Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 21st, 2009

Ngôi đền Pô- Kluang Garai

Pô-Klaung Garai-1

Trên đỉnh của một trong ba ngọn tháp Chăm ở đền Pô-Klaung Garai (Phan Rang, Quản Nam – thế kỷ 14), có một hình khối kiến trúc khá xa lạ với kiến trúc của những ngôi tháp Chăm, nói chung, thường mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ, từ Trà Kiệu đến Mỹ Sơn. Hình khối kiến trúc xây bằng gạch đá nói trên có dáng vẻ của một ngôi nhà sàn mái hình thuyền, sống võng, mặt cắt hình vòm cuốn, hai đầu mái hồi tròn, hơi cong lên và nhô ra như kiểu nhà sàn mái hình thuyền của một vài dân tộc ở Papoua, Tân Guinée (Đại dương châu), hoặc của người Nhật Bản cổ đại.

Pô-Klaung Garai-2

Hai kiểu nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn,với mái võng và mái lồi.

Hai kiểu nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn,với mái võng và mái lồi.

Kiểu nhà sàn này là một biến thể của kiểu nhà sàn khắc trên trống đồng Đông Sơn, mà phiên bản trung thực nhất là kiểu nhà sàn bằng tre gỗ hiện vẫn tồn tại và được người Toradja sử dụng trong đời sống hàng ngày ở đảo Célèbes (ngày nay gọi là Sulawesi, thuộc Indonesia).

Mô hình nhà cổ đại Nhật Bản , mái hình thuyền bằng đất nung.

Mô hình nhà cổ đại Nhật Bản , mái hình thuyền bằng đất nung.

Hiện tượng này có ý nghĩa gì, nếu quả thật khối kiến trúc nói trên thể hiện hình tượng của một ngôi nhà sàn mái hình thuyền biến thể thuộc nền văn hoá Đông Sơn ? Chúng ta biết rằng, về mặt lịch sử và văn hoá, dân tộc Chăm có quan hệ mật thiết với một vài dân tộc Tây Nguyên thuộc ngữ hệ Nam đảo (Mã Lai-Đa đảo) : Giarai, Êđê , Churu, Raglai. Mà những dân tộc này đều là những dân tộc thuộc nền văn hoá Đông Sơn – theo nghĩa một nền văn hoá cổ, mà địa bàn là một vùng rộng lớn ở Đông Nam Á, có liên quan tới những chiếc trống đồng tìm thấy ở địa điểm Đông Sơn – nền văn hoá này được thể hiện qua một số biểu hiện văn hoá vật chất và tinh thần cụ thể, từ hoa văn trang trí trên y phục, đồ dùng trong nhà, đến kiến trúc, đến những tục lệ, truyền thống lễ hội, huyền thoại, v.v.

Bản thân dân tộc Chăm – theo giả thuyết của nhà tiền sử học Heine-Geldern về lộ trình của chiếc rìu đá có mộng – có thể có cùng nguồn gốc Nam đảo với những dân tộc kể trên, mà tổ tiên, trong khoảng thời gian 1000 năm, giữa 2500 -1500 tr. C.N., đã di cư từ vùng Vân Nam xuống (cư dân Bách Việt ?), xuyên qua bán đảo Mã Lai, quần đảo Indonesia, các đảo thuộc Đại dương châu, vòng lên đến Đài Loan, Nhật Bản. Một bộ phận của những tộc người này có thể đã xâm nhập vùng Tây Nguyên Việt Nam, nhưng đã bị những tộc người thuộc ngữ hệ Môn-Khmer có mặt ở đây từ trước xua đuổi đi. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, ở vào một thời điểm có thể cũng không muộn hơn, những tộc người gốc Mã Lai – Đa đảo kể trên, trong đó có tổ tiên của người Chăm, đã từ biển đông xâm nhập vào vùng ven biển miền trung Việt Nam. Sau đó, do tiếp thu văn hoá Ấn Độ, bắt đầu từ những thế kỷ đầu Công Nguyên, người Chăm đã phát triển lên thành một quốc gia lớn mạnh (vương quốc Lâm Ấp), và đã dồn những tộc người gốc Nam đảo kém phát triển hơn lên vùng Tây Nguyên. « Có thể người Giarai đã tràn lên vùng cao nguyên Pleiku và vùng bình nguyên Ayun Pa Cheo Reo theo đường đèo An Khê và đường Cung Sơn. Người Êđê và người Churu thì lên cao nguyên Đắc Lắc bằng đường đèo Phượng Hoàng hiện nay. Những nhóm người tràn lên đã chẻ đôi khối người Môn-Khơme có trên Tây Nguyên từ trước : một khối cư trú từ nửa tỉnh Gia Lai trở ra phía bắc, gồm người Bana, Xơđăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơmâm, v.v., và một khối từ nửatỉnh Đắc Lắc trở vào phía nam, gồm người Mơnông, Mạ, Koho, v.v. » (theoNguyên Ngọc, Một số vấn đề văn hoá xã hội, Tập san nghiên cứu NGOKLINH, số 1 – 2001)

Con đường truyền bá của chiếc rìu đá có mộng (khoảng từ 2500 đến 1500 trước C.N., theo nhà tiền sử học Heine-Geldern).

Con đường truyền bá của chiếc rìu đá có mộng (khoảng từ 2500 đến 1500 trước C.N., theo nhà tiền sử học Heine-Geldern).

Gần đây, nhà nghiên cứu Stephen Oppenheimer đưa ra một giả thuyết độc đáo về sự kiện lục địa Sunda bị ngập chìm do trận Đại Hồng Thuỷ gây nên cách đây khoảng 8000 năm, do đó, tổ tiên của người Chăm và một vài tộc người ở Tây Nguyên, thuộc ngữ hệ Nam đảo, không phải là từ miền nam Trung Quốc, hoặc từ Đài Loan di chuyển xuống phía nam vào thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, như theo giả thuyết của Bellwood/Blust, hoặc của Heine-Geldern, mà ngược lại, đã xuất phát từ vùng tây bắc đảo Bornéo (Indonesia), một mặt đi ngược trở lên phía bắc(ngược lên các con sông lớn) đến Phi Luật Tân, miền trung Việt Nam (Lâm Ấp, Chiêm Thành) và Đài Loan ; một mặt đi sang phía tây : đến các vùng miền tây Indonesia, Mã Lai, v.v. ; một mặt đi về phía nam : các đảo ở Đại dương châu…(theo Nguyễn Quang Trọng, Địa đàng ở phương Đông, DĐ, số 127, 3-2003).

Cho đến nay, người ta biết rằng người Chăm, cũng như các cư dân của vương quốc Phù Nam, thuộc nền văn hoá Sa Huỳnh, có niên đại từ 500 tr. C.N. đến 100 sau C.N., mà địa bàn trải dài từ Quảng Nam đến Nam bộ (Đồng Nai, Cần Giờ). Nhưng người Chăm đến vùng đất này có thể đã cả ngàn năm trước đó rồi (xem các giả thuyết đã dẫn), vậy chắc hẳn họ đã có cả một nền văn hoá cổ khác nữa ? Nếu đem so sánh các biểu hiện văn hoá nghệ thuật của người Chăm với một số dân tộc Tây Nguyên, người ta có thể khẳng định được rằng người Chăm đã từng thuộc cùng một nền văn hoá với họ : văn hoá Đông Sơn.

Lục địa Sunda trước khi bị ngập chìm trong trận Đại Hồng Thuỷ cách đây khoảng 8000 năm, theo giả thuyết của Stephen Oppenheimer.

Lục địa Sunda trước khi bị ngập chìm trong trận Đại Hồng Thuỷ cách đây khoảng 8000 năm, theo giả thuyết của Stephen Oppenheimer.

Qua những phát hiện khảo cổ học mới đây ở Gò Mả Vôi (xem Nguyễn Quang Trọng, Những phát hiện mới về văn hoá Sa Huỳnh…, DĐ số 140, 4-2004). , người ta có thể thấy được rằngnền văn hoá Sa Huỳnh khác hẳn với nền văn hoá Đông Sơn trên nhiều điểm : sự phong phú của các hiện vật bằng sắt, trình độ kỹ thuật sản xuất đồ trang sức, và nhất là đồ thuỷ tinh rất tinh xảo, v.v. Tuy nhiên, cho tới nay, người ta vẫn chưa biết gì mấy về những truyền thống kiến trúc cổ trong nền văn hoá này, ngoại trừ những dấu tích cột chống đã mục nát của những ngôi nhà sàn. Người ta chỉ biết đến những di tích kiến trúc đền đài bằng gạch đá của người Chăm : Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Hoà Lai, Tháp Mắm, v.v. Đó là những sản phẩm văn hoá mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ. Nhưng trước khi có nền kiến trúc bằng gạch đá, chắc hẳn dân tộc này cũng đã phải trải qua thời kỳ xây cất bằng tre, gỗ ? Người Chăm không để lại những ngôi nhà sàn mái nhô, hoặc sống võng, hay sống lồi, như một số dân tộc Tây Nguyên, có lẽ vì họ đã đi vào sản xuất nông nghiệp ngay từ sớm ở các vùng đồng bằng (lúa Chiêm), nhưng người ta biết chắc chắn rằng dân tộc Chăm có một truyền thống ở nhà sàn từ lâu đời : dấu tích những ngôi nhà sàn ở Hội An được ghi lại bằng hình vẽ trong sử liệu Giao Chỉ Độ Hải Đồ của Chaya Shinoku, người Nhật Bản, thế kỷ 17 – xem Văn Ngọc, Từ trong lũ lụt nghĩ đến tương lai đô thị cổ Hội An, DĐ số tháng 1-2000 ).

Truyền thống ở nhà sàn này vẫn được tiếp tục một cách mạnh mẽ và bền bỉ bởi những người Chăm hiện đang cư ngụ tại một số vùng ngập trũng, hoặc gần sông nước ở Việt Nam (chủ yếu là để tránh lũ lụt !).

Người Giarai và người Êđê cho tới gần đây vẫn còn giữ truyền thống xây nhà dài, nhà rông, nhà kho, và nhà ở theo kiểu « hạ thu thượng khuếch », nhưng mái nhà của họ là kiểu mái có sống lồi, cũng giống như ngôi nhà làng của người Bana, Xơđăng, v.v. Tuy nhiên, kiểu nhà này, cũng như kiểu nhà có mái hồi tròn của người Cơtu, Stiêng, vẫn được coi như thuộc kiểu nhà khởi nguyên thuộc nền văn hoá Đông Sơn. Người Dayak (Indonesia) cho rằng hai dạng nhà sàn khắc trên trống đồng Đông Sơn (nhà sàn hình thuyền mái võng và nhà cầu mưa mái lồi) đều thuộc dạng nhà khởi nguyên : nhà sống võng gắn với các biểu tượng chim – núi – thế giới bên trên – mặt trời – đàn ông…, còn nhà sống lồi gắn với các biểu tượng rắn nước – sông – thế giới bên dưới – mặt trăng – đàn bà, v.v. Ngôi nhà cổ truyền của người Toradja (đảo Célèbes, Indonesia) được coi là biểu tượng của con thuyền, với mô típ trang trí chủ yếu là đầu con trâu, tuy nhiên mô típ chim/gà vẫn được chạm khắc hoặc vẽ ở mặt trước nhà cùng với mô típ mặt trời như trên trống đồng Đông Sơn (theo Tạ Đức, Truyền thống Đông Sơn…Tạp san nghiên cứu NGOK LINH, số 2 , 6-2001).

Hình dáng ngôi nhà sàn mái hình thuyền trên đỉnh ngọn tháp Chăm ở đền Pô- Kluang Garai gợi nghĩ đến những ngôi nhà sàn Đông Sơn có mái hồi tròn của người Cơ tu, Stiêng, của người Nhật Bản cổ đại, và của những tộc người ở Papoua, Tân Guinée, v.v.

Quần thể đền Pô-Kluang Garai ở Phan Rang (thế kỷ 14), với ngôi nhà hình thuyền nằm ngang trn một trong ba ngọn

Quần thể đền Pô-Kluang Garai ở Phan Rang (thế kỷ 14), với ngôi nhà hình thuyền nằm ngang trn một trong ba ngọn

Vậy, với ý nghĩa gì, và với động cơ nào, Chế Mân (tức Jaya Simhavarman III), vị vua Chăm ở thế kỷ 14, hôn phu của Huyền Trân Công chúa, đã cho xây ngôi đền này, với hình tượng ngôi nhà sàn mái hình thuyền trên đỉnh một trong ba ngọn tháp ? Đây không thể là một sự tình cờ, mà chỉ có thể là do một sự liên tưởng nào đó tới nền văn hoá cổ của người Chăm ? Cũng có thể, đây chỉ là một ý tưởng thẩm mỹ, một nét chấm phá nghệ thuật ? Hoặc giả, đằng sau tác phẩm kiến trúc, còn có một giai thoại nào khác, một mối tình cảm động, như trường hợp cung Tadj Mahal (Ấn Độ) ? Còn cái tên của ngôi đền : Pô-Kluang Garai, không biết có liên quan gì với tộc người Giarai không ?… Dẫu sao, đây cũng là biểu hiện của một cuộc giao thoa văn hoá độc đáo, ít nhất giữa ba nền văn hoá cổ đã từng có mặt trên mảnh đất miền trung này : đó là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, và văn hoá Ấn Độ. Đồng thời, về mặt mỹ thuật, Pô-Klaung Garai là biểu hiện của một nền nghệ thuật

đã đạt đến độ chín muồi ở thế kỷ 14 : rất có thể là nó đang manh nha tìm cách thoát khỏi những ràng buộc về qui ước của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ, mà nó đã chịu ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ. Đáng tiếc thay, đây cũng là một trong những biểu hiện cuối cùng của nghệ thuật Chăm, trước khi vương quốc này đi vào suy vong.

TÓM TẮT

Đền Pô-Klaung Garai là biểu hiện của một cuộc giao thoa văn hoá độc đáo, ít nhất giữa ba nền văn hoá cổ đã từng có mặt trên mảnh đất miền trung Việt Nam : đó là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, và văn hoá Ấn Độ.

Phạm ngọc Tới

Các bài đã đăng :

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

kỷ lục về tranh ghép bằng nút chai rượu vang, tăm tre và đinh.

tranhghep 01

Họa sĩ nổi tiếng người Albania Saimir Strati đang gấp rút thực hiện những bước cuối cùng để cho ra đời bức tranh ghép lớn nhất thế giới được làm từ 300.000 nút chai rượu vang với hy vọng lần thứ 3 được ghi danh vào sách kỷ lục Guinness thế giới.

tranhghep 02

Bức tranh ghép đang được họa sĩ Saimir Strati gấp rút hoàn thiện trên một bức tường của khách sạn Sheraton Hotel ở thủ đô Tirana (Albania).

tranhghep 03

Tác phẩm “Nghệ sĩ chơi guitar” của họa sĩ người Albania Saimir Strati

Với tổng diện tích lên tới 96 m2, bức tranh hứa hẹn sẽ giúp người nghệ sĩ 42 tuổi này lần thứ 3 ghi tên mình vào sách kỷ lục Guinness là người sáng tạo bức tranh ghép lớn nhất thế giới.

tranhghep 04

Tác phẩm “Nghệ sĩ chơi guitar” được làm bằng 300.000 chiếc nút chai rượu vang

Hiện tại,

Saimir Strati vẫn đang làm việc cật lực để hoàn thiện tác phẩm của mình dưới sự giám sát chặt chẽ của hội đồng chuyên viên giám định của tổ chức Guinness thế giới và ống kính camera.

Saimir Strati cho biết đã bắt chước kỹ thuật ảnh điểm trong ảnh kỹ thuật số để tạo màu sắc cho bức tranh các bức tranh. Trong đó, mỗi chiếc nút chai là một một ảnh điểm.


Saimir Strati đang làm việc cật lực để hoàn thiện bức tranh ghép khổng lồ này

tranhghep 05

Toàn cảnh bức tranh khổng lồ rộng 96 m2 của Saimir Strati

Dự kiến, tác phẩm “Nghệ sĩ chơi guitar” làm từ 300.000 nút chai rượu vang này sẽ được ra mắt công chúng vào trung tuần tháng 9 năm nay.


Trước đây, vào năm 2006, Saimir Strati đã lần đầu tiên đi vào sách kỷ lục Guinness thế giới với tác phẩm tái hiện lại bức chân dung thiên tài người Ý Leonardo De Vinci từ 500.000 chiếc đinh trên một bề mặt rộng 8 m2. Tác phẩm được đánh giá là có giá trị nghệ thuật cao và đã gây được tiếng rất lơn vang lớn.

tranhghep 06


Khi đó, họa sĩ người Albania này đã phải làm việc cật lực trong 24 ngày liên tục, mỗi ngày 14 tiếng để hoàn thành tác phẩm để đời đầu tiên của mình.

Năm 2007, một tác phẩm làm từ hơn 1,5 triệu chiếc tăm tre lại một lần nữa đưa Saimir Strati vào sách kỷ lục Guinness thế giới lần thứ 2. Bức tranh dài 4 mét và cao 2 mét có hình một chú ngựa lúc đó phải cần tới 40 ngày làm việc nghiêm túc với 12 tiếng mỗi ngày để hoàn thành.

Bức tranh tăm tre được Saimir Strati đã làm để dành tặng thần tượng của mình là kiến trúc sư nối tiếng Antonio Gaudi, người vẽ thiết kế nhà thờ Sagrada Familia ở Barcelona (Tây Ban Nha).

tranhghep 07

Saimir Strati và bức tranh con ngựa được “vẽ” 1,5 triệu chiếc tăm tre

tranhghep 08

Anh Chính Thường Luân – một nghệ nhân nổi tiếng ở thành phố Giang Tây, Trung Quốc dự tính phải huy động hơn 130.000 chiếc tăm để hoàn tất bức khảm cao 1,2 mét, rộng 0,6 mét có hình Phật Bà Quan Âm.

Sau khi hoàn tất công trình này, anh Chính sẽ tiếp tục thực hiện một tác phẩm tương tự nhưng kích thước lớn hơn, với mục đích cạnh tranh với nghệ sĩ Saimir Strati người Albani chức “vô địch khảm tăm” thế giới.


tranhghep 09


Đầu tháng 8/2007, Saimir Strati đã thực hiện bức khảm rộng 8 mét vuông của mình tại Trung tâm văn hóa quốc tế ở thủ đô Tirana, Albani với hơn 1 triệu cây tăm.

tranhghep 10

Theo Etoday và Jxnews (2008)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Cách Thức Uống và Pha Trà Xanh Nhật Bản

traNhâtcup

1. Giới thiệu

Ðây chỉ là bài viết đơn giản nói vè cách thức pha và uống trà xanh của Nhật bản. Mục đích nêu lên những nguyên tắc căn bản, cần thiết cho những người muốn thưởng thức cái ngon, cái đậm đà cuả loại trà độc đáo và rất phổ biến của người Nhật bản. Bài viết không đi sâu vào những dữ kiện, thể thức và dụng cụ khá phức tạp để uống trà có tính cách thưởng thức một nghệ thuật. Mà đôi khi chúng ta thấy trong các những cuộc lễ hội hay trong những cuộc trình diễn dâng trà của các đoàn nhóm phu nhân, nữ sinh viên ở các đoàn thể, trường học chuyên môn về văn hoá .

Bài viết càng không thể nào so sánh, hoà trộn được với những thủ tục rất rườm rà, qúi phái, đạt đến mức tối thượng của nền văn hoá cổ truyền của Nhật bản. Ðó là lẽ dâng trà, trong đó người ta uống một loại trà xanh cao cấp hơn dưới dạng bột. Người uống trà phải biết nhưng thủ tục để tiếp nhận từ người dâng trà, đó là Trà Ðạo (Sadoo).

Bài viết chỉ thu nhỏ vào cách thức pha và uống trà xanh rất thông thường của bất cứ gia đình Nhật nào trong xã hội. Họ pha trà mời khách khi đến thăm gia đình họ. Cô thư ký, bà giúp việc pha trà cho ông giám đốc, ông chủ hãng hay để tiếp đãi nhưng vị khách trong các cuộc hội họp ở các văn phòng giao tế, các công ty. Và ngay trong gia đình khi người vợ , người mẹ pha trà cho chồng, cho con trong những lúc uống trà hàng ngày, người ta cũng phải theo những nguyên tắc rất căn bản và cần thiết này để không làm mất cái ngon, cái đậm đà của trà.

Tóm lại đây chỉ là bài viết nêu lên những đièu căn bản không thể thiếu, không thể bỏ qua được cho bất cứ ai muốn uống, muốn thưởng thức mùi vị đúng nghĩa của loại trà xanh Nhật bản. Một loại trà xanh hoàn toàn khác xa với loại trà xanh được sản xuất tại VN hay Trung Hoa. Loại trà xanh Nhật cho ra nước mầu xanh từ đầu cho đến hết mùi trà, nước trắng trong. Nhưng ngược lại trà xanh cuả VN hay Trung Hoa chỉ cho ra mầu xanh lờ lợ mầu nâu ở nước đầu tiên rồi biến nhanh sang mầu nâu đậm ở các lần pha kế tiếp.Mùi vị cũng có thể nói là khác hoàn toàn.

Bài viết này cũng giúp người uống trà hiểu biết thêm về những tiêu chuẩn để lựa chọn, phân biệt được những loại trà xanh tốt hay xấu, ngon hay không ngon được bán trên thị trường (ở các cơ sở buốn bán của kiều dân Nhật bản). Rồi dựa vào những tiêu chuẩn đó chúng ta sẽ hiểu được lý do tại sao cùng gọi là trà xanh nhưng khi uống thấy khác nhau về phẩm chất .

traNhâtcup01

2. Dụng cụ

Sau đây là những vật dụng cần thiết cho việc pha trà xanh:

a. Một cái bình thủy: để chứa nước sôi. Thường loại dung tích khoảng 2 lít nếu dùng cho 4, 5 người uống trà.

b. Một bình pha trà: thường bằng đất nung mầu đen hay nâu có cán cầm (khác với loại có quai, tuy nhiên đây cũng không phải là điều bắt buộc) . Bình pha trà cũng có khi bằng kim khí rất nặng mầu đen, có quai sách. Thường bình pha trà có dung tich khoảng 200 ml (bằng trái cam) , nếu cỡ khoảng 400ml (bằng trái bưởi ) đã được coi là to . Rất hiếm có bình pha trà cỡ lớn hơn 500ml vì làm loãng , mất mùi vị trà và nhất là không đẹp mắt. Vơí những cỡ bình lớn người ta thường dùng để pha những loại trà hạ phẩm (loại nhiều cuống lá , lá già thô hay loại trà xanh pha trộn với gạo rang…). Loại trà này thường được pha để uống trong các restaurants hay cho nhân viên lao động trong giờ giải lao của hãng xưởng . Dùng cho gia đình hay tiếp khách thăm viếng, khoảng dưới 5 người, chiếc bình trà cỡ 300ml được coi là tốt nhất.

Hầu hết các bình pha trà xanh cuả Nhật bản đều có một tấm lưới rất mịn bằng kim khí bao phiá trong vòi ấm hay là một cái phễu lọc bằng lưới nằm sát vào miệng ấm để đựng trà, giữ lại không làm cho bã trà ra tách khi rót trà .

c. Một bộ ly uống trà: Thường cỡ khoảng 70ml đến 100 ml. Hình tròn, hay hình ống , đôi khi có hình dạng méo mó . Thường mầu đậm hay nhiều mầu in hình hoa trái hay viết những chữ Nhật bản dạng chữ thảo. Tuy nhiên mầu sắc không diêm dúa với mầu đỏ gay gắt nhãn giới như trên các đồ sứ của Trung Hoa. Ly tách uống trà của Nhật bản có mầu thanh thoát, êm dịu, dễ thương hơn. Tách uống trà có thể có nắp hay không, nhưng phải có một đĩa nhỏ đễ đỡ tách uống trà.

d. Hộp đựng trà: Trà xanh bán trên thị trường thường được đóng kín trong một bịch bằng alumin với chân không, hay bằng những hộp bằng kim khí rất kín. Sau khi mua về, bỏ bao bì , trà được đựng trong một chiếc hộp dung tích cỡ 100ml -300ml, bằng kim khí có 2 nắp. Nắp ở phía trong bằng plastic hay bằng kim khí, Nắp phía ngoải hộp, ngoài tác dụng dậy hộp trà cho kín, nhưng còn được dùng như một dụng cụ để đo lường trà chính xác trước khi cho trà vào bình. Người pha trà lấy một chiếc muỗng bằng tre gạt trà vào trong chiếc nắp, tùy theo số người uống để tránh tình trạng nhiều ít không đều.

Ðó là những dụng cụ mà mọi gia đình Nhật bản đều phải có và được coi như đồ dùng hàng ngày của gia đình. Tuy nhiên trong trường hợp tiếp khách, họ còn mang ra thêm vài dụng cụ khác nữa để tạo vẻ lịch sự và đẹp mắt. Chẳng hạn:

-Một cái bình uống trà thứ hai dùng để điều chỉnh độ nóng của nước pha trà (hình thức cái chén Tống của lối uống trà của VN hay Trung Hoa).

-Một cái bình khá lớn bằng đất nung mầu đen, thường có nhiều hình dạng khác nhau để đựng nước tráng tách uống trà, bình pha trà hay đựng trà cặn mỗi lần uống trà mới (giống như cái khay có nan bằng tre để trên một cái chậu để đổ nước dư thừa của Trung Hoa. Hình thức này người Nhật không bao giờ dùng, họ thà đựng vào một cái tách uống trà rồi mang đi đổ chứ không dùng đến vì thô kệch và không đẹp mắt đó!).

-Một cái khay đựng tách và bình trà bằng gỗ (thường mầu nâu và hình vuông hay chữ nhật) đươc che phũ bởi một tấm khăn xinh xắn, sạch sẽ để người pha trà lau khô tách uống trà trước khi rót trà cho khách.

Ngoài ra còn rất nhiều dụng cụ lỉnh kỉnh khác như muỗng lấy trà bằng tre. Cái máng nho nhỏ bằng tre hay gỗ để ước lượng số trà nhiều ít trước khi ruôn trà vào bình… tất cả tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của cuộc uống trà và sự cầu kỳ tiếp khách của chủ nhân .

traNhâtcup02

3. Cách pha trà

Gồm những thủ tục cần thiết sau đây:

a. Nước pha trà: Tuyệt đối không bao giờ lấy nước đang sôi để pha trà , có nghĩa là không thể nào dùng nước đang sôi trong bình ruôn vào bình pha trà. Lý do trông không đẹp mắt và nhất là tất cả các loại trà Nhật bản (trà xanh, trà bột dùng trong lễ dâng trà (Sadoo) không bao giờ dùng nước đang sôi! Nước pha trà phải được đựng trong một bình thủy (uống trà thông thường) hay nước đưọc nấu trong một cái ấm kim khi không nắp trên bồn than rất yếu để giữ nước ở khoàng 80-90 độ celcius (dung trong trà đạo) .

b. Làm ấm dụng cụ: Ấm pha trà và tách uống trà được tráng bằng nước sôi trong bình thủy để làm ấm dụng cụ , sau đó dùng khăn lau khô trước khi xử dụng.

c. Cho trà vào ấm pha trà: Thường vơí lọai trà ngon cỡ trung bình ngươì ta thuờng tính cho mỗi một người khách khoảng một muỗng cà phê trà xanh. Tuy nhiên nếu dưới 3 người khách, nên cho hơn một tí để tránh qúa nhạt. Dĩ nhiên với nhưng người ghiền trà, thích uống đậm lại là vấn đề khác!

d. Pha trà: Với loại trà xanh cỡ trung bình, người ta thường pha trà 3 lần khác nhau như sau :

*/ Lần thứ nhất: đươc pha với nước nóng ở khoảng 60 độ C, để trà ngấm khoảng 2 phút đồng hồ trước khi rót cho khách. Nước sôi từ bình thủy được rót ra một cài bình trà khác (hay chén tống) để giảm nhiệt độ trước khi cho vào bình pha trà (lý do tại sao sẽ được giải thích ở phần sau).

*/ Lần thứ hai: pha vơí nước nóng khoảng 80 độ trong khoảng 30-40 giây, có nghĩa là cho nước vào ấm pha trà , hơi lắc nhẹ và rót ra tách cho khách ngay. Nước cũng được rót qua bình trung gian nhưng mau lẹ hơn để có nhiệt độ mong muốn. (Tuy nhiên, những người pha trà quen thuộc, khéo tay họ có thể điều chỉnh nhiệt độ từ bình thủy rót vào bình pha trà bằng các thủ thuật như rót nuớc thật chậm, để cao vòi nước trên bình pha trà…)

*/ Lần thứ ba: Nước pha ở nhiệt độ khoảng 90 độ C, cũng khoảng 30- 40 giây. Nước có thể ruôn trược tiếp từ bình thủy vào ấm trà, vì nước sôi khi qua các giai đoạn rót vào bình thủy, rồi từ bình thủy rót vào ấm pha trà đã có nhiệt độ khoảng 90 độ C .

Với những loại trà ngon đặc biệt, người ta có thể pha trà lần thứ 4 hay lần thứ 5 (cách thức pha như lần thứ 3) mà nước trà vẫn xanh và còn mùi vị. Nhưng những loại trà xanh hạ phẩm, rẻ tiền việc pha trà hơi khác hơn chút đỉnh. Chẳng hạn lần thứ nhất phải ở nhiệt độ cao hơn (70- 80 độ, 2 phút), lần thứ hai (90 độ, khoảng 1- 2 phút) và không có lần thứ 3 vì hết mùi vị rồi (giải thích ở phần dưới).

e. Lượng nước pha trà: Ngưới pha trà phải biết ước lượng cho bao nhiêu nước pha vào bình trà, không thể pha trà xanh Nhật bản bằng cách cứ cho nước vào đầy bình rồi rót cho khách theo lối pha trà của Tầu hay VN được . Mà phải biết dung tích của tách uống trà và số tách để cho đúng lượng nước để mỗi lần rót trà cho khách phải hết trọn vẹn nước trong bình pha trà. Nếu còn sót lại sẽ làm giảm phảm chất của lần uống trà kế tiếp vì sai nhiệt độ, vì oxyhoá làm mất mầu xanh đẹp của trà..v..v..

4. Cách rót trà

Không bao giờ rót trà cho khách một lần đầy tách rồi rót tiếp cho người khách kế tiếp ! Làm như vậy sẽ có sự khác biệt về độ đậm nhạt của nước trà trong mỗi tách, cũng như không đều về lượng trong mỗi tách (tách đầu tiên qúa nhiều, tách cuối cùng rất ít, qúa đậm vi thời gian trà ngấm ra nhiều hơn hay không còn nước cho người kế tiếp)! Vì vậy tất cả các tách của khách đều được để trong khay trà rồi rót theo thứ tự 1,2,3,4… rót lần đầu khoảng 30ml (cho mỗi tách, cỡ lớn 70 ml), sau đó rót lần thứ hai với thứ tự ngược lại 4, 3, 2 ,1 mỗi lần khoảng 20ml (cho mỗi tách có tổng cộng 50ml nước trà) nếu còn dư chút ít trong bình , nên co dãn để phân đều cho các tách . Sau đó mới đưa mời khach. Chính vì lý do này, người pha tra phải căn làm sao cho đủ (không thiếu, không thừa) cho tất cả khách, mỗi người khỏang 50ml (với loại tách uống trà cỡ 70-80 ml).

Chính vì lý do này, người pha tra phải căn làm sao cho đủ ( không thiếu, không thừa ) cho tất cả khách, mỗi người khỏang 50ml ( với loại tách uống trà cỡ 70-80 ml ).

5. Cách uống trà

young-woman-japanese

Khi uống trà xanh Nhật bản (cũng như uống trà bột trong lễ dâng trà) người Nhật phải ăn một vài loại bánh ngọt để làm gia tăng hương vị của trà. Các lọai bánh này bán rất nhiều trên thị trường thường làm bằng đậu hay bột khoai, bột gạo … Chúng ta có thể thay thế bằng các bánh ngọt khác của Âu Mỹ như bánh ngọt, chocolate… nhưng vẫn không phải là hoàn hảo lắm. Ở VN có loại bánh đậu xanh (Bảo Hiên Rồng vàng, Hải Dương…) được coi là rất thích hợp cho việc uống trà xanh.

Trước khi uống trà, ngươì ta ăn vài miếng bánh (phải ăn hết bánh trong miêng rồi mới uống trà, không nên vừa ăn vừa uống). Sau đó thỉnh thoảng ăn thêm bánh và uống trà tiếp theo. Vớí cách này sẽ làm gia tăng hương vi của trà xanh một cách lạ kỳ.

Uống trà xanh Nhật bản hoàn toàn khác với lối uống nhâm nhi từng tí một trong lối uống trà Tàu của những vị nhà Nho VN. Người Nhật uống thành ngụm đàng hoàng để có đủ lượng nước trà thấm vào tất cả các màng niêm của miệng.

Với những loại trà xanh hảo hạng hay trên trung bình, người Nhật cho rằng nước pha trà lần đầu tiên được coi là đậm đà nhất, làm mùi ngon của trà thấm vào vị giác nhiều nhất. Nước thứ hai, có một khoái cảm khác nhờ nhiệt độ nóng của lần pha này, nước trà mất đi khá nhiều vị đặc biệt của trà nhưng lại có mùi rất thơm bốc lên, kích xúc vào khứu giác. Cả hai lần pha trà này được coi là quan trọng nhất và độc đáo nhất của trà xanh Nhật bản. Với loại trà thượng hạng ngươì ta có thể uống đến lần thứ 4 hay thứ 5 nước trà vẫn xanh và mùi vị vẫn còn. Tuy nhiên loại trà hạ phẫm, người ta bỏ qua lần thứ nhất và bước sang cách pha lần thứ hai hơi đổi khác đôi chút như đã viết ở trên.

6. Vài tiêu chuẩn để xếp hạng trà xanh

Rất nhiều người ngoại quốc khi uống trà xanh Nhật bản thường đưa ra những ý kiến khác biệt nhau, thậm chí có lúc họ thấy rất ngon, có lúc họ thấy rất nhạt nhẽo. Ðó là vì họ không biết cách pha và uống trà. Nhưng điều quan trọng nhất, ít ai để ý đến đó là loại hạng của trà mà họ uống. Trên thị trường trà xanh Nhật bản có hàng trăm loại khác nhau. Từ loại rất rẻ được đóng gói cỡ 500 grams hay một kg trong bao giấy kính trong suốt dùng cho việc uống trà hàng ngày hay ở các giờ giải lao của hãng xưởng. Ðến những loại cao cấp rất mắc đựng trong những chiếc hộp bằng kim khí nhỏ nhắn cỡ 50ml rất trang nhã đựng trong một hộp bằng gỗ trình bầy rất đẹp. Trong đó kèm theo một vài tờ giấy như lụa ghi xuất xứ, lịch sử của sản phẩm có dấu hiệu, ấn ký của nhà sản xuất…

Mục đích của bài viết này nhắm vào loại trà cỡ trung bình trở lên, còn những loại trà hạ phẩm không thể áp dụng được. Sau đây là những tiêu chuẩn để người uống trà xét đoán, lựa chọn một loại trà xanh Nhật bản để thưởng thức hợp với túi tiền và mục đích của mình.

Giá cả của trà xanh Nhật bản là một tiêu chuẩn rất ít sai (nếu không muốn nói là hòan toàn chính xác) khi mua trà xanh Nhật bản. Vơí loại trà xanh rẻ tiền, đóng gói sơ sài với bao giấy bóng trong suốt, thường số lượng 500 grams hay môt kilo vơí giá cả khoảng 100 yen- 200 yen (1-2 $US) cho 100grams, đây là loại trà để uống giải khát mà thôi.

Có thể chia ra 3 hạng trà xanh Nhật bản như sau:

a. Loại trà hạ phẩm :

*/ Cánh trà thường to, dầy, thô vì được biến chế từ những lá trà già lấy ở phần dưới nhánh cây trà.

*/ Là sản phẩm dư thừa cuả loại trà cao cấp, chẳng hạn như cuống của những lá non dùng cho trà cao cấp

*/ Có loại lại trộn thêm vào khoảng 20% gạo rang hay lúa mì rang, khi uống có mùi trà xanh hoà trộn với mùi hơi khét của gạo rang.

Loại trà xanh hạ phẩm này thường không có mùi thơm vì nhà sản xuất không cho vào loại trà bột vào . Loại này thường uống trong giờ giải lao của nhân viên lao động trong hãng xưởng hay uống hàng ngày trong những gia đình nghèo Nhật bản cũng như ở những tiệm ăn uống bình dân. Vơí loại trà này cách pha trà như đã tả ở trên.

b. Loại trà trung bình:

Loại này thường được đựng trong các bao bằng alumin hay trong hộp bằng kim khí, có 2 nắp rất kín đáo. Hình thức trình bầy rất trang nhã và hấp dẫn. Trọng lượng mỗi gói khoảng 50-100 grams. Loại này có đặc tính sau đây :

*/ Có rất nhiều hạng khác nhau, thường giá cả từ 1000-6000 yen/100 grams (9- 50 $US). Trên thị trường thường đóng gói cỡ 100 gram, nhưng nếu đóng gói cỡ cỡ 50 grams, thường là loại ngon của hạng này.

*/ Khi mở gói trà hay hộp trà ngươì ta nhận thấy ngay đặc tính của loại này như sau :

Có mùi thơm rất dịu

Cánh trà nhỏ cánh, xanh đậm

Có mầu xanh cuả bột trà bám trên thành bao alumin hay thành hộp trà, đó là loại trà bột (dùng trong lễ dâng trà) được nhà sản xuất cho vào để làm gia tăng phẩm chất . Càng nhiều trà bột cho vào càng ngon và càng mắc giá.

*/ Khi pha trà lần đầu (60 độ, 2 phút) chỉ để hoà tan loại trà bột và một phần nào hương vị của cánh trà mà thôi. Chính vì vậy lần uống đầu tiên này mang đến khẩu vị nhiều hơn là mùi vị. Nhưng ở lần pha thứ 2 và thứ 3luợng trà bột đã giảm sút nhưng nhờ nhiệt độ nước pha cao (80-90 độ) làm bốc hơi mùi vị thơm của cánh trà. Vơí loại trà trung bình hạng tốt , người ta có thể pha lần thứ tư vẫn còn mùi vị ngon của trà.Tóm lại lần pha trà đầu tiên để người ta thưởng thức “Vị” của trà, từ lần thứ hai, thứ ba người ta thưởng thức “HƯƠNG” của trà.

*/ Ðây là loại trà thường uống hàng ngày ở những gia đình khá giả hay để đãi khách cũng như ở các văn phòng của các vị lãnh đạo hãng.

c. Loại trà hảo hạng:

Loại này là loại trà biến chế từ lá trà non (VN gọi là trà búp), sản xuất bởi những hãng trà nổi tiếng, kèm theo in ấn và lịch sử của nhà sản xuất hay loại trà. Trong đó nhà sản xuất lựa chọn những điạ danh trồng trà nổi tiếng ở Nhật bản .

Các nhà sản xuất trà xanh ở Nhật cũng nhập cảng hay có các cơ sở biến chế sơ khởi ở ngoại quốc như ở Trung Hoa, Bắc VN, Tây tạng, Bắc Lào… Nhưng theo ý kiến của người Nhật thì những loại trà mà họ mang từ ngoại quốc vào Nhật bản chỉ để sản xuất loại trung bình hay hơn trung bình một tí mà thôi. Còn những loại trà hảo hạng hay loại trà bột đặc biệt dùng cho các lễ dâng trà đều được biến chế từ các vườn trà đặc biệt ở miền Nam và miền Trung Nhật bản .

Vơí loại trà hảo hạng,thường đóng gói rất nhỏ (35- 100 grams), thường 50 grams và được trộn vào rất nhiều trà bột . Người Nhật bản khi có dịp uống loại trà này họ tuân thủ phương pháp pha trà một cách tuyệt đối để không phí phạm và nhất là hưởng thụ được tất cả hương vị của loại trà xanh qúi và mắc tiền. Loại trà này người ta có thể pha đến lần thứ 5 nước trà vẫn thơm ngon và mát dịu. Dĩ nhiên loại này chỉ dùng trong các trường hợp tiếp đãi khách qúi và trong các trường hợp đặc biệt mà thôi. Giá cả cũng rất thay đổi tùy theo nguồn gốc của vật liệu và cuả nhà sản xuất, có thể gần 50 $US cho một bịch trà khoảng 50 grams! Những người biết thưởng lãm loại trà này họ có nhiều dụng cụ phức tạp, cầu kỳ để cung ứng cho nhã khiếu uống trà của họ.

7. Vài chú ý căn bản

Khi chúng ta quen biết một gia đình người Nhật hay có dịp du lịch Nhật bản… Chắc chắn chúng ta sẽ có nhiều dịp được các bạn bè Nhật bản mời về nhà họ. Chắc chắn món giải khát đầu tiên, gần như không thay đổi của ngươì Nhật là mời chúng ta uống trà xanh và ăn một vài loại bánh ngọt đặc biệt để gia tăng hương vị của trà. Sau đây là vài điều ghi chú mà chúng ta nên chú ý:

-Ăn một vài miếng bánh ngọt trước khi uống trà.

-Khi chúng ta uống hết trà trong tách, không khi nào tự ý lấy bình trà rót vào tách của mình hay lấy bình thủy tự ý pha trà cho mình… Làm như vậy chúng ta đã vô tình làm sai lệch cách pha trà của chủ nhân ( vì họ biết rõ loại trà mà họ đãi chúng ta phải pha như thế nào , đặc biệt theo sự chỉ dẫn của nhà sản xuất ). Ngươì Nhật, nhất là người phụ nữ (vợ bạn hay các bà mẹ) rất kín đáo và chú ý, thường thường họ nhìn thấy tách uống trà của chúng ta hết và họ tiếp cho chúng ta ngay. Trong trường hợp họ bị vướng bận điều gì mà họ quên, chúng ta chỉ cần khen trà ngon là họ sẽ hiểu ngay và tiếp cho chúng ta tức thì.

-Khi chúng ta pha trà xanh, tuyệt đối không bao giờ lấy nước đang sôi từ chiếc nồi ruôn vào bình trà. Ðây là một sai lầm rất nặng về nguyên tắc và cả về mỹ thuật nữa. Vơí người pha trà chuyên môn, nguời ta để ấm nước không đăy nắp trên bồn than rất nhỏ, nước nóng ở khoảng 90 độ C, rồi họ dùng một chiếc muỗng bằng tre nhỏ để mức nước pha trà. Tùy thuộc vào lượng nước họ múc ở trong nồi và thời gian họ rót nước nóng vào bình trà để điều chỉnh nhiệt độ của nước pha trà (đây là một trong nhiều xảo thuật trong trà đạo) .

(sưu tầm từ thongtinnhatban.net)

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

Read Full Post »

Trà đạo Nhật Bản

Trà đạo là hoạt động uống trà đặc thù mang tính nghệ thuật, mang phong cách tình cảm riêng của người Nhật Bản, mà đặc điểm chính là pha trà và thưởng thức trà. Nghệ thuật này đã có hơn 500 năm lịch sử ở Nhật.

Người sáng lập trà đạo là một hòa thượng tên gọi Muratashu Mitsu. Ông đã tìm thấy hương vị tuyệt vời trong khi uống trà. Sau này, các đệ tử của ông đã phát huy ảnh hưởng và hình thành nên một môn nghệ thuật lưu truyền đến ngày nay.

Những người Nhật thích uống trà thường thành lập những nhóm nhỏ, chọn ngày mời nhau cùng thưởng thức. Số người tham gia mỗi lần không vượt quá 4 người và hoàn cảnh tổ chức một buổi trà đạo cũng có những quy định đặc biệt. Những gia đình khá giả thường cho xây ba căn phòng nhỏ trong vườn riêng nhà mình, hai phòng nối liền nhau, trong đó một phòng là phòng trà – nơi tổ chức trà đạo, phòng kia đặt than, bộ đồ trà và vòi nước. Phòng còn lại là nơi nghỉ ngơi của khách, phải cách hai phòng kia một khoảng nhất định. Trong vườn có những con đường nhỏ lát đá, quanh co với hai bên trồng hoa và cây cảnh làm cho không gian trong vườn yên tĩnh và thanh nhã. Bố trí trong phòng trà cũng rất được chú ý. Thông thường là treo tranh của các danh họa nổi tiếng, có hoa cắm nghệ thuật để khách mời được thưởng thức nghệ thuật mang hương sắc cổ kính.

traNhât

Thời gian tổ chức trà đạo chia ra làm 4 loại: trà sáng (7h sáng), sau ăn cơm (8h sáng), giữa trưa (12h trưa) và câu chuyện buổi tối (6h tối). Khách mời đúng giờ đến phòng nghỉ, gõ vào chiếc chuông gỗ báo hiệu đã đến. Chủ nhà nghe tiếng chuông sẽ từ phòng trà ra đón khách. Trước cửa phòng trà có đặt một chiếc cối đá đựng đầy nước, khách phải rửa sạch tay trước khi vào phòng. Cửa ra vào có một ô cửa cao gần 3 thước để khách tháo giày đi vào. Khi bước vào phòng phải khom mình tỏ ý khiêm tốn. Nếu khách là võ sĩ thì phải tháo kiếm trước mới được bước vào để biểu thị không khí hòa bình. Trong số khách, người tinh thông trà đạo được cử làm người chủ trì. Người chủ trì phải cạo trọc đầu để biểu thị sạch sẽ, thanh khiết. Trong phòng trà, một góc chiếu có đặt bếp lò và nồi nước bằng gốm, trước bếp đặt bộ đồ trà. Bộ đồ trà phải thô, nặng có men màu cam hoặc đen đậm dáng vẻ cổ kính. Trong khi chủ nhân đun nước thì khách dùng điểm tâm. Món điểm tâm này hết sức tinh tế phải được làm căn cứ vào thời tiết. Ví dụ: tổ chức trà đạo vào mùa thu thì món điểm tâm phải làm giống như lá phong hoặc hoa cúc. Trà để pha là loại bột trà xanh được chế biến cẩn thận bằng cách giã nát trong cối đá – người Nhật gọi là nghiền trà.

Có hai cách pha trà: pha đặc và pha loãng. Trà đặc thông thường ba người thay nhau uống một bát, mỗi người ba hớp rưỡi hết 1/3 bát. Trà loãng mỗi người uống riêng một bát. Trà đặc có màu xanh đậm, hương thơm hơi chát. Chủ nhân múc hai muôi gỗ trà cho vào bát, đổ nước sôi, dùng que trúc khuấy đều để trà có nước đặc như bột đậu. Bát đầu tiên mời người chủ trì, người chủ trì nâng bát trà ngang trán rồi mới uống. Khi uống phải chép miệng để tỏ ý thực sự được thưởng thức trà ngon của chủ nhân. Khi tất cả khách uống xong thì nghi thức trà đạo cũng kết thúc. Nhưng đôi khi còn một nghi lễ cao hơn là ăn cơm thường sau khi uống trà. Tuy gọi là cơm thường nhưng cũng thịnh soạn.

Trà đạo đã hình thành nhiều trường phái khác nhau, chủ yếu có ba trường phái lớn là: Risenka, Hyosenka và Bushakoro Senka. Mỗi nhà đều theo chế độ gia truyền – tức là con thường kế nghiệp bố làm người chủ trì trà đạo của gia đình đó.

Chỉ một ly trà xanh nho nhỏ nhưng với người Nhật nó lại như một ốc đảo trong tâm hồn. Họ cho rằng thông qua trà đạo có thể phát hiện được giá trị tinh thần cần có của bản thân. Có người dùng 4 chữ “hòa, kính, thanh, tịnh” để khái quát tinh thần cơ bản của trà đạo. “Hòa” là hòa bình; “kính” là tôn trọng người trên, yêu thương bè bạn, con cháu; “thanh” tức là thanh tịnh, thanh khiết; còn “tịch” là giới hạn mỹ học cao nhất của trà đạo: an nhàn.

Trà đạo ngày nay càng phổ biến hơn ở Nhật Bản, rất nhiều cô gái trẻ dồn tâm sức học tập trà đạo, tu nhân dưỡng tính để cuộc sống gia đình cũng như cuộc sống tinh thần phong phú và đẹp đẽ hơn.

(Phong tục tập quán các nước)

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 

Read Full Post »

Có hay không “Việt trà đạo”?

Độ mươi năm nay, người ta bàn đến Trà Đạo Nhật Bản với sự ngưỡng mộ đặc biệt và tâm đắc về giá trị tinh thần của đạo qua bốn chữ Hòa – Kính – Thanh – Tịch. Tuy nhiên để đạt được tới nghệ thuật thưởng thức trà với tinh thần Thiền của Phật giáo thì đòi hỏi một quy trình khắt khe từ phòng uống trà, dụng cụ pha trà, cách rót mời, cách uống cùng với những nguyên tắc ứng xử và giao lưu khi thưởng thức trà.

Với tư tưởng Thiền ấy, người Nhật đạt tới một tôn giáo trong nghệ thuật sống của chính dân tộc mình. Trà đạo đúng với ý nghĩa đích thực đó, để làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, để tu tâm dưỡng tính, để giác ngộ…

 viettra-1

Thực ra, trà đạo trong văn hóa Nhật Bản bắt nguồn từ việc uống bột trà xanh có nguồn gốc từ Trung Quốc, vào những năm cuối thế kỷ 10. Vậy nên, nghệ thuật uống trà của người Trung Hoa hay Hàn Quốc cũng tinh tế trong thưởng thức và sâu sắc về tinh thần. Cuốn sách “Kinh trà” của Lữ Dượng, thời Đại Đường, viết chi tiết từ việc trồng trà, hái trà, sao tẩm… đến nghệ thuật thưởng thức. Tuy nhiên riêng về sự tỉ mỉ trong cung cách tổ chức một cuộc tiệc trà thì Trà Đạo Nhật Bản đã vượt lên tới mức thiền mà những bàn trà thông thường ở Trung Quốc và Hàn Quốc chưa có được. Chỉ nói riêng yêu cầu về không gian của phòng uống trà thôi tưởng như không dính dáng gì đến trà đã thấy người Nhật có đòi hỏi rất cầu kỳ. Ngôi nhà uống trà phải làm bằng những nguyên liệu mong manh tạo cho ta nghĩ đến cái vô thường và trống rỗng trong mọi sự, phải hòa nhịp với cảnh vật chung quanh, tự nhiên như cây cỏ… tạo nên cảm giác không có vẻ gì là chắc chắn hay cân đối, bởi đối với thiền sự cân đối là chết. Và, ngay ở một góc phòng trà còn được treo tranh hoặc thư pháp, đôi khi chỉ có một chữ “Vô” để nhấn mạnh về cái không gian rỗng nhưng lại chan chứa sự hồn nhiên.

Để tạo dựng được một đạo trà thực ra phải xuất phát từ một nguồn gốc tư tưởng sâu sắc của giáo phái chính thống trong một đất nước và dược hoàn thiện trong một thời gian dài và trở thành “đạo”. Có Việt trà đạo hay không? Đây là một câu hỏi rất dễ trả lời là không, mặc dù việc uống trà của ông cha ta nâng tới mức tinh tế trong thưởng thức đã hình thành từ lâu đời, nhưng vẫn chưa đạt tới một nghi lễ (trà lễ) có tính nghệ thuật cho một tiệc trà.

Văn hóa trà Việt đã bị ảnh hưởng từ trà đạo Trung Quốc nhưng vẫn có nét riêng của mình và dần dần đã hình thành những nguyên tắc thưởng thức. Đồng thời ở các vùng cao của nước ta đã có vô số đồi chè hoặc rừng chè cổ từ lâu tạo được các hương vị độc đáo. Từ đó, người Việt cũng có cách uống trà phù hợp với tâm lý và bản sắc văn hóa tinh tế của mình. Những đúc kết của cha ông ta như Nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh đã phần nào nói được tính cách trà Việt.

Các cụ nhà ta lại quan tâm đầu tiên là nước rồi mới đến trà. Đó cũng là một kiểu cách thưởng thức đã được trải nghiệm. Phát huy hết vị ngon của trà phải là nước mưa hay từ các nguồn nước thiên nhiên, mạch giếng sạch. Khi đun sôi nước ở các mức độ khác nhau để thích ứng với từng loại chè, chứ không phải dùng cái thứ nước sôi ùng ục đến 1000C thông thường. Vậy là đã khó. Tỉ dụ trà móc câu, chỉ nên dùng nước sôi sủi tăm (chừng 800C), hoặc trà hương tẩm hoa sen, hoa nhài, hoa cúc, thì phải dùng nước ở độ sôi đầu nhang(khoảng 900C), chứ nếu dùng nước sôi 1000C bị cháy (chín nồng) chè như chơi. Thế là tinh tường chứ đâu có dễ dàng. ấy là chưa nói đến cách dùng Bôi (chén), Bình (ấm) với các bộ như “độc ẩm”, “tứ ẩm” hay “quần ẩm”… bình chuyên tùy vào khách đối ẩm.Còn nhớ chuyện thời Nguyễn, vua Tự Đức còn có những thú uống trà cầu kỳ mang dấu hiệu hòa nhập với thiên nhiên một cách đặc sắc bằng cách đã bắt các cung nữ bơi thuyền ra hồ sen vào buổi chiều để ương trà vào mỗi đóa sen cho ủ hương qua đêm rồi sáng hôm sau mới lấy về để pha uống.

 viettra-2

Thực ra, uống trà đã ướp hương các loại hoa như ngày nay chỉ là tạo nên sự lý thú trong thưởng thức nhưng lại làm mất đi cái vị riêng của trà, đồng thời chính lại làm tổn thương đến cái hương nguyên bản của búp chè tỏa trong hơi nước. Hương thơm tinh khiết vô thường của chè là ở đây, cái vị đắng ngọt ở trong miệng mới tạo được độ say của tâm hồn. Do đó các thợ chè đã phải định chất ủ búp chè theo thời gian để nhận biết ở đầu lưỡi. Như Trà nhất (hái vào tháng 5) Trà nhị (hái vào tháng 6), Trà tam (hái vào tháng 7). Chúng được phân loại để người uống chọn lựa với chất lượng cao nhất. Để uống tinh, các cụ thường chọn Trà nhất và tịnh không pha một chút hương hoa. Riêng loại trà San tuyết ở các vùng cao như Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Bảo Lộc… nếu uống thực ngon phải dùng nước khe nguồn trên núi để lắng một tiếng sau mới gạn nước đun ở mức sủi tăm. Bởi chè San Tuyết chỉ ngon ở vị chứ ít hương. Hiện nay ở thị trường người ta hay dùng Trà loại ba ướp hương hoa để làm giảm đi cảm giác chát. Lấy hương cứu vị là thế… Nếu ai uống tinh thường bao giờ cũng né tránh trà hương. Ngoại trừ thói quen hoặc uống trà hương để chữa bệnh nào đó.

Gần đây, để tạo dựng một phong cách trà Việt, một số cửa hàng chuyên trà, theo nghĩa chuyên sâu trà Việt, chứ không phải là các quán trà Đài Loan, Trà Tầu… đã hình thành với cái tên nghe rất kêu như Việt Nam danh trà (Bảo Lộc – Lâm Đồng); Lư Trà Quán (Tân Cương, Thái Nguyên); Trường xuân trà đạo, Việt Trà đạo (Hà Nội)…

Để kinh doanh với cái gọi là Trà đạo không đơn giản chỉ là phòng ốc và sự trang trí cầu kỳ hoặc tạo dáng cho có vẻ thanh nhã mà phải với tới được 4 chữ Hòa, Kính, Thanh, Tịch trong hệ thống nghệ thuật nghi lễ tiệc trà. Để đạt được chữ Hòa thôi đã đòi hỏi người chủ trà phải có một không gian tạo độ vô thường ở mức nào đó để hòa nhập với thiên nhiên. ấy còn cái Thanh cái Tịch nữa chữ. Đặc biệt cái Kính thì thật khó để các cô chân dài pha trà rót trà dù có cười tươi và làm duyên đến mấy. ở những nơi này, dù không dùng trà bột như người Nhật thì cũng vẫn đòi hỏi cách uống đầy “Kính” tức là lễ nghi tôn kính với người được mời dự tiệc trà.

Hiện, ở thành phố Hồ Chí Minh có CLB Trà đạo Sài Gòn do chi hội Hữu nghị Việt Nhật thành lập hồi tháng 4-2007, đã có những sinh hoạt đúng với nghi thức pha trà, hoặc tổ chức lễ hội Trà đạo Nhật Bản. Nhưng đây vẫn chỉ là sinh hoạt vào chủ nhật hàng tuần và mang tính biểu diễn về hình thức nghi lễ của vài chục hội viên chứ chưa tạo được một sinh hoạt mang tính đời thường và sâu sắc trong tư tưởng Trà đạo Nhật Bản là Thiền và tạo nên tính cách sống sâu sắc và tích cực cho một bản ngã.

Từ đó, nên chăng để tạo được một quan niệm Trà đạo Việt ra sao, có lẽ trước hết cần dựng dược những cấu trúc về tư tưởng trong văn hóa trà Việt, vì nó có căn cứ là một trong các “mô hình học” có tính riêng biệt góp phần cho con người rèn luyện kỹ năng và tính cách cũng như các bộ môn khác mà học sinh phổ thông đã được học như hội họa, âm nhạc, nghệ thuật cắm hoa, nội trợ… Vậy đó, việc học trà đạo, ngoài việc thư giãn tinh thần, còn mang tính giáo dục cao. Mà từ Trà đạo Nhật Bản đã hình thành hơn 500 năm qua, ta vận dụng sáng tạo đã xây dựng một Việt trà đạo mang tính thời đại, quả còn là một thử thách dài lâu.

Vương Tâm (Hanoimoi)

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

Read Full Post »

Tìm hiểu trang trí biểu tượng trên gốm sứ TQ – 16: Nấm Linh Chi – Lingzhi fungus

Nấm linh chi

Nấm linh chi

Nấm linh chi cũng còn được gọi tên theo khoa học là Glossy Ganoderma với hình dáng giống nấm. Linh Chi là một loại thảo dược quý, có tác dụng “cải lão hoàn đồng”, giúp trẻ hóa tế bào, an thần, giải độc, bảo vệ tế bào gan, giúp khí huyết lưu thông, chữa huyết áp cao, xơ mỡ động mạch, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể và đặc biệt là rất tốt cho tim… và là một biểu tượng cổ xưa về sự trường tồn (thọ).

Chinese Ruyi Sceptre (quyền trượng "như ý"), Qing Dynasty, 18th Century, Überseemuseum, Bremen (Germany)

Chinese Ruyi Sceptre (quyền trượng "như ý"), Qing Dynasty, 18th Century, Überseemuseum, Bremen (Germany)

Bởi vì trông giống như một thanh quyền trượng như ý , a ruyi (如意), nấm linh chi thường được dùng để chuyển tải ý nghỉa như “chúc đạt được ý nguyện”. ( thần tài 財神 thường được mô tả tay cầm ruyi – quyền trượng như ý)

Motif trang trí kiến trúc bằng biểu tượng "như ý" (ruyi) trên tòa nhà 101 Taipei - Taipei

Motif trang trí kiến trúc bằng biểu tượng "như ý" (ruyi) trên tòa nhà 101 Taipei - Taipei

motif nấm linh chi trên vật dụng gốm sứ

motif nấm linh chi trên vật dụng gốm sứ

KhanhHoaThuyNga

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Tìm hiểu trang trí biểu tượng trên gốm sứ TQ – 15: Tây Vương Mẫu

Xi Wang Mu (Queen Mother of the West) Việt Nam gọi là Tây Vương Mẫu. Viện dẫn cổ xưa nhất nói đến bà tiên này là dòng văn tự khắc giáp cốt viết “ làm để dâng cho Đông Mẫu và Tây Mẫu”. Những văn bản cổ mô tả bà như là một vị nữ thần đáng sợ có răng hổ và có đuôi con báo.Dưới triều đại nhà Hán, bà lại được mô tả có 9 đuôi con cáo. Trong tập sách cổ “Thuật đạo vượt núi và biển”, San haijing (山海经), viết vào thế kỷ thứ 4 trước CN, bà được mô tả là một vị thần tiên có quyền năng gây ra thảm họa, bệnh tật và sự trừng phạt lên loài người.

Hình ảnh của Tây Vương Mẫu tiến hóa theo thời gian và cuối cùng được mô tả là Vương Hậu đẹp và nhân từ trong chư tiên Đạo giáo. Trong các bài viết của Zhuangzi (庄子)(khoảng thế kỷ thứ 4 trước CN)có đề cập rằng “ không ai biết sự khởi đầu và kết thúc của vị đại tiên này”.

Hình ảnh Tây Vương Mẫu thường đi kèm với năm tì nữ xinh đẹp xung quanh. Bà ngồi trên một con công hay chim phượng hoàng, mang một chiếc khăn trùm đầu. Hình ảnh bà cũng thường được vẽ chung với con hạc hay nhiều loại chim khác.

Tây Vương Mẫu biểu tượng cho nhiều điều tốt lành

Tây Vương Mẫu biểu tượng cho nhiều điều tốt lành

Tây Vương Mẫu biểu tượng cho nhiều điều tốt lành, bao gồm cuộc sống lâu dài giàu sang với đầy thanh danh, tiếng tăm tốt đẹp. Bà còn giúp cho gia đình có những đứa con trai ngoan ngoãn và thông minh. Có bà, gia đình có nhiều thế hệ sẽ chung sống hòa thuận, tránh được những tranh cãi lặt vặt

Lại nói thêm trong các truyện tích của Đạo giáo còn gọi Tây Vương Mẫu là “ DIÊU-TRÌ KIM-MẪU ”

Chữ Diêu, hoặc chữ Dao cũng được, có nghĩa là ngọc diêu, một thứ đá quí báu ( pierre précieuse ).

Chữ Trì nghĩa là ao nước, hay là hồ nước.

Hai chữ Diêu Trì hiệp lại có nghĩa là : Ao hay hồ nước, trong đó có nhiều ngọc quí báu. Đây có nghĩa là một cảnh trí, một cung điện, ở trên một chót núi Hi-mã-lạp-nhã (Himalaya), làm ranh giới giữa nước An Độ và nước Trung Hoa, gọi tên núi là Côn Lôn. Ai có coi truyện thần tiên thì biết đó là chỗ Ngọc Đế ngự và nhiều vị Đại Tiên tu luyện.

Chữ Kim là vàng, cũng có nghĩa là các loại kim, như bạc, đồng, chì, sắt . . .thuộc về Tây phương. Theo Bát quái hậu thiên (Lạc thơ), Kim nầy ở ngôi Đoài, mà Đoài là Âm kim.

Chữ Mẫu là mẹ, là chủ tể, thuộc về hữu hình. Như cuốn Đạo Đức kinh nói: “Hữu danh, vạn vật chi mẫu.”, nghĩa là chừng Đạo có hình, có tên, Nó là mẹ sanh muôn vật.

Người ta thường hiểu chữ “mẫu” theo nghĩa thông thường, là người đàn bà sanh con, nên gọi Đức Diêu Trì Kim Mẫu là Bà Tây Vương Mẫu.

Tây Vương Mẫu cũng là một vị ban thuốc trường sanh. Ngài trở thành một vị chủ tể vườn đào,. Ơ cõi trên trời, và cai quản các vị thần tiên cõi đó, có khác hơn cõi ta ở dưới trần nầy là đặng sống lâu và hưởng vô cùng khoái lạc (jouit d’une félicité parfaite). Vườn Tây Vương Mẫu ở trên chót núi Côn Lôn – như tôi đã nói ở trên. Ngài ở trong lầu các bằng ngọc, có 9 từng huyền thất và chung quanh có vách thành bằng vàng.

Trong lầu có đơn phòng Tử Túy, bên trái có ao Diêu Trì, bên mặt có sông Huờn Túy. Dưới chơn có 9 từng nhược thủy ( nước yếu ), sóng cao muôn trượng, không có tiên xa ( xe nhờ bạo phong thổi đi ), vủ luân ( bánh xe bằng lông chim ) thì không thể nào đi đến đó được. …

Một số tích truyện về Tây Vương Mẫu thường được vận dụng làm đồ án thiết kế trang trí trên gốm sứ với hình vẽ nhân vật có thể kể ra : Tích bà găp King Mu vua triều đại nhà Chu và Hán Võ Đế có lien quan đến Đông Phương Sóc, tích về Hằng Nga, tích về Ngưu Lang (牛郎), Chức Nữ (织女), tích Tôn ngộ Không ăn trộm đào tiên tại vườn nhà bà, tích chư tiên đi dự sinh nhật Tây Vương Mẫu…

ghè lớn thời cuối Minh vẽ trang trí mô tả cảnh chư tiên dự hội bàn đào ( sinh nhật Tây Vương Mẫu)

ghè lớn thời cuối Minh vẽ trang trí mô tả cảnh chư tiên dự hội bàn đào ( sinh nhật Tây Vương Mẫu)

Bình đầu thời Minh, hiện vật tại VBT Jakarta - Indonesia, vẽ Tây Vương Mẫu cầm khay đào tiên và hai tiên cô hầu quạt.

Bình đầu thời Minh, hiện vật tại VBT Jakarta - Indonesia, vẽ Tây Vương Mẫu cầm khay đào tiên và hai tiên cô hầu quạt.

Một bình vẽ men lam đầu nhà Minh khác mô tả cảnh các tiên đi dự hội bàn đào ( Tây Vương Mẫu mời )

Một bình vẽ men lam đầu nhà Minh khác mô tả cảnh các tiên đi dự hội bàn đào ( Tây Vương Mẫu mời )

KhanhHoaThuyNga

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »