Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 22nd, 2009

Việc sản xuất nhái hàng đồ sứ (của các thời kỳ trước ) dưới triều đại nhà Minh

Chính các Hoàng đế trong triều đại Minh đã gây tác động đến trào lưu này. Hoàng Đế Xuande , chẳng hạn, đã ra lệnh cho ngự diêu xưởng Cảnh Đức Trấn tái sản xuất đồ sứ Ru và Ge từng được các lò chuyên về hai dòng celadon này làm dưới thời Tống, làm lại những mẩu vật phản ánh được sở thích của Hoàng triều thời Tống bao gồm các bản sao mô phỏng tô chén Ruyao và các bản sao mô phỏng đĩa Geyao. Hoàng đế Chenghua kế tục Xuande lại tiếp tục truyền thống tương tự bằng việc ủy nhiệm làm nhiều hàng mô phỏng dòng đồ sứ Ru và Ge của triều đại Tống.

Cùng với sự phát triển và mở rộng thị trường gốm sứ vào cuối triều đại nhà Minh, nhiều lò gốm tư nhân đã được thiết lập để cạnh tranh với những lò mà triều đình quản lý. Như vậy, đồng thời với những lò gốm tại Cảnh Đức Trấn nằm dưới sự bảo hộ và giám sát của triều đình , các lò tư nhân này cũng sản xuất nhái hàng đồ sứ thuộc các thời kỳ trước . Gốm sứ được ưa chuộng bởi triều đình đương thời cũng tìm đường lần về với những đồ từng được sản xuất dưới thời các Hoàng đế Minh Yongle, Xuande, và Chenghua, và các bản sao như thế lại được ủy nhiệm để làm. Trong suốt thời kỳ này, không những đã có những đồ gốm sứ bắt chước gốm sứ của các dòng Guan, Ding, Ge, Jun, Longquan của triều đại Tống mà còn có đô sứ nền trắng vẽ men lam, đồ doucai (đấu thái) , đồ sứ vẽ men 2 màu đỏ và xanh lá và đồ sứ nền men trắng vẽ men đỏ sao chép lại đồ được sản xuất đầu thời kỳ nhà Minh.

Dưới đây là rất nhiều hình ảnh tư liệu minh họa cùng chú thích của Viện Bảo Tàng Cung đình Bắc Kinh. Việc giám định niên đại cổ vật là một công tác chuyên môn vô cùng khó khăn của những người có trách nhiệm. Hy vọng qua loạt bài về “hàng mô phỏng” (replicas) này độc giả sẽ có hình dung rỏ nét và trực quan hơn về lĩnh vực cổ vật gốm sứ Trung Hoa.

1.- Celadon bowl with incised floral design, Longquan ware, Song dynasty 5.8cm h; diameter: 17.3cm (mouth), 4.3cm (foot)

(Chén Celadon triều Tống, dòng Longquan, hoa văn khắc chìm)

real 001

real 001a

Celadon bowl with incised floral design imitating Longquan ware of the Song dynasty, reign of Emperor Yongle, Ming dynasty6.3cm h; diameter: 15.3cm (mouth), 5cm (foot)

( Chén celadon hoa văn khắc chìm sx dưới triều Hoàng Đế Yongle nhà Minh sao chép gốm Longquan của triều đại nhà Tống ):

immitate 001

immitate 001a

2.- Large circular dish, Ru ware, Song dynasty 3.2cm h; diameter: 17cm (mouth), 9cm (foot)

(Đĩa tròn lớn , gốm Ru, triều đại Tống)

real 002

real 002a

Large circular dish imitating Ru ware of the Song dynasty, reign of Emperor Xuande, Ming dynasty

4.2cm h; diameter: 17.6cm (mouth), 11cm (foot)

( Đĩa tròn lớn bắt chước gốm Ru của triều đại Tống, được sx dưới thời Hoàng Đế Xuande, nhà Minh):

immitate 002

immitate 002a

3.-  Large circular dish, Jun ware, Song dynasty 3.5cm h; diameter: 18cm (mouth), 7.9cm (foot)

(Đĩa tròn lớn , gốm jun, triều đại Tống)

real 003

real 003a

real 003b

Large circular dish imitating Jun ware of the Song dynasty, reign of Emperor Xuande, Ming dynasty

4cm h; diameter: 15.9cm (mouth), 9.2cm(foot)

( Đĩa tròn lớn bắt chước gốm Jun của triều đại Tống, được sx dưới thời Hoàng Đế Xuande, nhà Minh):

immitate 003

immitate 003a

4.-  Bowl, Jun ware, Song dynasty

7.5cm h; diameter: 19.8cm (mouth), 5.6cm (foot)

( Chén dòng gốm Jun, triều đại Tống)

real 004

real 004a

Bowl imitating Jun ware of the Song dynasty, reign of Emperor Xuande, Ming dynasty

7.2cm h; diameter: 18.4cm (mouth), 7.1cm (foot)

( chén bắt chước gốm Jun của triều đại Tống, được sx dưới thời Hoàng Đế Xuande, nhà Minh):

immitate 004

immitate 004a

5.-Octagonal bowl, Ge ware, Song dynasty 4.2cm h; diameter: 7.8cm (mouth), 2.8cm (foot)

( Chén bát giác dòng gốm Ge, triều đại Tống)

real 005

real 005a

Chrysanthemum-petal bowl imitating Ge ware of the Song dynasty, reign of Emperor Chenghua, Ming dynasty

5.1cm h; diameter: 7.6cm (mouth), 3.3cm (foot)

( chén cánh hoa cúc bắt chước gốm Ge của triều đại Tống, được sx dưới thời Hoàng Đế Chenghua, nhà Minh):

immitate 005

immitate 005a

6.- Burner with two handles in shape of fish, Ge ware, Song dynasty

9cm h; diameter: 11.8cm (mouth), 9.6cm (foot)

(Nồi nấu hai quai hình dạng cá, gốm Ge, triều đại Tống)

real 006

real 006a

Burner with two handles in shape of fish imitating Ge ware of the Song dynasty, Ming dynasty

8.9cm h; diameter: 10.5cm (mouth), 7.8cm (foot)

(Nồi nấu hai quai hình dạng cá bắt chước gốm Ge, triều đại Tống được sản xuất dưới triều nhà Minh)

immitate 006 Ming

immitate 006a Ming

Burner with two handles in shape of mouse imitating Ge ware of the Song dynasty, reign of Emperor Yongzheng, Qing dynasty

7.8cm h; diameter: 12.2cm (mouth), 8.8cm (foot)

(Nồi nấu hai quai hình dạng con chuột bắt chước gốm Ge, triều đại Tống được sản xuất dưới triều Hoàng Đế Ung Chính, nhà Thanh)

immitate 006 Qing

immitate 006a Qing

7. Flask with tubes on shoulders, Guan ware, Song dynasty

23cm h; diameter: 9.3-7.1cm (mouth), 9.9-8.2 cm (foot)

( Bình chứa nước gắn ông nhỏ trên vai bình, dòng gốm Guan, triều đại Tống)

real 007

real 007a

Flask with tubes on shoulders imitating Guan ware of the Song dynasty, Ming dynasty

20.8cm h; diameter: 9.6-7.3 cm (mouth), 9-7.3 cm (foot)

( Bình chứa nước gắn ông nhỏ trên vai bình bắt chước dòng gốm Guan, triều đại Tống được sx ở triều đại nhà Minh)

immitate 007

immitate 007a

8.- Mallow-petal basin, Guan ware, Song dynasty

3.4cm h; diameter: 11.6cm (mouth), 9cm (foot)

( Chậu nặn vành miệng hình lá cây cẩm quỳ, gốm Guan, triều đại Tống)

real 008

real 008a

Mallow-petal basin imitating Guan ware in Song dynasty, Ming dynasty

3.3cm h; diameter: 12cm (mouth), 10cm (foot)

( Chậu nặn vành miệng hình lá cây cẩm quỳ sao chép gốm Guan, triều đại Tống được sx dưới triều Minh)

immitate 008

immitate 008a

9.-  Bowl with impressed floral design, Ding ware, and Song dynasty

5.9cm h; diameter: 20.3cm (mouth), 4.4cm (foot)

(chén hoa văn ám họa, gốm Ding (bạch định), triều đại Tống)

real 009

real 009a

real 009b

Bowl with impressed floral design imitating Ding ware of Song dynasty, Ming dynasty

7.3cm h; diameter: 20.8cm (mouth), 5.3cm (foot)

(chén hoa văn ám họa sao chép gốm Ding (bạch định), triều đại Tống được sx dưới triều Minh)

immitate 009

immitate 009a

immitate 009b

KhanhHoaThuyNga sưu tầm và dịch

Các bài viết liên quan:

Việc sản xuất nhái hàng đồ sứ (của các thời kỳ trước ) dưới triều đại nhà Minh (2)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Nghệ thuật uống trà Huế

netdeptrongcachuongtrahue

Một chén trà nâng mời bạn bè, một chén trà trò chuyện tâm giao, thú uống trà đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc của người dân Việt Nam cũng như của nhiều dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, tuỳ theo nếp sống, văn hoá của từng dân tộc mà người ta thưởng thức trà với nhiều phong cách và phương thức khác nhau. Trong chén trà mở đầu câu chuyện chung ấy, với riêng Huế, uống trà là một nghệ thuật với bao sự sắp đặt công phu và cả những nghi thức của một vùng văn hoá .

Trước hết, uống trà theo kiểu cung đình Huế thì phải có một bộ đồ trà đúng kiểu . Không phải chỉ có một bộ đồ trà dùng cho suốt cả 4 mùa mà kiểu cách uống trà của Huế còn thể hiện ở chỗ có bốn loại chén trà dành cho bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Người Huế uống trà theo mùa còn gọi là thời trà. Trong bộ đồ trà ấy, những chén Tống, chén quân, dầm, bàn … đều có những qui định riêng,chức năng riêng. Người Huế uống trà như là một hình thức lễ nghi, dẫu uống một người ( còn gọi độc ẩm ), hai người ( còn gọi đối ẩm ), ba người, bốn người hay nhiều người ( còn gọi quần ẩm) thì mọi thao tác vẫn được giữ nguyên, kể cả những cung cách pha trà, rót trà, nâng ly trà.

Về nguyên liệu chỉ có hai loại đó là trà và nước. Nhưng chỉ riêng hai nguyên liệu này cũng đã có hàng ngàn trang viết. Sự cầu kỳ, công phu ở đây không bút mực nào tả xiết, từ việc hái chè xanh ở hướng nào, giờ nào, cách ngắt ngọn ra sao, người thiếu nữ hái chè để móng tay dài bao nhiêu, cho đến việc ngâm tẩm, phơi, sao khô là cả những qui trình nghiêm ngặt. Cho nên mới có những câu chuyện về Trảm mã trà ( Trà ngựa ), Hầu trà ( Trà khỉ), Trùng điệp trà ( trà sâu), Tiên knhai trà ( Trà tiên) … Nước để pha trà cũng có những câu chuyện dài, nước mưa hứng từ đâu , nước giếng thì giếng phải sâu như thế nào, nước suối thì lấy ở đoạn nào: đầu nguồn, giữa nguồn hay cuối nguồn …. Sự công phu ấy cho thấy trà không đơn thuần là một thức uống mà người ta đã lồng vào đó bao công sức và tâm huyết để nâng lên thành một nghệ thuật .

Ở Huế còn lưu truyền câu chuyện hứng sương trên lá sen để lấy nước pha trà , còn trà thì được bọc trong hoa sen để có hương thơm tự nhiên. Đun nước để pha trà cũng là một nghệ thuật . Để có một bình trà ngon, nước đun sôi chỉ ở dạng sủi tăm, nước sôi già quá sẽ làm trà nhanh chín, hương thơm không còn. Tinh tế đến như thế thì người uống trà cũng phải có một tâm hồn nhẹ nhàng , luôn hướng đến những vẻ đẹp của đất trời, của con người thì mới thẩm thấu hết hương vị của chén trà. Cũng như nhiều quốc gia uống trà khác trên thế giới, thú uống trà của người Huế có xuất phát từ cung đình. Từ cung đình ra dân gian, tính chất nghi lễ và sang trọng giảm dần nhưng cái hồn của thú thưởng thức trà vẫn được giữ nguyên, bạn bè uống cùng nhau chén trà để tăng thêm tình thân thiết. Dẫu không uống tại lầu son, gác tía như các bậc vua chúa, quan quyền nhưng trong không gian đơn sơ, dân dã, chén trà vẫn được chủ nhân nâng hai tay mời bạn, khách và chủ đều tôn trọng nhau, chén trà vì thế vẫn nặng tình, nặng nghĩa

Trong thú uống trà của người Huế, có một điều đặc biệt là luôn đi kèm với một loại bánh đặc sản của Huế đó là các loại bánh in làm bằng hạt sen, đậu xanh, hoặc bằng bột nếp được gói bằng giấy màu ngũ sắc của Huế. Những ngày Tết, người Huế còn có thêm món mứt gừng. Đón chén trà nóng từ tay bạn hiền trao, nếm lát mứt gừng Kim Long nổi tiếng có vị ngọt ,hơi cay nồng ấm thế là như thấy cả một mùa mùa xuân đang về trong đất trời và trong cả lòng người.

Thú vui uống trà bây giờ đã trở nên phổ biến trong đời sống của nhiều người dân Huế từ già đến trẻ. Người ta tìm thấy một sự tĩnh tâm, lắng đọng khi uống trà. Trong không gian xanh mướt của những ngôi nhà vườn xứ Huế, con người được giải toả khỏi những áp lực công việc, tìm thấy chính mình trong sự tĩnh lặng và sâu sắc mà hương vị chén trà đem lại. Đó chính là ý nghĩa cuối cùng của thú uống trà mà nhiều người đã chiêm nghiệm và thu nhận lại cho chính mình, làm giàu có đời sống tinh thần của bản thân và cũng là của vùng đất Huế.

Nguồn: website HUẾ

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Văn hóa ẩm trà

vănhóatrà

Người Việt từ xưa, dù sống ở đồng bằng hay miền núi, dù là người sang hay kẻ hèn, luôn giữ một tập tục quý – tục uống trà. Trà không thể thiếu vào những ngày giỗ, Tết, trên bàn thờ tổ tiên hay bên lề hội họp… Trà là cái bắt đầu, là sự kết thúc. Cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, người ta uống trà để “phản quan tự kỷ”; vui uống, buồn uống, một hay nhiều người cũng uống, uống trà để thấy chính mình, để sẻ chia… Sự tha thiết ấy phải chăng vì trà là người bạn trung gian, một nét văn hóa sống của người Việt.

Trà từ dân gian, cung đình

Uống trà đã trở thành một thói quen của người Việt từ xa xưa. Trà không những được dùng làm thức uống mà còn là phẩm vật trong sính lễ, ma chay, tạ lễ, tiếp khách. Khách đến chơi thì chủ nhà dù có bận đến mấy cũng dừng việc, pha trà. Người bình dân uống trà kiểu bình dân, quý tộc có tiệc trà kiểu quý tộc. Tất cả đều thể hiện sự trân trọng, lòng hiếu khách. Bên tách trà nóng, biết bao điều được đề cập, thổ lộ, tâm tình. Ngày nay, vẫn còn nhiều người nhất là ở thôn quê rất thích dùng chè xanh với vị ngọt chát, hương thơm nhẹ nhàng. Chè xanh được pha chế rất giản dị, dù mưa hay nắng, ấm chè xanh bên bếp lửa hồng vẫn cứ hiện hữu như một phần đời không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật của người dân quê.

Theo Lục Vũ thì cây chè đã từng có mặt ở Trung Hoa, qua thời gian người Trung Hoa nâng việc uống chè thành nghệ thuật ẩm trà, hay còn gọi là Trà kinh. Còn ở Việt Nam , uống trà cũng trở thành một thú chơi, một loại hình nghệ thuật với đầy đủ ý nghĩa của nó. Dù không có những tác phẩm kinh điển về trà như Ẩm trà ca của Lưu Đồng hay Trà kinh của Lục Vũ (Trung Quốc) nhưng Việt Nam vẫn có “văn hóa trà”, thể hiện tâm tư tình cảm của con người thông qua chén trà. Uống trà đã trở thành thú vui tao nhã, một nét văn hóa của người Việt, được xem như thuật ứng xử trong cuộc sống.

Trải qua bao biến cố lịch sử, nhiều gia đình ngày nay vẫn lưu giữ những bộ tách trà cổ quý giá, với những kiểu ấm, chén dành cho độc ẩm, song ẩm hay quần ẩm. Để có một cuộc trà ngon với đầy đủ lễ nghi phải hội đủ những tiêu chí: Nhất thủy (tức nước pha trà), Nhì trà (loại trà ngon), Tam bôi, Tứ bình (là dụng cụ để pha và uống trà). Tùy theo từng miền Bắc, Trung , Nam mà cách dùng ấm và chén trà có khác. Người Huế còn dùng kiểu Vu xuân thu ẩm – cho mùa Xuân và mùa Thu; kiểu Hạ ẩm dùng cho mùa Hạ, chén nhỏ giúp nước nhanh nguội; kiểu Đông ẩm thì chén trà dày, lòng chén sâu giữ cho trà lâu nguội.

Mời trà là một lối ứng xử văn hóa biểu hiện sự lễ độ, lòng mến khách. Uống trà cũng là một cách ứng xử văn hóa, uống để đáp lại lòng mến khách của người mời trà, để bắt đầu lời tâm sự. Uống từng ngụm nhỏ để cảm thức hết các dư vị của trà, mỗi loại trà có những vị hương khác nhau, khi thì đằm thắm hương cúc, lúc thì ngọt ngào hương nhài và bát ngát hương sen… Mời và dùng trà cũng là biểu hiện sự tri kỷ, kết giao, lòng mong muốn hòa hợp.

Đôi khi trà đối với con người như là bạn là tri kỷ, trà mang lại cái hương vị ngọt ngào của cuộc sống, đắng chát của cuộc đời và mênh mang triết lý nhân sinh. Chúng ta có thể uống trà vào bất cứ thời khắc nào trong ngày. Như thế, trong đời sống thường nhật, uống trà đã trở thành nét nghệ thuật, nghĩa cử thanh cao, thanh thản và thăng hoa tâm hồn. Như một nghệ thuật sống, uống trà làm khuây khỏa đi bao buồn phiền trong cuộc đời: “Biết bao giờ mới gặp, bạn trà trên nhân gian. Lưu tình trong chén sứ, trong hương trà quan san”.

… đến chốn thiền môn

Nếu Trà đạo Nhật Bản chú trọng đến không gian trà thất và nâng nghệ thuật uống trà thành Trà đạo, người Trung Hoa chú trọng đến pháp thức uống trà, từ đó đưa nghệ thuật uống trà thành Trà pháp thì người Việt Nam, có lẽ cửa Phật là nơi thích hợp nhất cho việc thưởng trà và đồng nhất việc uống trà thành phương pháp “tĩnh tâm điều tức”, Trà thiền. Người thế tục uống trà để tìm được sự bình an giữa cõi tục, để tự mình khám phá những ý niệm, những suy nghĩ tâm đắc trong cuộc đời. Trà ở nhà Phật khác với đời thường. Cuộc thiền trà có thể đưa con người vào trạng thái an tĩnh, cho nên trà được xem như phương tiện tĩnh tọa, nên có câu: “Trà vị thiền vị thị nhất vị”, nghĩa là trà và thiền là một.

Phải nói rằng Thiền trà ở cửa Phật thể hiện rõ nét những triết lý Nho, Phật và Lão Trang qua bốn chữ Hòa, Kính, Thanh, Tịnh. Hòa là sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người; Kính là sự kính trọng, biết ơn trước sự tồn tại của sự vật; Thanh là sự thanh khiết của vật chất và tinh thần, Tịnh là sự bình an của tâm hồn. Uống trà khiến cho tâm trí minh mẫn, tinh thần sảng khoái, giúp con người thăng hoa đời sống tinh thần.

Trải qua thời gian, trà lặng lẽ bước vào đời sống con người, tuy hết sức tình cờ, giản dị nhưng lại mang nét đẹp thanh tao. Từ bao giờ, uống trà đã trở thành thú vui của nhiều người. Trà là khúc nhạc hay, tuy không có thanh điệu khiến người uống phải đồng âm hòa lại. Người ta có thể uống trà trong im lặng và nhiều khi im lặng là “nói” rồi nên có thể xét đoán tâm lý người đối ẩm lúc thưởng trà. Khi trà trở thành thú chơi tao nhã thì người ta không thể quên vì trà đồng nghĩa với sự sảng khoái, sự tỉnh táo, sự tĩnh tâm để mưu điều thiện, tránh điều ác.

(sưu tầm)

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 

Read Full Post »

Hành trình của một quả chuông cổ Việt Nam

Từ phát hiện tình cờ của một giáo sư Nhật, quả chuông đúc tại đất nước hoa anh đào và lưu lạc trong một cửa hàng đồ cổ ở Tokyo đã được “hồi hương”. Một câu chuyện cảm động về những tấm lòng và chưa có hồi kết

01

Chị Komatsu

Trong bộ sách 55 chương Nhật Bản dưới mắt người Việt có ghi: “Cuối thập niên 70, có người Nhật phát hiện tại một tiệm bán đồ cổ ở Nhật một cái chuông đồng của Việt Nam thuộc chùa Ngũ Hộ, làng Kim Thôi. Chuông hình ống, cao một mét, đường kính 42cm, nặng khoảng 120kg, bên trên có chạm hình con rồng hai đầu, bốn phía có khắc bốn chữ “Ngũ Hộ Tự Chung”. Nhiều người Nhật đã đứng ra quyên góp tiền mua lại chuông này để gởi trả về Việt Nam, được giới truyền thông ủng hộ. Phía tiệm đồ cổ đòi giá 5 triệu yen, trong khi tiền quyên góp được tới 9,6 triệu yen. Ngày 14.6.1978, đã có một buổi lễ trao trả chuông tại chùa Quán Sứ và sau đó đem về chùa Bút Tháp ở tỉnh Bắc Ninh. Từ đó, tiếng chuông lại vang vọng ở Việt Nam, quê hương của chính quả chuông đó!”.

Hành trình của quả chuông cổ

Trên bản khắc ở một mặt của quả chuông có ghi (bằng chữ Hán): “Chiếc chuông của chùa Ngũ Hộ, làng Kim Thôi, thuộc Bắc Ninh, trước đây do loạn lạc đã bị mất tích. Dân làng đã đúc lại cái mới thay vào đó. Nhưng tháng 2.1825, chuông lại bị sơn tặc lấy đi mất. Dân làng hàng ngày đã quen với tiếng chuông chùa, giờ mất nó, mọi người đều rất buồn và họ bàn cách làm chuông mới… Trải qua ba năm, những đồng tiền bằng đồng quyên góp được đem đúc, phần còn thiếu được mua vào cho đủ”.

Người Nhật đứng ra quyên góp tiền đó là Watanabe Takuro, thành viên của uỷ ban Nhật Bản Điều tra tội ác của Mỹ ở Việt Nam, một giáo sư nổi tiếng về lịch sử, văn hoá và dân tộc Việt Nam, sau khi tình cờ phát hiện ra quả chuông trong một tiệm bán đồ cổ ở phố Ginza (Tokyo) vào cuối tháng 9.1977. Chỉ sau hơn hai tháng, hội Hoàn hương chuông cổ của ông đã thành công. Trong suốt nửa năm sau đó, ở nhiều nơi trên đất Nhật, như Tokyo, Kyoto, Nara, Osaka và Kobe, đã diễn ra lễ cầu nguyện cho quả chuông, bắt đầu từ chùa Zojoji (Tokyo) vào 7.12.1997 và kết thúc ở chùa Kaneiji (Tokyo).

02

Quả chuông đang nằm trong kho

Theo tài liệu nghiên cứu của hội này, vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước, quân đội Nhật chiếm đóng ở khu vực Bắc Ninh đã dùng chùa Ngũ Hộ làm xưởng gỗ, và ai đó trong số họ đã lấy quả chuông này về Nhật. Đến đầu những năm 50, quân Pháp chiếm lại ngôi chùa này và đã phá huỷ nó. Vì vậy, sau khi nhận quả chuông từ phía Nhật, hội Hữu nghị Việt – Nhật và trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thống nhất gửi về chùa Bút Tháp, bởi trong số 300 người đóng góp tiền đúc chuông (khắc trên ba mặt còn lại của quả chuông) có cả những người ở khu vực Bút Tháp.

Năm1993, chị Komatsu, giáo viên tiếng Nhật ở Việt Nam, người năm 1977 cũng tham gia vận động quyên góp mua quả chuông, nhận được bức thư từ GS Watanabe. Ông viết trong thư rằng, nguyện ước cuối cùng trọn đời của ông là biết được số phận quả chuông ra sao. “Tôi đến chùa Bút Tháp, nhưng không thấy quả chuông đó. Ở đó, họ cũng không biết gì về nó”, chị nói. Kể từ đó, cứ có dịp thuận tiện là Komatsu lại hỏi về tung tích quả chuông, từ những hướng dẫn viên du lịch, bạn bè dạy tiếng Nhật ở Việt Nam, rồi đài Tiếng nói Việt Nam… Chị sục vào tất cả các bảo tàng ở Hà Nội, nhưng đều không thấy.

Mãi đầu năm 2002, chị tình cờ gặp được phó giáo sư khảo cổ học Nishimura, đại học Kansai (Osaka). Ông Nishimura khuyên chị nên đến gặp ông Lê Viết Nga, giám đốc bảo tàng Bắc Ninh. Tháng 5.2002, Komatsu lên Bắc Ninh, được ông Nga cho nhân viên dẫn vào tìm trong kho.

Chị Komatsu kể: “Tôi được dẫn vào một ngôi nhà lụp xụp. Người coi kho phải xê cái tủ ra, tôi mới nhìn thấy quả chuông phủ đầy bụi nằm tít trong góc. Lúc đó, tôi chợt nhớ lại hình ảnh hàng trăm người Nhật Bản đến tụng kinh, cầu chúc cho quả chuông bình yên lên đường về cố quốc, đoàn nhạc công tấu lên những bản nhạc cung đình, và hàng trăm các em sinh viên vẫy cờ hoa… Tôi đã cố kìm để khỏi oà khóc vì nỗi xót xa”.

Bao giờ tiếng chuông ngân vang?

Ngày 15.8 vừa rồi, chị Komatsu đã quay lại Bắc Ninh. Chị muốn biết quả chuông đã được mang ra trưng bày trong bảo tàng như ông Lê Viết Nga đã hứa với chị cách đây sáu năm hay chưa, để báo lại với GS Watanabe. Quả chuông vẫn nằm trong kho, tuy đã được chuyển sang một gian kho mới, sạch sẽ, trong khuôn viên bảo tàng, cùng với mấy quả chuông khác.

Theo ông Nga, đến cuối năm nay, toà nhà bảo tàng mới hoàn thiện. Trong câu chuyện, ông Nga cho biết chùa Ngũ Hộ đã được dân làng góp tiền xây dựng lại trên nền đất cũ (năm 2001). Cách đó ít tháng, một số người dân làng Ngọc Đôi (tên của làng Kim Thôi xưa) đã cùng sư thầy trụ trì chùa Ngũ Hộ đến gặp ông Nga để xin đưa quả chuông về chùa, nhưng ông không đồng ý. Ông Nga giải thích với họ rằng quả chuông này đã là tài sản quốc gia, và chỗ của nó là phải ở bảo tàng cho nhiều người cùng chiêm ngưỡng. Hơn nữa, theo ông Nga, một ngôi chùa nhỏ bé, liệu có đủ khả năng bảo vệ quả chuông quý giá, có ý nghĩa lịch sử hay không.

Sư thầy Huệ Hồng, người chúng tôi gặp ở chùa Ngũ Hộ ngay sau đó, cho biết sắp tới sẽ sang Mỹ để kêu gọi quyên góp cải tạo chùa, và xây gác chuông, cũng như thuê bảo vệ. Đến lúc đó, sư thầy và người dân ở đây lại một lần nữa làm đơn xin lại quả chuông, nếu cần có thể mời cả luật sư vào cuộc. “Đã là chuông chùa thì phải ở chùa chứ”, sư thầy Huệ Hồng nói.

GS Watanabe, khi viết thư cho chị Komatsu năm 1993, có gửi kèm một lời chúc: “Hỡi quả chuông Việt Nam, hãy ngân lên nguyện cầu cho hoà bình!”. Liệu ước nguyện của GS Watanabe có thành hiện thực trước khi ông mất, khi mà trong bảo tàng người ta luôn gắn kèm những tấm biển: “Cấm sờ vào hiện vật”?

Hoàng Ngọc (sgtt)

Read Full Post »

Hai quả chuông đồng cổ nhất Việt Nam

chuông Thanh mai

 

Chuông đồng là những di vật cổ có giá trị rất lớn. Do chiến tranh loạn lạc, những quả chuông có niên đại sớm ở VN còn lại rất ít. Đến nay chỉ mới phát hiện hai quả chuông được xem là có niên đại sớm nhất của VN là chuông Thanh Mai và chuông Nhật Tảo.

Chuông Thanh Mai

Theo các chuyên gia về cổ vật và sử học thì quả chuông đồng có niên đại sớm nhất Việt Nam hiện nay là quả chuông đồng được nhân dân thôn My Dương, xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Tây (cũ) tìm thấy năm 1986 trong một lần đào mương khai thông hệ thống thủy lợi của thôn. Quả chuông này đã được tìm thấy ở độ sâu 3,5m.

Toàn thân chuông cao 43cm, nặng 36kg. Riêng quai chuông cao tới 7cm, đường kính 35cm và miệng chuông có đường kính 39cm. Quai chuông đúc nổi đôi rồng đấu lưng vào nhau, uốn cong một cách khéo léo tạo thành núm treo chuông. Đỉnh chuông được tạo theo hình chỏm cầu, đúc nổi bằng nhiều cánh sen kép và nhũ đinh. Thân chuông hình trụ, trên to dưới nhỏ, ở mặt thân chuông có các đường gân nổi ngang dọc, chia thân chuông thành 4 ô trên và 4 ô dưới. Hai núm dùng để gõ chuông có hình tròn lồng trong nền cánh sen hết sức nghệ thuật, thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc thời bấy giờ.

Đặc biệt là trên phần thân chuông có khắc một bài minh văn bằng chữ Hán, khoảng 1.500 chữ, toàn bộ minh văn được khắc kín trong 8 ô. Đại ý của bài minh là chiếc chuông này được nhiều người công đức đúc nên. Danh sách những người công đức có ghi trên thân chuông. Những người này đều là đệ tử của nhà Phật, có chung tâm đức tạo nên chiếc chuông này, họ mong muốn rằng: Khi tiếng chuông vang lên thì được trời, đất, thần, Phật chứng giám cho chúng sinh và tiêu trừ hết khổ nạn. Phật pháp được lưu danh muôn thuở (bản dịch của Viện Hán Nôm).

Dựa vào bài minh và danh sách những người có công đức để đúc chuông được ghi trên thân chuông, các nhà Hán Nôm và khảo cổ học đã xác định quả chuông do hội Tuỳ Hỷ của người Hoa và người Việt đúc vào năm Mậu Dần, niên hiệu Trinh Nguyên thứ 14 (năm 798).

Quả chuông được đánh giá có niên đại cổ nhất Việt Nam từ trước tới nay và đã thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật đúc đồng dưới thời bấy giờ. Cũng thông qua bài minh, các nhà nghiên cứu cho rằng, thời kỳ xuất hiện quả chuông là thời kỳ Phật giáo khá phát thịnh trong cộng đồng người Việt và người Hoa trên đất nước Việt Nam. Chỉ tiếc là chuông không ghi rõ được đúc ở chùa nào.

Chuông Nhật Tảo

Đây là quả chuông được tìm thấy ở văn chỉ thôn Nhật Tảo, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Quả chuông này khá độc đáo với dáng chuông thon thả, nhỏ nhắn (cao 31cm, đường kính miệng 18,7cm, cân nặng 5,4kg). Đỉnh chuông phẳng, miệng hơi loe vát.

Giống chuông Thanh Mai, trên thân quả chuông này có nhiều đường chỉ đúc nổi và nám tròn nổi. Giữa thân chuông có năm đường chỉ ngang chia thân chuông làm hai phần. Dọc thân chuông, mỗi bên có năm đường chỉ khác chia tiếp thân chuông thành 8 ô (4 ô dưới để trơn, 4 ô trên khắc đầy chữ Hán). Giao điểm giữa các đường chỉ nổi có 4 núm tròn để làm nơi gõ chuông. Xung quanh núm tròn có trang trí 12 cánh hoa tròn nổi. Quai chuông tạo hình động vật uốn cong, tuy nhiên hai con vật này rất khó nhận dạng. Hai con quay đầu về hai phía, phần thân nối liền nhau thành một khối. Ðầu con vật to khỏe, hai mắt lớn hình thoi, hai sừng cong có các khía ngang, bờm đơn giản, thân mập có phủ vảy, chân thon cao. Về mặt bố cục, hình tượng này gần gũi với bố cục trang trí quai chuông Thanh Mai và trang trí trán bia thời Tùy ở Thanh Hóa.

Minh văn trên chuông ghi rõ niên đại và nơi đúc là: Giao Chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn, thời Càn Hòa lục niên Mậu Thân tuế, tứ nguyệt, nhị thập cửu nhật (thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ, ngày 29/4 năm Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ sáu).

chuong Nhật tảo

Tìm hiểu trong sử liệu các triều đại Việt Nam thì không có niên hiệu Càn Hòa mà niên hiệu Càn Hòa là thuộc về thời vua nước Nam Hán Lưu Thạnh, đóng đô ở Quảng Châu trong thời Ngũ đại thập quốc ở Trung Quốc. Càn Hòa thứ sáu là năm 948. Chính nước này, 10 năm trước đó (938) đã phái quân sang Việt Nam và bị đại bại trên sông Bạch Ðằng.

Giải thích việc có niên hiệu Nam Hán ghi trên thân chuông của nước Việt Nam vào lúc Việt Nam đã độc lập, GS. Tống Trung Tín – Viện trưởng viện khảo cổ học – cho rằng: “Lật lại các trang sử cũ của Việt Nam thì thấy tuy Ngô Quyền đã xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (Ðông Anh, Hà Nội) nhưng vẫn chưa đặt niên hiệu. Sau khi Ngô Quyền mất năm 944, cho đến khi triều Ngô chấm dứt năm 965, các đời Dương Tam Kha, Ngô Tấn Nam Vương, Ngô Thiên Sách Vương cũng đều không có niên hiệu. Chính vì vậy, minh văn trên chuông vẫn sử dụng niên hiệu nước ngoài. Ðó cũng chính là sự thật lịch sử Việt Nam thời đó đang ở buổi đầu giành và củng cố nền độc lập…”.

Ngoài ra, trên minh văn còn ghi lại một cách ngắn gọn việc các tín đồ Ðạo giáo ở địa phương góp tiền vẽ tranh Thái Thượng Tam Tôn, làm sáu chiếc phướn báu, mua quả chuông báu, các nghi lễ (trai khánh) và chức danh (cao công) của Ðạo giáo để mong báo đáp tứ ân và hy vọng được trường cửu.

Theo GS. Tống Trung Tín: “Với bài minh văn và sự hiện diện của quả chuông đã cho thấy sự phát triển của Ðạo Giáo ở thời Ngô Quyền khá mạnh. Ðiều đó giải thích vì sao trong các thời kỳ Ðinh, Lê, Lý, Trần, tuy đạo Phật là quốc giáo, nhưng vai trò của Ðạo giáo vẫn có ảnh hưởng khá mạnh trong đời sống tinh thần của người dân Ðại Việt với nhiều cung, quán khá lộng lẫy ở kinh đô Thăng Long… Đặc biệt, dựa vào minh văn người ta có thể thấy được địa danh huyện Giao Chỉ vốn có từ thời Ðường nhưng đến thời Ngô tên này vẫn được giữ nguyên”.

Những con vật trên thân chuông này tuy rất khó nhận dạng nhưng theo các nhà lịch sử thì chúng chính là một dạng rồng tiền thân của rồng thời Lý, Trần, Lê. Như vậy tiếp theo chuông Thanh Mai, quả chuông thời Ngô Quyền ở Hà Nội là quả chuông có niên đại sớm thứ hai, cung cấp nhiều tư liệu quý giá về lịch sử và văn hóa thời Ngô Quyền. Và dù xuất hiện từ thế kỷ thứ X, trải qua 1.049 năm nhưng quả chuông này vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

Hiện quả chuông Thanh Mai đang được lưu giữ tại kho bảo quản của Bảo tàng tổng hợp Hà Tây (cũ). Theo giáo sư khảo cổ học Nguyễn Lân Cường thì: “Quả chuông là một trong những bảo vật quốc gia đặc biệt quý hiếm, vì hiện nay đây là chiếc chuông có niên đại sớm nhất được phát hiện ở Việt Nam. Sắp tới đây khi bảo tàng Hà Nội hoàn thành vào năm 2010, đây sẽ là một hiện vật có giá trị, góp phần tạo diện mạo của một thời kỳ lịch sử xa xưa”.

Còn chiếc chuông Nhật Tảo được địa phương lưu giữ rất cẩn thận. Tuy nhiên, theo các nhà sử học thì vị trí xứng đáng của những quả chuông này phải là ở các bảo tàng quốc gia của trung ương hoặc Hà Nội mới phát huy được giá trị và tránh khỏi bị mất mát. Quả chuông cũng là một chứng tích lịch sử duy nhất, cực kỳ hiếm hoi về thời đại Ngô Quyền mà cho đến nay Việt Nam chúng ta có được.

(Theo Gia đình & Xã hội)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »