và thời đại. Sư Mãn Giác để lại những câu thơ nổi tiếng về cảm hứng đó.

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

(nghĩa là : Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước nở cành mai)

Một số nhà vua và quý tộc sùng Phật đã biên soạn những tác phẩm về giáo lý nhà Phật như các cuốn Khóa hư lục, bài Thiền tông chi nam của Trần Thái Tông, Thiền lâm thiết chủy ngữ lục của Trần Nhân Tông, Tuệ trung thượng sĩ ngữ lục của Trần Tung. Về lịch sử Phật giáo có các cuốn Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam tổ thực lục nói về thiền phái Trúc tâm. Một số cuốn sách, cùng với những bản kinh Phật giáo, đã được nhà nước cho đem khắc in và phổ biến.

Dòng thơ văn yêu nước, dân tộc cũng đã giữ một vị trí rất quan trọng trong thơ văn Lý – Trần. Nó phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc, lòng trung quân ái quốc cũng như lòng tự hào dân tộc qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Thuộc loại này có thể kể bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, bài Phú sông Bạnh Đằng của Trương Hán Siêu, hoặc những bài thơ của vua tôi nhà Trần trong cuộc kháng Nguyên như 2 câu thơ nổi tiếng của Trần Nhân Tông:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu”

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông ngàn thuở vững âu vàng)

Một số tác phẩm đã nói lên ý thức tìm về cội nguồn, sưu tập những truyền thuyết, thần tích nói về lịch sử và nhân vật lịch sử thời quốc sơ Văn Lang – Âu Lạc cũng như các thời kỳ sau. Hai tác phẩm tiêu biểu là Việt Điện u linh của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp.

Tinh thần dân tộc cũng đã được thể hiện trong các bộ quốc sử. Có thể kể đến Việt sử cương mục và Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc, Đại Việt sử lượt (hay Việt sử lược) của một tác giả khuyết danh. Nổi tiếng là bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, được coi là bộ chính sử đầu tiên của Việt Nam. Hai tác phẩm An Nam chí lược của Lê Trắc và Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng được viết ở Trung Quốc, cũng có nhiều đóng góp cho sự tìm hiểu lịch sử, nhân vật lịch sử điển chương và địa chí của Đại Việt thời Lý – Trần.

Một thành tựu quan trọng của văn học Lý- Trần là việc phổ biến chữ Nôm, vừa mang tính dân tộc (Nam Nôm), vừa mang tính dân gian (nôm na), cải biến và Việt hóa chữ Hán. Chữ Nôm lúc bấy giờ được gọi là “Quốc ngữ”, “ Quốc âm”.

Chữ Nôm có thể đã xuất hiện từ lâu (thời Bắc thuộc) nhưng chưa phổ biến. Thời Lý, người ta có thể tìm thấy một số dấu vết chữ Nôm trên một số chuông đồng (chùa Vân Bản, Đồ Sơn) và văn bia (bia chùa Báo Ân, Vĩnh Phúc). Đến thế kỷ XIII, chữ Nôm được phổ biến với giai thoại về Nguyễn Thuyên (sau được đổi là Hàn Thuyên) viết bài Văn tế cá sấu bằng văn Nôm. Một số tác giả khác được biết cũng sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm như Nguyễn Sĩ Cố, Trần Nhân Tông, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An (viết cuốn Quốc âm thi tập, nay không còn), Hồ Quý Ly. Chữ Nôm cũng đã được phổ biến trong dân gian như một số câu vè châm biếm cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa và vua Champa Chế Mân, hoặc việc Trần Nguyên Đán kết giao với Hồ Quý Ly. Một số câu thơ Nôm cũng thấy trong các cuốn Lĩnh Nam chích quái (truyện Hà Ô Lôi) hoặc trong Tam tổ thực lục (giai thoại về sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích). Chữ Nôm còn được dùng để ghi chép một số bản nhạc, ca khúc thời kỳ này.

Thời Lý – Trần – Hồ cũng để lại nhiều công trình về nghệ thuật kiến trúc- điêu khắc. Nhìn chung, kiến trúc thời Lý mang tính hoành tráng, quy mô; kiến trúc thời Trần mang tính thực dụng, khoẻ khoắn. Tinh thần Phật giáo đã thấm đượm trong các công trình này.

Cung điện và thành quách là những công trình kiến trúc do nhà nước đứng ra chỉ huy xây dựng, huy động sức lực của dân chúng theo chế độ lao dịch, trưng tập và phần nào là lao động làm thuê.

Thành Thăng Long (với 3 vòng thành Đại La, Hoàng thành và Cấm thành) là công trình kiến trúc lớn thời Lý – Trần. Hoàng thành mở ra 4 cửa: Tường Phù (Đông), Quảng Phúc (Tây), Đại Hưng (Nam) và Diệu Đức (Bắc). Thời Lý có các điện Càn Nguyên (sau đổi thành Thiên An), Tập Hiền, Giảng Võ, các cung Long Thuỵ, Thuỷ Hoa, lầu Chính Dương coi giờ giấc, điện Long Trì đặt chuông thỉnh nguyện ngoài thềm. Thời Trần có các cung điện Quan Triều (vua ở), Thánh Từ (Thượng hoàng ở), Thiên An (vua làm việc), Tập Hiền (tiếp sứ), Diên Hồng (mở hội nghị….). Hòa vào các cung điện là một cảnh quan thiên nhiên được bố trí lộng lẫy và xứng hợp như các hồ, ngòi, vườn tược, cầu cống, vườn bách thảo bách thú v.v… Một số lớn các cung điện được xây dựng bằng gỗ, sơn son thếp vàng, đã bị hủy hoại qua chiến tranh.

Các cung điện ở khu Tức Mặc – Thiên Trường (Nam Định) là nơi các Thượng hoàng đời Trần lui về ở và làm việc. Thời đầu Trần, Phùng Tá Chu là người được giao trọng trách xây dựng khu cung điện này, được coi như một kinh đô thứ hai. Nổi tiếng nhất là hai cung Trùng Quang và Trùng Hoa. Chung quanh còn có các khu biểu diễn nghệ thuật (múa hát, bơi thuyền, đánh cờ, múa bông) và khu kinh tế (chăn nuôi, chế biến, làm đồ gốm). Gạch ngói ở đây được in dòng chữ “Thiên Trường phủ chê”.

Thành nhà Hồ (An Tôn, Vinh Lộc, Thanh Hóa), còn gọi là Tây Đô, là công trình kiến trúc đồ sộ và độc đáo bằng đá, xây dựng thời cuối Trần tồn tại qua 6 thế kỷ. Diện tích thành khá rộng (khoảng 630.000 m2), ngoài thành có lũy đất trồng tre gai, sát thành có hào nước sâu bảo vệ. Riêng tòa thành hiện còn cao gần 6m, xây ghép bằng những phiến đá tảng nguyên khối, có phiến dài 7m, nặng 17 tấn, với nhiều cửa vòm kiên cố, trên có vọng lâu. Trong thành còn có một số di vật như các viên gạch đắp hoa, rồng đá, sấu đá.

Cùng với thành quách, thời Lý- Trần còn có các khu lăng mộ và phủ đệ. Nhà Lý có khu sơn lăng ở Đình Bảng (Bắc Ninh), nhà Trần có khu lăng mộ ở Long Hưng (Thái Bình) và An Sinh (Đông Triều), với nhiều tượng đá khắc họa hình người và muông thú. Các dinh thự của quý tộc đời Trần xây dựng ở các địa phương trấn trị, một số có quy mô đồ sộ, như phủ đệ của Trần Quốc Khang Ở Diễn Châu (Nghệ An).

Chùa tháp là kiến trúc Phật giáo đặc biệt thời Lý- Trần. Chùa làng có số lượng rất nhiều, nhưng quy mô thường nhỏ, kiến trúc đơn giản. Một số ngôi chùa có kiến trúc độc đáo hoặc quy mô bề thế. Chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Thăng Long mô phỏng hình ảnh một đóa hoa sen mọc trên hồ nước, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên. Chùa Phật Tích, Long Đội và quần thể chùa ở Yên Tử đều được xây dựng trên núi cao, cảnh trí kỳ vĩ. Chùa Thái Lạc và ‘Phổ Minh có những bức phù điêu chạm trổ độc đáo.

Tháp Phật có nguồn gốc từ các stupa ở Ấn Độ được biến cách, là những kiến trúc tưởng niệm, khá phổ biến ở thời Lý- Trần. Tháp Báo Thiên (nay không còn) xây dựng đời Lý, ở giữa kinh thành Thăng Long có 12 tầng. Những tháp đời Trần còn lại là tháp Phổ Minh (Nam Định) 14 tầng, tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc) 11 tầng. Tương truyền trong bảo tháp có chứa đựng tro xương của các vị sư tổ kết tinh lại, gọi là xá lị, như xá lị của Trần Nhân Tông trong lòng tháp Phổ Minh.

Điêu khắc và đúc tạo hình thời Lý-Trần có các loại tượng. chuông, vạc, các bức phù điêu. Ngoài các tượng Chu Công, Không Tử, Tứ Phối được bày trong Văn Miếu, phổ biến là các tượng Phật, nổi tiếng nhất là pho tượng đá Adiđà ở chùa Phật Tích và pho Di Lặc bằng đồng ở chùa Quỳnh Lâm. Năm 1231, triều đình đã xuống chiếu sai tô tượng Phật để thờ ở tất cả những nơi có đình trạm (trạm nghỉ dọc đường). Năm l256, sai đúc 330 quả chuông. Những chuông đồng nổi tiếng là chuông chùa Sùng Khánh Báo Thiên (nặng 12000 cân) và chuông Quy Điền khổng lồ ở chùa Diên Hựu. Vạc đồng lớn ở chùa Phổ Minh cũng là một sản phẩm đúc nổi tiếng, được người Trung Quốc xếp vào danh mục “An Nam tứ đại khí” (chỏm tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Quỳnh Lâm).

Các bức phù điêu đời Lý- Trần phần lớn đều chạm khắc các hình tượng Phật giáo (toà sen, lá đề, sóng nước), hình tượng các tiên nữ múa hát, các hình tượng rồng uốn khúc (loại rồng giun đơn giản và khoẻ khoắn). Các bức phù điêu chạm khắc gỗ nổi tiếng ở chùa Thái Lạc và chùa Phổ Minh. Tại khu lăng vua Trần, có nhiều tượng người và thú vật bằng đá. Trong điêu khắc Lý- Trần, có ảnh hưởng của nhiều yếu tố mỹ thuật Champa.

Thuộc mỹ thuật thời Lý- Trần, còn có các đồ gốm, dáng hình đơn giản, thanh thoát. Có các loại men đàn hoa nâu, men hoa lam và loại men ngọc trắng xanh nổi tiếng. Nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc thời Lý- Trần phát triển phong phú, chịu ảnh hưởng của cả nghệ thuật Nam Á và Đông Á, được biểu diễn rộng rãi trong dân gian cũng như được ưa chuộng trong sinh hoạt cung đình.

Nghệ nhân sử dụng các nhạc cụ như sáo, tiêu, chũm choẹ, trống cơm (phạn cổ ba, gốc Chăm), các loại đàn cầm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn thất huyền, đàn Ba lỗ (gốc Chăm), các khúc ca “Trang Chu mộng điệp”, “Bạch lạc Thiên mẫu biệt tử”, “Đạp ca”, “Thanh ca”, “Ngọc lân xuân”, “Nam thiên”, “Tây thiên”, “Lý liên”, “Mộng tiên du”, “Canh lậu trường”… Trong các buổi tiệc yến ở điện Tập hiền, có biểu diễn ca vũ của các đào, kép. Sứ giả Trung Quốc tả : “Con gái đi chân không, mười ngón tay dịu dàng đứng múa, hơn 10 người con trai mình đều cởi trần, kề vai giậm chân, quây quần chung quanh mà hát theo…”. Chèo, tuồng được nhiều người ưa chuộng, tích diễn phổ biến là vở “ Tây vương mẫu hiến bàn đào”.

Múa rối nước là môn nghệ thuật đặc sắc, phát triển từ đời Lý, có liên quan đến nhà sư Từ Đạo Hạnh, đã được trình diễn trong các hội đèn Quảng Chiếu, với nhiều trò rất sinh động. Trong các lễ hội, có nhiều trò vui tạp kỹ mang tính dân gian như đấu vật, chọi gà, cờ người, bơi chải, đánh đu, leo dây, đá cầu, trò nhại, hất phết, cưỡi ngựa đánh cầu… Đinh Bàng Đức, nối tiếng về trò leo dây, múa rối, Trần Cụ là người giỏi xuất sắc trong môn bắn nỏ, đá cầu. Một số vua Trần thường tổ chức các cuộc thi ca múa trong giới quý tộc. Trần Nhật Duật được coi là người sành điệu nổi tiếng. Các chùa chiền cũng tổ chức nhiều lễ hội đông vui như hội Thiên Phật ở chùa Quỳnh Lâm và hội Vô Lượng ở chùa Phổ Minh.

Những thành tựu khoa học kỹ thuật thời Lý- Trần- Hồ chủ yếu được biết ở một số ngành như y học cổ truyền, thiên văn lịch pháp, đóng thuyền chiến, cũng như những kỹ thuật truyền thống trong các nghề luyện đúc đồng, dệt, gốm, xây dựng…

Danh y Phạm Bân nổi tiếng về y đức, trách nhiệm đối với người bệnh. Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh) đề cao tác đụng của thuốc nam (với nhiều vị quy như sâm, trầm, củ mài…) là tác giả bộ Nam dược thần hiệu (có 580 vị thuốc nam, 3873 phương thuốc trị 184 loại bệnh). Các thày thuốc Trâu Tôn, Trâu Canh (người gốc Hoa) hay Nguyễn Đại Năng đã có nhiều kết quả về khoa châm cứu.

Kỹ thuật xây dựng và tính toán đã đạt đến trình độ cao trong các công trình thành quách (như thành Tây Đô), cung điện, chùa tháp. Phùng Tá Chu là người nổi tiếng trong việc xây dựng cung Thiên Trường.

Về thiên văn lịch pháp, Đặng Lộ đã sáng chế ra “Linh lung nghi” là một dụng cụ chiêm nghiệm chính xác thiên văn khí tượng, còn là người đã đổi lịch Thụ thời ra lịch Hiệp kỷ. Trần Nguyên Đán thông thạo lịch pháp, là tác giả cuốn Bách thế thông kỷ thư chép về các hiện tượng nhật nguyệt thực trong nhiều thế kỷ, cũng là người đổi lịch Hiệp kỷ thành lịch Thuận thiên.

Hồ Nguyên Trừng đã sáng chế ra loại súng lớn thần cơ sang pháo đúc bằng đồng, chuyên chở trên xe, có bầu nhồi thuốc và lỗ đặt ngòi. Cổ lâu thuyền tải lương là loại thuyền chiến lớn hai tầng, bên trên có đường sàn, bên dưới cứ hai người chèo một mái chèo, tốc độ nhanh.

Nguồn: Tiến trình Lịch Sử Việt Nam – Nhà Xuất Bản Giáo Dục – PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc. Tr 100 đến105

Đoạn kết

Văn hóa Lý – Trần – Hồ là giai đoạn phát triển thịnh đạt của văn hóa Đại Việt. Văn hóa Lý – Trần – Hồ đã chủ động khôi phục lại những yếu tố văn hóa Việt cổ đồng thời cải biến tích hợp những yếu tố văn hóa ngoại sinh, tạo nên một phong cách riêng cho mình. Văn hóa Đại Việt thời Lý-Trần- Hồ, vì thế, đã mang tính dân tộc sâu sắc.

Cũng dựa trên sự cân bằng văn hoá, văn hóa Lý – Trần – Hồ là sự hỗn dung của dòng văn hóa dân gian với dòng văn hóa cung đình, giữa những yếu tố bình dân với những yếu tố bác học, giữa Phật – Đạo và Nho. Gam màu nổi bật của văn hóa thời kỳ này là sự ưu trội của dòng văn hóa dân gian, đan xen vào sinh hoạt văn hóa cung đình, tuy xu thế phát triển của nó là ngả dần sang văn hóa Đông Á Nho giáo. Văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần – Hồ đã mang đậm tính dân gian.

Đậm đà màu sắc Phật – Đạo và dân gian, ảnh hưởng của Nho giáo còn ở mức khiêm tốn, văn hóa Lý- Trần- Hồ không bị ràng buộc nhiều bởi những giáo điều, tín điều. Khái niệm “lễ” trong Nho giáo ở thời Lý- Trần-Hồ còn rất nhạt, thay vào đấy là tính cởi mở, nhân bản, gần gũi con người với một “mép lề phóng khoáng”. Văn hóa Đại Việt thời kỳ này do vậy, hàm chứa nhiều tinh thần khai phóng.

Văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần – Hồ chính là một sức mạnh tinh thần, vừa là một xung lực vừa là một kháng thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời nó cũng là một tố chất cố kết cộng đồng người Việt, trên cơ sở tìm về một cội nguồn lịch sử và văn hóa chung, làm chín muồi ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc Việt.

Trong khi những vương triều Lý – Trần – Hồ duy trì ở quốc gia Đại Việt phía bắc lãnh thổ Việt Nam ngày nay, thì ở phần đất phía nam, đã tồn tại vương quốc Champa với nền văn hóa gốc Nam Á và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Văn hóa Champa vừa là một thực thể độc lập, vừa có những mối giao lưu qua lại với Đại Việt.

Thế kỷ XIII, sau cuộc chiến tranh trăm năm với Chân Lạp (1113-1220),Champa khôi phục nền độc lập. Cuối thế kỷ đó, Champa đã liên minh với Đại Việt chống quân Nguyên. Quan hệ Việt- Chăm trở nên tốt đẹp với cuộc viếng thăm Champa của vua Trần Nhân Tông và cuộc hôn nhân Huyền Trân- Chế Mân. Nhưng sau đó, quan hệ giữa 2 nước đã trở nên xấu đi, dẫn đến những cuộc xung đột Việt – Chăm cuối thế kỷ XIV. Cho đến năm 1471, Lê Thánh Tông đã sáp nhập phần lớn lãnh thổ Champa vào Đại Việt.

Trong lịch sử, đã có nhiều quan hệ giao lưu hai chiều và hòa nhập văn hóa Chăm – Việt. Một số yếu tố văn hóa Chăm đã có mặt trong văn hóa Đại Việt như loại vải lĩnh (dệt ở Trích Sài, do một cung nữ Chăm truyền nghề). Các nhạc cụ trống cơm, đàn Bà lỗ, các điệu múa Tây thiên, các điệu hò Huế, các mô típ điêu khắc Garuda (chim thần), makara (thủy quái), kinnari (người đánh trống), apsara (tiên nữ) được tìm thấy ở chùa Phật Tích. Các truyện cổ tích Việt như Dạ thoa vương, Sọ dừa có nguồn gốc Chăm. Các thánh mẫu Bà chúa Ngọc (Hòn chén, Huê) là những hình ảnh dung hợp của Thiên Yana (Chăm) và Bà chúa Liễu (Việt).

Mặt khác, văn hóa Đại Việt cũng đã ảnh hưởng nhiều đến văn hóa Chăm, sau đó, tích hợp nó vào dòng chảy của cộng đồng văn hóa dân tộc Việt.

Nguồn: Tiến trình Lịch Sử Việt Nam – Nhà Xuất Bản Giáo Dục – PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc. Tr 106 đến 107

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Nghề gốm và gốm thời Lý – Trần

Lịch sử Việt Nam, tập 1, trang 38 có ghi: “Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ đục… quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, cưa khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi… bằng đá được chau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm (nồi, bát, cốc, vò…) có hình dáng đẹp, chắc, khoẻ, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí, đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ….”

Vậy là kỹ nghệ gốm giai đoạn Phùng Nguyên (cách ta gần 4.000 năm) ở nước ta đã phát triển mạnh. Con người buổi đó đã biết nghĩ ra bàn xoay và chế tạo ra thứ men để phủ ngoài, tăng thêm vẻ dẹp kỳ diệu của đồ gốm.

Đây là một thời kỳ của nước Văn Lang. Cho tới thời Âu Lạc, kỹ nghệ gốm đã phát triển mạnh lắm. Nghề nung gạch, làm ngói… cũng đã có từ ngày này.

Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kỹ nghệ được khuyến khích phát đạt.

Nghề gốm, xem ra phát triển rải rác khắp đất nước. Ở tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm. Cứ ven các dòng sông, chúng ta gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Hoặc chúng ta gặp những dãy lò gốm đang ăn khói nghi ngút. Những trung tâm sứ gốm ở nước ta, xuất hiện từ thời Lý – Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh nghề nghiệp, đó là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Hà Nam Ninh), Chum Thanh (Thanh Hóa)… Mỗi vùng quê gốm lại giữ kỹ nghệ riêng biệt. Và mỗi nơi, lại có mặt hàng gốm đặc trưng riêng của mình, tạo thêm cái đa dạng và phong phú của công nghệ gốm Việt Nam. Nếu nói trung tâm gốm ở nước ta, phải nói tới Bát Tràng – Thổ Hà – Hương Canh. Một đặc điểm riêng biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ nó tiện đường chuyên chở, và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản xuất gốm, sứ.

Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý – Trần có người đỗ Thái học sinh (đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần) được cử đi sứ nhà Tống (Trung Quốc) là: Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa), Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà (Hà Bắc), Lưu Phong Tú, người làng Kẻ Sặt (Hải Dương). Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề sứ gốm. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau: Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng, và:

– Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng.

– Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ.

– Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm.

Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng Vua xem. Nhà Vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông là “Tổ sư”, tức “Tổ nghề”.

Phường gốm Bồ Bát sau có rời ra ngoài Bắc. Dọc theo con sông Hồng, tới một bãi sông có đất thó trắng, họ dừng lại lập lò gốm ở đó, với tên gọi Bạch Phường thổ, sau này đổi là Bát Tràng phường. Và ngày nay, ta quen gọi là Bát Tràng.

Ấm men ngọc, ấm hoa nâu, ấm men nâu thời Lý-Trần

Ấm men ngọc, ấm hoa nâu, ấm men nâu thời Lý-Trần

Đồ gốm thời Lý – Trần phát triển mạnh, nhiều ở số lượng và quý ở chất lượng. Thịnh hành hai loại gốm chính, là: (1) Gốm trang trí kiến trúc, thường là đất nung để mộc, hoặc phủ một lớp men có giá trị độc đáo. Ví dụ như gạch có in hoa văn để trang trí với nhiều dáng hình, kích thước khác nhau. Hoặc ngói bò có gắn đầu phượng, đầu rồng. Hoặc hình gốm trang trí hình chiếc lá nhọn đầu để gắn trên nóc hoặc riềm nhà… (2) Còn như gốm gia dụng, thì đủ thể loại. Nào bát đĩa, ấm, âu, chén, vại, chum, vò…

Đồ gốm thời kỳ này, ngoài ý nghĩa sử dụng trong nước, còn được xuất đi nhiều nước khác.

Lịch sử từng ghi lại, từ đầu nhà Lý đã có nhiều nước tới buôn bán, trao đổi hàng hóa với nước ta như Nam Dương, Xiêm La (Thái Lan)… Tới thế kỷ XII, các thuyền buồm ngoại quốc cập bến nước ta càng đông. Năm 1149, Triều Lý cho lập cảng Vân Đồn, để thuyền bè các nước vào ra buôn bán. Cho tới nay, dọc hai bên bờ bến cảng Vân Đồn còn lại nhiều mảnh gốm của nhiều thời đại ở Việt Nam sản xuất. Trong đó, có cả mảnh gốm men ngọc của thời Lý. Vậy, đó chẳng là dấu tích để khẳng định hàng gốm của ta từ xưa đã đạt trình độ cao đó sao?

Ở nước ta, có thời người dân cứ sính đồ ngoại. Ví dụ: Mặt hàng gốm men ngọc thời Lý của chính nước ta làm ra thì gọi là “gốm Tống” hoặc “đồ Tống”.

Hiện tại, ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn lưu giữ được nhiều đồ gốm, đồ sứ các thời đại của nước ta. Đó là những dấu tích để chứng minh kỹ nghệ phẩm ở nước ta sớm phát triển, và từ xưa, nghề gốm ở nước ta đã chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế, văn hóa của dân tộc. Qua đây, chúng ta càng thêm yêu quý đôi bàn tay khéo léo và bộ óc giàu sáng tạo của những người thợ gốm Việt Nam. Để hiểu sâu thêm về nghề gốm, chúng tôi muốn giới thiệu một đôi nét về các kiểu lò gốm và men gốm từ xưa ở nước ta.

Lò gốm xa xưa

Thực ra, nguyên lý của lò gốm xưa và nay không khác nhau nhiều lắm. Nó vẫn dựa trên nguyên lý cơ bản, cấu tạo gồm 3 phần: bầu lò, thân lò, hệ thống ống khói. Chỉ có điều, lò gốm ngày xưa thì nhỏ bé và đơn giản.

Do sự phân chia công dụng của mỗi loại lò, nên đã có tên gọi riêng cho lò gốm: lò quan và lò dân. Sản phẩm lò quan chủ yếu phục vụ cung đình và giao bằng quốc tế. Còn sản phẩm lò dân là những vật dụng thông thường cho con người sinh hoạt hàng ngày như: cốc, bát, ấm, lò, lọ, chum, vại… Theo lệ thường, sản phẩm ở lò quan bao giờ cũng được đầu tư kỹ thuật cao hơn ở lò dân.

Theo tài liệu của Đỗ Văn Ninh (Viện Khảo cổ) về việc khai quật khu lò nung gốm sứ ở Bút Tháp (Thuận Thành) cho thấy: Khu lò nung gốm sứ này gồm 4 lò với cấu trúc kiểu lò tương tự giống nhau. Toàn bộ lò nhìn bên ngoài có hình quả dưa, giữa phình rộng, hai đầu cụt. Kích thước đo được ở một lò có hình thức bề thế và to lớn hơn ba lò kia, cho thấy: chiều dài 3,35 mét, chiều rộng nhất gần 2 mét. Như thế, quy mô của lò nung thời đó nhỏ gọn.

Điểm đáng chú ý là các lò gốm, hầu hết dùng nhiên liệu đốt bằng tre, gỗ; nhiên liệu than chưa dùng vào thời kỳ này. Qua đây, nó thể hiện tiêu chuẩn kỹ thuật nung thời đó và ý thức tự lực tự cường nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương rất cao.

Phần khác, thấy rằng, cấu trúc lò rất đơn giản và sáng tạo; thợ đắp lò thời xưa chỉ dùng đất sét mà đắp chứ chưa phải dùng tới gạch chịu lửa để cuốn bầu lò và thân lò. Trong khi đó, ở Trung Quốc, lò sứ gốm thời Đường không lớn lắm (thường dài 3 mét, rộng 2 mét), vậy mà đã phải dùng tới gạch chịu lửa để xây cửa đốt và xây ống khói.

Cũng theo tài liệu về khảo cổ học năm 1975 của Trần Đình Luyện (Sở Văn hóa Bắc Ninh) cho chúng ta biết thêm về khu lò nung gốm, gạch ở Đông Yên thuộc phần đất Bắc Ninh, nằm bên bờ sông Ngũ Huyện vào thời Lê Mạt. Cấu trúc của lò có khác kiểu lò ở Bút Tháp. Đó là lò gốm hình tròn, có đường kính 1,2 mét, tường lò đắp đất có lẫn mảnh sành gạnh nhỏ, dầy 1 mét, chân tường choãi, bên trên thu nhỏ dần theo kiểu vòm cuốn. Bầu lò được tạo hình phễu, đắp liền với tường lò, cũng bằng đất với bề dầy xấp xỉ 0,2 mét.

Qua khảo cứu, lò gốm ở Đông Yên có phần tiến bộ hơn ở Bút Tháp. Song cứ dọc tuyến tiến triển của các lò gốm qua các thời đại, ta thấy, cho tới đầu thế kỷ XX này, các lò nung mới được cải tiến một bước lớn. Đó là chuyển hình thức từ đun lò con cóc sang hình thức đun lò rộng nhiều bầu. Chuyển dần thể thức đun tre gỗ sang đun than và đun dầu. Đó là những bước tiến xa và khẳng định sức sống bất hủ của kỹ nghệ gốm thủ công.

Ngày nay, với kiểu lò gốm hiện đại, người ta đã thiết kế kiểu lò vòng liên hoàn. Đó là một hình thức của lò gạch tiên tiến. Người ta chỉ việc nhóm lò một lần, và ngọn lửa lò cứ cháy truyền từ bầu lò này sang bầu lò kia, ngọn lửa ấy cứ cháy mãi cho tới ngày lò hỏng. Những cải tiến văn minh đó, là khởi nguồn từ chiếc lò gốm cổ thô sơ thuở xưa…

Men gốm thời Lý – Trần

Thời Lý – Trần: từ thế kỷ 10 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam. Thời kỳ phục hồi độc lập dân tộc sau hơn mười thế kỷ đô hộ của phong kiến Trung Hoa. Suốt bốn thế kỷ, từ nhà Lý sang nhà Trần, đồ gốm đạt được những thành tựu rực rỡ. Quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm, chất liệu… đều được mở rộng. Nhiều loại men được ứng dụng và ổn định về công nghệ. Đặc biệt men trắng cũng xuất hiện ở thời kỳ này ngoài men tro và men đất. Ba yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm là hình dáng, hoa văn trang trí, men màu. Sự phát triển của kỹ thuật và trình độ thẩm mỹ cao đã tạo nên sản phẩm gốm thời kỳ này có những loại nổi tiếng là gốm men trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men ngọc, gốm hoa lam.

gốm men trắng thời Lý

gốm men trắng thời Lý

Bát gốm men trắng, thế kỷ 11-13, nghệ thuật gốm thời Lý.

Bát gốm men trắng, thế kỷ 11-13, nghệ thuật gốm thời Lý.

Về tạo dáng gốm Lý – Trần ngoài những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa, quả là cách tạo dáng của những đồ đồng trước đó. Trang trí trên gốm Lý – Trần, hoa văn hình học chiếm vị trí phụ. Những hoạ tiết chính ở đây là hoa lá, chim, thú, người. Hoa văn trang trí với cách miêu tả giản dị, mộc mạc rất gần gũi với thiên nhiên và con người Việt Nam. Một đặc điểm nữa là nét chìm được làm “bè” ra, một bên rõ cạnh, một bên biến dần vào sản phẩm, làm chỗ chảy dồn men, tạo nên độ đậm nhạt cho hoạ tiết như trên gốm men ngọc hoặc làm giới hạn để tô nâu.

Thời Lý – Trần là thời thịnh vượng của kỹ nghệ gốm. Vì thế, men gốm thời Lý – Trần phong phú là điều tất yếu.

Trước thời kỳ này, một số đồ gốm ở dạng gốm mộc, không phủ men mà được bao ngoài một lớp áo gốm, khâu phủ áo gốm không phải nơi nào cũng làm, nhưng Thổ Hà và Phù Lãng đều có dùng tới áo gốm. Áo gốm là một dung dịch tổng hợp giữa đất và chay, với công thức 4 đất 1 chay. Đất là gốm, giã nhỏ, sàng lọc cẩn thận. Còn chay là một thứ đá có lẫn gỉ sắt ở ngay địa phương. Chay cũng phải giã nhỏ, sàng lọc kỹ càng. Có hai thứ đất và chay rồi, trộn lẫn, pha nước, hòa tan thành một dung dịch. Tất cả các đồ gốm trước khi đem nung được nhúng vào dung dịch này, tạo ra một lớp áo gốm. Nếu cứ thế đem nung lên, là có gốm đẹp rồi. Hoặc giả, muốn phủ men ngoài thì ta phủ men lên lớp áo gốm.

Hãy làm quen với ba loại men gốm tiêu biểu thời Lý – Trần. Đó là gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm hoa lam.

Gốm men ngọc (celadon): Khi đã có xương gốm tốt, người ta phủ ngoài một lớp men dày màu xanh mát, trong bóng như thuỷ tinh, do đó mới gọi là gốm men ngọc. Đồ gốm men ngọc ở ta rất giá trị, được trong và ngoài nước ưa chuộng. Người ta thường sánh gốm men ngọc của ta với đồ gốm Long Tuyền thời Tống của Trung Quốc.

menmanhngoc_ly

Đĩa men ngọc trang trí văn in hoa cúc dây, thời Lý

Gốm men ngọc thời Lý thường tạo xương gốm mỏng, thanh. Tới thời Trần, thì phần xương gốm chắc, dầy hơn. Hoa văn trang trí trên gốm, đa phần là hình tượng hoa sen cách điệu. Ngoài ra còn một số đề tài khác, như trang trí hoa thảo và các hoa dây chạy quanh bình gốm. Có ba hình thức trang trí trên đồ gốm: hoa khắc, hoa in và hoa đắp. Hoa in chìm hoặc đắp nổi thì dùng khuôn, còn hoa khắc thì đùng mũi dao đầu nhọn hoặc một đầu thanh tre vẽ lên xương gốm khi đất còn mềm. Khắc hoa rồi đem nhúng vào men, men đọng lại và tạo ra các hình hoa văn trang trí rất đẹp. Bên cạnh các đồ gốm men ngọc cầu kỳ và tinh xảo đó, người thợ thủ công còn sản xuất một số đồ gốm đại trà, có khi để mộc, có khi phủ lớp men mỏng màu vàng, màu nâu, hoặc màu da lươn mà xỉn màu và ít bóng. Loại gốm này để sử dụng thông dụng và ngay khi nung, người ta nung từng chồng cao.

Thời Lý, đồ gốm hầu như không viết chữ. Tới thời Trần, ta thường thấy dưới trôn các loại đồ gốm có hàng chữ mầu nâu “Thiên Trường phủ chế”.

Đĩa đài men xanh ngọc thời Trần

Đĩa đài men xanh ngọc thời Trần

Trong cuốn Gốm Việt Nam, họa sĩ Trần Khánh Chương đã viết: “Trong lòng đĩa bát thời Lý ta thường gặp những đồ án mà bố cục chung cố tình không đều đặn… hoa văn có khi được in bằng khuôn in nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Phủ lên toàn bộ sản phẩm là một lớp men xanh mát, có độ trong như ngọc mà người ta thường gọi là men ngọc hay men Đông thanh. Qua lớp men trong, tuỳ nét khắc to hay nhỏ, nông hay sâu mà hoa văn hiện lên với độ đậm nhạt khác nhau, khi ẩn, khi hiện, kín đáo, trang nhã. Trên những bát đĩa thuộc loại này, hoa văn có khi được in bằng khuôn in, nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Đây hẳn là loại sản phẩm “cao cấp”, có lẽ là đồ gốm gia dụng của tầng lớp quý tộc. Chiếc bát gốm men ngọc vẽ rồng này chắc chắn là đồ thuộc tầng lớp đại quý tộc vương công. Thời Trần nhiều vương gia có dinh phủ, có quân đội riêng. Hình rồng này ta có thể thấy được sự tiếp nối của thời Lê sơ trong một bát hoa lam vẽ rồng phát hiện ở thành cổ khu A TK XV. Lối họa tiết in nổi ta cũng tìm thấy trong Hoàng thành một nắp hộp đồ gốm men xanh lục (vert glazed) thuộc dòng gốm có mầu sắc men quyến rũ, hoa văn trang trí đẹp, các đề tài hoa lá, trong đó những đồ tinh xảo trang trí rồng tìm thấy trong Hoàng thành hố A9MR là một tiêu bản tư liệu đặc sắc. Chiếc bát gốm miệng rộng hình lá sen men ngọc này được làm từ đất sét trắng. Khi cầm lên có cảm giác dầy dặn, xương đất được lọc kỹ, với mầu men xanh lục có độ thủy tinh trong nên độ bóng khá cao, nhìn dịu mắt, mát tay. Xương gốm chạm khắc rồng tinh tế được phủ men dày nên hoa văn có chiều sâu lung linh. Bát men ngọc trang trí rồng thuộc TK XIII, XIV này còn nguyên vẹn hiếm thấy, đạt tới những tiêu chuẩn điển hình trong gốm sứ, dáng hình thanh nhã, họa tiết khoáng đạt, tinh tế, rồng mây uyển nhã, lớp men của loại đất đá ô xít cô ban nhiều, tinh khiết nên đạt được sắc độ xanh trong, mát nhẹ nổi tiếng một thời và là tiêu bản quý hiếm.

Gốm hoa nâu: Đó là loại gốm đàn, kiểu dáng to, chắc chắn, cốt gốm dầy và thô. Bên ngoài có phủ lớp men trắng ngà hoặc vàng nhạt. Gốm hoa nâu xuất hiện vào cuối thời Lý đầu thời Trần.

Hình thức trang trí hoa văn trên gốm hoa nâu thường là hoa dây chạy viền quanh miệng đồ gốm. Đặc biệt, hầu hết các sườn gốm hoa nâu có đắp nổi hình hoa thảo, chim cò, thú bốn chân, hoặc tôm cá… rất sinh động. Các hình rồng trang trí ở gốm hoa nâu thời Trần có khác thời Lý. Đó là mình rồng khỏe mập, uốn khúc thoải mái, khác hẳn con rồng thời Lý thân hình thanh mảnh và uốn khúc gò bó.

Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14

Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14

Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 - 14

Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 - 14

Gốm hoa lam: là tên một hoại gốm phủ men trắng đục vẽ trang trí màu lam.

Để có màu men đẹp, điều cần thiết phải có cốt xương gốm tốt. Xem ra, thông thường thì xương gốm là đất sét có pha cát. Nếu gốm cổ, lại pha cả một số tạp chất khác như rơm, rạ, trấu hoặc lá cỏ dại để tăng độ liên kết.

KhanhHoaThuyNga tổng hợp

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

MỘT SỐ HỌA TIẾT HOA SEN TIÊU BIỂU TRONG NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TRUYỀN THỐNG THỜI LÝ- TRẦN

Ở Việt Nam, đề tài hoa sen xuất hiện khá sớm trong nghệ thuật tạo hình. Hầu như ở thời nào đề tài này cũng có trong các đồ án trang trí nơi thờ tự hoặc ở các công trình văn hoá cộng đồng. Họa tiết hoa sen được khai thác, thể hiện dưới nhiều bố cục khác nhau góp phần tạo nên sự đa dạng, đẹp đẽ và cao quý cho các đồ án trang trí. Nó xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử mỹ thuật ở những công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. Trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ xin đưa ra một vài nhận xét mang tính nghiên cứu của mình về hoạ tiết hoa sen trong Mỹ thuật Việt thuộc giai đoạn đầu của thời độc lập quân chủ Lý – Trần.

1. Họa tiết hoa sen ở bệ đỡ chân cột để bảo vệ chân cột gỗ khỏi bị ẩm thấp và chống mối mọt ở các chùa cổ Việt Nam.

Thời Lý hoa sen được bố cục các cánh thành một vòng tròn theo kiểu nhìn chính diện từ trên xuống. Hoa bao gồm 16 cánh chính và 16 cánh phụ ở dưới. Đáng chú ý nữa là lòng của các cánh sen thời Lý được chạm thêm đôi rồng dâng chầu ngọc quý. Nét chạm tỉ mỉ tinh tế, tôn vẻ cao quý của cánh sen. Các nghệ nhân đã trang trí các cánh sen viền quanh, tạo cảm giác như toàn bộ ngôi chùa được dựng trên các đoá hoa sen.


Tác giả bên bệ đỡ chân cột thời Lý ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc - Thanh Hoá

Tác giả bên bệ đỡ chân cột thời Lý ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc - Thanh Hoá


Họa tiết hoa sen đỡ chân cột thời Trần có nhiều trên các tảng đá kê chân cột như ở thời Lý. Số lượng cánh và bố cục giống thời Lý. Nhưng các họa tiết trong lòng các cánh sen thời Lý thường có các hình rồng, còn thời Trần thì hoàn toàn không có. Người thợ chạm bệ đá thời Trần thường chỉ đục thêm một đường gờ chìm viền theo các cánh sen

2. Họa tiết hoa sen đỡ các vật thiêng

Thời Lý họa tiết này thường đỡ chân chim phượng, trong các đồ án phượng múa ở các thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng hoặc phượng chầu ở trán bia chùa Diên Phúc (Hưng Yên). Các vật thiêng có hình lá đề trong các đồ án về dàn nhạc các tiên nữ, và rồng chầu ở chùa Phật Tích và chùa Chương Sơn v.v…Họa tiết này được thể hiện theo lối nhìn nghiêng, tức là hoa sen được bổ dọc nên tạo thành một đài sen dẹt, gồm hai lớp với nhiều cánh, xuất phát từ giữa và choãi đần dần ra hai bên. Lớp trên thể hiện các cánh mới nở ôm lấy đài gương khuất ở trong. Lớp dưới là các cánh sen đã tàn, đổ dài ra hai bên.


Hoa sen đỡ chân Phượng, Chùa Bà Tấm, Gia lâm - Hà Nội

Hoa sen đỡ chân Phượng, Chùa Bà Tấm, Gia lâm - Hà Nội


Sang thời Trần họa tiết này vẫn được các nghệ nhân vận dụng để trang trí làm bệ đỡ cho các vật thiêng như thời Lý như đồ án trán bia chùa Tổng, hoặc đỡ ngọc báu đang toả sáng hình lá đề trong đồ án ở chùa Thái Lạc, chùa Dâu ( phỏng theo Lục tự chú Phật giáo: Úm Ma Ni Bát Mê Hum). Trên các chân cột trốn của vì nóc, vì kèo chùa Thái Lạc cũng thấy có chạm đài sen đỡ phía dưới. Nói chung nó vẫn giữ bố cục kiểu có từ thời Lý. Nghĩa là vẫn hai lớp cánh sen được dàn mỏng theo hai hướng trên dưới chạy dài từ giữa ra hai phía. Bởi vậy các nhà nghiên cứu quen gọi loai này là “cánh sen dẹo”.


Sen cánh “dẹo”, Bệ tháp Phổ Minh - Nam Định

Sen cánh “dẹo”, Bệ tháp Phổ Minh - Nam Định


3. Họa tiết hoa sen kết hợp hoa cúc của thời Lý mà nay còn thấy ở hai di tích chùa Long Đọi và tháp Chương Sơn .. Sắp xếp thay đổi cứ một hoa sen lại đến một hoa cúc trong những vòng tròn của hoa dây. Những vòng tròn này gần như tiếp tuyến nhau và chỗ gặp nhau là hình các thiên thần nhỏ bé đang trong động tác múa hoặc nhào lộn. Đồ án này cách điệu khá cao và có bố cục rất đẹp.

Đến thời Trần, họa tiết hoa sen được cách điệu thành hoa dây lúc thì thành băng dài chạy phía dưới đôi rồng đang trịnh trọng dâng chầu ngọc báu lúc lại uốn lượn phía trên các tầng mây, nơi có hình các tiên nữ đầu người mình chim đang vừa múa vừa dâng hoa cho Phật. Họa tiết này được bố cục từ một sợi dây được uốn lượn thành sóng hình sin và giữa các quãng trống người ta lại thể hiện một bông hoa sen cách điệu cao. Các cánh sen thể hiện như những dấu ngoắc, từng đôi đăng đối nhau, theo lối nhìn nghiêng, đơn giản và rành mạch. Mỗi bông hoa chỉ có 6 cánh sen và một chút nhuỵ hương.

Loại họa tiết này ở thời Trần còn lại nhiều ở các di tích: Bệ tháp Phổ Minh, Bệ chùa Dương Liễu, chùa Côn Sơn, chùa Nhạn Tháp, chùa Ngọc Khánh, Bằng đất nung chùa Hang, chùa Thái Lạc.

4. Họa tiết hoa sen quanh các bệ tượng Phật.

Các bệ tượng Phật của thời Lý – Trần đều chạm thành những đài sen lớn.. Cánh sen ở đây có 2 hoặc 3 lớp, xen kẽ nhau, thể hiện thành những khối nổi, không còn là họa tiết nữa.. Họa tiết ở đây là các cánh sen được chạm nối tiếp nhau vòng quanh bệ. Trong lòng các cánh sen thường chạm thêm những hình hoa lửa. Sang thời Trần thì sự tinh xảo của kỹ thuật đục chạm giảm đi thay vào đó là cách diễn tả khối chắc khỏe, những cánh sen chen khít nhau dăng thành hàng dài theo chiều hơi xen chéo.


Bệ tượng Tam thế Phật ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc-Thanh Hoá

Bệ tượng Tam thế Phật ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc-Thanh Hoá


5. Hoa tiết hoa sen trên đồ gốm Lý –Trần

Họa tiết hoa sen trên men ngọc thời Lý được thể hiện bố cục theo lối nhìn nghiêng mặt trong của lòng bát (Bảo tàng Lịch sử Hà Nội). Cuống hoa quay vào tâm vòng tròn của lòng bát. Cứ một bông hoa sen lại một bông hoa cúc. Chúng được bố cục hoàn toàn độc lập với nhau. Tổng cộng mô típ có 3 hoa sen và 3 hoa cúc. Sen ở đây là nhiều cánh chưa nở, quây kín lấy gương sen và hai cánh ngoài cùng nở rộng ra 2 phía. Họa tiết sen ở đây được bố cục theo sự cân xứng,đăng đối từng hoa và toàn bộ đồ án và được khắc chìm vào xương đất, sau đó tráng men để đem nung. Đây cũng là đặc trưng kỹ thuật đồ gốm men ngọc thời Lý.


Bát men ngọc có hoạ tiết hoa sen, Bảo tàng lịch sử –Hà Nội

Bát men ngọc có hoạ tiết hoa sen, Bảo tàng lịch sử –Hà Nội


Họa tiết hoa sen trên gốm hoa nâu thời Trần thường được chia thành ô hoặc thành băng để trang trí. Họa tiết ở đây cũng được dùng bút vẽ lên xương đất sau khi đã tráng men và kẻ vạch rồi mới đem nung. Đề tài trang trí gồm nhiều loại mà trong đó họa tiết hoa sen chiếm số lượng lớn. Họa tiết hoa sen ở đây có loại đơn giản chỉ vẽ vạch mấy nét mà thành. Tuy nhiên phần lớn ở đây là loại hoa sen được vẽ theo lối nhìn nghiêng… Từ một cuống hoa ở dưới vươn lên rồi tiếp đến là các cánh hoa đổ ra hai phía bọc quanh một đài gương ở giữa. Hai cánh trên cùng đang ôm lấy gương sen, hai cánh tiếp đã nở vươn rộng ra hai bên và hai cánh dưới cùng thì đã đổ xuống phía dưới sắp tàn héo. Đơn giản như vậy nhưng vì các cánh sen ở đây không gò bó trong một khuôn mẫu đăng đối nào nên trông rất sinh động. Khi nhìn nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Mỗi ô một hoa, mỗi hoa một kiểu dáng, thường đứng riêng lẻ một mình hoặc kết hợp với một vài cây cỏ và búp sen. Đặc biệt có đồ án trên một thạp gốm thuộc Bảo tàng Hải Dương, nghệ nhân còn vẽ thêm nhiều búp sen và lá sen. Lá sen ở đây có nhiều kiểu dáng. Có lá bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống thành cả mảng tròn to thấy rõ cả chi tiết các gân lá. Có lá bố cục theo kiểu nhìn nghiêng viền của lá uốn lượng sóng. Có lá toàn bộ đã uốn cong xuống phía dưới báo hiệu sắp héo tàn… trông sinh động và hấp dẫn bởi bút pháp có xu hướng trở về hiện thực.


Bình gốm hoa nâu, trưng bày tại bảo tàng Lịch sử – Hà Nội.

Bình gốm hoa nâu, trưng bày tại bảo tàng Lịch sử – Hà Nội.


HỌA TIẾT HOA SEN TRUYỀN THỐNG LƯU GIỮ SẮC HƯƠNG CHO NGÀY HÔM NAY

Họa tiết hoa sen xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử dân tộc trên những công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. Chúng lưu giữ sắc hương giá trị dân tộc cho ngày hôm nay và mai sau.

Hoa sen trong trang trí mỹ thuật thời Lý. Đây là thời kỳ thái bình thịnh trị. Khi đó, Phật giáo phát triển, chùa Phật được xây dựng rất nhiều. Chính vì vậy họa tiết hoa sen được ứng dụng làm mô típ trang trí rất nhiều. Có những kiến trúc hình bông hoa sen như chùa Một Cột. Hoa sen được sử dụng ở những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa võng và các đồ mỹ nghệ truyền thống. Với sự tinh tế trong bố cục, khéo léo trong kỹ thuật. giản dị trong thể hiện nhưng lại rất “bác học” trong sự lựa chọn đề tài. Tất cả những điều đó đã tạo nên một mỹ thuật thời Lý đánh dấu cho đỉnh cao trong lịch sử mỹ thuật nước nhà. Trong vườn hoa đó họa tiết hoa sen đã khoe sắc như một sự kết tinh giữa nghệ thuật và tâm thức của người Việt

Hoa sen trong trang trí mỹ thuật thời Trần được kế thừa những thành tựu của thời Lý nhưng chúng lại có những đặc điểm riêng biệt, độc đáo đánh dấu tính chất thời đại. Đó là phong cách hiện thực sinh động hơn, mạnh mẽ hơn được ảnh hưởng từ niềm vui, tinh thần tự hào dân tộc với ba lần đánh tan giặc Mông Nguyên. Tô đậm thêm trang sử vẻ vang và sức mạnh của dân tộc bằng ngôn ngữ tạo hình.

Họa tiết trang trí trong mỹ thuật truyền thống Việt không chỉ nhằm mục đích đơn thuần để trang trí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó mà chúng là sự kết tinh những tầng bậc ý nghĩa “muôn đời” của dân tộc. Chúng gắn với cuộc sống thường ngày của con người trong việc ứng xử với cái đẹp. Chúng là những “chữ viết” chân thực về lịch sử, xã hội, là lời nhắn nhủ đầy tính mỹ triết của tổ tiên, là tiếng nói của tâm hồn, là ý niệm của cuộc sống, là khát vọng của muôn người, muôn đời…Vì thế, tiếp cận với họa tiết trong mỹ thuật là tiếp cận một khía cạnh cốt lõi về bản sắc văn hoá Việt Nam.

Cung cấp cho sinh viên tư liệu về các đồ án trang trí của hoa sen vì họa tiết này khá điển hình trong kho tàng vốn cổ của dân tộc. Qua đó, các em được biết thêm phương pháp nghiên cứu ở bài chép vốn cổ dân tộc và áp dụng vào các bài học trang trí như : trang trí bìa sách, truyện tranh, truyện lịch sử, Tranh cổ động, Bản trích, vẽ biểu trưng, tranh tường, v.v.

ThS Triệu Thế Hùng

Khoa QLVH-NT

Trường ĐH SP Nghệ Thuật Trung Ương


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Trần Lâm Biền, Một con đường tiếp cận lịch sử . Nxb Văn hóa dân tộc, 2003.

[2]. Nguyễn Du Chi, Hoa văn Việt Nam, NXB Mỹ thuật, 2002.

[3]. Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam , Viện NT – Bộ văn hóa, 1975.

[4]. Thích Chân Quang, Lotus – ý nghĩa của hoa sen. NXB Tôn giáo 2004.

[5]. Thích Thanh Từ, Bát nhã ba la mật đa tâm kinh. NXB Tôn giáo, 1999.


MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »