Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 25th, 2009

Cổ vật thật, giả lẫn lộn

trang trí bằng cổ vật

trang trí bằng cổ vật

Chơi đồ cổ là một thú vui tao nhã, tạo cho người chơi tích lũy thêm kiến thức về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, địa lý… Tuy nhiên, đồ giả cổ xuất hiện ngày càng tinh vi, hoàn hảo, dân chơi có nghề mà chủ quan vẫn bị nhầm như thường…

Ông Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam, khuyến cáo: Đồ giả cổ đã lọt vào một số bảo tàng tỉnh và xuất hiện trên không ít ấn phẩm. Do vậy, các nhà bảo tàng ở các tỉnh nên thận trọng khi sưu tầm hiện vật, tránh để lọt đồ giả cổ vào các bảo tàng Nhà nước. Đồng thời, các nhà khoa học phải nâng cao trình độ chuyên môn, đi sâu nghiên cứu những nơi làm giả đồ cổ, tránh nhầm lẫn trong quá trình đánh giá, phát hiện các hiện vật cổ.

Ai nên khôn mà chẳng dại… vài lần!

Đồ cổ giả không chừa một ai, cả những người chơi lâu năm hay những người mới vào nghề, hầu như ai cũng từng bị “dính” một lần. “Ngày em mới chơi được một đàn anh để lại cho 1 cái lọ nhỏ cao khoảng 35cm với giá 200.000đ và cho biết là đồ “ông thiếu”. Không những thế, đại ca đó còn kể cho nghe về tiểu sử của “ông thiếu” như thế nào, tại sao lại có dòng đồ “ông thiếu”. Mãi mấy năm sau mới biết… Đó là một kỉ niệm buồn song cũng là một bài học” – anh Hữu Hội, một người chơi đồ cổ chia sẻ.

Ông Vũ Anh Tuấn (Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội) mua của Trần Kim Hoa – một đối tượng chuyên buôn bán đồ cổ ở phố Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM – ba món đồ đồng thời Hán với giá 54.000 USD. Về đến Hà Nội, nghi ngờ mua phải đồ giả nên ông Tuấn mang đi giám định. Kết quả, cả ba đều là đồ giả (sản xuất năm 2000 tại Trung Quốc). Tương tự, ông Nguyễn Tiến Trường, ngụ Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM, mua nhầm 10 món cổ vật giả từ Trung Quốc với giá 233.500 USD. Anh L.V.H, một người mới vào nghề chơi đồ cổ kể: “Hú vía, vừa rồi có người rao bán 1 cái đĩa Càn Long, nói là đồ ngự dụng, giá họ đòi gần 1 căn hộ chung cư, em đã định mua nhưng khi nhờ giám định thì phát hiện ra đây không phải là đồ thật. Đồ giả cổ vật nhìn tận mắt, sờ tận tay mà nhiều khi vẫn không phát hiện ra. Là dân trong nghề, chủ quan vẫn bị nhầm như thường”.

Lật lại Hồ sơ chuyện củ cách đây gần chục Năm:

Với mong muốn trở thành hội viên Hội Đồ cổ TP.HCM, ông Nguyễn Tiến Trường – ngụ tại Phó Đức Chính, phường Nguyễn Thái Bình (quận 1) – bắt đầu việc sưu tầm đồ cổ vào cuối năm 2000.

Đến khu “chợ” đồ cổ nổi tiếng ở thành phố trên đường Lê Công Kiều, ông Trường được “bà chủ” Trần Kim Hoa giới thiệu sáu món cổ vật đời nhà Thương, nhà Chu (Trung Quốc) “có niên đại trên 2.000 năm” gồm một tượng vua bằng đồng, hai chân đèn đồng, hai tượng người cưỡi thú và hai lư tròn… Tổng cộng giá 233.500 USD.

lecongkieu-1

Những đồ vật được bày bán tại “phố đồ cổ” Lê Công Kiều

 

Ông Trường giao đủ tiền, sau đó đem đi giám định tại phòng kiểm tra văn hóa phẩm xuất nhập khẩu (Sở Văn hóa – Thông tin) để làm thủ tục xin gia nhập Hội Đồ cổ thành phố, nhưng kết quả giám định cho thấy toàn bộ số cổ vật trên đúng là đồ Trung Quốc nhưng không phải cổ mà chỉ là giả cổ, mới được “sáng tác” ở thế kỷ… 21.

Ông Trường tìm gặp Trần Kim Hoa để trả lại sáu món cổ vật dỏm thì “trùm” Hoa lật lọng. Ông tố cáo sự việc lên Bộ Công an thì bà hăm dọa, thách thức, thậm chí còn thuê côn đồ dằn mặt gia đình ông Trường.

Ngày 31-10-2002 lực lượng cảnh sát (Bộ Công an) đã thực hiện lệnh bắt khẩn cấp Trần Kim Hoa, đồng thời khám xét nơi ở của bà tại số 38 Lê Công Kiều, Q.1 thu giữ hàng chục món đồ giả cổ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra (Bộ Công an), bà Hoa khai nhận số đồ giả cổ này mua của Trần Công Kỷ, làm nghề buôn bán hàng mỹ nghệ, đồ giả cổ từ Trung Quốc về VN. Trần Công Kỷ cũng thừa nhận mối quan hệ với “trùm” Hoa nhưng nói rõ rằng đó là đồ giả cổ mới do Trung Quốc sản xuất, việc bà Hoa lừa đảo thế nào ông không biết. Ông cũng cho biết số đồ giả cổ mà Trần Kim Hoa lừa bán cho ông Trường ông chỉ mua khoảng 50 triệu đồng.

Ngày 27-9-2000, bà Vũ Thúy Nga ngụ tại Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) cùng mẹ là Ngô Thị Kim Thư vào TP.HCM, đến mua của Trần Kim Hoa ba món đồ đồng thời nhà Hán (Trung Quốc) gồm tước nắp có con chim, lọ với một con chim trên nóc và một tượng người cầm đèn, giá tất cả là 54.000 USD.

“Trùm” Hoa đã viết biên nhận nếu không đúng sẽ trả lại tiền. Trở ra Hà Nội, qua một số người có kinh nghiệm trong lĩnh vực đồ cổ, bà Nga phát hiện ba món hàng mua trên là đồ giả cổ. Lập tức bà quay vào TP.HCM gặp Trần Kim Hoa. Hai bên thỏa thuận đem cổ vật đi giám định.

Tuy nhiên, hai tháng sau “trùm” Hoa không có giấy giám định nên phải trả lại 20.000 USD và hứa sẽ trả tiếp số tiền còn lại, song đến nay vẫn chưa trả. Cơ quan cảnh sát điều tra (Công an TP.HCM) đã triệu tập Trần Kim Hoa lên thẩm vấn, bà Hoa khai “ba món đồ trên do bố mẹ chồng chết năm 1987 để lại cho chồng tôi, và tôi đem bán”.

Hai trong sáu món cổ vật giả mà Trần Kim Hoa lừa bán cho ông Nguyễn Tiến Trường

Hai trong sáu món cổ vật giả mà Trần Kim Hoa lừa bán cho ông Nguyễn Tiến Trường

Chơi đồ vớt, nhiều dân chơi “chết” vì thích hà, ốc bám bên ngoài. Ở Hà Giang vừa qua có bán những xô đồng cổ giá khoảng hơn 20 triệu đồng một chiếc nhưng thực tế đó toàn là đồ cổ giả, vì kỹ nghệ làm giả cổ tinh xảo đến mức có lò chuyên làm cổ vật giả nuôi cả con hà cho bám vào món đồ, đến khi mang bán có cả xác hà bám trên đó, khiến nhiều người tưởng là cổ vật thật.

Không có một cổ vật nổi tiếng nào chưa được làm phỏng lại, đối với một số cổ vật thuộc dạng hiếm thì việc nhìn tận mắt, sờ tận tay là gần như không tưởng nên việc mua phải đồ cổ giả là điều khó tránh khỏi. Thậm chí, có những người mua phải đồ cổ giả, sau khi nhờ giám định vẫn không tin được đó là đồ giả. Rồi nhiều khi phải tự động viên nhau là “nộp học phí quá tay”, “ai nên khôn mà chẳng dại… 3… 4… 5 lần”.

Giải pháp nào cho vấn nạn giả cổ vật?

Trao đổi với chúng tôi qua điện thoại, ông Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam cho biết: Việt Nam đang phải đối mặt với vấn nạn làm cổ vật giả. Thời gian qua, các ngành chức năng đã phát hiện một số cơ sở sản xuất đồ cổ giả tại Hoa Lư (Ninh Bình), quận Hai Bà Trưng, huyện Mê Linh (Hà Nội). Viện Khảo cổ học Việt Nam đã giám định nhiều cổ vật ở Hà Nội, Thanh Hoá, Quảng Ninh… và nhận thấy, việc làm giả cổ vật hết sức tinh vi, khéo léo với trình độ công nghệ cao. Đã có không ít người thiếu kinh nghiệm, chưa sành kỹ năng nghề nghiệp nên bị mất không ít tiền bạc do mua phải cổ vật giả. Ngay cả các nhà khảo cổ nếu không chuyên sâu, không từng nghiên cứu các trung tâm làm giả đồ cổ cũng dễ bị nhầm lẫn.

Hiện có một số hình thức làm giả cổ vật như sau: Đồ gỗ cổ được mô phỏng rồi ngâm tẩm, làm giả màu sắc của thời gian mà phổ biến là tượng Phật. Mô hình nhà thời Hán và đồ đất nung thời Lý – Trần bị làm giả bằng cách dùng bột đất của chính di vật thời đó nghiền ra rồi mô phỏng lại. Các loại trống đồng, tiền kim loại thường được đúc giả cổ, trống đồng Đông Sơn được gò lại rồi làm giả màu sắc thời gian. Với loại rồng, phượng thời Lý – Trần, những kẻ làm giả dùng chính mảnh vỡ của thời cổ gắn chắp lại với nhau tạo nên dáng vẻ của đồ vật hoặc vẽ thêm các hoa văn cổ, chữ cổ lên các hiện vật đồ sứ làm tăng giá trị của hiện vật.

Khi được hỏi về giải pháp cho thị trường đồ cổ thì ông Tín cho rằng: Việt Nam đã có luật về việc mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, nhưng việc thực thi pháp luật lại yếu nên việc ngăn chặn cổ vật giả gần như vô vọng. Đối với người chơi đồ cổ chân chính thì nên tìm đến các nhà khoa học trước khi mua bán. Tuy nhiên, việc phân biệt giữa người sưu tập, chơi đồ cổ chân chính với người buôn bán đồ cổ rất khó.

Cũng theo ông Tín, mặc dù luật đã có điều khoản ngăn cấm không buôn bán, tàng trữ cổ vật giả nhưng cơ quan chức năng chưa xử lý rốt ráo, chưa đi sâu vào điều tra, phát hiện. “Quan điểm của tôi là phải ngăn chặn từ gốc (từ khâu đào phá, buôn bán, tàng trữ), công an phải vào cuộc điều tra xử lý triệt để thì mới mong giải quyết được vấn nạn giả cổ vật như hiện nay”, ông Tín nói./.

(Báo Tiếng nói Việt Nam 05/2009)

Xem bài viết liên quan:  Bảo tàng có cổ vật giả?

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Advertisements

Read Full Post »

Sự thật về “kho báu Hội Hoa Mai”

Viện Khoa học hình sự Bộ Công an công bố kết quả giám định tại cuộc họp chiều 17/4/2009.

Viện Khoa học hình sự Bộ Công an công bố kết quả giám định tại cuộc họp chiều 17/4/2009.

Ba người đàn ông cùng đệ đơn gửi Thủ tướng Chính phủ và một số Bộ, ngành, nói rằng họ đang sở hữu khối tài sản khổng lồ, nguồn gốc từ “kho báu Hội Hoa Mai”. Ngoài 100 tờ tiền, mệnh giá mỗi tờ 1 triệu USD, các ngân phiếu trị giá 9,9 tỷ USD, các thỏi vàng… còn có 8 điểm cất giữ kho báu và đây mới là phần chính của khối tài sản! Sự thật vụ “kho báu” khổng lồ đã được Tổng cục An ninh, Bộ Công an làm rõ.

Từ lá đơn gửi Thủ tướng Chính phủ

Một ngày cuối tháng 2, Văn phòng Chính phủ nhận được lá đơn gửi Thủ tướng với nội dung hết sức đặc biệt. 3 người đứng tên ký trong đơn, nêu rõ tên, địa chỉ và “chức danh” kèm theo, lần lượt là: ông Đỗ Quốc An, cán bộ quân đội nghỉ hưu, trưởng ban sưu tập; ông Vũ Đức Thư, cán bộ quân đội nghỉ hưu, đại diện kho hàng và ông Thái Xuân Kiên, phóng viên Báo Văn hóa, thư ký tổng hợp.

Thư nêu: “Sau một thời gian dài tìm hiểu, tiếp xúc với một số chủ hàng đang trực tiếp bảo quản và đã tận mắt nhìn thấy một vài thùng hàng (tiền USD và bảo vật) giá trị lớn tại Việt Nam từ năm 1946 đến 1959, nay vẫn còn nguyên vẹn. Theo tài liệu ban đầu chủ hàng cho biết: Số kiện hàng này xuất xứ từ Hội Hoa Mai, cất giữ ở 8 khu vực tại 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Sơ bộ chúng tôi nắm được, số hàng này có nhiều thùng, được bảo quản cẩn thận, rất bí mật (vì chưa có chủ trương cụ thể nên chúng tôi nắm chưa hết). Các thùng hàng có các mã số, ký hiệu rõ ràng, trong một số thùng đã mở ra kiểm tra, phát hiện có tiền ngân phiếu rất mới, không mục nát, tiền USD… có mệnh giá lớn“.

Đơn còn đưa ra “cảnh báo”: Mấy năm gần đây cũng như hiện nay có nhiều người nước ngoài như Mỹ, Trung Quốc, Pháp đã và đang vào Việt Nam lùng sục, tìm mua, trong đó cả người Việt cũng đang tìm kiếm để bán lại…

Lá đơn gửi Thủ tướng Chính phủ sau đó được chuyển tới cơ quan chức năng. Trong khi đó, dư luận bắt đầu có tin đồn rằng, một nhóm người đang sở hữu kho báu vô cùng giá trị, từ giai đoạn ngay sau Cách mạng Tháng Tám, kho báu có tên “kho báu Hội Hoa Mai”.

Thông tin cũng cho biết, nhóm người này đang lưu giữ những bọc tiền và vàng, ngân phiếu giá trị khổng lồ! Khối tài sản được ký hiệu trong tấm bản đồ ghi 8 điểm cất giấu “kho báu” thuộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc.

Có nguồn tin cho hay, một nhóm người đang lùng sục tấm bản đồ đặc biệt nói trên.

Cơ quan ANĐT vào cuộc

Ngày 13/3/2009, Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh mời lãnh đạo Tổng cục An ninh và CQĐT Bộ Công an đến làm việc. Tại buổi làm việc có ông Thái Xuân Kiên, phóng viên Báo Văn hóa, người xưng trong đơn là thư ký tổng hợp vụ sưu tập.

Tại cuộc làm việc này, ông Kiên nói rằng, ông cùng ông Lê Nam Tiến, hiện trú tại Bắc Ninh đang cất giữ 2 hộp tài sản thuộc “kho báu Hội Hoa Mai”, trong đó có nhiều tiền USD Mỹ, mệnh giá mỗi tờ 1 triệu USD, cùng nhiều ngân phiếu trị giá hàng tỷ USD, nhiều cổ vật có giá trị.

Ông Kiên cũng chuyển cho Bộ Công an đơn, báo cáo, giấy cam kết của ông Vũ Đức Thư, ông Thái Xuân Kiên gửi đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Đơn đề nghị Chính phủ “cấp giấy phép” cho họ được khai thác kho báu đang cất giấu tại 6 tỉnh biên giới phía Bắc.

Ít ngày sau, đích thân Thiếu tướng Hoàng Kông Tư, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Thủ trưởng cơ quan ANĐT cùng tổ công tác lên Bắc Ninh, làm việc với các ông Vũ Đức Thư, Lê Nam Tiến, Thái Xuân Kiên tại nhà ông Lê Nam Tiến. Ông Tiến tự nguyện giao nộp CQĐT 2 hộp, nói là tài sản khổng lồ và tập USD mệnh giá mỗi tờ 1 triệu USD.

Ông Tiến nói rằng, khối tài sản trên được ông nhận từ Trung Quốc, do bà Lý Quế Hoa, người Trung Quốc chuyển đến. Bà Lý Quế Hoa năm nay đã… 129 tuổi. Theo lời khai ông Tiến thì bà Hoa kể cho ông Tiến biết đây là một phần tài sản của Hội Hoa Mai, hội này được lập từ những năm đầu thế kỷ XX. Khối tài sản này chỉ là “phần nhỏ”, còn lại 8 điểm nằm ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam là tài sản của Hội, hiện chưa được khai thác.

Từ tờ 1 USD thật (dưới) được tẩy sửa thành tờ 1 triệu USD giả (trên).

Từ tờ 1 USD thật (dưới) được tẩy sửa thành tờ 1 triệu USD giả (trên).

Sơ đồ cất giấu này do người đàn bà 129 tuổi này cất giữ. Cũng theo lời ông Tiến thì tập tiền USD, mệnh giá 1 triệu USD/tờ (tương đương 100 triệu USD) cùng các ngân phiếu có trị giá 9,9 tỷ USD và 500 triệu USD do Mỹ phát hành để đảm bảo cho việc vay nợ và thanh toán giữa nước Mỹ và Hội Hoa Mai khi đó.

Một số hiện vật trong vụ "Kho báu Hội Hoa Mai". (Ảnh: TTXVN)

Một số hiện vật trong vụ "Kho báu Hội Hoa Mai". (Ảnh: TTXVN)

Để xác định thực hư, hai “hộp tài sản” và tập tiền USD mệnh giá lớn được gửi tới Viện Khoa học hình sự. Gửi giám định còn có 4 viên hình tròn màu xanh và 4 viên hình trụ màu trắng, 4 tờ giấy trắng đục, 2 tờ giấy màu bạc, 15 miếng kim loại màu vàng có khắc chữ (tin đồn nói là vàng thỏi), 2 đồ vật kim loại nhỏ màu vàng hình khẩu súng, 10 kim loại màu vàng hình viên đạn, 2 hộp màu đen, 2 hộp kim loại nhỏ…

Và sự thật

Kết quả giám định cho thấy, 48 tờ giấy có in chữ “One million dollars” có số seri liên tục từ B 70875702 B đến B 70875749 B và 49 tờ giấy có in chữ “One million dollars” có số seri liên tục từ B 70875751 B đến B 70875799 B được làm giả bằng phương pháp tẩy cơ học, sửa chữa và in thêm từ những tờ đô la Mỹ thật, mệnh giá 1 USD.

Ngoài ra, có 3 tờ USD ghi mệnh giá triệu USD có cùng mã số được in bằng phương pháp in laser màu. 14 mảnh giấy nhỏ màu vàng có in dấu màu đỏ, chữ màu xanh trong 2 hộp gỗ cùng 4 tờ giấy trắng đục được in bằng laser màu. Nhiều loại giấy khác được in bằng phương pháp in phun màu. 15 miếng kim loại màu vàng được cho là vàng miếng thì kết quả giám định đều là… hợp kim đồng và kẽm, kể cả đồ vật hình khẩu súng cùng đồ vật hình viên đạn cũng là hợp kim đồng, kẽm.

Chiều 17/4, cơ quan ANĐT Bộ Công an công bố kết luận giám định với sự có mặt của đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước. Tại buổi họp, ông Nguyễn Tất Huynh, Phó Cục trưởng Cục Phát hành và Kho quỹ Ngân hàng Nhà nước thay mặt Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẳng định: Ở Mỹ không có đồng dollars nào lớn hơn mệnh giá 100USD.

Phía Mỹ đã nhiều lần cảnh báo các nước về thực trạng có nhiều công dân in tiền giả mệnh giá cao để chơi, hình thức rất đẹp, rất khó phát hiện thật giả, nhưng vì khác kích cỡ nên ở Mỹ được coi là không phạm tội. Thông tin từ ông Nguyễn Tất Huynh thêm một lần nữa khẳng định tính chính xác của kết quả giám định số tờ dollars có mệnh giá 1 triệu USD trong vụ “kho báu Hội Hoa Mai” là giả.

Sau khi nghe kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, ý kiến của Ngân hàng Nhà nước, các ông Lê Nam Tiến, Vũ Đức Thư, Thái Trung Kiên thừa nhận kết quả giám định…

Ông Thái Xuân Kiên cũng khẳng định mục đích của các ông khi báo cáo Bộ Công an các tài liệu và hiện vật trong vụ “kho báu Hội Hoa Mai” không ngoài mục đích muốn các cơ quan có trách nhiệm và thẩm quyền xác định sự thật, nếu đúng thì có lợi cho quốc gia, nếu sai thì sớm kết luận để người dân không mất cảnh giác trước những thông tin giật gân, dễ bị tiền mất tật mang.

Ông Vũ Đức Thư cho rằng, nếu đúng là có tẩy xoá rồi in laser màu từ tờ 1USD thật thành tờ 1.000.000 USD thì đây là thủ đoạn lừa đảo.

Trả lời câu hỏi của các nhà báo về những căn cứ và nguồn gốc của các tài liệu và hiện vật cũng như khái niệm cụm từ “kho báu Hội Hoa Mai”, ông Lê Nam Tiến cho biết: “Hàng” này ông mua và thuê người vận chuyển từ ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Ngoài ra ông trực tiếp được xem tấm bản đồ bằng da lừa có đánh dấu 8 địa điểm cất giấu ở Việt Nam, ông xin photocopy nhưng “chủ hàng” chưa đồng ý. Là người học hết lớp 12, có nhiều năm tham gia quân ngũ, ông Tiến đã tiếp xúc với “chủ hàng” và hi vọng đây thực sự là kho báu đem lại nguồn lợi lớn nên đã bỏ ra 1,3 tỷ đồng và 200 triệu tiền thuê vận chuyển an toàn về Việt Nam.

Thiếu tướng Hoàng Kông Tư, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Thủ trưởng Cơ quan ANĐT Bộ Công an khẳng định khái niệm “kho báu Hội Hoa Mai” là cụm từ do các các ông Thái Xuân Kiên, Vũ Đức Thư sử dụng trong đơn gửi Thủ tướng Chính phủ.

Thiếu tướng Hoàng Công Tư khẳng định, qua giám định của Viện Khoa học hình sự rõ ràng tiền dollars mệnh giá 1 triệu USD là giả, các hiện vật màu vàng đều là đồng thau, kẽm và thuỷ tinh không có giá trị kinh tế. Sự thật đã rõ ràng, cơ quan ANĐT đề nghị các ông Thái Xuân Kiên, Lê Nam Tiến, Vũ Đức Thư không nên gửi các đơn thư kiến nghị lên các cấp yêu cầu giải quyết cái gọi là “kho báu Hội Hoa Mai”.

Cơ quan ANĐT cũng yêu cầu các ông không được tuyên truyền với mọi người vụ việc đã được kết luận, không làm phức tạp tình hình gây mất cảnh giác đối với người liên quan; đồng thời không được có quan hệ với bất cứ ai xưng danh tổ chức “Hội Hoa Mai” để tránh bị lợi dụng, lừa đảo, gây hậu quả xấu.

Cơ quan ANĐT cũng ra quyết định tịch thu toàn bộ các hiện vật và yêu cầu ba ông Kiên, Tiến, Thư tiếp tục hợp tác với Tổng cục An ninh, Cơ quan ANĐT làm rõ nguồn gốc để giải quyết vụ việc triệt để, đúng pháp luật. Như vậy là, chỉ trong một thời gian ngắn, với tinh thần tích cực, khẩn trương, khách quan đúng pháp luật, Tổng cục An ninh và các cơ quan của Bộ Công an đã làm rõ một vụ việc nhạy cảm, góp phần ngăn ngừa những dư luận, đồn thổi phức tạp về ANTT.

Bài học qua vụ “Kho báu Hội Hoa Mai” nhắc nhở người dân cần cảnh giác với những thông tin về chuyện đi tìm kho báu rộ lên trong thời gian gần đây, để không bị “tiền mất tật mang”

Ngân hàng Mỹ chưa bao giờ phát hành tiền có mệnh giá 1 triệu USD


Theo Cục Phát hành và Kho quỹ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Từ trước tới nay, Bộ Tài chính Mỹ và hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ không hề sản xuất, không phát hành tờ bạc mệnh giá 1 triệu USD.

Vụ Khắc và In tiền của Mỹ cho rằng, họ đã biết về những tờ có mệnh giá 1 triệu USD từ đầu năm 1982 và mọi câu hỏi liên quan cũng đã được gửi trực tiếp cho Sở mật vụ Mỹ để xem xét liệu có sự vi phạm pháp luật tiền tệ Liên bang Mỹ không.


Bộ Tài chính Mỹ cũng cho biết, hiện chỉ có những tờ USD mệnh giá sau đây đang được lưu hành và có giá trị thanh toán: 1 USD, 2 USD, 5 USD, 10 USD, 20 USD, 50 USD, 100 USD. Mệnh giá lớn nhất từng được Vụ Khắc và In tiền Mỹ sản xuất là “chứng chỉ vàng” mệnh giá 100 nghìn USD. Tuy nhiên, mệnh giá tờ tiền này không được lưu hành trong công chúng mà chỉ được sử dụng trong giao dịch chính thức giữa các ngân hàng dự trữ liên bang.


Đối với các tờ tiền mệnh giá 500 USD, 1.000 USD, 5.000 USD, 10.000 USD thì kể từ ngày 14/7/1969 đã chấm dứt lưu hành, các tờ tiền này cũng ngừng sản xuất kể từ thế chiến lần 2. Như vậy, tiền đô la Mỹ lưu hành trên thị trường thì mệnh giá lớn nhất là 100 USD

nguồn http://www.cand.com.vn

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

kho báu của quân Mông Cổ – Phần I

CÂU CHUYỆN BẮT ĐẦU CHO MỘT DỰ ÁN DÒ TÌM

Tôi hỏi :

-Sẽ có bao nhiêu phần trăm thành công trong công việc khám phá ra kho tàng quân lương, khí giới của quân Nguyên ở đáy vịnh Hạ Long ?

Người đàn ông trả lời :

-Có thể từ 10% đến 30%.

-Những gì có thể xẩy ra nếu như người ta tìm thấy chúng ?

Có thể điều này sẽ chứng minh được sự đồng cảm của hiện tại về quá khứ, chứng minh được chiến thuật, chiến lược của kế hoạch xâm lược của Hốt Tất Liệt, Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Trương Vanê Hổ và kế hoạch ứng phó của triều đại nhà Trần mà điển hình là vua Trần Nhân Tông, danh tướng Trần Hưng Đạo và Trần Khánh Dư.

Và điều này cũng xác định lại những biến cố đã ghi trong lịch sử Việt Nam lẫn Trung Quốc là có thực hay không ? Qua đó, lịch sử sẽ được chứng minh rõ ràng.

Ngoài ra là yếu tố để các nhà nghiên cứu sử có cơ hội nhìn các vấn đề thuộc về quá khứ một cách chính xác hơn.

-Ai sẽ có lợi trong sáng kiến của các ông ?

Đây là một chuyến du lịch dã ngoại trên vịnh Hạ Long của 10 thành viên trong một tháng mà mỗi ngày họ phải chi phí bằng số tiền mà họ phải trả cho một khách sạn trung bình ở Hà Nội. Dĩ nhiên, người được hưởng lợi nhất trong việc khám phá này là người Việt Nam, vì trong kho tàng văn hóa lịch sử, trong các viện bảo tàng sẽ có thêm một số cổ vật để trưng bày và trao đổi.

Và cũng có thể từ đó đẽ giúp thêm cho nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu có bằng chứng để làm phong phú hơn cho các công trình của họ.

-Còn các anh thì sao ?

Chúng tôi sẽ là những người hưởng lợi cao nhất về mặt tinh thần vì chúng tôi nghĩ và làm được những điều mình tiên đoán như một họa sĩ sau bao nhiêu trầm tư suy nghĩ trau dồi kỹ năng để tạo ra một tác phẩm để lại cho đời, hay đôi khi chỉ để lại cho chỉ anh ta.

-Câu chuyện đó bắt đầu từ đâu ?

-Vâng, bắt đầu từ một trang trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT), một tác phẩm lịch sử vĩ đại của Việt Nam, bộ sử đó đang nằm ở trong thư viện Hội Á Châu ở Paris, trong các thư viện của các trường Đại Học ở nước ta và ngay ở một cửa hàng sách trung bình ở trong thành phố này.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) trang 60 chép :

Ngày 30-12-1287, thái tử Nguyên A Thai cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh Vạn Kiếp rồi thuận dòng xuôi về đông. Người các hướng Ba Điểm, Bàng Hà đều đầu hàng chúng.

Khi ấy, thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi, thượng hoàng được tin, sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói :

-“Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn”.

Trung sứ theo lời xin đó.

Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều…..

Trong khi đó Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chương VIII, 4 trang 532 chép :

“Khánh Dư đoán chắc thuyền của giặc đã đi qua rồi, thì thuyền tải lương tất đi theo sau, liền thu thập tàn quân, sẵn sàng chờ đợi. Một lát sau, quả nhiên thuyền tải lương của Văn Hổ đến, Khánh Dư đón đánh, quân Nguyên bị thua to. Khi đi đến biển Lục thủy, thuyền của quân Nguyên bị mắc cạn, sa lầy, không chở đi được, lương thực chìm cả xuống biển. Khánh Dư bắt được khí giới, quân nhu rất nhiều. Văn Hổ chỉ thoát được một mình, vội vàng chạy về Quỳnh Châu…..”

Trong Nguyên Sử q 209 An Nam Truyện trang 9b- 10a chép : ” Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm ngoái đến Đồn Sơn gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ đánh , số giết được tương đương nhau. Đến biển LụcThủy thuyền giăc thêm nhiều , liệu không thể địch nổi mà thuyền lại nặng không thể đi được nên đổ thóc xuống biển rôi đi Quỳnh Châu “

Trong sách CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯƠÏC NGUYÊN MÔNG THẾ KỶ XIII của Hà văn Tấn & Phạm thị Tâm, tr.267

Sau khi tách khỏi đoàn quân Thoát Hoan ở Lai Tân ngày 28-10 Âm lịch (4-12-1287), Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đi Khâm châu. Từ đây, đoàn thuyền của chúng xuất phát, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem 1 vạn 8 nghìn quân, bọn Ô Vỵ, Trương Ngọc, Lưu Khuê đem vài vạn quân. Trương văn Hổ đi với thuyền lương…..

……Ô Mã Nhi sau khi qua được cửa An bang, đã theo sông Bạch Đằng tiến về phía Vạn Kiếp. Hắn tưởng rằng quân ta không thể ngăn trở đoàn thuyền lương đi sau được nữa nên cứ tiến thẳng, không chú ý đến Trương văn Hổ….

…..Khánh Dư đã củng cố lực lượng đón địch. Quả nhiên, mọi việc xẩy ra đúng như dự đoán của người tướng mưu trí đó. Tháng 12 âm lịch (5-1 _ 2-2-1288), đoàn thuyền lương nặng nề của Trương văn Hổ không có lực lượng chiến đâu mạnh mẽ yểm hộ, đã chậm chạp tiến vào Hạ long, lọt vào trận địa của Nhân Huệ Vương. Thủy quân ta đã tập kích thuyền giặc ở Vân đồn (Vân hải). Trương văn Hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến biển Lục thủy (cửa Lục, Hòn gai) thì thuyền quân ta đổ ra đánh càng đông. Trương văn Hổ đại bại, đổ cả thóc xuống biển, trốn chạy về Quỳnh châu (Hải nam). Thyền lương của Phi Củng Thìn thì tháng 11 âm lịch (6-12-1287) _ 4-1-1288) mới đến Huệ châu (huyện Huệ dương, Quảng đông)., gặp gió bão trôi giạt đến Quỳnh châu. Thuyền lương của Từ Khánh thì trôi giạt đến tận Chiêm Thành rồi cũng về Quỳnh châu.. Quân ta chiến thắng, “bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất đông”.

Còn Trần Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược trang 151 ông viết ” Ô Mã Nhi đem thuyền đi đến ải Vân Dồn ( Vân Hải , Quảng Yên ) gặp quân của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi , Ô Mã Nhi thúc quân đánh rát một trận , quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền lương…. Được mấy hôm Ô Mã Nhi ra bể gặp thuyền lương của Trương Văn Hổ , lại đem quân trở vào đi trước dẹp đường, Trương văn Hổ đem thuyền lương theo vào sau… Trương Văn Hổ tải các thuyền lương vào cửa bể Lục Thủy Dương( phía đông nam huyện Hoành Bồ tức là vịnh cửa Lục bây giờ ) Khánh Dư đổ quân ra đánh , Văn Hổ địch không nổi , bao nhiêu thuyền lương bị quân Khánh Dư phá cướp mất cà , và bắt được khí giới rất nhiều… “

Trong Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn , Nhà Xuất bản Văn Hửu Á Châu SG 1958 quyến II, trang 216 lại viết ” Trương Văn Hổ cho thuyền lương từ từ tiến vào của Lục (Lục thủy dương là cửa biển gần Hòn Gai , tỉnh Quảng Yên ) Tại đây thuyền lương mắc cạn. Quân ta phục sẳn ùa ra đánh ,thuyền của địch bị đắm gần hết… “

Trong một cuốn sách thường được bán trong khi di du lịch Hạ Long – Cát Bà ?Quảng Ninh là “Hạ Long Đá và Nước? của Nguyễn Ngọc , Nhà xuất bản Thế Giới ?Hà Nội 1999 trang 66 viết ” Đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ… qua khỏi đảo Ba Mùn vì sóng gió lớn chúngbuột phải chọn con đường vào cửa Đối , rồi men theo luồn nước hẹp gọi là sông Mang và sông Cái giữa hai đảo Cái Bàn và Vân Hải……rồi tưng bước dụ chúng vào vịnh cửa Lục… Khánh Dư một mặt thắt chặt miệng túi của Lục lại , một mặt cho quân từ sông Bạch Đằng bốn mặt đổ ra tập kích…”

Có thể tóm tắt theo ĐVSKTT:

Thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng,

Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục:

Khi đi đến biển Lục thủy, thuyền của quân Nguyên bị mắc cạn, sa lầy, không chở đi được, lương thực chìm cả xuống biển. Khánh Dư bắt được khí giới, quân nhu rất nhiều.

Theo CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯƠÏC NGUYÊN MÔNG THẾ KỶ XIII , tr.267

Thuyền lương chậm chạp tiến vào Hạ long,. Thủy quân ta đã tập kích thuyền giặc ở Vân đồn (Vân hải). Trương văn Hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến biển Lục thủy (cửa Lục, Hòn gai) thì thuyền quân ta đổ ra đánh càng đông.

Trần Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược trang 151

Ô Mã Nhi đem thuyền đi đến ải Vân Dồn ( Vân Hải , Quảng Yên ) gặp quân của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi , Ô Mã Nhi thúc quân đánh rát một trận , quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền lương…. Trương Văn Hổ tải các thuyền lương vào cửa bể Lục Thủy Dương( phía đông nam huyện Hoành Bồ tức là vịnh cửa Lục bây giờ ) Khánh Dư đổ quân ra đánh ,

Việt Sử Tân Biên thuyền lương từ từ tiến vào của Lục (Lục thủy dương là cửa biển gần Hòn Gai , tỉnh Quảng Yên ) Tại đây thuyền lương mắc cạn. Quân ta phục sẳn ùa ra đánh

“Hạ Long Đá và Nước? qua khỏi đảo Ba Mùn vào cửa Đối qua giữa hai đảo Cái Bàn và Vân Hải vào vịnh cửa Lục… thắt chặt miệng túi của Lục lại , quân ta từ sông Bạch Đằng bốn mặt đổ ra tập kích…”

Vậy đâu là hải trình thật của thuyền lương do Giao chỉ Hải Thuyền Vạn Hộ Trương Văn Hồ chỉ huy và tọa độ của trận dánh tiêu diệt chúng của danh tướngTrần Khánh Dư ? Giải được câu hỏi này đồng nghĩa với chúng ta sẽ tìm ra….!!

Trước hết cần phải xác định một số địa danh củ và đánh dấu nó trên bản đồ hiện tại

Theo thứ tự các sách đã dẩn thì gồm có Vân Đồn , biển Lục Thủy, Vân Đồn (Vân hải )Cửa Lục ? Hòn Gai , đến ải Vân Đồn ( Vân Hải , Quảng Yên ) cửa bể Lục Thủy Dương( phía đông nam huyện Hoành Bồ tức là vịnh cửa Lục bây giờ ) đảo Ba Mùn , cửa Đối , đảo Cái Bàn và Vân Hải , Bạch Đằng. Thật sự ra chúng ta chỉ tìm hiểu một số địa danh là Vân Dồn , của Lục , biển Lục thủy ,đảo Ba mùn , cửa Đối , Cái Bàn , Vần Hải và Bạch Đằng , mũi Ngọc là có thể hình dung khu vực của trận hải chiến này

Biển Lục Thủy theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chb. VIII,4 trang 533 Biển Lục Thủy ở phía đông nam huyện Hoành Bồ cách huyện 17 dăm ( hiện tại là vùng phìa tây nam Đảo Cát Bà ( Phù Long ) và thị trấn Cát Hải )

Goi là Lục Thủy vì nước biển có màu xanh lục (màu vert) giống như có biển gọi là Biển Đen , Hồng Hải… Màu sắc đặt biệt nước biển trong vịnh Ha Long, Vịnh Bái Tử Long , vịnh Vân Đồn , Lan Hạ , Cát Bà đều có màu xanh lục vi do kết cấu của các đảo dá vôi và phiến thạch hình thành cho nên người Trung Hoa goi vùng biển này là Lục Thủy Dương

Vân Đồn : Tháng năm Kỷ Tỵ (1149) dưới thời vua Lý Anh Tông cho lập phố xá ở Vân Đồn, bấy giờ các nước Qua Oa ( Java) Tiêm La ( Thái Lan) có nhiều thuyền buôn đóng ở Hải Đông (Hoành bồ Cẫm Phả). nên vua cho lập khu riêng biệt trên cù lao để cho họ ở , gọi là Vân Đồn trang

Vân Đồn thuộc Hải đông

Ở Vân Đồn cũng ghi dấu những sự kiện lich sử như năm 1413 Đặng Dung ra Vân Đổn đễ chiêu mộ người và lương thực đánh quân Minh , năm 1418 quân Minh cho lập sở để coi gửi việc mò tìm ngọc trai , năm 1469 Vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đổ thì gọiï là châu Vân Đồn , năm 1743 Thời Trịnh Doanh ,Nguyễn Hửu Cầu lập căn cứ tại Vân Đồn đánh nhau với chúa Trịnh ,… đến thời Tự Đức gọi là tổng Vân Hải huyện Nghiêu phong , Tỉnh Quảng Yên nay là huyện đảo Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh

Thương cảng cổ Vân Đồn có thể được tập trung ờ đảo Cái Bàn và Quan Lạn , dân trên đảo đa số là người Việt Nam , thương nhân Trung quốc và và một số người gốc Thái Lan , Nam dương , Mã lai..

Hiện tại quần đảo Vân Đồn nằm cách Hạ Long 50Km về phía đông nam , gồm có trên 600 đảo lớn nhỏ , ở đây có những hòn đảo lớn như đảo Ba mùn , đảo Cái Bàn ( Trà Bản) , đảo Phượng Hoàng , Ngọc Vừng , đảo Vạn Cảnh , đảo Quan Lạn (Cảnh Cước) đảo Cao Lô , Cô Tô…. nhỏ như đảo Thượng Mai , Hạ mai , Nấc Đất , đảo Vân Đồn ,

Cửa Lục hiện nay là cửa khẩu ra vào vịnh Cửa Lục nằm giửa Bải Cháy và núi Bài Thơ , vịnh này có 6 nhánh sông đổ vào , và các con sông này không có nhánh nào ăn thông với sông Bạch Đằng

Mũi Ngọc mũi đất ở địa đầu Trà cổ ? Mông Cái

Vịnh Hạ Long : Nằm ở đông bắc Việt Nam , là một phần của vịnh Bắc Bộ , bao gồm vùng biển của thành phố Hải Phòng , thị xã Cẫm Phả và một phần của huyện đảo Vân đồn , phìa tây nam giáp đảo Cát Bà , bờ biển dài 120 Km , được giới hạn từ 106 độ 58 phút đến 107 độ 22 phút kinh đôngvà 20 độ 45 phút đến 20 độ 50 phút vĩ bắc , tổng diện tích 1553 Km vuông , gồm 1969 hòn đảo

Đảo của Vinh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch , tập trung ở hai vùng chính là vùng phìa đông nam thuộc vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam thuộc vinh Hạ Long có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 triệu đến 280 triệu năm

Toàn thể vùng đảo đều mang đặt tính của một miển núi đá vôi cổ ( tuồi cabon-Pecmi ) nguyên phát tiến triễn trên đất liền , rồi sau bị nước biển dâng lên làm chìm ngập , người ta có thể nhận thấy điều đó rất rõ qua các bồn nước bao bọc chung quanh là các vách núi đá vôi, các hang động rất phát triễn nằm ở độ cao , các hang luồng ,sau vài trăm triệu măm mực nước biển rút xuống làm nhô lên các đảo hiện nay , phần khác bờ biển ở đó cũng hạ thấp và chìm ngập trong thời gian địa chất gần đây

Đáy của các vụng và eo biển không nơi nào sâu quá 20 m , chủ yếu là cát và đất sét , kể cả bùn và xác thực vật (Thiên Nhiên VN ? Lê Bá Thảo NXB Khoa Học Kỷ Thuật )

Quỳnh Châu, một trong bốn châu của đảo Hải Nam ?Trung Quốc

KẾ HOẶCH TẤN CÔNG ĐẠI VIỆT CỦA HỐT TẤT LIỆT

Ngày 13 tháng 2 năm 1287 Hốt Tất Liệt cho thành lâp ” Chinh Giao Chỉ Hành Thượng Thư Tỉnh ” đó là bộ chỉ huy tối cao điều khiễn việc xâm lược Đại Việt , bổ nhiệm tướng tá ,sắp đặc quân số , chuẩn bị lương thực khí giới và giao cho con trai là Thái Tử Thoát Hoan làm tổng chỉ huy , kế hoặch tấn công vào Đại Việt chia làm ba hướng

Hướng tứ Vân Nam ?Lào Cai ? Yên bái- Việt Trì do A Ruc chỉ huy

Hướng Tư Minh-Lộc Bình Lạng Sơn ? Vạn kiếp do chính Thoát Hoan ? Trịnh Bằng Phi chỉ huy

Hướng Khâm châu ? Mông Cái – Mũi Ngọc ? Biển Lục Thủy ? Bạch Đằng ? Vạn Kiếp do Ô Mã Nhi , Phàn Tiếp chỉ huy với 620 thuyền tham chiến.

Trương văn Hổ , Phi Củng Thìn, Đào Đại Minh phụ trách 70 thuyền vận tải lương đi theo Ô Mã Nhi

Sau 8 tháng chuẩn bị , ngày 11.10.1287 quân Mông cổ xuất phát từ Hồ Bắc

Ngày 18.12.1287 Thoát Hoan đến Tư Minh

Ngày 25.12.1287 vượt biên giới đánh vào nước ta

Ngày 29.12.1287 dến Lạng Sơn

Ngày 2.1.1288 thì Thoát Hoan đã có mặt tại Vạn Kiếp nghĩa là chỉ có 8 ngày sau khi vượt biên giới là quân thù đã tới gần sát Thăng Long,

Ô Mã Nhi khởi hành từ Khâm châu vào ngày 17.12.1287 và ngày 2.1.1288 đã có mặt tại Vạn Kiếp để hội quân với Thoát Hoan , Ô Mã Nhi đi mất gần nữa tháng mới đến được Vạn Kiếp.

NHIỆM VỤ CỦA TRƯƠNG VĂN HỔ

Nhiệm vụ của Trương Văn Hổ là tải lương chính cho đoàn quân viễn chinh Mông cổ , để phòng bị bấc trắc Thoát Hoan lại cho dự trữ thêm một kho lương thực khí giới quân nhu ở Tư Minh dưới quyền điều động của Vạn Hộ Hạ Chỉ và Trương Ngọc

Ở đây vài câu hỏi được đặt ra

Thời gian nào Trương Văn Hổ rời Khâm Châu ?

Trương Văn Hổ phải chuyển lương thực đến Vạn Kiếp chậm nhất là ngày nào

Vai trò của Ô Mã Nhi , Phàn Tiếp trong việc hộ tống thuyền lương ra sao ?

Số thuyền chở lương và hộc lương của quân Mông cổ là bao nhiêu ?

Việc thông tin liên lạc giữa bộ chỉ huy của Thoát Hoan ở Vạn Kiếp đến Tư Minh và Khâm châu nhanh nhất là mấy ngày ?

Hải trình lý tưởng từ Khâm Châu đến Vạn Kiếp sẽ di chuyển qua những đâu ?

Dự báo thời tiết ở biển đông mùa đó ra sao ?

Ai là người cố vấn cho Ô Mã Nhi vàTrương Văn Hổ vạch ra hải trình này

Tại saoTrần Khánh Dư lại có thể dự đoán khi nói với trung sứ của vua Trần Nhân Tông là -“Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn”.

Tai sao chỉ hai ba ngày thôi ? có phải là Trần Khánh Dư biết chắc là mình sẽ hạ độc thủ kẻ thù ở vị trí tọa dộ nào rồi chăng ?

Vị trí đó nằm ở đâu ? có phải là ở Cửa Lục như các nhà sử học về sau này nói đến hay là ở một chổ khác trên Lục Thủy Dương.


Kho Báu Của Quân Mông Cổ – Phần II

PHẦN HAI : HẢI TRÌNH CỦA Ô MÃ NHI

Thời gian nào Trương Văn Hổ rời Khâm Châu ? và phải chuyển lương thực đến Vạn Kiếp chậm nhất là ngày nào?

Trong nhiều tư liệu tham khảo không thấy có ghi ngày nào Trương Văn Hổ rời Khâm Châu và trận Trần Khánh Dư xảy ra ngày nào , nhưng nếu căn cứ vào thời gian khời hành của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thì trong các tài liệu như ĐVSKTT , KĐVSTGCM , Nguyên Sử đều có chép sự kiện Thoát Hoan hội quân ở Vạn Kiếp.

Nguyên Sử q14 Bản kỷ trang 11b chép ” Ngày Giáp dần 28 tháng 11 (2/1/1288) Trấn Nam Vương đến Vạn Kiếp , tất cả các quân đều đến hội ” trong Nguyên Sử q 166 , Phàn Tiếp Truyện cũng có chép là Phàn Tiếp lên hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp

ĐVSKTT tr.60 chép :

……thái tử Nguyên A Thai (Thoát Hoan ) cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh Vạn Kiếp rồi thuận dòng xuôi về đông. Người các hướng Ba Điểm, Bàng Hà đều đầu hàng chúng.

Trong An Nam chí lược q 4 chép ” Tháng 11 ngày mậu tuất ( 17/12/1287 ) chu sư tiến trước qua cửa Vạn Ninh…” ở đây chỉ là Thủy quân ( chu sư ) của cánh Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp từ Khâm châu tiến vào Vạn Ninh ( Mũi Ngọc – Mông Cái ) Nguyên Sử q 4 trang 11b chép ngày 20/12/1287 Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp mới vào Giao Chỉ

Tóm tắt thời gian chuyễn quân của cánh đường thủy của Ô Mã Nhi từ Khâm châu như sau :

Ngày 17 /12/1287 Khởi hành từ Khâm châu

Ngày 20 /12/1287 vào hải phận Đại Việt có thể từ vùng quần đảo Vân Đồn cho dến vùng đảo Cát Bà

Ngày 2/1/1288 Hội quân ở Vạn Kiếp

Trong vòng 12 ngày Ô Mã Nhi sẽ vượt qua cửa Nam Triệu hoặc đi qua eo biển nằm giữaThị Trấn Cát Hải và Phú Long ? Cát Bà hiện nay để vào sông Bạch Đằng rồi từ đó tiến về Vạn Kiếp ? Thăng Long

Cuộc chiến trên sông Bạch đằng trong lần xâm lược thứ ba nay có thể phân tích ra làm 3 giai đoạn

Hai giai đoạn đầu khi Ô Mã Nhi đi vào Hội quân ở Vạn Kiếp và khi Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi ra rước thuyền lương của Trương Văn Hổ thì quân Mông Cổ làm chủ tình thế trên sông , quân Đại Việt chỉ có tập kích lẻ tẻ , Trần Hưng Đạo chỉ tung hết lực lượng phản công khi Thoát Hoan cho rút lui và trận quyết chiến xảy ra vào ngày 9 / 4/ 1288 với sư hiện diện cũa vua Trần Nhân Tông , Thượng hoàng , Nguyễn Khoái và Trần Hưng Đạo Quân Đại Việt đã đánh tan tác quân Mông Cổ, Ô Mã Nhi bị bắt sống , Trương Ngọc tử trận , Phàn Tiếp bị thương

Lúc Hội quân ở Vạn Kiếp là lúc mà Thoát Hoan rất cần được nghe báo cáo về các dữ liệu quân số, lương thực , tình hình nước Đại Việt , các điễm nóng để quyết định cho việc tổng tấn công tiêu diệt quân nhà Trần , chính lúc này là lúc mà Trương văn Hổ phải có mặt , hoạc ít nhất là Ô Mã Nhi phải thông báo cho Thoát Hoan biết về tin túc tình hình các thuyền , lúc này bộ chỉ huy của Mông Cổ ở Vạn kiếp đã hoàn toàn mất liên lạc mà đang lẽ ra thì Trương Văn Hổ phải có mặt trước khi hội quân vài ngày , chính vì thế mà Thoát Hoan ra lệnh cho Ô Mã Nhi trở ra biển tìm Trương văn Hổ KDVSTGCM trang 534 chép “Ô Mã Nhi đợi mãi không thấy thuyền tải lương của Văn Hổ đến , bèn đánh phá trại An Hưng , rồi lại đem quân về Vạn Kiếp , chia ra đóng giử các núi Chí Linh và Phả Lại để làm kế cố thủ ” mặt khác Thoát Hoan điều động kho dự trữ lương thực ít ỏi ở Tư Minh khi cho nhóm quân Nguyên cùng các nhân vật phản quốc như Lê Trắc , Lê Án và con trai Trần Ích Tắc theo hướng Tư Minh tiến vào Lạng Sơn , ngày 1/2/1288 bị quân ta chận đánh tan tác phải chạy trở về Tàu

Quân lương không được tiếp tế , quân Mông Cổ rơi vào thế khốn quẫn….

Từ thời gian và hải trình của Ô Mã Nhi có thể hình dung con đường Trương Văn Hổ sẽ đi qua

Nếu tính sát với các thời điễm đã ghi trong sử liệu của Việt Nam và Trung Quốc thì có thể tính toán dể suy ra gần dúng ngày khởi hành và thời điễm của trận hải chiến này

Ngày 17 /12/1287 Khởi hành từ Khâm châu

Ngày 20 /12/1287 vào hải phận Đại Việt có thể từ vùng quần đảo Vân Đồn cho dến vùng đảo Cát Bà

Khi đi qua Mũi Ngọc bị Nhân Đức Hầu Toàn đem thủy quân chận đánh

Khi đến Vân Đồn bị Khánh Dư chận đánh lần thứ hai nhưng Khánh Dư đánh thất lợi, thượng hoàng được tin, sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh.

Thông tin thất trận này muốn đến được tai vua Trần Nhân Tông đang ở Thăng Long thì người mang tin phải đi từ Quần đảo Vân Đồn đến Cửa Sông Bạch Đằng , rồi từ Bạch Đằng chạy ngựa dến Thăng Long thời gian nay nhanh nhất cũng mất 3 ngày , quyết định của vua Trần Nhân Tông sai Trung sứ đến bắt Khánh Dư đang ỡ tại Vân Đồn cũng mất ít nhất là 4 đến 5 ngày vì Trung sứ không thể đi hỏa tốc như người chạy trạm

Khánh Dư nói :

-“Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn”.

Trung sứ theo lời xin đó.

Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều…..

Như vậy tổng cộng thời gian là : trên dưới 10 ngày kể từ khi Khánh Dư bị Ô Mã Nhi đánh bại cho đến lúc Khánh Dư đánh chìm toàn bộ thuyền lương của Trương Văn Hổ , ta có thể suy ra là Trương Văn Hổ rời khỏi Khâm Châu vào ngày 27 tháng 12 năm 1987 bghĩa là sau Ô Mã Nhi một tuần lể và trận hải chiến này có thể xảy ra trong khoảng ngày 30 tháng 12 năm 1287 cho đến 2 tháng 1 năm 1288 tức là khoảng 3 dến 4 ngày sau

Ai là người cố vấn cho Ô Mã Nhi vàTrương Văn Hổ vạch ra hải trình này

Từ thời Lý Anh Tông(1149) đã cho lập phố xá ở Vân Đồn, bấy giờ thuyền của nhiều nước hay đến buôn bán với nước ta DVSKTT chép : “Trước đây, Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, tục ở đó lấy buôn bán làm nghề nghiệp sinh nhai, ăn uống may mặc đều dựa vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo, đồ dùng theo tục người Bắc. Khánh Dư duyệt quân các trang , ra lệnh : -“Quân trấn giữ Vân Đồn là để ngăn phòng giặc Hồ, không thể đội nón của phương Bắc, sợ khi vội vàng khó lòng phân biệt, nên đôi nón Ma lôi, ai trái tất phải phạt”.

Có thể hình dung được cư dân ở trên các đảo Cát Bà , Cái Bàn , Cái Bầu Quan Lạn , Cô Tô và các đảo nằm trong Vịnh Bắc Bộ đặc biệt vùng vịnh Hạ Long , Bái tử Long , Vân Đồn phần đông là những người buôn bán hay làm nghề đánh cá vì vùng biển ở đây nhiều hải sản , ngọc trai , trung bình có độ sâu 20 m có nơi rất cạn chỉ vài mét như khoảng cách từ Cái Bàn đến Quan Lạn , những người Trung Quốc sinh sống ở vùng này là người biết rỏ về địa hình địa vật , con nước thủy triều lên xuốùng và con đướng nào an toàn nhất , ngắn nhất , vị trí nào để ẩn nấp khi gặp gió bão có thể chính là những người đã giúp cho Ô Mã Nhi và Trương văn Hổ vạch ra hải trình này , đó là con dường đi men theo hải trình mà các thương thuyền hay qua lại , con đường đó đi từ Khâm châu ngang qua Mũi Ngọc , ngang qua đảo Vinh Thực , ngang giữa quần đảo Cô Tô và quần đảo Vân Đồn ( gồm có đảo Ba Mùn ( Đào Cao Lô) Cửa Đối , đảo Quan Lạn ) rồi di ngang qua đảo Thượng Mai , đi sát đảo Hạ Mai đánh một vòng cung qua đảo Long Châu rồi tiến vào Bạch Đằng qua cửa Nam Triệu

Nếu lộ trình này từ Vân Đồn đi vào vịnh Hạ Long rồi đi qua cửa Lục và trận chiến xảy ra ở đây như nhiều nhà sữ học sau này mô tả thì rất là khó hiểu vì trong vịnh cửa Lục không có con sông nào đổ ra sông Bạch Đằng ( Xem bản đồ số 2) vả lại muốn vào cửa Lục thì phải đi qua mấy trăm hòn đảo nhỏ vô cùng nguy hiễm và rất dể bị tập kích , trong khi đómục đích của Trương văn Hổ là vào Bạch Đằng để đi Vạn Kiếp , cho nên nói trận hải chuyến xảy ra trên biển Lục Thủy hay ở tại Vân Đồn là chính xác

Tương quan lực lượng của Mông Cổ và Đại Việt

Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư , Khánh Dư là người thông thạo vùng biển vịnh Bắc Bộ , trong hai cuộc chống quân Mông Cổ trước có lẽ Trần Hưng Đạo và Khánh Dư biết chắc rằng một trong những mũi tấn công của kẻ thù phương bắc nếu có sẽ là hướng từ Khâm Châu ? Mông Cái ? Bạch Đằng vì thế việc điều nghiên địa hình , những nét đặc thù của các quần đảo như Cô Tô , Vân Đồn , Cái Bầu , Cát Bà và những vùng đất dịa đầu như Mõũi Ngọc , Trà Cổ , Vinh Thực ,Chàng Tây , Long Châu là không thể thiếu được vì đó là vành đai vòng cung bảo vệ cho phần đất bên trong , ờ trên đỉnh của các đảo đó nhửng tổ tiền tiêu có thể quan sát hết các hoặc động di chuyển của hải quân Mông Cổ rất dể dàng

Cuộc chạm trán đầu tiên và thất bại của Trần Khánh Dư đối với đội hải quân hùng hậu với 650 chiến thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đã giúp cho Trần Khánh Dư kinh nghiệm và hiểu rỏ hơn con đường mà Trương văn Hổ sẽ phải đi qua , cuộc chiến thắng dể dàng của Ô Mã Nhi lại là một cái bẩy giăng ra cho Trương Văn Hổ sa vào ổ phục kích của Khánh Dư vì khinh thường và thiếu đề cao cảnh giác đối với quân Đại Việt , sự thất bại của Khánh Dư có thể là do sự yếu kém của quân Đại Việt trước lực lượng hùng hậu của Mông Cổ mà cũng có thể là ý đồ của danh tướng họ Trần ? nhưng dù sao thì sự thất bại này là hoàn toàn có lợi trong việc tiêu diệt 70 thuyền lương của Trương Văn Hổ sau này

Trần Khánh Dư chỉ cần 100 chiến thuyền là có thể tiêu diệt nhanh gọn 70 chiếc thuyền lương nặng nề chậm chạp của Trương Văn Hổ , nhưng với 100 chiếc đó nếu giao chiến thì sẽ bị 650 chiến thuyền của Ô Mã Nhi đè bẹp nuốt lốn ngay tức khắc.

Dự báo thời tiết ở biển Đông mùa đó ra sao ?

Tại saoTrần Khánh Dư lại có thể dự đoán khi nói với trung sứ của vua Trần Nhân Tông là -“Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn”.

Tai sao chỉ hai ba ngày thôi ? có phải là Trần Khánh Dư biết chắc là mình sẽ hạ độc thủ kẻ thù ở vị trí tọa độ nào rồi chăng ?

Vị trí đó nằm ở đâu ? có phải là ở Cửa Lục như các nhà sử học về sau này nói đến hay là ở một chổ khác trên Lục Thủy Dương.

Bài đăng bởi Ngoctuan trên khongtu.com

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

“Kho báu” – Truyện ngắn

Sherlock Holmes

Người tù của chúng tôi ngồi trong khoang tàu trước chiếc hộp sắt, mà để chiếm hữu nó, y đã phải chờ đợi bao lâu nay và chiến đấu hung hãn. Y có cái nhìn táo bạo, nước da rám nắng. Khuôn mặt ngang dọc những đường nhăn. Nét mặt hằn sâu màu đồng hun thể hiện cuộc sống dạn dày sương gió. Cái cằm râu rậm sừng sỏ chứng tỏ y không phải là người có thể dễ dàng gạt khỏi mục tiêu đã nhắm. Y trạc tuổi 50. Mái tóc đen quăn lốm đốm rất nhiều sợi bạc. Bình thường, khuôn mặt cũng không đến nỗi nào. Nhưng hàng mày rậm và cái cằm nhô hẳn ra tạo cho bắn vẻ khủng khiếp trong cơn giận dữ. Hắn ngồi, đôi tay bị còng, đầu cúi gằm, cặp mắt lanh lợi chớp chớp nhìn về cái hộp – Nguyên nhân mọi tội ác của hắn. Trong tư thế cứng nhắc có tự chế, tôi nghĩ và phân biệt được nhiều nét buồn rầu hơn là giận dữ. Một lần y ngước mắt nhìn tôi và trong ánh mắt tưởng

như có tia châm biếm….

– Này, ông Johnathan Small, tôi tiếc là công việc lại kết thúc như thế này – Holmes vừa nói vừa châm một điếu xì gà.

– Thế còn tôi đây, thưa ông – Đáp lại – Tôi không nghĩ tôi sẽ tìm ra cách tự minh oan cho mình khỏi vụ án này. Thế nhưng tôi có thể thề với ông trên kinh thánh là tôi không hề đụng vào ông Sholto. Chính Tonga, con chó địa ngục ấy đã phóng ra một trong những mũi tên độc địa của nó đấy. Tôi tuyệt đối không nhúng tay vào, thưa ông! Tôi rất ân hận y như ông ta là người trong gia đình tôi vậy. Tôi đã dùng một mẩu dây tẩn cho con quỷ nhỏ ấy một trận rồi; nhưng trước sự đã rồi, tôi không còn cách gì cứu vãn được nữa.

– Này, hãy hút một điếu xì gà đi! – Holmes bảo – Và ông cũng nên uống một ngụm whisky, ông ướt đẫm cả người rồi. Nhưng mà này, ông nói tôi biết làm sao ông hy vọng một người nhỏ yếu như tên da đen ấy lại có thể bắt giữ được ông Sholto trong khi ông trèo lên bằng dây?

– Dường như ông cũng biết rõ như ông đã có mặt tại đó, thưa ông. Mặc dù thật ra ông đã đến khi không còn ai. Tôi biết khá rõ những thói quen trong nhà, và ông Sholto thường xuống lầu dùng cơm tối vào giờ đó. Tôi không muốn giấu diếm gì trong vụ này. Cách biện hộ tốt nhất của tôi vẫn là nói lên sự thật đơn thuần. Phải chi là viên thiếu tá già kia, tôi đã đưa hắn ta qua bên kia thế giới mà lòng nhẹ nhõm, tôi sẽ ung dung cắt cổ y, cũng ung dung như tôi hút điếu xì gà này vậy! Xui thật. Cứ nghĩ tôi sẽ bị kết án vì ông Sholto em! Thật tình tôi chẳng có lý do gì

để gây gổ với ông ấy!

– Ông Athelney Jones, thuộc Scotland Yard, sẽ chịu trách nhiệm về ông. Ông ấy đưa ông về nhà tôi. Tôi xin ông thuật lại chân thật câu chuyện. Nếu ông tuyệt đối thành thật, nếu ông chẳng giấu diếm gì, tôi hy vọng có thể giúp ông được. Tôi nghĩ tôi có thể dẫn chứng rằng chất độc tác dụng nhanh đến độ nạn nhân chết ngay trước khi ông bước vào phòng.

– Về việc này thì đúng như vậy, thưa ông.

Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ bị chấn động như thế khi tôi thấy ông ta, đầu quẹo trên vai, nhìn tôi với nụ cười diễu gớm ghiếc khi tôi vào bằng cửa sổ. Điều này làm tôi rất xúc động, thưa ông! Chắc là tôi đã giết Tonga nếu nó không bỏ trốn đi

trước. Ấy chính vì thế mà nó để lại cái chùy đá và một số tên, theo như lời nó nói. Tôi chắc là việc này đã giúp ông tìm ra dấu vết chúng tôi, phải thế không ạ? Mặc dầu tôi không thấy ra được bằng cách nào ông đã theo dõi chúng tôi được đến tận cùng. Tôi không đem lòng oán giận ông đâu, ông biết cho. Nhưng có điều lạ là tôi thì ngồi đây, trong khi tôi có quyền lợi chính đáng chiếm hữu nửa triệu đồng… Tôi đã dùng nửa cuộc đời thứ nhất của tôi để xây một cái đập trong vùng Andaman; phần đời còn lại tôi có cơ hội tốt để đào hầm ở Dartmoor! Cái ngày tôi gặp tên lái buôn Achmet và kho báu Arga quả thật là một ngày tai họa! Thưa ông, cái kho báu ấy tự thuở nào vẫn là điềm bất hạnh cho những ai nắm giữ nó. Tên lái buôn thì bị ám sát. Còn thiếu tá Sholto thì sống trong nỗi sợ hãi và ô nhục. Riêng tôi, kho báu ấy chỉ mang lại cho tôi cả một cuộc sống nô lệ.

Lúc đó, Athelney Jones thò cái đầu tròn của ông ta vào:

– Ơ, đúng là một cuộc hội họp gia đình! – Ông thốt lên – ông Holmes ạ, tôi nghĩ tôi sẽ nếm thử chút whisky của ông. Thế là ta có quyền khen tặng lẫn nhau. Tiếc là ta không bắt sống được tên kia Nhưng lúc ấy nào ta đâu có quyền chọn lựa! Dầu sao, ông Holmes ạ, ông cũng thừa nhận là ta tóm họ vừa đúng lúc. Ta đã phải xả hết tốc lực.

– Khởi đầu tốt thì chung cuộc cũng tốt thôi, – Holmes nói – Nhưng tôi không ngờ chiếc “The Aurora” lại nhanh thế!

– Smith nói chiếc đò máy của y là một trong những chiếc nhanh nhất trên sông, và nếu có thêm người phụ ở buồng máy thì không bao giờ ta đuổi kịp. Y thề chẳng hay biết gì về vụ án mạng ở Norwood cả.

– Đúng đấy! – Người tù của chúng tôi buột miệng nói lớn – Tôi chẳng tiết lộ điều gì với y. Tôi chọn chiếc đò máy của y vì nghe nói nó chạy như gió. Nhưng chỉ có thế thôi. Tôi trả tiền y rất hậu, và có hứa cho y một phần thưởng xứng đáng nếu y đưa chúng tôi ra tàu Esmeralda đang đậu tại Gravesend, để khởi hành đi Brasil.

– Thế nếu y không làm gì đáng chê trách, thì chẳng có gì tai hại xảy ra cho y cả. Bắt tội phạm thì ta khá nhanh tay, nhưng kết án thì ta chậm hơn.

Thật là tức cười khi thấy Jones cứ làm ra vẻ quan trọng khi mọi việc bắt bớ đã xong. Tôi thoáng thấy một nụ cười phớt qua khuôn mặt Shelock Holmes, sự thay đổi thái độ này không qua được mắt anh.

– Ta sắp đến cầu Vauxhall – Jones nói – Bác sỹ Watson, tôi đưa ông lên bờ cùng với cái hộp đựng kho báu. Khỏi cần nói với ông rằng như vậy là tôi nhận lãnh một trách nhiệm rất nặng nề, bởi vì hoàn toàn không nằm trong nguyên tắc. Nhưng ta đã thỏa thuận về điểm này rồi; tôi không tự mâu thuẫn đâu. Tuy nhiên bổn phận tôi buộc tôi phải cho một viên thanh tra hộ tống bác sỹ, vì giá trị to lớn của cái hộp. Chắc hẳn ông sẽ đi bằng xe?

– Vâng, tôi đi nhờ.

– Thật tiếc là không có chìa khóa để ta có thể tiến hành việc liệt kê sơ khởi. Các ông sẽ phải phá ổ khóa. Này, Small, chìa khóa đâu rồi?

– Dưới đáy sông.

– Hừm? Thật là vô ích khi ông gây thêm cho chúng tôi cái trở ngại đó nữa. Ông đã tạo cho chúng tôi khá nhiều rắc rối rồi. Dầu sao, bác sỹ à, tôi không cần dặn dò ông là phải rất cẩn thận. Bác sỹ hãy đem cái hộp về phố Baker. Chúng tôi đợi bác sỹ tại đó trước khi đi đến kho tang vật.

Họ bỏ tôi xuống Vauxhall, tôi và cái hộp sắt nặng trịch, cộng thêm một viên thanh tra khỏe mạnh và dễ mến. Một chiếc xe đưa chúng tôi đến nhà bà Cecil Forrester trong không đầy 15 phút. Bà bồi phòng tỏ vẻ ngạc nhiên về cuộc viếng thăm muộn màng như thế; bà giải thích là bà Forrester tối ấy đi vắng và có lẽ sẽ về rất muộn. Nhưng cô Morstan có ở phòng khách. Tôi nhờ người đưa vào phòng khách với cái hộp. Viên thanh tra đồng ý ngồi lại trong xe.

Cô Morstan ngồi cạnh cửa sồ để mở, mặc một chiếc áo trắng mờ đục nổi bật nhờ đường viền màu đỏ thắm ở cổ và ở thắt lưng. Dưới cái chao đèn, ánh sáng dịu tỏa chiếu đều đặn đến khuôn mặt thanh tú và những lọn tóc quăn mượt mà óng ánh của cô. Tựa lưng vào chiếc ghế mây, một tay buông về một phía, dáng cô trông sầu não, trầm tư. Nhưng khi nghe tôi vào, cô đứng hẳn dậy và đôi má xanh xao phớt hồng vì ngạc nhiên và vui mừng.

– Tôi có nghe rõ tiếng xe ngừng trước cửa – Cô nói – Tôi nghĩ bà Forrester trở về quá sớm, không ngờ lại là ông. Ông mang lại cho tôi tin gì vậy?

– Còn hơn là “tin” nữa kia! – Tôi nói.

Rồi tôi đặt cái hộp lên bàn.

Tim tôi nặng trĩu, nhưng tôi cố làm ra vui vẻ:

– Tôi mang đến cho cô cái còn qúy hơn tất cả tin tức trên thế giới này. Tôi mang đến cho cô một gia tài.

Cô liếc nhìn chiếc hộp.

– Vậy đây là kho báu đấy? – Cô hỏi.

Giọng cô thoáng vẻ thờ ơ khó tả.

– Vâng, kho báu to lớn xứ Arga đấy! Một nửa về ông Thaddeus Sholto, nửa kia thuộc về cô. Mỗi người có khoảng chừng 200.000 đồng. Cô có hình dung ra điều đó là như thế nào không? Ở nước Anh hiếm có phụ nữ nào giàu hơn cô đấy. Không tuyệt vời sao?

Có lẽ tôi hơi quá lời trong những biểu lộ niềm hân hoan, và giọng những lời tán tụng của tôi không hoàn toàn có sức thuyết phục, tôi thấy cô khẽ nhướng mày và nhìn tôi với vẻ lạ lùng.

– Nếu tôi có được – Cô nói – Chính là nhờ ông chứ gì?

– Không đâu! – Tôi đáp – Không phải nhờ tôi, mà là nhờ anh bạn Shelock Holmes của tôi. Với tất cả thiện chí tốt nhất trên đời, tôi cũng không tài nào gỡ rối cái mớ bòng bong ấy được. Vả chăng suýt nữa là chúng tôi làm mất kho báu ấy vào phút chót…

– Mời ông ngồi, bác sỹ Watson. Xin bác sỹ cho tôi nghe trọn câu chuyện đi.

Tôi thuật lại cho cô vắn tắt những sự việc y như chúng diễn tiến từ lúc tôi gặp cô ta. Cái phương pháp truy tầm mới mẻ Holmes đã dùng, việc phát hiện ra chiếc “The Aurora”, sự xuất hiện của Jones, những công việc chuẩn bị, cuộc đuổi bắt điên cuồng trên sông Thames. Mắt sáng ngời, môi rung rung, cô lắng nghe những câu chuyện mạo hiểm của chúng tôi. Lúc tôi nói đến cái mũi tên nhắm trật chúng tôi trong đường tơ kẽ tóc mặt cô biến sắc nhợt nhạt, tưởng như cô sắp sửa ngất xỉu.

– Không sao đâu? – Cô thì thào, khi tôi đưa cho cô ly nước – Chỉ hơi khó chịu tí thôi; thật là một chấn động khi tôi hiểu ra rằng tôi đã đặt các bạn bè tôi vào một sự nguy hiểm kinh khiếp đến thế.

– Bây giờ mọi chuyện đã qua rồi – Tôi đáp – Ta hãy gạt sang một bên những chi tiết buồn thảm ấy đi. Ta hãy nói đến một cái gì vui vẻ hơn: kho báu đây rồi. Còn có gì vui hơn? Tôi được phép mang nó theo nghĩ rằng cô sẽ hài lòng là người đầu

tiên được trông thấy nó.

– Tôi thích lắm chứ! – Cô nói.

Giọng cô thiếu sự vồn vã. Nhưng có lẽ cô nghĩ có phần thiếu lịch sự nếu tỏ ra hững hờ trước một chiến tích khó mà giành giựt đến thế.

– Chiếc hộp đẹp quá – Cô vừa nói vừa xem xét nó – Tôi đoán nó được chế tạo tại Ấn Độ?

– Vâng, tại Benares.

– Lại nặng đến thế! Cô thốt lên và nâng thử nó – Chỉ riêng cái hộp thôi cũng đủ có giá trị rồi. Thế chìa khóa đâu rồi?

– Small đã ném nó xuống sông Thames rồi – Tôi đáp – Có lẽ phải mượn que củi của bà Forrester thôi.

Ở mặt trước chiếc hộp có một cái móc chắc chắn hình ông Phật ngồi. Tôi tìm cách nhét lần que củi vào bên dưới, và tạo một lực đòn bảy. Ô khóa bung ra với một tiếng “cắc” nghe rõ. Tay run rẩy, tôi mở nắp ra. Cả hai chúng tôi rất đỗi kinh ngạc:

Chiếc hộp trống trơn.

Nó nặng đến thế thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Một lớp sắt luyện dày gần 2 inch, bao bọc nó hoàn toàn. Nó được chế tạo kỹ lưỡng, đồ sộ vững chắc. Chiếc hộp chắc chắn được chế ra với mục đích đựng những vật quý giá. Nhưng bên trong, chẳng có lấy một mẩu nhỏ nào, không có lấy mảnh kim loại hoặc đá quý. Chiếc hộp tuyệt đối và hoàn toàn trống rỗng.

– Kho báu mất rồi – Cô Morstan nói với giọng điềm tĩnh lạ thường.

Nghe câu nói ấy và hiểu trọn vẹn ý nghĩa của nó, tưởng như cái bóng u ám đè nặng xa khuất khỏi hồn tôi. Trước kia tôi chưa thấy hết cái kho báu Arga đè nặng trên tôi đến mức nào.

Tôi chỉ ý thức ra được điều này vào lúc kết cục kho báu bị gạt ra ngoài. Thật là vị kỷ, hẳn nhiên rồi. Tôi thật bất chính và độc ác. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: giữa hai chúng tôi bức tường vàng đã không còn nữa.

– Cám ơn, chúa tôi! – Tôi thốt lên tự đáy lòng mình.

Cô nở một nụ cười thoáng qua rồi nhìn tôi vẻ tra vấn:

– Tại sao bác sỹ lại nói thế?

– Bởi vì giờ đây em lại ở trong tầm tay anh – Tôi nói, tay tôi đặt lên tay nàng – Bởi vì, Mary ơi, anh yêu em: yêu em chân thành như chưa có người đàn ông nào yêu một phụ nữ như thế. Bởi vì cái kho báu ấy với tất cả của cải của em khiến anh không thốt nên lời được. Bây giờ nó mất đi rồi anh mới nói được với em là anh yêu em biết chừng nào. Đấy, tại sao anh lại nói: “Cám ơn, chúa tôi”.

– Thế thì em cũng nói: “Cám ơn, chúa tôi” – nàng thì thầm.

Có một kẻ nào đó chắc chắn đã đánh mất một kho báu vào đêm đó; nhưng riêng tôi, tôi vừa mới được một kho báu khác.

(sưu tầm)

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »