Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy 2nd, 2009

Phụ nữ trong bộ tranh sơn dầu ” Tử Cấm Thành” của Khương Quốc Phương

姜国芳《紫禁城系列》油画

Câu truyện cuộc đời của Jiang Guo Fang ( Khương Quốc Phương) không phải luôn dễ dàng. Từ một khởi nguồn khiêm tốn ở một làng nhỏ tỉnh Giang Tây, Ông phải tranh đấu với cuộc sống qua cuộc Cách Mạng Văn Hóa, trải qua các nghề như chăn nuôi heo, thợ sửa ống nước và công nhân xí nghiệp trong khi tiếp tục tham gia các khóa đào tạo về nghệ thuật. 1974 học tại Viện Nghệ Thuật trung ương, một trường đào tạo uy tín tại Bắc Kinh và sau đó 8 năm đã xứng đáng giành được sự chấp thuận của Schoeni Art Gallery dành cho ông cuộc triển lãm tác phẩm độc lập đầu tiên. Ngày nay Jiang Guo Fang  là một trong những người đứng đầu trong lĩnh vực của mình . Tranh của ông thường xuyên bị sao chép và bày bán tại các chợ dành cho người du lịch, như tại Stanley và Peak. Mặc dù hành động này cùa các họa sĩ vẽ tranh sao chép là không được khuyến khích nhưng đó chính là điển hình rất hay về sự nổi tiếng của tranh ông.

Mời độc giả thưởng lãm tranh: ( click trên hình để xem ảnh lớn hoặc download về)

Jiang Guo Fang’s biography

1951 Born April 27, Shangjiang Village, Jiangxi Province.

1964 Attended the Art Group, sponsored by the municipal children’s palace.

1966 Cultural Revolution began. Studied painting at home.

1967 Studied sketching and colour use under the guidance of Hong Shutong, his first tutor.

1968 Joined the army. Successively worked as a warehouse man, swine breeder and secretary.

1970 Demobilised in April. Began working in the Nanchang Postal Vehicle Factory, first as a warehouse man, then carpenter, pipe fitter and publicity department store employee. Tookpart in the gigantic painting of Chairman Mao at the city square.

1972 Involved in artistic activities organised by the city government. Works shown in municipal and provincial exhibitions.

1974 Enrolled in the Oil Painting Department at the Central Academy of Fine Arts.

1975 Painted at Nankou Railway Locomotive Factory and at an army camp in Henan.

1977 Returned to the Central Academy as a tutor.

1978 Appointed to the faculty of the Oil Painting Department of the Central Academy of Fine Arts shortly after graduation in April.

1979 Transferred to teach in the Art Department at the Central Institute of Drama.

1980 Selected for the exhibition held by the Chinese Artist’s Association at the China Art Gallery, Beijing.

1982 Painting Time was exhibited in an exhibition held by the Biejing Artist’s Association.

1984 Painting Ancient Fortress was exhibited at the Sixth National Art Exhibition; further studied in the Oil Painting

Workshop at the Central Academy of Fine Arts.

1986 Painting Lama shown in the First National Oil Painting Exhibition sponsored by the Chinese Artist’s Association, Beijing.

1988 Organised and exhibited paintings in The Ten-Men Art Show held at the Chinese Art Gallery, Beijing.

1990 Exhibited thirteen paintings in Works by Jiang Guo Fang and Li Yanzhou, an exhibition held in the Oriental Oil Painting Gallery, Beijing. Painting Homeland received a prize in the International Art Exhibition by Young Artists, Muscat, Oman; Painting Ancient Pass shown in the First National Oil Landscapes Exhibition sponsored by the Chinese Artist’s Association.

1991 Completed painting Memorial to the Throne as part of the Forbidden City Series; Work shown in the First Invitational Exhibition of Oils held in the Beijing International Art Gallery, under the sponsorship of the gallery’s artistic foundation; painting Palace Entrance shown in the First Annual National Oil Painting Show, sponsored by the Chinese Artist’s Association, Beijing.

1992 Painting Court Lady was exhibited in the First Chinese Oil Paintings Exhibitions, Hong Kong Convention and

Exhibition Centre, Hong Kong; painting Homeland exhibited inModern Chinese Master Work, Hong Kong; painting Lady was sold in Long Bao Zhai’s auction, Hong Kong; began association with Schoeni Art Gallery, Hong Kong.

1993 Painting Concubine exhibited in Inaugural Exhibition, Schoeni Art Gallery, Hong Kong; participated in Contemporaiy Chinese Oil Painting Exhibition, Schoeni Art Gallery, Hong Kong; participated in Summer Oil Painting Show, Schoeni Art Gallery, Hong Kong; organised the Exhibition of the Realism School, Chinese Art Gallery, Beijing; paintings Palace Entrance and Dream, exhibited by Schoeni Art Gallery at Tresor d’Art, World Trade Centre, Singapore; paintings Enchanted Evening and Little Emperor exhibited by Schoeni Art Gallery at Art Asia ’93, Hong Kong Convention and Exhibition Centre,Hong Kong.

1994 Painting Dawn in Images of Women, Schoeni Art Gallery, Hong Kong; first one-man show in Hong Kong Jiang Guo Fang. The Forbidden City, Schoeni Art Gallery, Hong Kong; Jiang Guo Fang: the Forbidden City published by Schoeni Art Gallery, Hong Kong; painting Son of Heaven exhibited in Art Asia ’94, Hong Kong Convention and Exhibition Centre, Hong Kong.

1995 Painting Meditation exhibited in Images of Women II, Schoeni Art Gallery, Hong Kong; painting Yang Yang exhibited in Vision of China: Contemporary Paintings by Chinese Masters, Pacific City Club, Bangkok, Thailand; Contemporary Chinese Oil Painting Exhibition, from Realism to Post-Modernism, Galerie Theoremes, Brussels, Belgium; Art Asia ’95, Hong Kong Convention and Exhibition Centre, Hong Kong; Taipei Art Fair (TAF),Taipei World Trade Centre, Taipei, Taiwan

1996 Winter Exhibition, Schoeni Art Gallery, Hong Kong

1996 Inaugural Exhibition, Schoeni Art Gallery, Hong Kong.

——————————————————————————

Tranh nude của Khương Quốc Phương:

001

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Hình tượng con người trong điêu khắc kiến trúc đình làng Việt thế kỷ XVII

large_hinh tuong cn trong dk dd1481348

Cuối thế kỷ XVII là giai đoạn phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc kiến trúc đình làng Việt và nhiều ngôi đình nổi tiếng xuất hiện trong giai đoạn này như: đình So, đình Chu Quyến (Hà Tây), đình Kiền Bái (Hải Phòng), đình Diềm (Bắc Ninh ) .

Hiện chưa có một thống kê đầy đủ về số lượng những ngôi đình thế kỷ XVII, nhưng có thể khẳng định chúng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong loại hình đình làng Việt, tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ và rất nhiều trong số đó còn bảo lưu được các giá trị về mặt kiến trúc, nghệ thuật.

Đi liền với những công trình kiến trúc công cộng làng xã là sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc dân gian, góp phần tạo nên giá trị độc đáo của kiến trúc đình làng thế kỷ XVII. Trong điêu khắc trang trí trên kiến trúc đình làng giai đoạn này, hình tượng con người nổi lên như một hình ảnh trung tâm, một điểm nhấn độc đáo(1).

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (1)

hinh tuong con nguoi trong dieu khac

Điêu khắc gỗ tại đình Hà Hiệp – Hà Tây

Nghệ thuật đã phát triển lên một trình độ mới, thể hiện ý thức về cuộc sống tinh thần của người dân đương thời. Hình tượng con người không những phong phú về chủ đề, ý tưởng mà còn đa dạng về thủ pháp nghệ thuật diễn đạt và chiếm một vị trí trang trọng trong đình. Có thể chia theo hai nội dung chính:

– Hình tượng con người mang yếu tố thần thoại, ước lệ được thể hiện ở những mảng trạm khắc theo các chủ đề: “Vũ nữ thiên thần” “người cưỡi rồng, phượng, hạc”, “táng mả Hàm Rồng” “Người cưỡi hổ”

– Với hình tượng con người phản ánh cuộc sống xã hội đương thời được thể hiện ở cảnh”Đấu vật”, “uống rượu”; “đánh cờ”; “mẹ con”; “cưỡi ngựa”, “chọi gà, lễ hội”, “nam nữ tình tự”, “thiếu nữ tắm hồ sen”, “chèo thuyền”, “đi săn”.

Với hình tượng con người mang yếu tố thần thoại nổi bật với những hình tượng vũ nữ thiên thần có cánh và không có cánh.Tượng vũ nữ ở vị trí ván gió cánh gà thường chạm chính diện với khuôn mặt trái xoan , mũi thấp , môi mỏng , cổ cao thanh tú , đôi khi thể hiện rõ cả 3 ngấn (Đình Diềm – Bắc Ninh). Có khi tượng vũ nữ lại có những đặc điểm chung là ngực nở bụng thon , cánh tay dài với những ngón tay búp măng mềm mại.

Bên cạnh đó còn rất nhiều hình tượng con người khác như những đạo sĩ ngồi bó gối trầm tư (đình Hạ Hiệp), người bắt lợn (đình Hạ Hiệp, đình Hương Canh…), chồng nụ, chồng hoa, thôn nữ ngồi trên đầu rồng, đá cầu (đình Hạ Hiệp, đình Hương Canh), cưỡi ngựa, cưỡi voi, quản tượng… Với hàng trăm con người đã vẽ lên bức tranh làng quê xưa: có điều thiện và tội ác, có hạnh phúc và khổ đau, có nụ cười và nước mắt, có khát vọng, lạc quan và bi luỵ, đau thương… Tuỳ từng đề tài mà cách diễn đạt, mô tả, nhấn mạnh từng đặc điểm khác nhau. Đạo sĩ thường có khuôn mặt đăm chiêu (đình Hạ Hiệp), cảnh đấu vật, đi săn.. thì nhấn mạnh các bắp thịt cuồn cuộn của nhân vật chính (đình Hạ Hiệp, Đại Phùng, Hoàng Xá), cảnh nam nữ tình tự, cảnh thiếu nữ… lại chú ý diễn tả khuôn mặt vui vẻ, viên mãn; các cô gái được diễn tả với khuôn ngực căng tròn, đầy sức sống (đình Phù Lão); Người nông dân thường có đặc điểm: đầu tròn, to, cạo trọc; đàn bà thường có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, để tóc dài, xoã hoặc búi thành búi lớn trên đỉnh. Nói chung hình ảnh con người đa phần đều mang những nét cơ bản của người bản địa, thuộc chủng tộc Nam á, với những đặc điểm: người thấp, đậm, mặt tròn, mũi to, sống mũi thấp, môi dày, mắt to… Cũng có một vài mảng chạm người đàn ông có vóc dáng khá cao lớn, mũi cao, và đặc biệt dựa vào trang phục (áo dài, chân đi ủng, đầu đội mũ phớt rộng vành…), có thể đó là những người phương Tây đến nước ta buôn bán trong giai đoạn này; Những bức chạm mô tả người đàn ông trong các cảnh đấu vật, đi săn, táng mả hàm rồng… thường có thân hình vạm vỡ, ngực nở, đôi khi các cơ bắp được phóng đại lên quá mức. Nhìn chung, hình tượng con người trong điêu khắc kiến trúc đình làng thế kỷ XVII thường có tỷ lệ giữa đầu và thân mang tính ước lệ, chỉ bằng 1/3.

Một đóng góp quan trọng của điêu khắc đình làng là sự phản ánh cuộc sống hiện thực của nông thôn Việt Nam thế kỷ XVII. Hoàn cảnh kinh tế xã hội lúc đó không chỉ có sự thay đổi về vật chất mà còn mang lại những trào lưu tư tưởng mới. Chính vì thế, khi ngọn lửa của cuộc nội chiến vừa tắt, thôn xóm mới trở lại yên bình, người dân đã bắt tay xây dựng đình, chùa. Người nghệ sĩ dân gian đã thể hiện cách nhìn lãng mạn của họ về một thế giới đang hồi sinh: cảnh náo nhiệt của hội làng, phút giây đoàn tụ chồng vợ, cuộc hò hẹn của bạn tình, sự nồng nàn của ái ân, nụ cười không tắt của cuộc rượu, phút thư nhàn của buổi săn… tất cả đều tươi mát tình nhân ái, tính nhân văn. Song, cái chất lãng mạn của điêu khắc đình làng không mang tính dung tục, thấp hèn. Có rất nhiều cảnh tình tự không hề khơi dậy cảm giác xác thịt mà chỉ thể hiện tình yêu và cái đẹp cùng ý thức phản kháng mãnh liệt của con người đương thời.

Có thể thấy qua những bức chạm của đình làng Việt thế kỷ XVII rất nhiều mặt của đời sống xã hội: trong lao động – cảnh đi săn thú, trong sinh hoạt – vợ chồng gãi chân cho nhau, đá cầu, đấu khiên, hát chèo, nam nữ tự tình, uống rượu… Ngoài ra còn khá nhiều bức chạm mô tả về tầng lớp quan lại: cảnh người hầu quạt cho quan, cảnh quan cưỡi ngựa, cảnh cướp con, đòi nợ và đặc biệt là cảnh phạt vạ gái chửa hoang ở sân đình (đình làng Phù Lão)… Tính hiện thực thể hiện ngay trong từng chi tiết: Khẩu súng kíp, đao, kiếm, cung của thế kỷ XVII; Y phục của con người thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội đương thời: (váy, mũ miện, hạt cườm của phụ nữ; áo dài, ủng, mũ phớt của đàn ông…); Những nhạc cụ cổ xưa (kèn, sáo, trống, thanh la…) hay các trò chơi dân gian (đấu vật, chọi gà, đá cầu…) vv… Đó là những tư liệu phong phú, sống động cho các ngành khoa học như: Dân tộc học, Văn hoá dân gian, Lịch sử quân sự…

Thông qua tính hiện thực của đề tài, điêu khắc trang trí đình làng Việt thế kỷ XVII còn thể hiện tính đấu tranh sâu sắc. Dưới chế độ phụ quyền Nho giáo, người phụ nữ bị khinh miệt, coi rẻ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “phụ nhân nan hoá”)…. Vì vậy, người phụ nữ không được tới đình làng. Vậy nhưng điêu khắc đình làng lại dày đặc hình ảnh người phụ nữ. Họ tự do thể hiện tình yêu với chồng, với con, với bạn bè; tự do vui đùa, ca hát… Có thể nói, không ở một công trình kiến trúc dân gian nào khát vọng yêu đương lại được bộc lộ mạnh mẽ như ở đình làng Việt.

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (3)

Điêu khắc gỗ tại đình Phù Lưu – Bắc Ninh

Bên cạnh chủ đề ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, một phần nội dung nghệ thuật đã trở thành tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến đương thời. Đó là cảnh những tên quan bụng phệ ngồi trên sập có thê thiếp hầu quạt. Cảnh phạt vạ của làng với một cô gái đang bụng mang dạ chửa (đình Phù Lão). Đây chính là những lời tố cáo đanh thép.

Tóm lại, dù phản ánh hiện thực cuộc sống hay phản ánh ước mơ, khát vọng của người nông dân đương thời thì những tác phẩm điêu khắc trang trí đó vẫn mang đậm tính dân gian, dân dã. Người thợ chạm khắc gỗ thế kỷ XVII đã tự vượt ra khỏi khuôn khổ gò bó để tạo nên những tác phẩm sinh động, cởi mở. Chỉ với vài nét đục, vài đường chạm sơ phác nhưng những tác phẩm điêu khắc đó đã trở nên có hồn, vô cùng sống động. Hơn thế nữa các đề tài thể hiện lại vô cùng phong phú, cho thấy đời sống và sinh hoạt của người dân rõ ràng đã có ảnh hưởng đến nghệ thuật trang trí kiến trúc và ngược lại, kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc lại là tấm gương phản ánh cuộc sống của người xưa.

Ghi chú:

1. Thực tế sang thế kỷ 18 ta vẫn gặp một số đình làng mô tả hình tượng con người trên điêu khắc kiến trúc (đình Hồi Quan – Bắc Ninh, đình Hoành Sơn – Nghệ An…).

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (6)

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (4)

Theo kientrucvietnam

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Nhà rường cổ Việt nam

large_nharuongco-daidien824283

Sách chữ Pháp của Giáo sư Sử học Lê Văn Hảo do UNESCO ấn hành có lý giải, nhà cổ Việt gọi là nhà rường, vì trong 24 chi tiết kết cấu làm nhà như cột kèo rui mèn đòn tay, con sẻ thì quan trọng nhất là hai thanh rường gọi là “bụng heo và rường cụt”, nên gọi nhà rường.

nharuongco1 nharuongco

Đã có sự lầm tưởng nhà cổ Việt là theo mẫu mực nhà Trung Quốc, thật ra nhà cổ Việt rất khác với nhà trên đất xây cột lợp lá với cả ba nước châu Á là Trung- Nhật-Hàn.

Một ngôi nhà rường của thường dân Việt Nam tuy chỉ bằng gỗ tre, phên đất nhưng luôn hội đủ ba tiêu chuẩn: “vững chắc- durable, tiện nghi- comfortable và dung hòa- hamonieux”.

Cái khác của nhà rường Việt so với Trung Quốc, theo phân tích của tự điển bách khoa thế giới, thì có bốn điểm cụ thể: nhà rường cổ Việt dốc mái thẳng, dùng đòn bẩy kê đỡ mái hiên, cột to phình ở phần dưới và chạm trổ nhiều. Trung Quốc thì mái dốc võng xuống, đỡ mái hiên bằng hệ con xơn, cột thanh mã, tròn đầu và không chạm trổ mà sơn màu lòe loẹt.

Tuy vậy, mẫu nhà tổng quát cũng có ảnh hưởng từ mái nhà Trung Quốc. Sau này, văn minh phương Tây du nhập, vẫn là nhà rường cổ, nhưng cũng đã có pha chế ít nhiều, nhất là dân ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng là nhà rường nhiều cột, nhưng cột không chôn mà lót tảng đá kê, gọi là cột kê thay cho nhà rường, nhà cột kê tuy cũng lợp tranh lá nhưng có cách điệu thêm balcon và trổ rất nhiều cửa sổ.

Nói là nhà rường cổ nhưng chưa thật cổ vì từ thời Lý-Trần văn minh nhất của Đại Việt, thì mọi dấu tích nhà cửa đều bị chiến tranh dài năm tháng tiêu hủy hết, chỉ còn lại vài nền chùa cũ, nhà rường cổ chỉ tìm thấy từ thời hậu Lê trở về sau. Sau đây là một nếp nhà rường cổ tiêu biểu có gần 200 tuổi còn khả dụng. Đó là nhà rường cổ giữa đại ngàn, thuộc làng Lộc Yên- Quảng Nam. Chủ nhân là cụ Nguyễn Huỳnh Anh, thân tộc với cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Nhà nằm giữa lưng chừng đồi, phải lên 73 bậc đá xanh. Nhà gồm ba gian hai chái, tám cột nhứt gỗ mít, 16 cột nhì và 12 cột hiên, các chi tiết xuyên trính đầu hồi đều chạm trổ công phu do thợ mộc Vân Hà nổi tiếng thực hiện sau ba năm. Phên vách dùng nang tre nứa đan mắt cáo rồi tô trát bằng vôi mật, gọi là “ciment Việt Nam”. Ngôi nhà trở thành tiêu biểu, nên dù xa xôi vẫn có nhiều du khách viếng thăm.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »