Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy, 2009

Tượng Phật thời Nguyễn ở Huế

Bức tượng Bồ Tát Chuẩn Đề kiểu dáng mập, khuôn mặt đầy đặn tròn trịa và rất hiền.

Bức tượng Bồ Tát Chuẩn Đề kiểu dáng mập, khuôn mặt đầy đặn tròn trịa và rất hiền.

Trong di sản văn hoá và nghệ thuật truyền thống của Phật giáo Việt Nam, điêu khắc tượng thờ có một lịch sư, phát triển liên tục và cô đúc, phản ánh sinh động đời sống tâm linh tín ngưỡng của nhiều thế hệ người dân Việt.

Thống nhất…

Nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân, xây dựng kinh thành Huế và dựng chùa thờ Phật vỗ an dân chúng, nghệ thuật điêu khắc tượng Phật giáo cũng theo đó mà được nâng cao. Buổi đầu còn có vẻ đơn điệu về kiểu dáng và cứng nhắc về quy phạm. Nhưng kể từ khi Vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802, ông đã cho trùng tu, xây dựng một loạt những ngôi chùa từ Nam chí Bắc.

Từ đó hàng trăm pho tượng cũng được làm mới. Các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… nối tiếp, cải tiến về chất liệu nhưng nhìn chung vẫn thống nhất về hình mẫu. Từ kích thước gần nguyên mẫu rập khuôn có khi dẫn đến sự cảm nhận rất thiếu sinh khí, nhưng tính chủ đạo vẫn cho thấy một sự trung thành với đường lối vỗ an dân chúng theo chủ trương chính trị dân gian hoá “cư Nho mộ Thích”.

H2-152
Bức tượng Quán Thế Âm người ta còn trang trí thêm bảo cái có rồng chầu phía sau tượng.

Nếu so sánh với dòng tượng Phật giáo ở Việt Nam với các thời đại khác nhau trước và sau nhà Nguyễn thì tượng Phật giáo thời Nguyễn đã có một sự thống nhất về mặt hình thể, khuôn mặt và cách xử lý tượng đa chiều.

Những bức tượng Phật đều tập trung chủ yếu vào tính chất đặc tả theo chiều hướng dân gian gần gũi hơn là đức tin thuần tuý. Hầu hết các bức tượng Phật đều có thân hình, nét mặt và kiểu dáng rất “hồn nhiên”. Một sự cố ý mang tính triết lý hơn là điêu khắc, đồng thời kiểu tượng có nhiều nét hồn nhiên và ngây thơ của nét mặt trẻ em cũng cho thấy ý đồ của nghệ nhân và chủ nhân muốn nói lên một sự trong sáng, gần gũi trong mỗi bức tượng Phật.

Độc đáo những bức tượng Bồ Tát và Thánh Tăng

Những bức tượng Bồ Tát mà điển hình nhất là Bồ Tát Quán Thế Âm dưới thời Nguyễn hiện còn ở Huế cũng rất đặc trưng, đa số đều ở tư thế tượng ngồi thoải mái, nhẹ nhàng mềm mại trên đài sen và bệ bằng gỗ được chạm khắc và sơn son thếp vàng rất đẹp.

Tượng thể hiện một sự an lạc và vô sự trong đời sống của con người. Rất đặc biệt, nhiều bức tượng Quán Thế Âm người ta còn trang trí thêm bảo cái có rồng chầu phía sau tượng. Những bức tượng Bồ Tát Chuẩn Đề kiểu dáng mập, khuôn mặt đầy đặn tròn trịa và rất hiền, có nhiều nếp áo nhăn chạy từ trên xuống dưới trong tư thế ngồi kiết già nên càng tăng thêm phần mềm mại cho bức tượng.

H1-152
Những bức tượng Phật có thân hình và nét mặt “hồn nhiên”.

Những bức tượng Thánh Tăng dưới thời Nguyễn còn lại rất ít tại Huế, đặc biệt đôi tượng Thánh Tăng A Nan – Ca Diếp tại một ngôi chùa ở huyện Quảng Điền mà chúng tôi có quan sát được rất lạ. Tượng nhỏ, lùn và rất đơn giản, ít đường nét, ở tư thế đứng trên một bệ có chạm khắc hoa văn thô, trong y phục dài, hai tay chắp hình búp sen. Tỉ lệ tượng không cân đối nhưng nhìn thì lại rất “dễ thương” và an lạc. Bộ tượng La Hán đang thờ ở Quốc tự Thánh Duyên cũng có đường nét lạ, tượng ở tư thế ngồi thoải mái, nét mặt hồn nhiên vô tư mà không “đăm chiêu” như thường thấy.

Ngoài tượng Phật, Bồ Tát và Thánh Tăng ra, ở Huế còn có nhiều bức tượng khác như Thập Điện Minh Vương tượng Hộ Pháp… dưới thời Nguyễn cũng rất đặc trưng. Tượng Thập Điện là độc đáo hơn cả, tính chất dân gian trong thể loại tượng này là rất cao. Cả bộ (10 pho) nên sự cộng hưởng, nét tương quan đắp đổi qua lại giữa các pho tượng đã làm nên sự phong phú trong kiểu dáng, đường nét và hình tượng.

Một điều đặc biệt là hầu hết các pho tượng Phật giáo thời Nguyễn thường ít có nét tôn nghiêm nặng tính tôn giáo kinh điển; đồng thời cũng rất ít pho tượng mà người ta ghi lại niên đại, tên tuổi người chú hoặc nghệ nhân tạc pho tượng.

Trên thực tế và những tài liệu sách vở còn lại, tượng Phật giáo thời nhà Nguyễn còn lại ở Huế không thể không khiến chúng ta liên tưởng đến lòng tin (niềm tin tôn giáo) và trình độ dân trí dưới thời nhà Nguyễn là ở mức độ phổ thông, dân gian hoá, gần gũi với đại chúng làm nông nghiệp thời bấy giờ.

Tượng thì to, nhưng vẻ sinh động nghệ thuật thì rất hạn chế, đó là dấu hiệu cuối cùng của một giai đoạn nghệ thuật điêu khắc tượng Phật giáo cổ nhưng đang được bảo quản rải rác ở Huế không phải là nhiều và đang có dấu hiệu mất dần…

 

Trí Năng – Hoàng Văn Minh
Advertisements

Read Full Post »

Sự tích tóm lược 18 La Hán

 

vườn La Hán tại một ngôi đền ở Cali

vườn La Hán tại một ngôi đền ở Cali

 

1. La Hán Ba Tiêu

2. La Hán Bố Đại

3. La Hán Cử Bát

4. La Hán Hàng Long

5. La Hán Khai Tâm

6. La Hán Kháng Môn

7. La Hán Khánh Hỷ

8. La Hán Khoái Nhĩ

9. La Hán Kỵ Tượng

10. La Hán Phục Hổ

11. La Hán Quá Giang

12. La Hán Thác Tháp

13. La Hán Thám Thủ

14. La Hán Tiếu Sư

15. La Hán Tĩnh Tọa

16. La Hán Tọa Lộc

17. La Hán Trầm Tư

18. La Hán Trường Mi

1. La Hán Ba Tiêu

Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.

Có lần, đức Phật hàng phục con yêu long trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đức của Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.

Theo lời phó chúc của đức Phật, Tôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.

Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

2. La Hán Bố Đại

Tên của Ngài là Nhân-yết-đà 因羯陀 Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người, Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.

Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.

La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

3. La Hán Cử Bát

Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà 迦諾迦跋釐墮蛇 (Kanakabharadvāja). Ngài là vị Đại đệ tử được đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.

Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp, Tôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.

Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trú tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi Phật Niết-bàn vài trăm năm, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượng từ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-da-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giả chứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói:

– Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau.

Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.

Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu.

4. La Hán Hàng Long

Ngài tên là Nan-đề-mật-đa-la 難提密多 (Nandimitra), Trung Hoa dịch Khánh Hữu, ra đời sau Phật diệt độ 800 năm, cư trú tại nước Sư Tử.

Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đại, đạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìm, Tôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long. Khi Ngài sắp thị tịch, mọi người buồn thương lo sợ vì thế gian sẽ không còn bậc La-hán. Ngài cho biết có 16 vị La-hán vâng lệnh Phật lưu trụ cõi Ta-bà để ủng hộ Phật pháp. Lời dạy của Ngài được ghi chép lại thành bộ “Pháp Trụ Ký”. Nói “Pháp Trụ Ký” xong, tôn giả Khánh Hữu bay lên không trung hóa hiện vô số thần biến, rồi dùng chơn hỏa tam-muội thiêu thân. Xá-lợi ngũ sắc rơi xuống như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về tôn thờ cúng dường.

Tuy đã thiêu thân, nhưng Tôn giả không rời nước Sư Tử, Ngài bay về động đá trên núi để tọa thiền. Thời gian thoáng chốc đã hơn 400 năm, khi Tôn giả xuất định Ngài ôm bát xuống núi khất thực thì thấy phong cảnh đã đổi khác. Ngài nhẫm tính lại và khám phá ra mình đã tọa thiền hơn 400 năm bèn bật cười ha hả. Sau đó Ngài thường xuất hiện khắp nơi, khi thì trì bát, lúc thì giảng kinh… Mọi người vẫn còn tin rằng Ngài vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng 16 vị La-hán kia tiếp tục hoằng hóa.

* Dị bản: Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la là vị La-hán thứ 17, do mọi người tưởng nhớ công ơn ngài nói ra Pháp Trụ Ký.

5. La Hán Khai Tâm

Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộ tâm Phật. Ngài tên là Thú-bác-ca 戍博迦 (Jivaka). Thú-bác-ca vốn là một Bà-la-môn nổi danh, nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Thú-bác-ca không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút. Thú-bác-ca tìm một cây thang dài rồi leo lên thang đo lại, kết quả cũng vậy. Đo đến mười mấy lần, không còn cây thang nào dài hơn mà thân Phật vẫn cao hơn. Lúc này ông thiệt tình khâm phục và xin quy y làm đệ tử.

Sau khi xuất gia, trải qua bảy năm khổ hạnh, Ngài chứng quả A-la-hán. Vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo, Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói:

– Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây.

Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng Lâm. Quần chúng Phật tử kéo đến chiêm bái chứng tích mầu nhiệm của cây gậy đo Phật. Nơi đây rừng núi khô cằn hoang dã, thiếu nước uống nghiêm trọng, tôn giả Thú-bác-ca liền vận thần thông biến ra hai suối nước một nóng, một lạnh để mọi người tha hồ sử dụng. Hai suối này nằm cách mười dặm về phía Tây Nam của Trượng Lâm. Dân chúng vùng này mãi nhớ ơn đức của Tôn giả.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài Thú-bác-ca là vị La-hán thứ  chín, thường cùng 900 vị La-hán trụ trong núi Hương Túy.

6. La Hán Kháng Môn

Tên của Ngài là Chú-trà-bán-thác-ca, hay Châu-lợi-bàn-đặc 周利槃特 (Cullapatka). Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Vì không thông minh như anh nên khi xuất gia Ngài không tiếp thu được Phật pháp, kể cả xếp chân ngồi thiền cũng không xong. Về sau được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác với cây chổi trên tay. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.

Một hôm đại thần Kỳ-bà thành Vương Xá thỉnh Phật và các vị A-la-hán đến nhà thọ trai. Tôn giả Bán-thác-ca không biết em mình đã chứng quả nên không phát thẻ tham dự. Đến khi chuẩn bị thọ trai, Phật bảo Bán-thác-ca về tinh xá xem có sót người nào. Tôn giả về Trúc Lâm thì thấy cả ngàn vị Hòa thượng đang tọa thiền rải rác trong vườn. Ngạc nhiên và dùng thiên nhãn quán sát, mới vỡ lẽ ra đó là trò đùa của em mình, Tôn giả mừng rỡ xúc động, tán thán công phu của Châu-lợi-bàn-đặc.

Theo truyền thuyết, khi đi khất thực Tôn giả gõ cửa một nhà nọ và làm ngã cánh cửa cũ hư. Điều này cũng gây bối rối! Về sau, Phật trao cho Tôn giả một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa nhà người. Nếu chủ nhân muốn bố thí thì sẽ bước ra khi nghe tiếng chuông rung. Cây gậy gõ cửa trở thành biểu tượng của Tôn giả, và là hình ảnh quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả là vị La-hán thứ mười sáu, cùng với 1.600 vị A-la-hán thường trú tại núi Trì Trục.

7. La Hán Khánh Hỷ

Ngài tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha 迦諾 迦伐磋 (Kanakavatsa), còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện căn sâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.

Ngài thường đi du hóa khắp nơi với gương mặt tươi vui và dùng biện tài thuyết pháp để chiêu phục chúng sanh. Thấy mọi người thường vô ý tạo nhiều nghiệp ác hằng ngày, tương lai bị quả khổ địa ngục nên khi thuyết pháp Ngài thường xiển minh giáo lý nhân quả thiện ác, giúp chúng sanh phân biệt rõ ràng để sửa đổi. Một lần nọ đi ngang qua thôn trang, thấây một gia đình đang giết vô số trâu dê gà vịt để làm lễ mừng thọ. Ngài ghé lại, thuyết giảng một hồi về phương pháp chúc thọ, về cách mừng sinh nhật để được sống lâu hạnh phúc, đền đáp ơn sinh thành. Ngài dạy rằng, ngày sinh nhật là ngày khó khăn khổ nhọc của mẹ, nên phận làm con không được ăn uống vui chơi, trái lại nên tịnh tâm suy niệm ân đức cha mẹ, quyết chí tu tập thành tựu đạo nghiệp.

Bằng cách giảng dạy chân thật, Tôn giả suốt đời như ngọn hải đăng đem ánh sáng Phật pháp soi rọi nhân sinh.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ hai, thường cùng 500 vị La-hán trụ tại nước Ca-thấp-di-la (Kashmir).

8. La Hán Khoái Nhĩ

Ngài tên là Na-già-tê-na 那伽犀那 (Nāgasena) hay còn gọi là Na Tiên. Nāgasena theo tiếng Phạn nghĩa là đội quân của rồng và tượng trưng sức mạnh siêu nhiên. Ngài Na Tiên sinh trưởng ở miền Bắc Ấn là bậc La-hán nổi tiếng về tài biện luận. Đương thời của Ngài gặp lúc vua Di-lan-đà cai trị, nhà vua là người Hy Lạp vốn chuộng biện thuyết. Nghe tiếng tôn giả Na Tiên là bậc bác học đa văn nên nhà vua đích thân phỏng vấn. Cuộc vấn đạo giữa bậc đế vương và bậc Tỳ-kheo thoát tục đã để lại cho chúng ta một tác phẩm bất hủ “Kinh Na Tiên Tỳ Kheo”, mà cả hai tạng Nam truyền và Bắc truyền đều lưu giữ đến nay. Nhờ sự chỉ dạy của tôn giả Na Tiên mà cuối cùng vua Di-lan-đà trở thành vị quốc vương anh minh hết lòng ủng hộ Phật pháp.

Có chỗ nói ngài Na Tiên chuyên tu về nhĩ căn, tranh tượng của Ngài mô tả vị La-hán đang ngoáy tai một cách thú vị. Mọi âm thanh vào tai đều giúp cho tánh nghe hiển lộ, rất thường trụ và rất lợi ích. Từ nhĩ căn viên thông phát triển thiệt căn viên thông, trở lại dùng âm thanh thuyết pháp đưa người vào đạo, đó là ý nghĩa hình tượng của tôn giả Na Tiên.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài cũng là vị La-hán thứ mười hai, thường cùng 1.200 vị A-la-hán trụ trong núi Bán-độ-ba.

9. La Hán Kỵ Tượng

Tên của Ngài là Ca-lý-ca 迦哩迦 (Kalica), trước khi xuất gia làm nghề huấn luyện voi. Khi Tôn giả chứng quả A-la-hán, đức Phật bảo Ngài nên ở tại quê hương mình (Tích Lan) để ủng hộ Phật pháp.

Phật đến Tích Lan thuyết kinh Lăng Già, Tôn giả cũng là một trong số đệ tử đi theo. Đức Phật sắp rời đảo, vua Dạ-xoa cung thỉnh đức Phật để lại một kỷ niệm tại đảo để làm niềm tin cho hậu thế. Thế Tôn ấn dấu chân của mình trên một ngọn núi, nơi đó trở thành Phật Túc Sơn, và bảo tôn giả Ca-lý-ca gìn giữ thánh tích này. Phật Túc Sơn nổi tiếng khắp nơi, mọi người đua nhau chiêm lễ. Trải qua thời gian nó bị chìm vào quên lãng, con đường dẫn lên núi bị cỏ hoang phủ kín. Trong dịp vua Tích Lan là Đạt-mã-ni-a-ba-á bị kẻ địch rượt đuổi nên chạy trốn vào hang núi, Tôn giả hóa thành một con nai hoa rất đẹp dụ dẫn nhà vua lên núi để hiển lộ lại dấu chân Phật. Sau nhiều triều đại kế tiếp, Phật Túc Sơn lại không người viếng thăm. Tôn giả một phen nữa hóa thành thiếu nữ bẻ trộm hoa trong vườn của vua. Khi bị bắt, thiếu nữ chỉ tay lên ngọn núi phủ sương mờ, bảo rằng mình hái hoa cúng Phật ở trên ấy. Phật Túc Sơn từ đó khắc sâu hình ảnh trong lòng người, mỗi năm đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, quần chúng kéo nhau đi lễ bái thánh tích rầm rộ không ngớt.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Ca-lý-ca là vị La-hán thứ bảy, cùng với 1.000 vị A-la-hán luôn thường trụ tại Tăng Già Trà Châu (Tích Lan).

10. La Hán Phục Hổ

Tên của Ngài là Đạt-ma-đa-la 達磨多羅 (Dharmatrāta), người ở núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Thuở nhỏ Đạt-ma-đa-la đến chùa, rất thích chiêm ngưỡng hình tượng 16 vị La-hán thờ trong điện. Sư phụ cũng hay kể cho cậu bé nghe những chuyện thần kỳ của các vị La-hán, dần dần trong tánh linh trẻ thơ in đậm hình ảnh các Ngài, thậm chí khi ngủ cũng mơ thấy.

Một hôm trong khi đang chiêm lễ, Đạt-ma-đa-la bỗng thấy các hình tượng La-hán cử động, vị thì quơ tay, vị thì chớp mắt như người thật. Ngỡ mình hoa mắt, Đạt-ma-đa-la định thần nhìn kỹ lại, lần này thấy rõ hơn, một số vị còn cười tươi tắn. Từ đó Đạt-ma-đa-la càng thêm siêng năng lễ kỉnh, và ngày nào cũng được chứng kiến các kỳ tích cảm ứng. Đạt-ma-đa-la theo hỏi một vị La-hán cách tu tập để được trở thành La-hán. Ngài chỉ dạy cậu nên siêng năng tọa thiền, xem kinh, làm các việc thiện. Đạt-ma-đa-la phát tâm tu hành, thực hiện lời dạy của bậc La-hán nên chẳng bao lâu chứng quả.

Thành một A-la-hán thần thông tự tại, Ngài thường du hóa trong nhân gian, giảng kinh thuyết pháp, gặp tai nạn liền ra tay cứu giúp. Tôn giả ba lần thu phục một con hổ dữ đem nó về núi cho tu, đi đâu thì dẫn theo. Bên cạnh hình tượng Ngài người ta vẽ thêm một con hổ, Ngài thành danh La-hán Phục Hổ.

La-hán Hàng Long và La-hán Phục Hổ là hai vị được đưa thêm vào danh sách Thập Lục La-hán, để trở thành một truyền thuyết vĩnh viễn được tôn thờ.

11. La Hán Quá Giang

Tên của Ngài là Bạt-đà-la 跋陀羅 (Bhadra). Bạt-đà-la còn gọi là Hiền, vì mẹ Ngài hạ sanh Ngài dưới cây Bạt-đà, tức là cây Hiền.

Theo truyền thuyết, Tôn giả rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm từ một đến mười lần, và như vậy rất mất thời gian đồng thời trễ nải công việc. Chẳng hạn khi mọi người thọ trai, Ngài lại đi tắm, khi lên ăn thì cơm rau đã hết. Nhiều buổi tối, Ngài lén đi tắm khi mọi người đang tọa thiền. Thậm chí ngủ nửa đêm cũng thức dậy đi tắm, có khi một đêm tắm năm, sáu lần! Việc này đến tai đức Phật. Thế Tôn kêu Tôn giả đến bên, chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, nghĩa là ngoài việc tẩy rửa thân thể còn phải tẩy rửa cấu uế trong tâm, gột sạch các tham sân phiền não để cả thân tâm đều thanh tịnh.

Tiếp nhận lời Phật dạy, Tôn giả hành trì theo ý nghĩa đích thực của việc tắm rửa, siêng năng gột rửa tâm nên chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Từ đó tắm rửa là một pháp tu hữu dụng thiết thực mà Tôn giả thường khuyên dạy mọi người. Các tự viện Trung Hoa thường thờ hình tượng Ngài trong nhà tắm để nhắc nhở ý nghĩa phản tỉnh tư duy.

Tôn giả cũng thường dong thuyền đi hoằng hóa các quần đảo của miền đông Ấn Độ như Java, Jakarta… nên được mang tên La-hán Quá Giang.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ sáu, thường cùng 900 vị A-la-hán trụ tại Đam-một-la-châu.

12. La Hán Thác Tháp

Tên của Ngài là Tô-tần-đà 蘇頻陀 (Subinda). Thường ngày, Ngài tu tập rất tinh nghiêm, giúp người nhiệt tình nhưng ít thích nói chuyện. Tôn giả ít khi đi theo đức Phật ra ngoài, Ngài chỉ ở yên nơi tinh xá đọc sách hoặc quét sân. Có người phê bình cách nói chuyện của Ngài không hay, đức Phật biết được an ủi: “Này Tô-tần-đà! Nói chuyện hay hoặc dở không liên quan gì đến vấn đề giác ngộ. Mọi người chỉ cần y theo lời ta dạy mà thực hành, dù không nói câu nào cũng thành tựu sự giải thoát”.

Đúng thật là Tôn giả hiếm khi lãng phí thời gian vào việc tán gẫu, chỉ dành trọn thời gian tọa thiền nên chứng quả A-la-hán rất sớm.

Đương thời vua nước Án-đạt-la muốn xây dựng một tinh xá u tịch tại núi Hắc Phong, nhưng tìm không ra những tảng đá lớn. Tôn giả chỉ cần vận thần thông trong một đêm, mang đến vô số đá rất lớn từ bên kia sông Hằng. Quốc vương lại muốn tạo một pho tượng thật lớn bằng vàng tôn trí trong tinh xá nhưng kho lẫm quốc gia không đủ cung ứng. Tôn giả chỉ cần nhỏ vài giọt nước xuống mấy phiến đá, chúng đều biến thành vàng. Quốc vương vui mừng gọi thợ giỏi nhất, đến lấy vàng đúc tượng để nhân dân chiêm lễ.

Năm trăm năm sau Phật diệt độ, Tôn giả nhiều lần hiện thân tại nước Kiện-đà-la để giáo hóa. Hình tượng Ngài được tạo với bảo tháp thu nhỏ trên tay, tháp là nơi thờ xá-lợi Phật, giữ tháp bên mình là giữ mạng mạch Phật pháp, vì thế Ngài được gọi là La-hán Nâng Tháp.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài Tô-tần-đà là vị La-hán thứ tư, thường cùng 700 vị A-la-hán phần nhiều trụ ở Bắc Câu Lô Châu.

13. La Hán Thám Thủ

Hình tượng đưa hai tay lên rất sảng khoái của một vị La-hán sau cơn thiền định. Ngài tên là Bán-thác-ca? 半託迦 (Panthaka), Trung Hoa dịch: Đại lộ biên sanh. Ngài là anh của Châu-lợi-bàn-đặc. Tương truyền hai anh em đều sanh ở bên đường, khi mẫu thân trở về quê ngoại sinh nở theo phong tục Ấn Độ.

Bán-thác-ca lớn lên là một thanh niên trí thức, nhân mỗi khi theo ông ngoại đi nghe Phật thuyết pháp, bèn có ý định xuất gia. Được gia đình chấp thuận, Ngài gia nhập Tăng đoàn, trở thành một vị Tỳ-kheo tinh tấn dõng mãnh, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Nhớ đến em mình là Châu-lợi-bàn-đặc, Ngài trở về hướng dẫn em xuất gia. Rất tiếc, thời gian đầu thấy em mình quá dốt nên Ngài khuyên em hoàn tục. Đó cũng là vì tình thương và trách nhiệm nên Tôn giả đối xử như thế, hoàn toàn không phải giận ghét.

Về sau, khi Châu-lợi-bàn-đặc chứng Thánh quả, chính Tôn giả Bán-thác-ca là người mừng hơn ai hết. Cả hai anh em dẫn nhau về pháp đường, đại chúng cảm động tán thán ngợi khen. Đức Phật dạy: “Này Bán-thác-ca và Châu-lợi-bàn-đặc, khó ai được như hai anh em các ông, vừa cùng xuất gia học đạo, vừa tận trừ phiền não lậu hoặc, chứng quả A-la-hán. Sau này hai ông nên đồng tâm hiệp lực lưu lại nhân gian để hoằng dương Phật pháp”.

Hai tôn giả vâng lời Phật nên thường tùy hỷ hóa độ chúng sanh.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Bán-thác-ca là vị La-hán thứ mười, Ngài thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù-châu.

14. La Hán Tiếu Sư

Tên của Ngài là Phạt-xà-la-phất-đa-la 伐闍羅弗多羅 (Vajraputra). Tương truyền khi còn ở thế tục, Ngài làm nghề thợ săn, thể lực rất tráng kiện, một tay có thể nâng một con voi, hoặc nắm một con sư tử ném xa hơn 10 mét. Mỗi khi muông thú chạm mặt Ngài, chúng đều hoảng sợ lánh xa. Sau khi xuất gia, Ngài nỗ lực tu tập, chứng quả La-hán. Lại có một con sư tử thường quấn quýt bên Ngài, do đó Ngài được biệt hiệu La-hán Đùa Sư Tử.

Về phía Bắc tinh xá Trúc Lâm có ao Ca-lan-đà, nước trong mát có thể trị lành được nhiều bịnh, đức Phật vẫn thường đến đó thuyết pháp. Sau khi Phật diệt độ, nước ao bỗng cạn khô, ngoại đạo bèn phao tin rằng Phật pháp đã suy vi. Tôn giả Phạt-xà-la-phất-đa-la từ châu Bát-thích-noa bay đến, lấy tay chỉ xuống ao, lập tức nước đầy trở lại. Tôn giả bảo mọi người rằng:

– Nước ao cạn khô vì mọi người không có niềm tin kiên cố nơi Phật pháp. Nếu tất cả đều vâng lời Phật dạy, một lòng tín thọ phụng hành như khi Phật còn tại thế thì tôi bảo đảm nước trong ao sẽ không bao giờ cạn khô.

Mọi người nghe Tôn giả nói, ngưỡng vọng uy thần và nhiệt tâm hộ trì Phật pháp của Tôn giả nên phát khởi lòng tin Tam bảo. Từ đó nước ao luôn trong xanh và tràn đầy.

Qua câu chuyện trên chúng ta có thể thấy các bậc La-hán luôn ở tại nhân gian để xiển dương pháp Phật.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài là vị La-hán thứ 8, thường cùng 1.100 vị La-hán? trụ ở châu Bát-thích-noa.

15. La Hán Tĩnh Tọa

Tên của Ngài là Nặc-cù-la 諾矩羅 (Nakula). Trên vách hang thứ 76 của động Đôn Hoàng có vẽ hình tượng Ngài ngồi kiết già trên phiến đá. Theo truyền thuyết, Ngài thuộc giai cấp Sát-đế-lợi sức mạnh vô song, đời sống chỉ biết có chiến tranh chém giết. Khi theo Phật xuất gia, Ngài đạt quả A-la-hán trong tư thế tĩnh tọa.

Đương thời của Tôn giả, có ngoại đạo Uất-đầu-lam-tử, công phu thiền định cao, từng biện bác với hy vọng chinh phục Tôn giả theo pháp thuật của mình. Nhưng với niềm tin chân chánh, Tôn giả khẳng định rằng chỉ có công phu tọa thiền, quán chiếu bằng trí tuệ, sức nhẫn nhục bền bỉ, nghiêm trì tịnh giới mới đạt được định lực không thối chuyển. Pháp tu luyện ngoại đạo chỉ được định lực tạm thời, không thể an trú vĩnh viễn trong pháp giải thoát, khi gặp cảnh bên ngoài quấy nhiễu sẽ bị hủy hoại.

Sau này quả nhiên Uất-đầu-lam-tử thọ hưởng sự cúng dường nồng hậu của vua nước Ma-kiệt-đà, vì khởi vọng tâm mà toàn bộ công phu tiêu tán, sau khi chết lại rơi vào địa ngục. Tôn giả Nặc-cù-la dùng thiên nhãn thấy rõ điều ấy, một lần nữa cảnh giác với vua Ma-kiệt-đà:

– Đó chính là pháp tu không rốt ráo của ngoại đạo, những phiền não căn bản của con người chưa được diệt trừ hết.

Vua nghe Tôn giả giải thích mới hiểu được Phật pháp chân chánh đáng quý, phát khởi niềm tin nơi Tôn giả.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Nặc-cự-la được xếp vào vị trí La-hán thứ năm, Ngài thường cùng 800 vị A-la-hán trụ ở Nam Thiệm Bộ Châu.

16. La Hán Tọa Lộc

Ngài tên là Tân-đầu-lô-phả-la-đọa 賓頭盧頗羅墮 (Pindolabhāradvāja), xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần danh tiếng của vua Ưu Điền. Ngài thích xuất gia nên rời bỏ triều đình vào rừng núi nỗ lực tu tập, sau khi chứng Thánh quả cỡi hươu về triều khuyến hóa vua, nhân đó được tặng danh hiệu La-hán Cỡi Hươu.

Nhân một hôm Tôn giả dùng thần thông lấy cái bát quý treo trên cây trụ cao của một trưởng giả, bị Phật quở trách việc biểu diễn thần thông làm mọi người ngộ nhận mục đích tu học Phật pháp. Phật dạy Tôn giả phải vĩnh viễn lưu lại nhân gian để làm phước điền cho chúng sanh, vì thế trong các pháp hội Tôn giả thường làm bậc ứng cúng. Một lần ở thời Ngũ Đại, triều vua Ngô Việt thiết trai, có một Hòa thượng lạ, tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng bay đến ngồi vào chỗ dành cho khách quý mà ăn uống vui vẻ. Ăn xong Ngài tuyên bố Ngài là Tân-đầu-lô. Dưới thời vua A-dục và vua Lương Võ Đế, Ngài đích thân hiện đến giáo hóa, làm tăng trưởng lòng tin. Thời Đông Tấn ngài Đạo An là bậc cao tăng phiên dịch kinh điển thường lo buồn vì sợ chỗ dịch của mình sai sót. Ngài khấn nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ thần tích để chứng minh. Tối hôm đó Ngài nằm mộng thấy một vị Hòa thượng lông mày trắng nói:

– Ta là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy tư cách là một đại A-la-hán, ta bảo chứng những kinh điển ông dịch đều rất chính xác.

Tôn giả Tân-đầu-lô là một vị La-hán rất gần gũi nhân gian, Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ nhất, thường cùng 1.000 vị La-hán trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu.

17. La Hán Trầm Tư

Ngài chính là La-hầu-la 羅喉羅 (Rāhula). Sau khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo người, nỗ lực tu tập để chứng Thánh quả. Ngài luôn khiêm cung nhẫn nhục, không thích tranh cãi hơn thua, phòng của mình bị người chiếm ở, Ngài lẳng lặng dời vào nhà xí ngủ qua đêm. Đi khất thực bị bọn côn đồ ném đá trúng đầu chảy máu, Ngài lặng lẽ đến bờ suối rửa sạch rồi tự tay băng bó. Tín chủ cúng cho Ngài một tịnh thất, ít lâu sau đòi lại đem cúng người khác, Ngài cũng bình thản? dọn ra khỏi phòng.

Sau khi chứng quả A-la-hán, Ngài vẫn lặng lẽ tu tập. Đức Phật khen tặng Ngài là Mật hạnh đệ nhất và chọn Ngài vào trong số 16 La-hán lưu lại nhân gian. Với đức tánh lặng lẽ, Ngài được tặng danh hiệu La-hán Trầm Tư.

Sau Phật diệt độ, vua nước Câu-thi-na không tin Phật pháp, đập phá chùa viện, thiêu hủy kinh tượng, số người xuất gia giảm sút. Có một Hòa thượng ôm bát vào thành khất thực, nhưng cả thành chẳng ai để ý tới, khó khăn lắm Ngài mới gặp một gia đình tin Phật cúng cho bát cháo nóng. Hòa thượng hớp xong miếng cháo thở dài, thí chủ hỏi thăm thì được Hòa thượng kể lại thời Phật còn tại thế, Ngài cũng từng theo Phật đến đây khất thực, lúc ấy nhà nhà tranh nhau cúng dường, khác hẳn ngày nay. Hòa thượng tiết lộ thân thế mình chính là La-hầu-la, mấy trăm năm nay dốc lòng hoằng dương Phật pháp.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị la-hán thứ mười một, thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù châu.

18. La Hán Trường Mi

Tên của Ngài là A-thị-đa 阿氏多 (Ajita) thuộc dòng Bà-la-môn nước Xá-vệ. Theo truyền thuyết khi Ngài mới sanh ra đã có lông mày dài rủ xuống, điều báo hiệu kiếp trước Ngài là một nhà sư. Sau khi theo Phật xuất gia, Ngài phát triển thiền quán và chứng A-la-hán.

Ngài cũng là một trong những thị giả Phật, khi chứng quả xong vẫn thường du hóa trong dân gian. Một hôm đến nước Đạt-ma-tất-thiết-đế, nhân dân nước này không tin Phật pháp, chỉ thờ quỷ thần sông núi. Thái tử nước này bệnh nặng, vua cho mời danh y trị bệnh và thỉnh giáo các nhà tu ngoại đạo. Các vị ấy bảo: “Đại vương chớ lo, bệnh của Thái tử không cần uống thuốc cũng khỏi.” Khi gặp tôn giả A-thị-đa, vua hỏi thử thì Tôn giả bảo rằng bệnh không qua khỏi. Vua rất tức giận bỏ đi. Một tuần sau, Thái tử chết thật, vua tạm thời không tổ chức tang lễ, ngày hôm sau vua đi gặp tôn giả A-thị-đa, Ngài chia buồn với vua, còn khi vua gặp các ngoại đạo thì lại nghe chúc mừng Thái tử hết bệnh. Điều này chứng tỏ các ngoại đạo không có dự kiến đúng đắn. Nhà vua từ đó quy ngưỡng Phật pháp. Nhờ sự hoằng dương của Tôn giả mà Phật pháp hưng thịnh ở nước này.

Đã hơn 2.000 năm, nhưng tại Ấn Độ vẫn tin rằng tôn giả A-thị-đa còn đang trị bệnh cho người hay tọa thiền trên núi.

Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ mười lăm, thường cùng 1.500 A-la-hán trụ trong Linh Thứu Sơn.

Nguồn: THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU

(thientongvietnam.net)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tích và tượng 18 La Hán

18luohuan

(Sanskrit: Arhat; Hán: A La Hán), bậc thánh trong đạo Phật đã giác ngộ lí vô ngã (không có cái tôi) và vĩnh viễn giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. La Hán có ba nghĩa:

a) Bất sinh: vĩnh viễn vào cõi niết bàn, giải thoát khỏi vòng sinh tử, luân hồi, không còn phải tái sinh nữa, vĩnh viễn trở thành bất tử.

b) Ứng cúng: xứng đáng được hưởng thụ sự cúng dâng.

c) Sát tặc: trừ bỏ được ba độc: tham, sân, si.

Trong mĩ thuật, các vị LH thường được thể hiện dưới 3 dạng: tượng, phù điêu và tranh vẽ, để thờ ở các chùa. Ở chùa Việt Nam, các LH chỉ thể hiện ở hai dạng tượng và phù điêu, như LH ở chùa Trăm Gian (Quảng Nghi Tự), Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự), Chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự), 3 chùa này đều ở Hà Tây. Cách bài trí: tượng LH chia làm hai dãy, mỗi bên 9 vị ở hai bên tiền đường (Miền Trung và Miền Nam), hay ở hai nhà giải vũ (Miền Bắc). Tượng LH ở Miền Bắc thường trong tư thế ngồi trên loại bệ tự nhiên như tảng đá, mô đất, gốc cây. Tượng LH ở Miền Nam trong tư thế cưỡi trên lưng các con thú. Hình hài, động tác, nét mặt mỗi vị một vẻ rất sinh động và gần gũi với con người đời thường. Có chùa, như chùa Tây Phương (Sùng Phúc Tự), không bài trí tượng LH, mà thay vào đó là tượng 18 vị Tổ sư phái Thiền tông Tây Thiên nối tiếp nhau chủ trì, gìn giữ Phật pháp ở Ấn Độ sau Phật Thích Ca. Mười tám tượng này, kể từ vị Tổ thứ nhất Ca Diếp (Kacyapa) đến vị Tổ thứ 18 là Tăng già Da xá (Sainghayacas) là những pho tượng tổ rất sinh động, biểu lộ nội tâm của nhân vật, có giá trị thẩm mĩ cao.

La Hán "Phù điêu La Hán chùa Trăm Gian - Hà Tây"

La Hán "Phù điêu La Hán chùa Trăm Gian - Hà Tây"

Ở miền Nam, La Hán Đường Thiền Viện Thường Chiếu (Xã Phước Thái, Huyện Long Thành, Tỉnh Ðồng Nai), nơi thờ 18 vị La Hán đã được khánh thành vào tháng 1 năm 2006 (tức tháng chạp năm Ất Dậu). Ngôi nhà được kiến trúc theo phong cách Việt Nam. Nhà 9 gian bằng gỗ, mái ngói. Mái cong hài hoà, tạo cho ngôi nhà thật hùng tráng, uy nghi.

Tại miền bắc, đã có nhiều ngôi chùa thờ 18 vị La Hán chẳng hạn như chùa Tây Phương, chùa Dâu, … nhưng riêng tại miền Nam, có thể nói đây là nơi thờ 18 vị La hán đầu tiên. Tất cả những thiết kế mẫu mã hình tượng đều do Thiền viện thực hiện.

Gia đình và những người sưu tầm và chơi tượng gốm sứ có các nguồn cung cấp tượng 18 La Hán dạng đúc có phủ men hoặc phun gỉa đồng từ TQ hoặc các lò gốm Bát Tràng trong nước. Chúng tôi đã thấy tượng đúc 18 La Hán do Bát tràng sản xuất bán nguyên bộ để phật tử cúng dường cho các chùa hoặc bán riêng lẻ cho người sưu tầm, thờ cúng với kích thước khá lớn dạng phun sơn giả gỗ mun;  còn tượng do TQ sản xuất thì có kích thước linh động và quét men màu sắc hơn và tất nhiên giá cả có phần lợi thế cạnh tranh hơn. Dưới đây là hình minh họa 2 bộ tương 18 La Hán của TQ sx với mức độ tinh xảo khác nhau:

– Bộ tượng lấy trên mạng có chú thích tên thánh tăng:

 

Bộ tượng có bán tại VN ( hình do nick Hà Tiên Cô cung cấp):

100_0265 (Medium)

100_0267 (Medium)

100_0270 (Medium)

100_0273 (Medium)

100_0274 (Medium)

100_0276 (Medium)

100_0277 (Medium)

100_0279 (Medium)

100_0280 (Medium)

100_0281 (Medium)

100_0282 (Medium)

100_0284 (Medium)

100_0285 (Medium)

TÍCH 18 LA HÁN:

Sự tích 16 vị La-hán được chép trong sách Pháp Trụ Ký. Sách này do vị Đại A-la-hán Nan Đề Mật Đa La (Nandimitra) trước thuật và Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang (600-664) dịch ra chữ Hán.

Ngài Nan Đề Mật Đa La (còn có tên là Khánh Hữu) người Tích Lan, ra đời khoảng năm 800 năm sau Phật Niết bàn. Theo Pháp Trụ Ký (Fachu-chi), thì Ngài chỉ lược thuật lại kinh Pháp Trụ Ký do Phật thuyết giảng mà thôi. Sách này trình bày danh tánh, trú xứ và sứ mệnh của 16 vị La-hán.

au khi Pháp Trụ ký được dịch sang chữ Hán, Thiền sư Quán Hưu (832-912), vốn là một họa sĩ tài ba đã vẽ ra hình ảnh 16 vị A-la-hán. Tương truyền, nhân Thiền sư nằm mơ cảm ứng thấy được hình ảnh của các Ngài rồi vẽ lại. Những hình ảnh này ngày nay người ta còn tìm thấy tàng trữ nơi vách tường Thiên Phật động tại Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Sau Thiền sư Quán Hưu còn có hoạ sĩ Pháp Nguyện, Pháp Cảnh và Tăng Diệu cũng chuyên vẽ về các vị La-hán.

Vì sao 16 vị La-hán trở thành 18 vị?

Từ khi có hình ảnh 16 vị La-hán, các chùa thường tôn trí hình ảnh của các Ngài, và từ con số 16 người ta thêm tôn giả Khánh Hữu thành 17 và tôn giả Tân Đầu Lô thành 18 (nhưng không biết ai là tác giả đầu tiên của con số 18 này).

Thật ra tôn giả Khánh Hữu (tên dịch nghĩa ra chữ Hán) vốn là Nan Đề Mật Đa La (tên phiên âm từ chữ Phạn), người đã thuyết minh sách Pháp Trụ Ký; còn Tân Đầu Lô chính là Tân Đầu Lô Bạt La Đọa Xa2, vị La-hán thứ nhất trong 16 vị. Do khômg am tường kinh điển và không hiểu tiếng Phạn mà thành lầm lẫn như thế!

Về sau, Sa môn Giáp Phạm và Đại thi hào Tô Đông Pha (1036-1101) dựa vào con số 18 này mà làm ra 18 bài văn ca tụng. Mỗi bài đều có đề tên một vị La-hán. Rồi họa sĩ Trương Huyền lại dựa vào 18 bài văn ca tụng của Tô Thức mà tạc tượng 18 vị La-hán, nhưng lại thay hai vị 17 và 18 bằng tôn giả Ca Diếp và Quân Đề Bát Thán. Do thế mà từ con số 16 lần hồi trở thành con số 18. Từ đời Nguyên trở đi, tại Trung Quốc cũng như Việt Nam, con số 18 này được mọi người mặc nhiên chính thức công nhận, con số 16 chỉ còn lưu giữ trong sổ sách mà thôi. Nhưng, tại Tây Tạng, ngoài 16 vị trên, người ta thêm Đạt Ma Đa La và Bố Đại Hòa Thượng; hoặc thêm hai tôn giả Hoàng Long và Phục Hổ, hoặc thêm Ma Da Phu nhân và Di Lặc để thành ra 18 vị.

1. La Hán Ba Tiêu

2. La Hán Bố Đại

3. La Hán Cử Bát

4. La Hán Hàng Long

5. La Hán Khai Tâm

6. La Hán Kháng Môn

7. La Hán Khánh Hỷ

8. La Hán Khoái Nhĩ

9. La Hán Kỵ Tượng

10. La Hán Phục Hổ

11. La Hán Quá Giang

12. La Hán Thác Tháp

13. La Hán Thám Thủ

14. La Hán Tiếu Sư

15. La Hán Tĩnh Tọa

16. La Hán Tọa Lộc

17. La Hán Trầm Tư

18. La Hán Trường Mi

1. La Hán Ba Tiêu

Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.

Có lần, đức Phật hàng phục con yêu long trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đức của Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.

Theo lời phó chúc của đức Phật, Tôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.

Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

2. La Hán Bố Đại

Tên của Ngài là Nhân-yết-đà 因羯陀 Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người, Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.

Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.

La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

3. La Hán Cử Bát

Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà 迦諾迦跋釐墮蛇 (Kanakabharadvāja). Ngài là vị Đại đệ tử được đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.

Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp, Tôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.

Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trú tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi Phật Niết-bàn vài trăm năm, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượng từ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-da-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giả chứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói:

– Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau.

Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.

Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu.

Đăng đủ tích 18 La Hán thì bài viết quá dài , tải lâu do đó chúng tôi đăng qua bài ” sự tích tóm luợc 18 La Hán”

Nguồn trích đăng của bài viết: Bách khoa Toàn Thư VN, Thư Viện Hoa Sen, Thientongvietnam.net, buddhistelibrary.org

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

GỐM TRONG TRANG TRÍ NỘI THẤT

Những vật dụng bằng gốm ấy, dù đơn giản là thứ đồ dùng trong nhà hay những đồ trang trí nội thất làm đẹp thêm không gian của chủ nhân thì nó cũng đóng vai trò quan trọng và góp phần không nhỏ làm tăng giá trị cho không gian của bạn.

gốm

Khu vườn sinh động hơn với những sản phẩm gốm đẹp và lạ mắt

Gốm là một chất liệu hiện được sử dụng khá nhiều trong trang trí nhà cửa. Việc sắp đặt, bố trí bình gốm khá đơn giản, nhưng sẽ mang đến hiệu quả tốt về thẩm mỹ. Khi bài trí, cần lưu ý tới kích thước, chất liệu và chủng loại gốm.

Cách bài trí bình gốm thông dụng nhất là trang điểm cho không gian, chứ không phải là lấn át không gian. Nghĩa là căn phòng hay khu vực trưng bày bình gốm phải được “dọn” tương ứng và có mục đích để khi đưa bình gốm vào thì yếu tố thẩm mỹ và điểm nhấn được tăng lên. Bạn cũng cần căn cứ vào kích thước bình để chọn vị trí. Bình lớn nên đặt ở góc cầu thang, góc phòng. Loại trung bình có thể bố trí ở bàn góc salon, tủ lớn. Bình loại nhỏ bày trên kệ, bậu cửa sổ hay hốc âm tường. Chủ đề của bình gốm cũng cần được cân nhắc sao cho phù hợp với thời điểm mà gia chủ sắp đặt, ví dụ như dịp Lễ Tết, Giáng sinh hay sinh nhật đều nên khác nhau.

gốm02

Lựa chọn bình gốm trang trí theo thẩm mỹ để tạo điểm nhấn cho không gian nội thất

gốm01

Chất liệu bề mặt gốm cũng tùy thuộc phong cách nhà. Loại gốm đơn giản tự nhiên, men lì, gốm dân dã kiểu như chum vại thích hợp nhà nhiệt đới truyền thống. Nếu nhà có phong cách hiện đại trẻ trung thì bình gốm nên chọn loại phá cách, màu mạnh, dáng lạ. Có thể bài trí theo bộ hai ba chiếc thành cụm, hoặc dùng cùng tông như “anh em sinh đôi“. Bạn cũng không nên quá lạm dụng gốm trong trang trí nội thất vì nó sẽ biến nhà bạn thành “bảo tàng bất đắc dĩ”.

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

Những sai lầm cần tránh trong trang trí nội thất

living room decor

1. Sao chép máy móc các chi tiết của công trình khác (có diện tích gần giống với nhà mình) sẽ dẫn tới sự lai căng, pha tạp.

2. Muốn làm đẹp phải có nhiều tiền. Làm đẹp, tất nhiên phải tốn tiền, nhưng không tốn đến mức như bạn nghĩ. Hãy phân tích và tìm hiểu giá cả một số mặt hàng trên thị trường nội thất.

3. Thuê thiết kế tốn kém và không cần thiết. Thật ra, thiết kế không tốn tiền bởi vì thiết kế phí chỉ chiếm từ 3-5% tổng giá trị công trình. Khi có thiết kế tốt sẽ tiết kiệm được chi phí xây dựng, tiết kiệm không gian (có nhiều nhà rất nhỏ nhưng không gian lại rộng và ngược lại có nhiều nhà rộng mà không gian lại rất nhỏ hẹp)

4. Bảo thủ ý kiến. Rất nhiều chủ nhà không thèm nghe ý kiến của các kiến trúc sư. Họ cho rằng muốn đẹp thì phải thế này, phải thế kia mà không chịu chấp nhận các ý kiến khác. Hãy nhớ là bạn chỉ xây vài nhà thôi, còn kiến trúc sư, họ sống bằng nghề thiết kế.

5. Gỗ tốt, gỗ quí hiếm sẽ đem lại vẻ đẹp cho nội thất. Gỗ tốt chỉ đem lại độ bền sử dụng, muốn đẹp phải tạo sự hài hòa, phù hợp với không gian và các vật dụng khác.

6. Kiến thức làm đẹp nội thất thiếu cập nhật, bổ sung. Hãy mua sách, báo, tìm kiếm các bài viết hay trên internet nếu bạn thật sự muốn làm đẹp cho tổ ấm.

7. Chạy theo phong trào. Hẳn chúng ta vẫn còn nhớ về thời kỳ mà trên nóc nhà ai cũng có một con đại bàng đậu trên quả địa cầu. Hiện nay thì là các mảng tường giật cấp ở cầu thang, các lỗ tường nho nhỏ, chi chít như lỗ châu mai.

8. Sân vườn là phải có cây thế, có non bộ. Chỉ nên như thế nếu ngôi nhà của bạn mạng đậm nét Á đông. Một biệt thự phong cách “Tây” gần như không có chỗ cho non bộ kiểu Á đông.

9. To sụ, dữ dằn, hầm hố mới đẹp. Có nhiều phong cách thiết kế: có mảnh mai, nhẹ nhàng, cầu kỳ, đơn giản, chắc khỏe…Vấn đề chính yếu là với diện tích như thế thì bài trí như vậy có hợp lý hay không.

10. Phải dật cấp trần, phải ốp lát gạch gốm, đá chẻ, phải gắn đèn “mắt ếch”, phải sử dụng khối mạnh, phải dùng màu đặc biệt mới đep. Hãy biết cách dừng lại đúng lúc. Bài trí nội thất cũng tinh tế như nấu một món ăn vậy, không phải bạn thích món gì, sử dụng liều lượng bao nhiêu cũng được. Trang trí quá tay giống như bạn nêm quá nhiều muối vào món ăn .

11. Thiếu sự phối hợp giữa kiến trúc sư và thầy phong thủy. Rất nhiều phương án thiết kế hay không trở thành hiện thực vì thầy “phán”. Hãy cho người thiết kế biết các yêu cầu về phong thủy của mình hoặc để họ gặp gỡ trao đổi với thầy phong thủy. Tốt nhất, hãy kiếm một kiến trúc sư rành về phong thủy.

12. Không phân biệt được vẽ và thiết kế. Các bản vẽ xin phép xây dựng chính xác chỉ là bản vẽ bởi vì mới chỉ tạm thời phân chia công năng các phòng ốc mà chưa có sự nghiên cứu tỉ mỉ các thành phần kiến trúc và mối quan hệ giữa các thành phần kiến trúc đó.

Tóm lại: Nội thất nhà ở không nên dùng nhiều mảng tường ốp lát có màu sắc, hoa văn rối ren làm rối loạn trường nhìn và mất cân bằng về tâm lý thụ cảm. Nội thất nên lịch sự mà tránh xa xỉ, phải tiện nghi sang trọng nhưng tránh phô trương, đó cũng chính là văn hóa nội thất.

living room decor 01

living room decor 02

living room decor 03

living room decor 04

Nguồn: bepxinh_vn

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần cuối)

Roxanna Brown với anh trai Fred của bà tại Cafe 50 ở Santa Monica vào đầu tháng Ba. Anh trai bà kể lại rằng bà túng quẫn và lo lắng về một cuộc điều tra liên bang đối với những đồ vật bị cho là những cổ vật Thái Lan bị đánh cắp

Roxanna Brown với anh trai Fred của bà tại Cafe 50 ở Santa Monica vào đầu tháng Ba. Anh trai bà kể lại rằng bà túng quẫn và lo lắng về một cuộc điều tra liên bang đối với những đồ vật bị cho là những cổ vật Thái Lan bị đánh cắp

Từ một học giả về cổ vật trở thành một đối tượng chủ chốt

Fred Brown, anh trai Roxanna kể lại rằng: Roxanna đã rất túng quẫn và lo lắng.

Trong nhiều năm, Roxanna đã sống nhờ vào một khoản tiền lương khiêm tốn tại một ngôi làng ở ngoại ô Bangkok, bất chấp danh tiếng của mình như là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về gốm sứ Đông Nam Á. Giờ đây đã 61 tuổi, bà nói rằng bà không còn có thể chịu đựng nổi khoản 400 USD mỗi tháng mà bà đã và đang gửi cho người mẹ già 90 tuổi của mình.

Bà đã để chiếc vali vào khoang sau của xe và không biết chắc mình sẽ ngủ ở đâu trong đêm đó, nhưng vẫn nói với anh trai mình rằng bà vẫn sẽ tìm tách xoay xở. Điều giày vò tâm trí bà là một cuộc điều tra về buôn lậu liên bang đã được đưa lên trang nhất các báo ở Thái Lan và Mỹ.

Vào tháng Giêng, hàng trăm đặc vụ đã tiến hành những cuộc truy quét phối hợp đối với bốn viện bảo tàng ở miền Nam California và những nơi khác ở California và Illinois. Theo các lệnh lục soát liên bang được trình vào thời điểm đó, họ đang tìm kiếm bằng chứng về cái bị cáo buộc là một đường dây buôn lậu đưa những cổ vật Thái Lan bị đánh cắp vào Mỹ. Các nhà điều tra cho ràng một vài trong số những đồ vật đó đã được thẩm định để thổi phồng giá trị và hiến cho các viện bảo tàng để hưởng những khoản miễn thuế gian lận.

Vài năm trước đó bà Roxanna Brown đã giúp các nhà điều tra với tư cách là một chuyên gia tư vấn. Bà biết nhiều trong số những người có tên trong các bản khai này.

Đó là Robert Olson, được nêu trong các bản khai là “kẻ buôn lậu”;. Bà Brown nói đã nhìn thấy trong cửa hàng của hắn những xương tay người vẫn còn dính vào các vòng tay đồng cổ.

Đó là những người bạn của bà, Jonathan và Cari Markell, những tay buôn dồ cổ châu Á ở Los Angeles, những người bị cáo buộc nằm ở vị trí trung tâm của kế hoạch trốn thuế.

Và đó là những đồng nghiệp khác của bà tại các viện bảo tàng địa phương; một vài trong số họ đã làm ngơ trước những lần hiến tặng cổ vật bị cướp phá, theo các bản khai liên bang.

Không ai bị buộc tội gì, nhưng giờ đây các nhà điều tra đang cố gắng một lần nữa tiếp cận bà Brown – lần này là với những câu hỏi về các cuộc thẩm định thổi phồng giá trị có kèm theo chữ ký của bà.

Bà tâm sự với anh trai mình bằng bà đã cho phép vợ chồng Markell sử dụng chữ ký điện tử của bà trong cuộc cuộc thẩm định mà có thể đã bị thổi phồng giá trị. Rõ ràng là họ đã sử dụng nó trong những lần thẩm định khác, nhưng bà khăng khăng cho rằng mình không hề cho phép vào những lần đó..

Anh trai bà nhớ lại bà đã nói: “Fred, em không có tiền. Nếu em đang thực sự làm việc này, chẳng nhẽ em lại không có tiền sao? Em không biết tại sao họ cứ làm phiền em bằng những điều nhỏ nhặt như vậy. Nếu họ quấy rầy em, thế chẳng khác nào họ hủy hoại danh tiếng của em. Mà danh tiếng là tất cả những gì em có”.

Ngay sau đó, Brown rút ngắn chuyến đi của mình và bay trở về Thái Lan.

Tài liệu mang tên Roxanna

Những mẫu gốm sứ cuối cùng được Roxanna sưu tập - Nguồn: international.ucla.edu

Những mẫu gốm sứ cuối cùng được Roxanna sưu tập - Nguồn: international.ucla.edu

Khi các điều tra viên liên bang phân loại đống sổ sách lớn mà họ đã thu giữ được vào tháng Giêng, họ tình cờ phát hiện ra một tài liệu trong đống tài liệu thu giữ từ Olson.

Ngoài tài liệu đó chỉ đơn giản ghi: “Roxanna”.

Bên trong tài liệu có các danh sách đánh máy mà trong đó Brown mời chào bán cho Olson hàng chục chiếc vại Thái Lan và những cổ vật khác, theo một bản khai giấy lệnh lục soát được trình bào tháng Bảy.

Các điều tra viên giờ đây tin rằng vị chuyên gia một thời của họ là một phần trong cái âm mưu mà bà đã từng giúp họ tháo gỡ – rằng bà đã rao bán mọi đồ vật mà bà đã dành cả sự nghiệp của mình để bảo vệ.

Trong một tài liệu không đề ngày tháng, Brown đã chào bán cho Olson những vòng tay đồng cổ, những công cụ đồ đá thuộc Thời kỳ đồ đá mới và những đồ gốm sứ Thái Lan lấy từ “nhưng nơi chôn cất giáp biên giới với Miến Điện”, theo các bản sao tập thư từ gắn kèm với bản khai trình vào tháng Bảy.

Trong một thư điện tử đề ngày vào tháng Tư 2002 có mang tên bà, bà xác nhận rằng mình có nhận 14.000 USD từ Olson cho một đồ đồng thời tiền sử. Hai tháng sau, một thư điện tử khác gửi cho cháu của Olson , bà cho biết một tài khoản ngân hàng Thái Lan mà có thể gửi thêm tiền vào đó.

Vai trò của bà trong âm mưu bị cáo buộc này đã tiếp tục tồn tại cho đến khi bà đã giúp các điều tra viên phát hiện ra nó, theo các bức thư gửi qua lại.

Các đặc vụ đã tìm thấy một thư điện tử từ tháng Sáu 2006, được cho là một cuộc trao đổi giữa bà Brown và Jonathan Markell, trong đó bà đã cung cấp chữ ký điện tử của mình để ông ta dùng trong những đợt thẩm định. Trong một cuộc trao đổi qua thư điện tử khác từ tháng Ba 2007, Markell đã yêu cầu bà ký vào 6 đến 8 bản thẩm định khống cho những lần hiến tặng trong tương lai và đề nghị chuyển cho bà 300 USD “về việc sử dụng bà, đúng nghĩa của nó, như một nhà thẩm định…”.

Theo một bản sao thư điện tử được trình kèm theo bản khai, Markell nói rằng: “Nếu bà lo lắng khi làm việc này, xin hãy hiểu rõ rằng những người thuộc Đảng Cộng hòa vẫn còn đang tại vị, IRS (Sở thuế nội bộ) không có đủ nhân sự để kiểm duyệt lại những cuộc thẩm định nhỏ lẻ và những cuộc thẩm định này được thực hiện rất tốt và sẽ không bao giờ bị nghi vấn”.

Các tài liệu này cho thấy rằng bà Brown đã phúc đáp qua thư điện tử vào cùng ngày rằng: “Không thành vấn đề! Tôi rất mừng được làm đối tác của ông trong vụ này”.

Ảnh Roxanna bên những cổ vật - Nguồn: Thestar.com.my

Ảnh Roxanna bên những cổ vật - Nguồn: Thestar.com.my

Giáp mặt tại khách sạn

Vào thứ Năm ngày 8 tháng 5, bà Brown bay đến Mỹ để đọc một bài giảng tại Đại học Washington.

Đón bà là giáo sư Bill Lavely, người đứng ra mời bà. Ông đã đưa bà đến Khách sạn Watertown tại Seattle với kế hoạch gặp nhau vào thứ Sáu để dùng bữa tối.

Theo những cuộc phỏng vấn và bản khai trình vào tháng Bảy, vào chiều thứ Sáu, viên đặc vụ liên bang mà bà đã giúp đỡ 4 năm trước đó, đi cùng với 3 điều tra viên khác, đã giáp mặt bà Brown trong khách sạn .

Cuộc phỏng vấn của họ được miêu tả trong bản khai như sau:

Ban đầu, bà Brown phủ nhận việc bán các đồ vật cho Olson hay cung cấp những chữ ký thẩm định gần đây cho vợ chồng Markell.

Sau đó, khi các điều tra viên cho bà xem bằng chứng họ có được, câu chuyện của bà đã thay đổi. Bà nói rằng mình đã quên mất khoản thanh toán 14.000 USD của Olson cho những cổ vật và thừa nhận rằng đã ký vào những bản thẩm định khống cho vợ chồng Markell.

Bà cũng thừa nhận đã mang một bức tượng Phật Thái và hai bức tượng Phật Miến Điện vào Mỹ cho vợ chồng Markell. Bởi vì bà là một Phật tử, nên bà cảm thấy mình không cần phải xin phép của chính phủ.

Các điều tra viên đã chất vấn bà Brown suốt bốn tiếng đồng hồ khi Lavely gọi từ hành lang khách sạn lên phòng bà. Sau khi đợi một vài phút, ông bước lên gác và gõ vào cửa phòng bà.

Các đặc vụ liên bang nhanh chóng xuất hiện và giải bà ra thang máy trong khi ông Lavely hoang mang đứng nhìn. Ông nhớ lại bà ấy đã nói trước khi cửa thang máy đóng lại: “Mọi chuyện liên quan đến thứ đó ở Los Angeles. Tôi đã phạm phải một sai lầm… Tôi đã gửi fax chữ ký của mình”.

Bà Brown bị bắt và đưa tới một trung tâm giam giữ liên bang gần sân bay Seattle. Chiều hôm đó, một bồi thẩm đoán Los Angeles đã chính thức buộc tội bà là gian lận qua điện tín khi cho phép Jonathan Markell sử dụng chữ ký của mình trong một lần thẩm định thổi phồng giá trị.

Vợ chồng Markell đã từ chối bình luận thông qua luật sư của họ, lấy cớ là việc điều tra đang diễn ra. Olson, người bị cáo buộc tội buôn lậu, đã phủ nhận mọi hành động sai trái.

Cuối tuần đó trong tù, bà Brown lên cơn dạ dày. Đến thứ Hai, bà đã bị nôn khi gặp mặt người bào chữa cho bà do tòa án chỉ định , Michael Filipovic, vị luật sư này kể lại. Một lát sau, khi ông trở lại thì bà Brown lại bị tiêu chảy không thể kiểm soát được. Nhà chức trách liên bang đã phán quyết rằng vì bà quá ốm yếu, không thể có mặt trước tòa vào chiều hôm đó.

Vị luật sư này nói rằng ông đã nói chuyện trong chốc lát với Joseph Johns, ủy viên công tố Los Angeles phụ trách vụ án, người đã khiến ông ngạc nhiên khi nói rằng sẽ có thêm nhiều tội danh nữa. Nếu buộc tất cả mọi tội danh, bà Brown sẽ phải đối mặt với án 36 đến 56 tháng tù.

Filipovic kể lại Johns nói sẽ không thu hồi lại yêu cầu giam giữ bà của chính quyền, nhưng cho biết thêm một khi bà ấy đến Los Angeles, “chúng tôi có thể thả bà khỏi tù để quản thúc tại nhà”.

Johns đã từ chối bình luận về câu chuyện này do việc kiện tụng còn đang treo và việc điều tra hình sự còn đang diễn ra.

Tại Tòa vào ngày hôm sau, tại một phiên điều trần ngắn để quyết định xem liệu bà có được tại ngoại hay không. Bà Brown run rẩy, ngồi trên xe lăn, nhưng trông diện mạo đã khá hơn đôi chút, Filipovic nói.

Các ủy viên công tố phán quyết rằng bà có nguy cơ bỏ trốn, gây nguy hiểm cho cộng đồng. Filipovic phản đối rằng bà đã đề nghị nộp lại hộ chiếu Thái Lan và hộ chiếu Mỹ của mình, và vừa ốm yếu vừa tàn tật do một tai nạn đã xảy ra từ rất lâu. Vậy làm sao bà ấy có thể bỏ trốn khi chỉ có một chân!”.

Filipovic đã yêu cầu hoãn xử một ngày trong khi Tòa xác nhận rằng có ai đó ở Los Angeles có thể tiếp nhận bà Brown. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, ông nói: “Tôi ước mình có thể hỏi bà ấy thêm một vài câu hỏi và tìm hiểu vấn đề sâu hơn một chút”.

Sau đó, người ta kết luận bà Brown đang bị viêm loét dạ dày. Tất cả mọi thứ trong hệ thống tiêu hóa của bà đã bị rò rỉ ra vùng bụng, gây nhiễm trùng cấp tính – đòi hỏi phải phẫu thuật ngay lập tức.

Theo một đơn kiện do gia đình bà Brown trình, những người bạn tù gần chỗ bà bị giam nói với một anh lính gác tù rằng bà ấy đã nôn ra cái gì đó “ngửi giống như phân”. Anh ta đã không trả lời, và những người bạn tù phải đưa bà Brown đến một vòi tắm.

Sau thời điểm đóng cửa buồng giam vào 10h tối, những người bạn tù khai đã nghe thấy tiếng bà Brown kêu cứu. Một số người bắt đầu cầu nguyện cho bà.

Một người lính gác nói với bà rằng phải đợi đến sáng mới được khám bệnh. Đơn kiện nêu rõ. Các quan chức nhà tù đã từ chối bình luận, viện cớ rằng việc kiện tụng còn đang tiếp diễn.

Bà Roxanna Brown chết lúc 2h30 sáng. Những khoảnh khắc cuối cùng của bà rất đau đớn, đơn kiện viết tiếp, “nằm trên sàn của phòng giam, nằm trên những thứ do chính bà thải ra”.

Hàng trăm người ủng hộ

Việc bắt giữ bà Brown và cái chết của bà đã mang đến sự kinh ngạc và phẫn nộ cho những người đã biết bà trong suốt cả cuộc đời – gia đình bà ở miền Trung Tây, các nhà báo thời Chiến tranh Việt Nam, các gia đình ở Đông Nam Á đã cho bà ở chung và sinh sống và các học giả châu Á, những người coi bà như một đồng nghiệp.

Tội danh hình sự duy nhất nhằm vào bà, đã bị bãi bỏ ngay sau khi bà chết, dường như mâu thuẫn với mọi thứ mà những người này biết về một người phụ nữ, người đã chọn một cuộc sống đơn giản và làm việc bền bỉ để bảo vệ những cổ vật châu Á.

“Không chỉ sự tàn nhẫn trong việc giam giữ bà Roxanna Brown, mà cả vết nhơ vấy lên thanh danh bà do những lời cáo buộc dẫn đến việc bắt giữ bà nữa”, đó là lời một là đơn kiến nghị gửi các nhà chức trách liên bang được hàng trăm người bạn và đồng nghiệp của bà ở châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Úc và Mỹ ký ngay sau cái chết của bà.

“Đối với một học giả chính trực như vậy, người luôn tìm kiếm không mệt mỏi nhằm nâng cao chuẩn mực đạo lý trong ngành buôn bán gốm sứ, việc thanh danh bà bị vấy bẩn như vậy là một điều trớ trêu đầy ác nghiệt”.

Giờ đây, khi những chi tiết mới về vai trò của Brown trong cái âm mưu bị cáo buộc được đưa ra ánh sáng, những người buộc tội bà và những người khâm phục bà buộc phải nhặt nhạnh những mảnh vỡ cuộc đời bà để phân tích, chọn lọc.

Bất cứ điều gì sẽ xảy ra sau vụ kiện này hay những thủ tục tố tụng hình sự, thì vẫn sẽ rất khó để ghép chúng lại với nhau một cách trơn tru, để tạo thành một chiếc vại sứ nguyên gốc ban đầu.

Tác giả Jason Felch

Thi Thi dịch từ Los Angeles Times

Nguồn: Vietimes


*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần II)

Roxanna Brown tại một hố khảo cổ Đông Nam Á. Vào giữa thập niên 1990, bà chuyển đến Los Angeles để khôi phục sự nghiệp của mình và đến năm 2004 bà đã có được bằng Tiến sĩ tại Đại học California - Nguồn: Latimes.com

Roxanna Brown tại một hố khảo cổ Đông Nam Á. Vào giữa thập niên 1990, bà chuyển đến Los Angeles để khôi phục sự nghiệp của mình và đến năm 2004 bà đã có được bằng Tiến sĩ tại Đại học California - Nguồn: Latimes.com

Roxanna Brown không bao giờ nhìn thấy chiếc xe đã đâm vào bà.

Nhà chuyên gia 36 tuổi về nghệ thuật Đông Nam Á đang dắt chiếc xe gắn máy của mình ra khỏi một bãi gửi xe ở Bangkok thì bị chiếc xe này húc phải lúc đường đang đông. Bà bị va đập tơi bời dưới những chiếc bánh của một chiếc xe tải chở gạo nặng vài tấn. Sau đó gã lái xe tải dồn số, rõ ràng là có ý định chèn tiếp lên người bà.

Hắn ta đang cố gắng tránh một vụ kiện bằng cách kết liễu luôn đời bà, theo lời bà kể cho những người bạn sau này, nhưng những người qua đường đã lôi được bà ra khỏi gầm xe.

Vụ tai nạn năm 1982 là ngã rẽ cuối cùng trong một cuộc đời nhiều cung bậc lốm đốm những mảng màu khổ ải. Brown đã từ một cô thôn nữ Illinois biến thành một phóng viên mặt trận trong Chiến tranh Việt Nam, rồi thành một chuyên gia hàng đầu về gốm sứ cổ. Nhưng sự nghiệp đầy hứa hẹn của bà đã bị vùi dập bởi cơn nghiện thuốc phiện. Trong thời gian phục hồi trong một ngôi chùa, bà đã yêu một vị sư người Thái trẻ tuổi và về sống với ông tại ngôi làng nghèo ở ngoại ô Bangkok, cùng với cậu con trai lên một tuổi của họ.

Giờ đây bà đang nằm trên đường với đôi chân, xương chậu và các cơ quan nội tạng nát nhừ, thân thể đen xém do bị mài lê trên đường nhựa.

Không có bảo hiểm hay tiền tiết kiệm, bà được đưa tới một bệnh viện mà điều kiện vệ sinh vô cùng tồi tệ. Khi bà bị hôn mê và mất khả năng nhận thức, thì mẹ bà, đã bay từ Illinois sang, hàng ngày đã phải chạy đến một cửa hàng dược phẩm mua thuốc. Bệnh viện không có thuốc điều trị cho bà.

Chân phải của bà Brown bị cắt bỏ một phần. Sau đó các vết nhiễm trùng buộc các bác sĩ phải cắt bỏ thêm, rồi thêm nữa cho đến khi những gì còn lại chỉ là phần đùi.

Do không thể nói, bà đã viết một mẩu giấy cho mẹ mình: “Con đã sẵn sàng để chết rồi”.

Phải mất 6 tháng thì Brown mới đủ khỏe để bay về Illinois, và mất ba năm thì bà mới phục hồi được sức khỏe. Theo những người bạn của bà thì, trong quãng thời gian còn lại của cuộc sống, bà liên tục phải chịu những cơn đau người khủng khiếp, đau nửa đầu và ong tai.

Theo lời kể của người bạn lâu năm và là người đồng hương với bà là Patricia Cheeseman, người đã gặp bà Brown ở Lào vào thập niên 1970, “Brown thoát khỏi các bánh xe trong tình trạng bẹp dí theo đúng nghĩa đen. Tình trạng bẹp dí người của bà còn tiếp tục kéo dài trong nhiều năm, và bị phủ đầy các vết sẹo”.

Bà trở về Thái Lan với con trai, để rồi chứng kiến người chồng rời bỏ bà.

Anh họ của bà Brown là Karen Lindner, người đã đến thăm bà vài lần, nói rằng: “Ông ấy không thể chịu đựng được khi nhìn thấy bà chỉ có một chân. Ở đó thì đây là điều vô cùng hổ thẹn”.

Bà chuyển đến sống ở Chiang Mai, thành phố lớn nhất vùng đông bắc Thái Lan. Là một bà mẹ đơn thân tàn tật, cuộc sống hàng ngày đối với bà là cả một sự vật lộn.

Những người bạn kể rằng, là người tiên phong trong lĩnh vực của mình, song bà chỉ kiếm được chưa đầy 200 USD mỗi tháng nhờ việc giảng dạy về gốm sứ cổ tại Đại học Chiang Mai. Vào các buổi tối, bà làm việc tại một quán bar nhỏ mà bà đã mua lại để có thêm thu nhập. Quán bar này có tên là Hard Rock Cafe – mặc dù nó không phải là một phần của thương hiệu nổi tiếng này, như người ta đã nói với bà khi bà mua nó.

Bà có một cái chân giả không được vừa cho lắm và, theo những người bạn, bà suốt ngày phải ra vào bệnh viện để xử lý các vết nhiễm trùng.

Phần lớn thập kỷ tiếp sau đó của bà Brown là sự đau đớn, tuyệt vọng và mất phương hướng.

Khôi phục một sự nghiệp

Vào giữa thập niên 1990, khi mối quan tâm đến nghệ thuật Á châu bùng nổ mạnh mẽ ở Mỹ, Brown đã chuyển đến Los Angeles, quyết tâm khôi phục lại sự nghiệp gốm sứ của mình.

Bà đã có được một chiếc chân giả vừa vặn hơn, một công việc để thanh toán các hóa đơn sinh hoạt và bên cạnh đó bà còn làm công việc thẩm định nghệ thuật.

Những người bạn nói rằng bà Brown đã bắt đầu lo lắng đến tiền bạc – về khả năng đóng học phí đại học cho cậu con trai tuổi teen của mình, người vẫn ở lại Bangkok với những người họ hàng, và về việc ngày một già đi mà trong tay vẫn chưa có tài sản hay khoản tiết kiệm gì.

Với sự cổ vũ của người bạn lâu năm của bà là Robert Brown, một học giả về Đông Nam Á tại Đại học California, Los Angeles (UCLA) – và không có họ hàng gì với bà – Roxanna ghi tên mình vào chương trình nghiên cứu sinh làm tiến sĩ ở tuổi 53.

Trọng tâm chủ đề của bà là Khoảng trống thời Minh (Ming Gap), một giai đoạn 300 năm ít được nghiên cứu, khi Trung Quốc phong tỏa việc xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ của mình, dẫn tới một sự bùng phát trong hoạt động sản xuất ở khắp Đông Nam Á. Theo những đồng nghiệp, phân tích của bà Brown về những đồ gốm sứ được khôi phục lại từ những mảnh vụn vớt lên từ tàu đắm đã cách mạng hóa sự hiểu biết về các hình mẫu buôn bán trong khu vực.

Barbara Gaerlan, Trợ lý giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á thuộc UCLA, nói rằng: “Tất cả chúng tôi đều khâm phục bà ấy, một bà già quay trở lại nghiên cứu sau đại học bằng câu chuyện lịch sử đáng kinh ngạc này”.

Trong thời gian tại UCLA, bà được làm việc trong một cộng đồng những người nhiệt tình nghiên cứu Đông Nam Á có quan điểm giống nhau. Thỉnh thoảng họ lại tụ tập làm những nghi lễ Phật giáo tại nhà của Jonathan và Cari Markell, là những người sở hữu Phòng trưng bày Con đường tơ lụa, quầy trang trí nhà ở cao cấp trên Đại lộ La Brea.

Trong số khách đến đây có những quan chức bảo tàng địa phương, trong đó có Robert Brown, người đã trở thành người phụ trách nghệ thuật Đông Nam Á trong Viện bảo tàng nghệ thuật Los Angeles vào năm 2000, và David Kamansky, giám đốc danh dự của Viện bảo tàng châu Á – Thái Bình Dương tại Pasadena.

Một người say mê nghiên cứu nghệ thuật bản địa Thái Lan khác là Robert Olson, một công nhân ngành thép đã nghỉ hưu, người đã và đang nhập khẩu các mặt hàng gốm sứ cổ, đồ trang sức bằng đồng và các công cụ bằng đá kể từ thập niên 1980. Olson đã đưa về nước Mỹ các côngtennơ có chứa đầy những đồ cổ và ông bán lại chúng cho một của hàng ở Anaheim. Ông chuyên về những đồ vật đến từ Ban Chiang, một địa điểm di sản thế giới ở miền đông bắc Thái Lan.

Bà Roxanna Brown đã nghe về Olson ngay sau khi bà bắt đầu công việc học tập của mình tại UCLA. Olson nói rằng Robert Brown có lần đã đưa các nghiên cứu sinh đến nghiên cứu các đồ vật tại của hàng của nhà nhập khẩu này. Kamansky nói ông đã đến thăm cửa hàng này cùng với Robert Brown trong thời gian đang cân nhắc về việc tiến hành một cuộc triển lãm chung về chất liệu Thái của với Olson.

Bà Brown cũng đã đến thăm của hàng của Olson vài lần. Bà đã thấy được những đồ vật rất đáng lưu ý – một vài chiếc rổ bằng đồng, chẳng hạn, khi mà được biết chỉ có một số rất ít các rổ thuộc loại đó còn tồn tại trên thế giới, theo những lời phát biểu mà sau đó được quy cho là của bà trong các bản khai tuyên thệ liên bang.

Olson khẳng định với bà rằng những món đồ cổ này đã được nhập khẩu hợp pháp. Nhưng ông ấy cũng cười như nắc nẻ về việc đưa chúng qua mặt các quan chức hải quan của Thái Lan và Mỹ, sau này bà kể lại cho các nhà chức trách.

Bà Brown cũng tin rằng chúng đã được buôn lậu ra khỏi Thái Lan, theo những bản khai mà sau này các nhà điều tra liên bang trình ra.

Thỉnh thoảng, bằng chứng về việc cướp bóc trắng trợn cũng rất rõ ràng. Bà kể lại với các nhà chức trách rằng một vài trong số các vòng tay đồng cổ của Olson vẫn còn dính liền với xương tay người.

Roxanna Brown là một chuyên gia hàng đầu về gốm sứ Đông Nam Á - Nguồn thestar.com.my

Roxanna Brown là một chuyên gia hàng đầu về gốm sứ Đông Nam Á - Nguồn thestar.com.my

Bước vào điều tra

Năm 2002, một đặc vụ liên bang đã tiếp cận bà Roxanna Brown. Ông ta đang điều tra về cái có vẻ như là những cổ vật Đông Nam Á bị cướp bóc và muốn có lời tư vấn chuyên môn của bà..

Bà nói với ông ta rằng những đồ vật mà ông ấy muốn hỏi có thể đã được Olson mang vào nước Mỹ; Olson là người mà bà miêu tả là nhà nhập khẩu thương mại lớn nhất và có thể là duy nhất thuộc loại này ở trong nước, theo một biên bản lục soát được đệ trình vào tháng Bảy. Bà “tin chắc rằng cần phải có những nỗ lực nhằm ngăn chặn tình trạng cướp phá cổ vật” và “cảm thấy Olson và những người khác cần phải bị quy trách nhiệm”.

Theo các tài liệu liên bang, trong hai năm, từ 2002 đến 2004, bà đã đóng vai trò là một chuyên gia tư vấn cho chính phủ. Tuy nhiên, khi được yêu cầu làm chứng chống lại Olson, bà đã do dự.

Bà khai đã có lần làm môi giới cho một vụ làm ăn giữa Olson và một tay buôn cổ vật ở Thái Lan liên quan đến những quả chuông đồng mà tay buôn này đã buôn lậu ra khỏi Campuchia. Bà nói với các nhà chức trách rằng mình làm vậy chỉ là để ngăn chặn tay buôn lậu đã vì tiền mà bán những cổ vật của Thái Lan “chất lượng cao”.

Năm 2004, bà Brown đã nhận được bằng tiến sĩ và trở về Thái Lan, háo hức tìm và nắm bắt những cơ hội mới.

Sau khi nhà sáng lập giàu có của Đại học Bangkok nhờ bà thẩm định bộ sưu tầm gốm sứ của ông, Brown đã thuyết phục ông thành lập một viện bảo tàng và bổ nhiệm bà làm giám đốc. Bà cũng bắt đầu tư vấn về một dự án của Campuchia gần khu di tích Angkor Wat. Dự án này có nội dung huấn luyện những người địa phương cách làm đồ gốm để bán thay vì cướp phá các kho tàng cổ vật.

Nhiếp ảnh gia David Hume Kennerly, một người bạn cũ, nói rằng: “Bà rất quan tâm đến việc bảo tồn những cổ vật tại địa điểm nguyên gốc của chúng. Bà không muốn những thứ này bị chở đi vòng quanh thế giới”.

Khi bà Brown theo đuổi niềm đam mê của bà ở Thái Lan, hoạt động điều tra buôn lậu ở Mỹ đã phát triển rất mạnh.

Hoạt động bí mật

Trong những năm sau khi gặp gỡ với bà, nhân viên điều tra liên bang này đã hoạt động bí mật với cái lốt “Tom Hoyt”, một nhà doanh nghiệp giàu có trong lĩnh vực công nghệ quan tâm đến nghệ thuật châu Á – và trốn thuế.

Trên thực tế, Hoyt đã làm việc cho Cục công viên quốc gia, nơi ông ta đã dành 10 năm để hoạt động bí mật tại các cuộc bán đấu giá, các cuộc gặp gỡ đổi chác và các phòng trưng bày nghệ thuật để tìm kiếm những đồ tạo tác bị buôn lậu. Theo những bản tuyên thệ giấy phép lục soát được đệ trình vào tháng Giêng, trong khi điều tra hoạt động buôn bán các đồ vật châu Mỹ bản địa và thời kỳ tiền Colombia, ông tình cờ phát hiện ra cái có vẻ như là đường dây chính của các cổ vật Đông Nam Á bị cướp bóc đi vào khu vực Los Angeles.

Các tài liệu của tòa án đã miêu tả sự thâm nhập của ông ta vào cái bị cáo buộc là ổ trốn thuế và buôn lậu như sau:

Hoyt chiếm được lòng tin của Olson và bắt đầu mua của Olson những cổ vật Thái Lan. Nhà nhập khẩu này miêu tả chi tiết công việc kinh doanh của mình trong khi nhân viên điều tra bí mật ghi âm lại.

Cuối cùng, Olson giới thiệu Hoyt với vợ chồng Markell, những người lựa chọn những đồ vật từ cửa hàng của Olson và giúp Hoyt hiến tặng chúng cho các viện bảo tàng địa phương. Khi có mặt Hoyt, Jonathan Markell đã tạo ra những cuộc thẩm định thổi phồng giá trị của những đồ vật nhằm giúp người hiến tặng được hưởng một khoản miễn thuế tương ứng.

Để những cuộc thẩm định này hợp thức, ông ta sử dụng chữ ký điện tử của một chuyên gia rất được mọi người xem trọng là Roxanna Brown.

Brown được mô tả trong bản khai tháng Giêng như là nạn nhân của âm mưu này, bị những người bạn của bà là vợ chồng Markell lợi dụng; vợ chồng Markell đã sử dụng chữ ký của bà mà bà không hề hay biết.

Theo cáo buộc của bản khai, trong trường hợp này và các trường hợp khác, Hoyt đã hiến tặng những đồ vật bị thổi giá quá mức cho bốn viện bảo tàng ở miền Nam California và các nhân viên ở đây đã chấp nhận mặc dù họ có lý do để nghi ngờ về xuất xứ bất hợp pháp của chúng.

Vào tháng Giêng 2008, hàng trăm nhân viên điều tra liên bang đã tiến hành những cuộc truy quét có phối hợp đối với LACMA, Bảo tàng châu Á – Thái Bình Dương, Bảo tàng Bowers ở Santa Ana và Bảo tàng Mingei ở San Diego, cộng với chín địa điểm khác ở California và Illinois.

Các đặc vụ này đã thu giữ được hàng nghìn sổ sách và cổ vật trong diện nghi ngờ. Lúc đó không có ai bị bắt giữ cả. Olson phủ nhận bất kỳ hành động sai trái nào và vợ chồng Markell thông qua luật sư của mình đã từ chối bình luận, lấy lý do là cuộc điều tra đang diễn ra.

Trong những sổ sách thu giữ được của Olson, người bị cáo buộc là buôn lậu, có một tài liệu mang tên “Roxanna”.

Nội dung của tài liệu này cho thấy một mặt hoàn toàn khác của Roxanna Brown.

Xem tiếp: Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á (Phần cuối)

Tác giả Jason Felch

Thi Thi dịch từ Los Angeles Times

Nguồn: Vietimes


*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Older Posts »