Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 14th, 2009

Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn – Bình Định

— Bùi Đẹp —

Nằm ngay cửa ngõ thành phố Qui Nhơn là hai ngọn tháp đứng sừng sững kề nhau, dân gian gọi là tháp Đôi. Theo các tư liệu xưa còn ghi chép được, tháp Đôi là tháp Hưng Thạnh. Ngày 10/7/1980, tháp Đôi được trùng tu đầu tiên ở Bình Định và được các nhà nghiên cứu xếp vào loại di sản độc đáo của nghệ thuật kiến trúc Chăm bởi tháp Đôi không giống bất kỳ một ngôi tháp cổ nào hiện có. Các nhà khoa học đến nay vẫn chưa tìm ra lý do khác thường này.

Tháp Đôi được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 12. Ở ngọn tháp lớn, có khắc nhiều bức phù điêu hình khí Hanuman trong tư thế nhảy múa. Còn tháp nhỏ lại có nhiều phù điêu hình thú vật như hươu, nai; phía trong vòm khám thờ có hình người ngồi thiền, đứng chầu hai bên là các sư tử đầu voi. Các góc tháp đều được trang trí hình chim thần Garuda bằng đá.

Ngược lại, vùng “Tây Sơn hạ đạo” có cụm tháp Dương Long. Người Pháp gọi đây là “tháp Ngà”, còn dân địa phương gọi là tháp An Chánh. Tháp Dương Long có ba toà tháp cổ với chiều cao 29-36m. Hệ thống cửa của cụm tháp này phần lớn đã bị sụp đổ. Các đề tài chạm khắc trên tháp Dương Long cũng có các hình thú như voi, sư tử đang đùa giỡn, phía bên trong toà tháp cũng là những tu sĩ đang ngồi thiền. Hầu hết toà tháp có cấu trúc nhỏ dần về phía đỉnh và kết thúc bằng một đoá sen đang nở. Những bức chạm khắc của tháp Dương Long rất tinh tế về nghệ thuật và kỹ xảo. Vòm cửa có hình quái vật Kala khạc ra rắn bảy đầu, bộ diềm mái được nghệ nhân khắc nhiều hoa văn với cảnh trí rất phong phú, đa dạng. Có thể nói, tháp Dương Long có giá trị nghệ thuật nhất trong số các kiến trúc Chăm thời kỳ này. Nhiều nhà nghiên cứu hiện xác định niên đại của tháp là vào khoảng nửa sau thế kỷ 12. Đây là cụm di tích thứ hai được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng cùng lúc với tháp Đôi.

Sau hai cụm tháp Đôi và tháp Dương Long là tháp Cánh Tiên và tháp Bánh Ít. Tháp Cánh Tiên được xây dựng ngay ở trung tâm thành phố Đồ Bàn (nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Có thể nói đây là một trong những kiến trúc còn khá nguyên vẹn. Theo tài liệu của Pháp, tháp Cảnh Tiên còn được gọi là tháp Đồng, nhưng vì sao có tên gọi này thì vẫn chưa có ai xác định được nguồn gốc. Tháp cao khoảng 20m, trông xa giống như đôi cánh của nàng tiên đang bay lên trời xanh. Khác với các tháp Chăm khác, tháp Cánh Tiên được xây dựng một phần bằng chất liệu sa thạch, xung quanh có nhiều phù điêu chạm khắc. Không giống như Cánh Tiên, Bánh ít có đến bốn toà tháp lớn nhỏ khác nhau nằm trên một đỉnh đồi thuộc xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, cách thành phố Qui Nhơn khoảng 20 km. Đứng xa cụm tháp này trông như những chiếc bánh ít lá gai thường thấy trong các dịp cúng lễ, giỗ chạp ở miền Trung. Người Pháp gọi đây là tháp Bạc. Bốn ngôi cổ tháp đều có các tượng thờ, hình vũ nữ đang múa, hình voi, hình các vị thần linh.

Cũng tại Bình Định còn có tháp Bình Lâm nằm ở xã Phước Hoà (Tuy Phước). Người dân ở đây kể rằng thôn Bình Lâm là vùng đất phì nhiêu có những cư dân người Việt lần đầu tiên đến khai phá mở mang. Trong hệ thống tháp Chăm Bình Định thì tháp Bình Lâm là nhóm tháp cổ có niên đại sớm nhất.

Một cụm di tích khác có tên là tháp Thủ Thiện ở xã Bình Nghi (Tây Sơn) – quê hương của những lò gạch ngói thủ công nổi tiếng nằm trên quốc lộ 19. Năm 1995, ngọn tháp này cũng được xếp hạng di tích quốc gia, nhưng hiện đang bị đổ nát nghiêm trọng. Nhiều di tích, cấu trúc của ngọn tháp đã bị thời gian và con người phá huỷ.

Cùng được xếp hạng với tháp Thủ Thiện là tháp Phú Lộc mà người Pháp đặt tên là tháp Vàng, nằm giáp giới giữa 2 huyện An Nhơn và Tuy Phước. Cao 29m, Phú Lộc nằm trên đỉnh một ngọn đồi cao 76m so với mực nước biển. Dù đã bị đổ nát khá nhiều nhưng nhìn tổng quát, ngọn tháp vẫn có dáng bề thế, uy nghi của một công trình kiến trúc cổ.

Ngoài bảy cụm tháp ở Bình Định đã được Nhà nước xếp hạng, hiện nay vẫn còn một số di tích tháp cổ khác, trong đó có tháp Hòn Chuông ở huyện Phù Cát hiện chỉ còn chân đế, hoặc đã bị sụp đổ, do người dân đào bới tìm vàng.

Có thể nói rằng tám cụm tháp với tổng số 14 toà tháp cổ còn lại được xem như một loại tài sản vô giá mà lịch sử đã ban tặng cho miền Trung. Những bí ẩn về tháp Chăm mặc dù đã được nghiên cứu tìm hiểu từ cả chục năm nay nhưng vẫn chỉ là những nghiên cứu bên ngoài. Nhiều bí ẩn kỳ lạ, nhiều huyền thoại lý thú vẫn đang chờ được hé mở.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Advertisements

Read Full Post »

Dấu tích Champa trên đất Bình Định

Nghiên cứu khoa học ngày nay cho biết rằng cư dân lâu đời của dải đất miền Trung, trong đó có Bình Định, là chủ nhân một nền văn hóa được đặt tên là văn hóa Sa Huỳnh. Những dấu vết đầu tiên của nền văn hóa này lần đầu tiên được biết đến nhờ các cuộc khai quật của một nhà khảo cổ học nữ, bà Labarre, vào năm 1909. Sau đó, năm 1924, H. Parmantire tập hợp lại, cho công bố trên tạp chí của trường Viễn Đông Bác Cổ.


thap chăm BĐ
Cách đây trên dưới 4.000 năm, trên đất Bình Định ngày nay đã có người cổ sinh sống.

Theo quan điểm của các chuyên gia, văn hóa Sa Huỳnh thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt, có niên đại vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Tuy nhiên, tổ tiên của chủ nhân nền văn hóa này là ai? Những dạng thức văn hóa nào đã phát triển lên thành Sa Huỳnh? Đang là những câu hỏi lớn đặt ra cho giới khảo cổ học tiếp tục đi sâu nghiên cứu.

Vào cuối những năm 70, một số cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trên đất Bình Định đã có những đóng góp quan trọng. Kết quả khai quật các di chỉ ở Long Thạnh và Bình Châu vào năm 1978 đã hé mở những khả năng hiểu sâu thêm về thời kỳ tiền Sa Huỳnh. Di chỉ Long Thạnh được đoán định vào sơ kỳ thời đại đồ đồng thau, có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500-4.000 năm. Đây là di chỉ khảo cổ liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh sớm nhất mà khoa học biết đến. Di chỉ Bình Châu ở vào giai đoạn muộn hơn, thuộc Trung kỳ đồng thau, cũng cách ngày nay tới trên dưới 3.000 năm.

Vào cuối năm 1979, trên một trảng cát gần đầm Trà Ổ có tên gọi Truông Xe (thuộc xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ), các nhà khảo cổ lại phát hiện thêm một di chỉ thuộc thời kỳ tiền Sa Huỳnh. Trong tầng văn hóa, người ta tìm thấy những mảnh gốm màu nâu đỏ, nâu xám, xương gốm có lẫn cát và vỏ nhuyễn thể với trang trí chủ yếu là văn thừng, khắc vạch, chấm vải và một ít ô trám. Đó là mảnh vỡ của các bình, lọ và nắp vò. Phân tích kỹ thuật cho thấy những loại gốm này độ nung không cao. Ngoài gốm, trong di chỉ còn tìm được rìu đá, đục, bàn mài và chày nghiền. Dựa vào loại hình và kết cấu địa tầng, có thể đoán định niên đại của di chỉ này vào khoảng 3.000 năm.

Không nghi ngờ gì nữa, cách đây trên dưới 4.000 năm, trên đất Bình Định ngày nay đã có người cổ sinh sống. Họ là một trong những nhóm cư dân xây nền đắp móng cho văn hóa Sa Huỳnh. Rất có thể đó chính là những nhóm người thuộc bộ lạc Dừa mà các bi ký và truyện cổ dân gian Chàm đã nhắc đến.

Vào năm 111 trước Công nguyên, sau khi đánh bại nước Nam Việt của họ Triệu, giành quyền cai trị nước Âu Lạc, nhà Hán đã cho quân tiến sâu xuống phương Nam, chiếm lấy địa bàn cư trú của bộ lạc Dừa, lập ra quận Nhật Nam. Trong suốt thời gian gần 3 thế kỷ, nhân dân vùng này đã cùng chung cảnh ngộ với dân Việt ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Châu, bị đô hộ bởi chính quyền Hán tộc ở Giao Châu và cũng đã nhất tề nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Cuối thế kỷ thứ II, đời Sơ Bình (190-193), nhân Trung Quốc có loạn, nhân dân bộ lạc Dừa, dưới sự lãnh đạo của Khu Liên, đã nổi dậy chống lại ách cai trị của chính quyền đô hộ, lập ra một quốc gia độc lập có tên gọi trong các thư tịch cổ Trung Quốc là Lâm ấp, sau này được gọi là Champa trong các bi ký cổ. Kết hợp với những cư dân ở phía Nam đèo Cù Mông, thuộc bộ lạc Cau, từ đầu thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ VIII, dưới vương triều Gangaraja, Champa bước vào giai đoạn phát triển khá mạnh mẽ. Lúc này kinh đô của Champa được xây dựng tại thành phố Indrapura (thành phố Sư tử). Các nhà nghiên cứu cho rằng kinh đô đó tương ứng với Trà Kiệu, một địa điểm gần bờ nam sông Thu Bồn, thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Đây là thời kỳ ưu thế chính trị thuộc về bộ phận quý tộc phía Bắc. Ở phía Tây kinh thành (tương đương với vùng Mỹ Sơn), một thánh địa lớn được xây dựng.

Nhưng từ giữa thế kỷ VIII, quyền lực dần chuyển về tay các quý tộc Nam Champa và kinh đô cũng được chuyển vào Panduranga (Phan Rang). Chính vì vậy mà lịch sử Champa giai đoạn từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX thường được gọi là thời kỳ trị vì của vương triều Panduranga. Một trung tâm tôn giáo mới cũng được xây dựng ở Kauthara (Nha Trang), được gọi là Po Nagar (đền thờ quốc Vương).

Sang đến giữa thế kỷ IX, ưu thế chính trị lại một lần nữa thuộc về Bắc Champa. Một thành phố mới mang tên thần Indra (Indrapura) lại được xây dựng ở phía Bắc làm kinh đô. Địa điểm kinh đô mới này thuộc địa phận làng Đồng Dương (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), trên bờ sông Ly Ly (một nhánh sông Thu Bồn), cách Trà Kiệu khoảng 15km về phía Đông – Nam.

Sau khi vương triều Indrapura chấm dứt vào khoảng năm 982-983, kinh đô được dời chuyển vào Vijaya (Chà Bàn). Từ đây, vùng đất Bình Định xưa trở thành đế đô của vương quốc Champa và phát triển phồn thịnh cho đến tận năm 1471. Trong thời gian trên dưới năm thế kỷ, biết bao thăng trầm của lịch sử đã diễn ra trên vùng đất này.

Champa là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh Ấn Độ. Nhưng bằng sức lao động và óc sáng tạo, người Champa cổ đã kết hợp nhiều yếu tố tiếp thu được với bản sắc riêng của mình tạo nên một nền văn hóa độc đáo. Trên đất Bình Định nay còn để lại không ít di tích của một thời vàng son, mà điển hình là hệ thống tháp cổ với 8 cụm tháp gồm 14 ngôi tháp độc đáo và bí ẩn.

Chú thích : Long Thạnh , Bình Châu thuộc Quảng Ngãi

(Theo báo Bình Định)

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định

Vào đầu tháng 7 năm nay, UBND tỉnh Quảng Ngãi sẽ tổ chức hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh. Trong dịp này, Bình Định là một trong những tỉnh được mời tham dự hội thảo và trưng bày những cổ vật về Văn hóa Sa Huỳnh được khai quật và phát hiện trong những năm qua trên địa bàn tỉnh.

VH sahuynh 01

Đồ gốm tùy táng, khai quật tại Động Cườm.


Những dấu tích văn hóa thời tiền sử ở khu vực miền Trung lần đầu tiên được biết từ năm 1909 và đã được một học giả người Pháp thông báo sơ lược, với việc phát hiện khoảng trên 200 quan tài bằng gốm (gọi là mộ chum hay mộ vò) tại cồn cát ven biển vùng Sa Huỳnh (thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi), từ đó những khu di tích mang yếu tố mộ chum này được gọi tên chung là Văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng cuộc tìm kiếm lúc đó chỉ là những cuộc đào bới tìm đồ cổ, chứ không mang tính khoa học về khảo cổ học. Từ năm 1954 trở về trước, người ta chỉ biết được một cách tương đối về sự phân bố của Văn hóa Sa Huỳnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, với nhiều phát hiện mới đã khẳng định thêm sự có mặt của những nhóm văn hóa này ở cả vùng Đông Nam bộ. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, giới khảo cổ học nước ta đã tiến hành phúc tra những địa điểm khảo cổ học cũ, đồng thời phát hiện, nghiên cứu và khai quật thêm nhiều địa điểm mới. Cho đến nay, giới nghiên cứu đã thống nhất cho rằng Văn hóa Sa Huỳnh là một tập hợp di tích khảo cổ học từ thời đại Đồng thau và Sắt sớm, phân bố trong một khu vực liền khoảnh từ Quảng Bình cho đến Đồng Nai và có những đặc trưng văn hóa giống nhau, phát triển theo từng thời gian.

Đối với Bình Định, việc nghiên cứu điều tra khảo cổ học, chỉ mới được tiến hành sau năm 1975, với nhiều di chỉ đào thám sát và khai quật trong những năm qua cũng đủ cứ liệu để khẳng định từ hậu kỳ Đồng thau và Sắt sớm cách ngày nay khoảng 2.000 đến 3.500 năm, vùng đất Bình Định đã có con người tiền sử đến định cư và sinh sống. Cho đến nay, trên vùng đất Bình Định đã phát hiện được khá nhiều các di tích thuộc Văn hóa Sa Huỳnh, cũng như những nơi khác, con người Sa Huỳnh có một đặc điểm chung là họ sống ở những cồn cát và chết vùi trong cát, ven biển miền Duyên hải, các rìa cạnh đầm nước ngọt. Di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định tập trung nhiều nhất ở hai huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ và thành phố Quy Nhơn.

Tại các di tích Truông Xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch thuộc các xã Mỹ Thắng, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ); Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp (thuộc TP Quy Nhơn) (các di tích này đã được phát hiện năm 1977 – 1978), Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát và đào thám sát. Trong các lần khảo sát và khai quật tại các di tích này, trong tầng văn hóa đã thu được hiện vật thuộc nền Văn hóa Sa Huỳnh, nhiều loại hình như: rìu đá hình răng trâu, rìu tứ giác, đục nhỏ hình lưỡi xòe, bàn mài, chày nghiền, vò táng bằng gốm chôn đứng có dáng hình trứng, và mộ vò có hình bầu dục có vò nhỏ khác úp lên trên. Hiện vật tìm thấy trong mộ gồm: bình gốm, nồi minh khí, rìu đá hình chữ nhật, rìu hình răng trâu, vòng tay đá, hòn kê, mảnh vòng đeo tay bằng gốm hoa văn hình sống trâu và nhiều mảnh gốm hoa văn trang trí trên gốm là các kiểu hoa văn như: khắc vạch, chấm đôi, văn chải, cắt chéo hình ô trám. Theo giới nghiên cứu, trong các di tích trên, hai di tích Truông Xe và Gò Lồi thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại Đồng thau; các di tích Thuận Đạo, Chánh Trạch, Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp có niên đại muộn hơn – sơ kỳ đồ Sắt.

Đồ trang sức - vật tùy táng khai quật tại Động Cườm

Đồ trang sức - vật tùy táng khai quật tại Động Cườm

Giai đoạn sơ kỳ đồ Sắt cách ngày nay từ 2.500 năm đến đầu Công nguyên, dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh còn tìm thấy ở huyện Hoài Nhơn, địa điểm này đã được Colani (học giả Pháp) thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ khảo sát và khai quật năm 1934. Qua nhật ký của bà ghi chép, ở Hoài Nhơn có các điểm: Động Cườm (Tăng Long 2 – Tam Quan Nam), Phú Nhuận, động Bàu Năng ở làng Ca Công (Hoài Hương) và động Công Lương (Hoài Mỹ), Bà Ná, Đông Phù. Di chỉ Động Cườm đã được Bảo tàng Bình Định đào thám sát năm 2001 và năm 2002 -2003 phối hợp với Viện Khảo cổ học, Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức khai quật, với diện tích đào trên 300 m2, đã phát hiện được trên 50 mộ chum và mộ nồi chôn úp nhau, mật độ phân bố mộ chum khá dày, khoảng cách từ 20-35cm. Giới nghiên cứu cho rằng, sự táng tục thành cụm là sự thể hiện dấu vết của tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tính cộng đồng của cư dân Sa Huỳnh trong khi sống và đến lúc chết. Mộ Động Cườm với hai kiểu dáng: dáng thân hình bầu tròn, miệng bẻ loe xiên; và một loại mộ thân hình trụ, đáy bầu tròn, vai hơi bóp vào, miệng bẻ loe xiên. Nắp đậy hình nón cụt, miệng bẻ loe, thành hơi bóp, vành vê tròn rồi bẻ loe ra ngoài, bên ngoài phía trên trang trí hoa văn khắc vạch, mô típ hình thoi cách điệu.

Hiện vật thu được tại Động Cườm là những đồ tùy táng chôn theo trong mộ, trong đó có nhiều hiện vật nguyên, bao gồm: nồi, bát bồng, dao găm, kiếm, dọi xe sợi. Hàng ngàn mảnh gốm bao gồm các loại hình như thân, nắp, mảnh nồi, mảnh miệng… Với những kết quả thu được đã khẳng định Động Cườm là một khu mộ táng và có thể là cả nơi cư trú của cư dân Sa Hùynh, một di tích rất có giá trị nghiên cứu về những cư dân tiền sử trên đất Bình Định nói riêng và cư dân Văn hóa Sa Huỳnh ở khu vực miền Trung Việt Nam nói chung. Người ta chôn theo người chết đồ gốm, đồ trang sức, công cụ lao động, vũ khí như một hình thức chia của để người chết sử dụng trong “thế giới bên kia”. Nhiều đồ gốm được tìm thấy bên trong và quanh các mộ chum. Đồ gốm giai đoạn này có độ nung khá cao, hoa văn trang trí không còn được chú trọng như ở giai đoạn trước, gốm tô thổ hoàng và than chì, nhiều dọi xe sợi bằng đất nung được tìm thấy, đồng thời dấu vết của vải cũng in lại trên một số đồ gốm và sắt, cho thấy vào giai đoạn này người ta đã biết dệt vải. Đồ trang sức rất phong phú về loại hình lẫn số lượng gồm có: hạt chuỗi được làm bằng thủy tinh xanh, đá màu vàng, nâu, trắng, tím, nhiều hạt chuỗi được làm bằng mã não; khuyên tai 3 mấu bằng gốm, bằng đá; vòng đeo tay bằng thủy tinh. Ở Bình Định hiện nay chưa phát hiện được loại hình trang sức khuyên tai hai đầu thú – đây là loại trang sức rất phổ biến của cư dân Sa Huỳnh.

Qua các di vật tìm thấy cho ta những nhận thức về Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định có hai giai đoạn: Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh muộn. Thời kỳ Tiền Sa Huỳnh, người ta còn sử dụng nhiều những công cụ bằng đá, đến giai đoạn Sa Huỳnh muộn, công cụ sản xuất bằng đá không còn, thay vào đó là những công cụ bằng sắt. Đồ sắt được chôn theo gồm các loại dao, rìu, kiếm, dáo… là những loại công cụ lao động và vũ khí phổ biến trong giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh. Đồ sắt được làm bằng phương pháp rèn nóng, người ta đã biết làm tăng độ cứng của sắt bằng phương pháp thấm than.

Trong các mộ chum ở Động Cườm có thể thấy sức sản xuất của người cổ Sa Huỳnh khá cao, họ là những cư dân nông nghiệp biết trồng lúa nước, biết khai thác những sản vật của rừng và biển, biết dệt vải, rèn sắt, nấu thủy tinh, làm đồ trang sức… Sức sản xuất phát triển, của cải vật chất ngày càng nhiều tất yếu dẫn đến sự phân hóa xã hội, điều này thể hiện qua các di vật được chôn theo, có chum chôn nhiều đồ mã não, đồ sắt, đồ trang sức, có chum chỉ chôn vài món đồ gốm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ở giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh, khu vực này đã có những nhà nước sơ khai, vào những thế kỷ I-II trước Công nguyên, vùng Đông – Nam Á đã xuất hiện những cảng thị làm nơi giao dịch của cư dân lục địa với cư dân các hải đảo, những nhà nước sơ khai ấy đã chi phối mọi hoạt động của các cư dân trong một khu vực rộng lớn, từ khu vực vùng cửa sông đến vùng thượng nguồn, sản vật ở vùng thượng nguồn được vận chuyển xuống vùng hạ lưu để trao đổi với các nơi khác.

Mộ chum, mộ nồi - khai quật tại Động Cườm.

Mộ chum, mộ nồi - khai quật tại Động Cườm.

Nói về phong tục mai táng trong vò của cư dân Sa Huỳnh, hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có đủ cứ liệu về tục cải táng hay hỏa táng, chôn nguyên hay chôn từng bộ phận xác. Tục mai táng trong vò của người Sa Huỳnh – chôn đứng có nắp đậy – là một trong những truyền thống mai táng nổi bật ở Đông – Nam Á trong thời đại Kim khí. Các vò táng Sa Huỳnh, kể cả chum lớn, cũng khó mà tin được là để dùng cho việc chôn nguyên thi thể người lớn. Việc bố trí đồ tùy táng, đặc biệt là đồ gốm, cho thấy không có tục chôn nguyên người lớn trong vò. Các bình gốm tùy táng được đặt trong vò với tư thế đứng ở đáy phần lớn còn nguyên dạng không bị vỡ nát, chứng tỏ không có trường hợp chôn người trên các bình gốm tùy táng và việc không có xương người lớn cũng nói lên điều này. Tuy nhiên, trong các khu mộ Sa Huỳnh không thấy khu mộ nào chôn nguyên xác, do vậy, nhiều khả năng cư dân Sa Huỳnh đã “trả” xác về với thần Biển. Đây là quan niệm và tập tục mai táng của cư dân vùng biển ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Cuộc sống của họ luôn gắn với biển, phụ thuộc vào biển, vì vậy họ tôn thờ thần Biển. Đưa người chết về với biển có thể hoàn thành một vòng luân hồi của tạo hóa: Con người từ tự nhiên sinh ra và trở về với tự nhiên (biển). Những ngôi mộ vò trên mặt đất có lẽ là những mái nhà hoặc các ngôi mộ tượng trưng để các linh hồn có chỗ trú ngụ trên quê quán. Vì vậy, không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà người ta tìm thấy các mộ Sa Huỳnh tập trung theo từng nhóm, nằm thẳng hàng trật tự trên cùng một bình diện địa tầng và đôi chiếc còn có lỗ thủng nhân tạo ở đáy vò như ô cửa để linh hồn ra vào; còn trẻ thơ thì được chôn nguyên trong vò vì chúng còn non dại cần được sự che chở của người lớn, do vậy chúng thường được chôn ngay trong nơi cư trú.

Cũng trong giai đoạn tiền sử, một loại hình di tích khác cũng được phát hiện trên đất Bình Định đó là những điểm phát hiện trống đồng Đông Sơn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định đã phát hiện được 14 chiếc trống đồng. Sự xuất hiện của trống đồng thuộc Văn hóa Đông Sơn đã phản ánh một thực tế, từ sơ kỳ Đồng thau và Sắt sớm, cư dân Sa Huỳnh đã có mối giao lưu với các nền văn hóa đương đại ở Việt Nam và Đông – Nam Á. Sự tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với các nền văn hóa rực rỡ trong khu vực kế cận như Đông Sơn (phía Bắc), Dốc Chùa (phía Nam) và cả với Thái Lan, đã cho đỉnh cao Sa Huỳnh một mô thức văn hóa đa dạng với sắc thái riêng. Rõ ràng trong mối quan hệ qua lại nhiều chiều của Văn hóa Sa Huỳnh, người ta đã thấy bóng dáng của Văn hóa Đông Sơn in đậm trên vùng đất Bình Định.

Tham gia Hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh sẽ được UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức vào tháng 7 năm nay là dịp để Bảo tàng Bình Định mở rộng phạm vi hoạt động, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc theo định hướng xã hội hóa các hoạt động bảo tàng trong giai đoạn hiện nay.

* Hồ Thùy Trang ( Báo Bình Định )

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Những chiếc ấm đất

Bóng nắng gần tới đỉnh đầu. Sư cụ chùa Đồi Mai thủng thẳng trở về trai phòng. Nhà sư già gỡ chiếc nón tu lờ, sắp ngồi vào thụ trai thì có tiếng con trẻ gọi ở ngoài cổng chùa. Một chú tiểu lễ phép bước lên tam cấp:

– Bạch cụ, có người con trai cụ Sáu xin vào.

– Vậy chú vẫn đóng cửa chùa đó à? Chú ra mở mau không có người ta phải đứng nắng lâu. Cổng nhà chùa bao giờ cũng nên để ngỏ. Từ giờ chú nên nhớ: sáng sớm tụng kinh nhật tụng và thỉnh chuông xong là phải mở rộng cửa chùa và tối đến, lúc nào học xong kệ thì mới đóng. Kẻo nữa khách thập phương họ kêu đấy.

Tiểu ra được một lát thì một người con trai trạc mười bảy tuổi xúng xính trong chiếc áo dài thâm, chân xéo lấm, tay bưng cái khay tiến vào tăng xá, vái sư cụ:

– Bạch cụ, thầy con cho con mang xuống biếu cụ bình trà đầu xuân. Và xin phép cụ cho ra giếng chùa nhà gánh một gánh nước.

Nhà sư già đã quen với những việc biếu và xin mượn này ở dưới cụ Sáu, khẽ cất tiếng cười. Trên khuôn mặt khô xác, nụ cười không có gì là ấm áp thiết tha. Nó chỉ đủ là hiền lành thôi.

– Thế cháu đựng nước bằng cái gì?

– Dạ có người nhà quẩy nồi và gánh đi theo còn chờ ở ngoài.

– Ai di đà phật? Nắng này mà đi từ làng trên xuống tận đây lấy nước, cụ Sáu nhà có công quá. Cháu ngồi nghỉ chân đã. Để già bảo chú tiểu đưa tên bộc ra giếng. Cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi; sẵn oản chuối vừa hạ xuống, già ép cháu thụ một ít lộc Phật.

– Bạch cụ, cháu ăn mặn ở nhà vẫn còn lửng dạ.

Sư cụ chùa Đồi Mai không nài thêm và vẫn chỉ cười rất thuần hậu.

– Cháu có biết cụ Sáu nhà đến xin nước ở chùa đây đã mấy năm nay rồi không? Gần mười năm. Uống trà tàu như thầy cháu thì cũng có một. Cứ nước giếng chùa đây mới chịu pha trà. Lắm lúc già tự hỏi về cái tiền thân của thầy cháu xem là như thế nào. Nghĩ đến cái nhân duyên của thầy cháu với nhà chùa đây, thực cũng là bền và kỳ lắm cháu ạ.

Thoáng thấy tên lão bộc đã quảy xong gánh nước đang ngơ ngác tìm mình và làm ướt cả khoảng giữa sân chùa lát toàn đá tảng xanh, người con cụ Sáu, với cái từ tốn của một thư sinh ngồi hầu chuyện bực phụ chấp đã xuất gia, liền vội vàng đứng dậy xin phép về.

– Bạch cụ, cháu vội phải về, vì ở nhà hôm nay có khách uống trà. Có lẽ thầy cháu ở nhà đang chờ nước về.

Nhà sư già cũng vội theo bọn xin nước ra tới thềm ngoài. Sư cụ rút trong tay áo vải rộng ra một chiếc quạt thước, xòe rộng hết cả nan quạt, nghiêng che đầu cho đỡ nắng và bảo chú tiểu:

– Chú chạy mau ra vườn, bẻ mấy cành lá đào.

Rồi cụ giữ con cụ Sáu lại:

– ấy, ấy, thong thả một chút. Thả mấy cành đào có lá vào nồi nước, lúc gánh đi đường xa nó đỡ sóng ra ngoài và về đến nhà, nước vẫn mát.

Bọn xin nước vái chào nhà sư. Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và thẫm màu. Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát. Ví buổi trưa hè này là một đêm bóng trăng dãi, và ví cổng chùa Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần.

ánh nắng già dặn buổi trưa nung đốt mặt cánh đồng dưới chân đồi, làm rung rinh lớp không khí bốc từ mặt đất. Giống như vệt khói nhờ, nắng vờn qua những màu xanh bóng loáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm. Đứng trong cổng chùa từ bề cao nhìn xuống cái thấp dưới chân mình, nhà sư già nheo nheo cặp mắt, nhìn cái nắng sáng lòa. Bọn người xin nước chỉ còn là mấy cái chấm đen, mỗi chuyển động lại làm tung lại phía sau mình một chùm cát bụi mờ mờ. Gió nồm thổi mạnh, nhiều cơn, đã đem cả mảnh bụi trần kia vào lọt cổng ngôi chùa cao ráo. Nhà sư nghĩ đến cụ Sáu, thở dài tỏ ý tiếc cho một kiếp chúng sinh còn vướng mãi vòng nghiệp chướng.

Cụ Sáu vốn đi lại với chùa đây kể ra đã lâu. Từ trước cái hồi nhà sư già tới trụ trì. Mấy pho tượng Phật Tam thế bằng gỗ mít đặt ở trên bệ và mấy pho Kinh in giấy đại thừa là của cụ Sáu cúng đấy. Cái chuông treo ở trên nhà phương trượng cũng là của ông cụ Sáu cúng vào hồi trùng tu lại chùa. Và mỗi lần nhà chùa lập phả khuyến thì ông cụ Sáu đứng đầu sổ. Chùa Đồi Mai ở xa làng mạc biệt lập trên một khu đồi nên cũng ít bị phiền nhiễu bởi đám tạp khách. Thỉnh thoảng trong bọn khách đến chơi, ông cụ Sáu được sư cụ biệt đãi nhất. Tháng một lần, nhà sư già lại giữ ông cụ Sáu lại ăn một bữa cơm chay và lần nào từ biệt, nhà sư cũng chân thành tặng khách một rò lan Chu Mặc. Thường thường mỗi lần gặp gỡ, thể nào hai ông già cũng kéo nhau ra cái giếng nước mà chuyện vãn rất lâu. Nhà sư ít nhời, trầm tĩnh ngắm bóng cụ Sáu trong lòng đáy giếng sâu. Cái bóng nhà sư già ít khi được đậu hình cho lâu trên phiến gương nước giếng mát lạnh: chốc chốc một vài giọt nước ngọt lại rời mạch đá tổ ong, thánh thót rớt xuống, tiếng kêu bì bõm. Ông cụ Sáu tỳ tay vào thành giếng nhờn mịn rêu xanh, chỉ ngón tay xuống lòng giếng sâu thẳm gần hai con sào mà nói: “Chùa nhà ta có cái giếng này quý lắm. Nước rất ngọt. Có lẽ tôi nghiện trà tàu vì nước giếng chùa nhà đây. Tôi sở dĩ không nghĩ đến việc đi đâu xa được, cũng là vì không đem theo được nước giếng này đi để pha trà. Bạch sư cụ, sư cụ nhớ hộ tôi câu thề này: “Là giếng chùa nhà mà cạn thì tôi sẽ lập tức cho không người nào muốn xin bộ đồ trà rất quý của tôi. Chỉ có nước giếng đây là pha trà không bao giờ lạc mất hương vị. Mà bạch cụ, chúng tôi không hiểu tại sao ngọn đồi này cao mà thủy lại tụ. Địa thế chùa này, xem ra còn dụng võ được…”. Chừng như sợ cụ Sáu bàn rộng tới những chuyện không nên trao đổi với kẻ tu hành đã lánh khỏi việc của đời sống rồi, sư cụ vội nói lảng sang chuyện mấy cây mít nhà chùa năm nay sai quả lắm. Rồi kéo cụ Sáu vào trai phòng dùng một tuần nước. Theo một ước lệ rất đáng yêu đặt ra từ ngày mới làm quen với nhau, đã mươi năm nay, bao giờ uống nước trà của nhà chùa, ông cụ Sáu cũng được cái vinh dự pha trà và chuyên trà thay nhà chùa.

Dạo này, chắc ông cụ Sáu bận việc nhiều nên đã mấy tuần trăng rồi mà không thấy vãn cảnh chùa uống nước thăm hoa, để cho sư cụ cứ nhìn mấy chậu Mặc lan rò trổ hoa mà tặc lưỡi. Cùng bất đắc dĩ phải ngắt cắm vào lọ con vậy. Dạo này cụ Sáu chỉ cho người nhà xuống xin nước giếng thôi. Và trưa hôm nay lúc lặng ngắm hai thầy trò người con ông cụ Sáu đem nước ra khỏi chùa, lúc trở vào, nhà sư già thở dài cùng sư bác chờ đấy: “Ông cụ Sáu này, nếu không đam mê cái phong vị trà tàu, đam mê đến nhiều khi lầm lỗi, nếu ông ta bỏ được thì cũng thành một ông sư tại gia. Danh và lợi, ông ta không màng. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, ông ta thực đã coi cái phú quý nhỡn tiền không bằng một ấm trà tàu. Nhưng một ngày kia, nếu không có trà tàu mà uống nữa thì cái ông cụ Sáu này sẽ còn khổ đến bực nào. Phật dạy rằng hễ muốn là khổ. Biết đâu trong bốn đại dương nước mắt chúng sinh của thế giới ba nghìn, sau đây lại chẳng có một phần to nước mắt của một ông già năng lên chùa nhà xin nước ngọt về để uống trà tàu. Mô Phật!”.

Ông cụ Sáu, hôm nay lấy làm thích cái người khách lạ đó lắm. Người khách lạ vừa kể cho chủ nhân nghe một câu chuyện cổ tích. Lê trôn chén vào lợi chiếc đĩa cổ vài ba lần, người khách kể:

“Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn “uống trà tàu với!”. Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà: “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm”. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không để ý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu”.

Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:

– Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.

– Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.

– Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.

Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:

– Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. “Thứ nhất Thế Đức gan gà; – thứ nhì Lưu Bội; – thứ ba Mạnh Thần”. Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.

Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:

– Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.

– Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?

– Lại “ngư nhãn, giải nhãn” chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa.

Chủ khách cả cười, uống thêm mỗi người hai chén nữa. Cụ Sáu tiễn khách ra cổng với một câu:

– Thỉnh thoảng có đi qua tệ ấp, xin mời ông khách ghé thăm tôi như một người bạn cũ. Mỗi lần gặp nhau, ta lại uống vài tuần nước. Hà, hà.

Năm ấy nước sông Nhĩ Hà lên to. Thảo nào mấy nghìn gốc nhãn trồng trên mặt đê quanh vùng, vụ đó sai quả lạ. Cái đê kiên cố đã vỡ. Nhưng vốn ở cuối dòng nước chảy xiết, nhà cửa cụ Sáu chưa đến nỗi bị cuốn phăng đi. Lúc nước rút, ở cái cổng gạch nguyên vẹn, hai mảnh giấy hồng điều đôi câu đối dán cửa vẫn còn lành lặn và nét chữ vẫn rõ ràng:

Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu

Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất, gọi hề đồng pha nước trước hiên mai*.

Năm sau, quãng đê hàn khẩu, chừng hàn không kỹ, lại vỡ luôn một lần nữa. Cái cổng gạch nhà cụ Sáu vẫn trơ trơ như cũ. Nhưng lần này thì đôi câu đối giấy hồng điều, gió mưa đã làm bợt màu phẩm mực, ngấn nước phù sa đã phủ kín dòng chữ bằng những vạch bùn ngang dày dặn.

Ông khách năm nọ – cái người kể câu chuyện ăn mày sành uống trà tàu – đi làm ăn xa đã mấy năm, nhân về qua vùng đấy, nhớ nhời dặn của cụ Sáu, đã tìm tới để uống lại với ông già một ấm trà tàu nữa. Nhưng người khách hỏi nhà ông đến, người khách đã bùi ngùi thấy người ta bảo cho biết rằng nhà cụ Sáu đã bán rồi. Thấy hỏi thăm tha thiết, người vùng ấy mách thêm cho ông khách: “Có muốn tìm cố Sáu thì ông cứ xuống Chợ Huyện. Cứ đón đúng những phiên chợ xép vào ngày tám thì thế nào cũng gặp. Chúng tôi chỉ biết có thế thôi”.

Phải, bây giờ ông cụ Sáu sa sút lắm rồi. Bây giờ ông cụ lo lấy bữa cơm cũng khó, chứ đừng nói đến chuyện uống trà. Thỉnh thoảng có xin được người nào quen một vài ấm, cụ lấy làm quý lắm: gói giấy giắt kỹ trong mình, đợi lúc nào vắng vẻ một mình mới đem ra pha uống. Vẫn còn quen cái thói phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp mùa hoa nở, cụ lại còn cố bứt lấy ít nhị đem ướp luôn vào gói trà giắt trong mình, nếu đấy là trà mạn cũ.

Những buổi có phiên chợ, cụ Sáu ngồi ghé vào nhờ gian hàng tấm của người cùng làng, bày ra trên mặt đất có đến một chục chiếc ấm mà ngày trước, giá có giồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy, chửa chắc cụ đã bán cho một chiếc. Có một điều mà ai cũng lấy làm lạ, là cụ bán lũ ấm đất làm hai lớp. Mấy kỳ đầu, cụ bán toàn thân ấm và bán rất rẻ. Còn nắp ấm cụ để dành lại. Có lần vui miệng, cụ ghé sát vào tai người bà con: “Có thế mới được giá. Có cái thân ấm rồi, chẳng nhẽ không mua cái nắp vừa vặn sao? Bán thân ấm rẻ, rồi đến lúc bán nắp ấm, mới là lúc nên bán giá đắt. Đó mới là cao kiến”.

Cụ Sáu cười hề hề, rồi vội quay ra nói chuyện với bạn hàng đang mân mê những cái thân ấm đất đủ màu, cái thì dáng giỏ dâu, cái thì múi na, hình quả vả, quả sung, quả hồng. Cụ đang bảo một ông khách:

– Thế nào tôi cũng tìm được nắp cho ông. Cứ phiên sau lại đây thế nào cũng có nắp. Không, đúng ấm tàu đấy mà. Nếu không tin ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm tàu.

Rút từ tập truyện ngắn Vang bóng một thời,

Nxb Mai Lĩnh, Hà Nội, 1940

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Cây Chè Trong Thư Tịch Cổ Việt Nam

— Đỗ Ngọc Quỹ —

Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây chè là Thea sinensis, xác định cây chè có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây chè là ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây chè đã kéo dài trên hai thế kỷ.

Năm 1951 Đào Thừa Trân, một học giả Trung Quốc, đã sắp xếp các cuộc tranh luận đó thành 4 học thuyết: thuyết Trung Quốc, thuyết ấn Độ, thuyết hai nguồn gốc và thuyết chiết trung (đứng giữa).

Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), sau khi đi khảo sát vùng chè cổ thụ trong 2 năm tại miền bắc Việt Nam, bằng phương pháp sinh hóa thực vật, lại xác định Việt Namlà quê hương cây chè trên thế giới, theo sơ đồ tiến hóa sau đây:

Camellia – chè Việt Nam – chè Vân Nam lá to -chè Trung Quốc – chè ấn Độ.

Để tìm hiểu thêm về lịch sử phát triển của cây chè ở Việt Nam, xin giới thiệu dưới đây một số tư liệu trong thư tịch cổ Việt Nam: Vân Đài loại ngữ của nhà bác học Lê Quý Đôn – 1773 (Nhà xuất bản Văn hóa – 1962), Nghề nông cổ truyền qua thư tịch Hán Nôm của Vũ Tuấn Sán và Nguyễn Đổng Chi (Nhà xuất bản Giáo dục – 1994) và cách uống chè trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768-1839).

1. Trong Vân Đài loại ngữ có ghi ở Mục IX – Phẩm vật (300 điều):

Điều 127:… Sách Trà Kinh nói: “Chè là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành), hoa như hoa tường vi trắng, quả như quả tinh biền lư, nhị như nhị đinh hương, vị rất hàn”.

Điều 128: Sách Quảng bác vật chí nói: Cao Lư là tên một thứ chè, lá to, mà nhị nhỏ, người Nam dùng nó để uống.

Trà Kinh của Lục Vũ đời Đường nói: “Qua lô ở phương Nam cũng tựa như dính (chè) mà nhị đắng. Người ta lấy pha nước uống, thì suốt đêm không ngủ được. Giao Châu và Quảng Châu rất quý chè ấy, mỗi khi có khách đến chơi thì pha mời. Đào Hoàng Cảnh nói Thiền Khê xử sỹ cũng khen chè ấy là ngon”.

Điều 129: Lý Thì (Thời) Trân nói: “Cao lô không phải là chè, cho một phiến to vào ấm pha thì vị rất đắng, mà pha một ít thì ngọt, ngậm mà nuốt dần thì thấy nhuận cổ”.

Sách Nghiêm Bắc tạp chí, dẫn lời nói của quan học sĩ Lý Trọng Tân nói: “Chè ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay nóng, tên là chè đắng (đắng)”.

Nay xét mấy ngọn núi Am thiền, Am giới và Am các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đều sản xuất thứ chè ấy, mọc xanh om đầy rừng. Thổ dân hái lá chè đem về, giã nát ra, phơi trong râm, khi khô, đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên.

Có một làng tên là Vân Trai, giáp Bạng Thượng chuyên làm nghề chè giã nát để bán, gọi là chè Bạng. Chè sản xuất ở các làng sau này, đều là thứ chè ngon: làng Đồng Lạc thuộc huyện Kim Hoa, làng Đông Quy huyện Đông Ngân, làng Tuy Lai và Thượng Lâm huyện Chương Đức, làng Lệ Mỹ, An Đạo huyện Phù Khang.

2. Trong Nghề nông cổ truyền qua thư tịch Hán Nôm, có ghi khá chi tiết về kỹ thuật trồng trọt, thu hoạch, tiêu thụ:

Chọn địa điểm dốc thoai thoải để thoát nước, đất tổ sâu hoặc đất cát pha càng tốt; thiết kế vườn chè hàng rào, mỗi hàng đào thành một cái rãnh; cày xáo lòng rãnh sâu đến 5 – 6 tấc, rộng ra 6 – 7 tấc để rễ chè ăn sâu; hái hạt giống chè vào tháng 9, chăng dây thẳng hàng, cách 2 thước là 1 hàng, cách 8 tấc đào một lỗ, nông chừng 5 phân, bỏ xuống 2 hạt; bón phân khi gieo hạt, đất 1 phần, phân 2 phần (phân người, phân tầm, phân lợn, phân trâu bò lẫn với tro hoặc lá mục), đảo đều bón xuống rãnh, rồi lấp bằng lại; chống hạn bằng tro trộn với đất bột bỏ nhẹ lên trên hạt chè, để che ánh nắng mặt trời, không được nén mạnh, lại lấy đất vụn cành phủ lên trên; chăm sóc vườn chè non: dùng nước tưới, sớm tối mỗi buổi chiều một lần, hễ thấy sống là được; mùa hạ trời khô hạn, cứ theo giữa hai hàng mà bừa để khơi mạch ẩm, làm mát rễ cây, thì cây chè không đến nỗi chết khô, 4 phía dưới gốc cây chè, nên thường xuyên làm sạch cỏ, dùng lá cây hoặc cỏ tranh, hay rạ phủ lên, thì tự nó sẽ tốt xum xuê; cắt (đốn) chè chỗ nhánh hai nhánh ba, thân trừ lại 6 – 7 tấc, cành 1,5 tấc, cả năm cắt 2 lần, mỗi gốc giá rẻ cũng được 2 xu; cắt hái cành lá cả năm bán 2 lần, mỗi lần cũng được 4 xu, nếu hái nụ cũng được 5 xu, hạt giống giá bình thường mỗi gốc cũng được 5 xu, cả năm mỗi gốc tiền lời cũng được 14 xu; sau 16 năm gốc chè giống ấy không thể dùng được nữa, dùng dao cắt bằng, về sau chè có sức nảy mầm nhiều gấp 10 lần, vị chè lại rất ngon, cả năm hái bán 2 lần, tiền lời mỗi gốc được 15 xu; vườn chè 4 mẫu, trồng được 55.444 gốc, hàng năm tiền hoa lợi trên 1.100 đồng, chè giống 4.228 gốc hàng năm hoa lợi cũng đến trên dưới 500 đồng.

3. Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) trong Vũ Trung tùy bút đã viết “Cách uống chè”:

“Thị hiếu của người ta cũng hơi giống người Trung Hoa. Ta sinh trưởng đương lúc thịnh đời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một bộ ấm chén phí tổn đến vài mươi lạng bạc… Kẻ thì ưa thanh cao, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền mua sẵn cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho kiểu ấm chén mới lạ… Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn làng thơ cùng làm chủ khách, mà ung dung pha ấm chè thưởng thức thì tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục… Lò, siêu, ấm, chén lại chế ra nhiều kiểu thích dụng… hỏa lò từ Tô Châu, than tàu đem sang bên ta bán”.

Qua các tư liệu trên thì thấy:

1. Tại vùng Thanh Hóa, ven biển miền trung, người Kinh đã trồng chè xanh ở hộ gia đình; kỹ thuật canh tác khá tiến bộ vẫn còn giá trị đến ngày nay: thiết kế trồng chè hàng rào, bón phân lót bằng phân hữu cơ nhà nông và bón phân nhử mầm, tủ gốc chống hạn, tưới chè khi khô hạn, đốn chè, hái và bảo quản hạt giống…, nhưng chủ yếu chỉ mới uống chè tươi, hay chè chế biến đơn giản (băm giã, ủ, phơi khô), nhưng vẫn có làng nghề chuyên làm chè Bạng nổi tiếng: tiêu thụchè hàng hóa phát triển và phổ biến tại chợ nông thôn và thành thị.

2. Không thấy nói đến vùng chè cổ thụ kiểu chè rừng miền núi phía bắc của đồng bào dân tộc Dao, Mông và Tày, tuy vẫn có nghề buôn chè về xuôi từ mạn ngược, như câu ca dao Bắc Bộ: “Chồng tôi thường ngược sông Ngâu, mua chè Mạn Hảo tháng sau thì về” (Nguyễn Tất Thứ – 1972).

3. Thị hiếu và tập quán uống chè khác nhau tùy theo tầng lớp xã hội và từng thời đại lịch sử.

Người nông dân lao động uống chè tươi, như ở vùng Thanh – Nghệ tại tổ vần công, đổi công, buổi sáng sớm hò nhau: “Bớ xóm! Sang uống chè”. Họ thích uống chè đặc cắm tăm trong bát đàn, hút thuốc lào, ăn khoai luộc rồi mới vác cày ra đồng. Miền bắc thì có những túp lều quán đơn sơ, chỉ là một cái mái lá, dựng trên 4 cọc tre và 3 tấm phên lửng quây 3 phía, với hình ảnh bà mẹ già chít khăn mỏ quạ, miệng nhai trầu, tại các phiên chợ, bến đò, bán chè tươi, cùng với các lọ kẹo vừng, kẹo bột, kẹo lạc, thuốc lào, thuốc lá, vài quả ổi, quả chuối… trên cái chõng tre.

Giới thượng và trung lưu thành thị thì uống chè Tàu, chè Ô Long, chè Mạn Hảo, chè ướp sen, nhài, sói… theo câu ca dao ở kinh đô Thăng Long: “Làm trai biếtđánh tổ tôm. Uống chè Mạn Hảo ngâm nôm Thúy Kiều”. Cách uống cầu kỳ, tinh tế ở kinh đô Thăng Long, được lưu truyền qua những buổi trà dư tửu hậu, tửu sáng trà trưa, rượu ngâm nga trà liền tay, vừa uống chè vừa ngâm thơ, với bộ đồ trà đắt tiền gồm 4 chén quân và 1 chén tống để chuyên trà; trà cụ kén các loại ấm trà da nâu như “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”, chè thì mua những gói chè “củ ấu” chính hiệu Chính Thái, Ninh Thái ở phố khách (Hoa kiều).

nguồn: Xưa và Nay

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

Read Full Post »

Ấm trà Tử sa – Nghi Hưng

 

Uống trà là một tập quán trong sinh hoạt dân gian đã có lâu đời ở nước ta. Tùy điều kiện làm việc, khí hậu từng vùng miền mà mỗi nơi có cách uống trà và sử dụng bộ đồ trà khác nhau đôi chút. Trong bài viết này, chủ yếu chúng tôi muốn giúp bạn đọc tìm hiểu loại ấm Tử sa đang được các nhà buôn đường dài Trung Quốc (TQ) mang sang bày bán cùng với mặt hàng gốm sứ, ngày một nhiều tại các chợ, siêu thị.
trà cụ -1

Nghề chơi lắm công phu

Là người sành uống trà, chắc ai cũng từng nghe nói:

Thứ nhứt Thế Đức gan gà
Thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần

Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần là 3 loại ấm trà làm bằng đất tử sa, mà ngày nay ai còn giữ được, thì họ chính là chủ nhân của những cổ vật trân ngoạn vô giá. Cũng trong vòng hai ba năm trở lại đây, cùng với mặt hàng gốm sứ, các thương nhân TQ còn đem sang thị trường VN rất nhiều ấm, chén, bộ đồ trà và vật dụng làm bằng đất tử sa, bắt đầu xuất hiện những nhà buôn bán nhỏ và giới chơi ấm Tử sa (sưu tập).
Tu_sa_-_295_-_2
Chủng loại ấm Tử sa bày bán tại thị trường VN đa dạng, phong phú, có nhiều món tinh xảo, bắt mắt, nhưng chưa thấy xuất hiện những chiếc ấm xuất sắc, tiêu biểu của mặt hàng gốm Tử sa (kể cả những chiếc ấm được người bán cất gói rất “bí mật”, nói là chỉ dành cho khách quen, sành điệu!). Về chất lượng và giá cả thì thượng vàng hạ cám, giá nào cũng có. Từ chiếc ấm làm bằng tay nghề vụng về, lộ hẳn chất đất chưa được tinh luyện giá chỉ 20- 50.000VNĐ, tới những chiếc bày trong lồng kính có khắc chạm hình và bài thơ, kèm dấu triện, niêm giá bằng đồng nhân dân tệ, quy đổi ra tiền VN ngót nghét hàng chục triệu đồng. Nhìn chung, mặt hàng ấm Tử sa được các thương lái đưa vào thị trường VN, phổ biến có 3 loại:

1. Loại ấm rẻ tiền đã nói ở trên, hay những “bộ đồ trà” với đủ bộ sậu: Khay, ấm, dĩa, tách và dụng cụ pha trà nhưng giá bán chỉ từ hai, ba trăm ngàn đồng/bộ (nên nhớ, người sành chơi ấm Tử sa chỉ cốt coi trọng chiếc ấm, ít ai uống trà bằng tách Tử sa, vì không nhìn thấy màu sắc của trà).

2. Loại ấm thông dụng, có thể pha trà uống hàng ngày, dùng cho một,hai hoặc ba người trở lên. Giá từ 200.000 đến 800.000 VNĐ/ấm.

3. Loại ấm giả cổ, dành cho người sưu tập,giá khoảng 2-300 ngàn VNĐ. Loại này thường nhái kiểu dáng ấm xưa, hay làm giả sản phẩm nổi tiếng của các danh gia đương thời trong lĩnh vực chế tạo gốm tử sa, với đầy đủ dấu triện ở đáy, nắp và quai ấm. Trước khi đem bán, các ấm này thường được chôn dưới đất một thời gian, hoặc ngâm trong cặn nhớt, mực tàu, cho cũ đi, để làm ra vẻ cổ.

Tu_sa_-_295_-_3
Ấm giả cổ

Ngoài 3 loại kể trên, những chiếc ấm Tử sa tiền triệu trở lên đòi hỏi người chơi phải có kiến thức nhất định, mới có thể phân biệt chơn giả, tốt xấu. Cũng cần biết rằng, tại TQ sau Cách mạng văn hóa, công nghệ chế tạo gốm tử sa được nhà nước chủ trương phục hồi, ngoài việc nổi lên những tay nghề bậc thầy làm ra chiếc ấm tinh tế, hoàn hảo, chẳng những không thua sút các danh gia thời xưa, mà tài năng của họ còn được khoa học, kỹ thuật hiện đại hỗ trợ, đã cho ra đời những chiếc ấm mới hoặc giả cổ tinh diệu đến mức…thần kinh qủy sợ. Ngay từ những ngày đầu ấm Tử sa thịnh hành trở lại, tại TP.Thượng Hải đã xuất hiện hàng nhái, hàng giả. Năm 1979 ấm Tử sa Nghi Hưng được Công ty Trân Bảo  nhập vào Đài Loan, thì năm 1980 ở đây cũng có hàng giả. Lúc đầu, do kỹ thuật làm giả chưa tinh vi nên dễ nhận biết, hiện nay muốn phân biệt ấm Tử sa thật-giả, có người nói phải nhờ đến chuyên gia giám định đồ cổ mới đảm bảo chính xác! Đối với những người chuyên sưu tập, do am hiểu về lịch sử cũng như quá trình chế tạo ấm Tử sa, kết hợp với quan sát cốt gốm, cách tạo hình và họa tiết trên ấm, nên chỉ cần “nhìn bằng mắt, cảm thụ bằng tay”, họ có thể phân biệt được hàng thật, hàng giả.

Tu_sa_-_295_-_4
Ấm mua ở phố Thành Hoàng (Thượng Hải) niêm giá 650 tệ (1.300.000 VNĐ) nhưng mua chỉ 180 tệ (360.000 VNĐ)

Tu_sa_-_295_-_7
Mua tại lò Tử Sa Tô Châu, 300 tệ (600.000 VNĐ)


Ấm Tử sa Đài Loan của nghệ nhân Lâm Quốc Thuận. Mua ở Đài Bắc, 50USD

Tu_sa_-_295_-_8

Nguồn gốc ấm Tử sa Nghi Hưng

Thành phố Nghi Hưng, xưa là huyện Nghi Hưng thuộc tỉnh Giang Tô, nằm trên bờ hồ Tam Giác Châu chảy ra Trường giang, vị trí cách bờ Tây Thái Hồ (Vô Tích) 64km, giáp ranh tỉnh An Huy. Kỹ thuật gốm sứ Nghi Hưng có bề dày lịch sử hơn 5.000 năm, tương truyền Phạm Lãi và Tây Thi sau khi giúp Câu Tiễn diệt nước Ngô, đã cùng nhau đến Nghi Hưng sống cuộc đời ẩn dật, lấy nghề nặn gốm làm thú tiêu khiển. Gốm Nghi Hưng được định hình từ đời Tống-Nguyên, đến đời Minh-Thanh mới phát triển hưng thịnh, trong đó gốm tử sa với những tính năng công dụng, phong cách nghệ thuật độc đáo được xem là “bông hoa của kinh đô gốm” đã tỏa hương sắc bay ra thế giới.

trà cụ -2

Về việc phát hiện ra gốm tử sa, truyền thuyết kể rằng: Vào thời xa xưa, có một thầy tu cứ mỗi lần đi qua thôn Thục Sơn- Nghi Hưng thì cất tiếng rao to “Mại phú quý thổ, mại phú quý thổ!” ( Bán đất giàu sang đây), những người dân địa phương hiếu kỳ chỉ nhìn ông rồi bỏ đi. Thầy tu thấy mọi người dững dưng, không ai phản ứng gì, càng ra sức rao “Quý bất dục mãi, mãi phú như hà ?” ( Không muốn mua quý, thì làm sao giàu được). Rồi dẫn mấy người trong thôn đến nơi mà ông gọi là “Phú quý thổ”, nằm trong hai ngọn núi Thanh Long và Hoàng Long (trấn Đinh Thục). Tại đây, người ta đào thấy đất sét có 5 màu: đỏ, vàng, xanh lục, xanh lam và tím, dùng chế tạo gốm rất tốt.

trà cụ -3

Tử sa là loại gốm tự nhiên có chất đất nhỏ mịn, hàm lượng chất sắt cao, tính kết dính dễ tạo hình, nhất là khi dùng chế tác vật dụng nhỏ, tinh xảo như ấm trà. Người xưa đã tổng kết 5 ưu điểm của ấm Tử sa:

1. Dùng để pha trà không mất đi nguyên vị của trà, ”Sắc,hương,vị giai uẩn” (giai uẩn có nghĩa là tiềm tàng). Văn Chấn Hanh đời Minh bình luận trong tập Trường vật chí : “Ấm Tử sa dùng pha trà tốt nhất, đậy nắp vẫn ngữi thấy mùi thơm, giữ nóng lâu”.

2. Thành ấm có nhiều lỗ thông khí kép nhỏ li ti (còn gọi là khí khổng), dùng lâu ngày có thể hấp thu mùi vị trà, chỉ cần chế nước sôi vào là có hương vị trà.

3. Nước trà pha trong ấm để quên mấy ngày không bị thiu, mốc hay biến chất.

4. Ấm sử dụng càng lâu càng phát màu, Ngô Kiến đời Thanh nói: “Ấm Tử sa dùng hàng ngày, năng lau chùi sẽ sáng bóng như gương”.

5. Ấm Tử sa có đặc điểm chịu được sự biến động nhiệt độ nóng lạnh tức thời mà không bị rạn nứt, lại truyền nhiệt chậm, lỡ tay cầm vào ấm không bị phỏng.


trà cụ -4

Ấm “Bách nhi đồ”, khắc chạm hình 100 đứa trẻ

Theo tài liệu khảo cổ, năm 1976 khi khai quật vùng núi Dương Tiện thuộc huyện Nghi Hưng, các nhà khảo cổ đã phát hiện di chỉ lò gốm Tử sa có từ đời Tống (960-1297), tuy vậy, phải đến đời Minh nghệ thuật chế tạo các vật dụng tinh xảo, trong đó có ấm trà mới thịnh hành. Theo sách Dương Tiện mính hồ lục của tác giả Châu Cao Khởi ghi chép, thì Cung Xuân là người đầu tiên đưa ấm Tử sa từ một sản phẩm thủ công thô sơ trở thành tác phẩm nghệ thuật sáng tạo nổi tiếng vào thời Gia Tĩnh và Chính Đức (triều Minh). Tương truyền, Cung Xuân là gia đồng theo hầu chủ nhân Ngô Di Sơn đang trọ học ở chùa Kim Sa (Nghi Hưng). Trong chùa có vị sư già làm ấm trà rất khéo, Cung Xuân đã lén học nghề ông ta. Có lần, Ngô Di Sơn nhìn thấy những ấm trà do Cung Xuân làm ra, tuy mộc mạc chất phát nhưng dáng vẻ trang nhã vô cùng, liền bảo làm thêm mấy chiếc, rồi mời những bậc thức giả đến thưởng ngoạn, mọi người đều hết lời khen ngợi, tán thưởng. Từ đó ấm Cung Xuân có tiếng và mấy năm sau thì thành danh, người đương thời tranh nhau mua, đến nỗi trong giới sưu tầm cổ ngoạn có câu: ”Ấm Cung Xuân quý hơn vàng ngọc”.

trà cụ -5

Nghệ thuật tạo hình ấm Tử sa

Hình dạng ấm Tử sa có thể gói gọn trong bốn chữ “Thiên hình vạn trạng”, nhưng tựu trung các sản phẩm làm ra dựa trên 3 cách tạo hình căn bản:

1.Tạo hình ấm Tử sa dạng hình học – Áp dụng các đường nét hình học để làm ra sản phẩm, trang trí trên thân ấm, bao gồm 2 phương pháp tạo hình chính:

Tu_sa_-_295_-_13
A-    Tạo hình ấm tròn: Hình dáng ấm Tử sa dạng tròn chủ yếu do các đường cong có định hướng và độ cong khác nhau tạo thành, đặc biệt coi trọng 5 yếu tố:  tròn đầy, chặt chẽ, hài hòa, vững chãi và uyển chuyển. “Tròn, vững, cân, chính” là qui tắc bắt buộc nghệ nhân làm ấm phải tuân thủ. Thân ấm, miệng ấm, nắp, đáy, vòi, vai, eo phải cân xứng, liền lạc. Trong cương có nhu, dày mà không nặng, chắc chắn mà không thô kệch, có da có thịt.(Ảnh: ấm Huệ Mạnh Thần, đời Minh)

Tu_sa_-_295_-_14

B- Tạo hình ấm vuông: Ấm vuông còn gọi là ấm Phương chung, chủ yếu do các đường thẳng có độ dài, ngắn khác nhau tạo thành. Tuy gọi là ấm vuông, nhưng có thể là hình khối 4,6 hoặc 8 cạnh. Cấu trúc đường nét liền lạc, góc cạnh rõ ràng, tạo cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng. Đường thẳng đứng và đường ngang là chủ đạo; nét cong, uốn góc là phụ; trục và đường chân trời phải cân đối, chính xác. Núm và nắp ấm tương ứng với thân, 3 chỗ cong của vòi ấm và tay cầm tương ứng trước sau, tạo sự gần gũi,dễ nhìn.(Ảnh: ấm Mạn Sinh, đời Thanh)

Tu_sa_-_295_-_15
2- Tạo hình ấm Tử sa dạng tự nhiên: Các nghệ nhân đã vận dụng trí tưởng tượng, thông qua thủ pháp nghệ thuật biến hóa hình ảnh, sự vật trong đời sống thành hình thể vật dụng. Hoặc trên miệng ấm, quai, nắp, núm và các phần dễ thấy trên thân ấm được điêu khắc, trang trí, viết thư pháp, vẽ tranh, chạm lộng… những hình ảnh tinh tế, hiện thực hay cách điệu. Sinh ra từ tự nhiên mà vượt trội tự nhiên là tiêu chí sáng tạo của những nghệ nhân theo trường phái này.(Ảnh: ấm vô khoản – không đề hiệu, đời Thanh)

Tu_sa_-_295_-_16
3- Tạo hình ấm Tử sa dạng hoa văn đắp nổi: Trên dưới đối xứng, thân hòa với nắp, hình thể cân đối, hoa văn rõ nét. Chọn góc nhìn trực diện từ trên xuống, thân ấm và hoa văn hòa hợp, sắp xếp tỉ mỉ, có độ nong sâu, phân rõ tối sáng.(Ảnh: ấm Dương Phụng Niên, đời Thanh)

Hiện nay, do mức độ cung cầu đã thấy xuất hiện loại ấm Tử sa kết hợp 2 hoặc cả 3 cách tạo hình nói trên. Bằng tài hoa và sự sáng tạo không có điểm dừng, nhiều nghệ nhân đã bước vào cảnh giới vô vi với những chiếc ấm Tử sa “không vuông không tròn”, hoặc “vuông không chỉ một kiểu, tròn không chỉ một dáng”.

SONG MỘC

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ




Read Full Post »

Bình hít vẽ mặt trong– Một nghệ thuật hiếm có xuất xứ từ TQ

Ming Xuande, Blue & White Still Unknown Story of The Jar Figures with inner Side Painted

Ming Xuande, Blue & White Still Unknown Story of The Jar Figures with inner Side Painted

Chum triều Xuande nhà Minh với trang trí vẽ bên trong

Chum triều Xuande nhà Minh với trang trí vẽ bên trong

Ming Xuande, inside painted decoration

Ming Xuande, inside painted decoration

Trang trí vẽ mặt trong vật dụng, thời nhà Minh triều đại Xuande

Trang trí vẽ mặt trong vật dụng, thời nhà Minh triều đại Xuande

Vẽ mặt trong của đồ vật là một nghệ thuật Trung Hoa có một lịch sử lâu đời, phong cách độc đáo và đặc tính nhận dạng nổi bật. Nó đã đạt đến những tiêu chuẩn cao nhất của nghệ thuật suốt thời kỳ nhà Minh và kéo dài qua những triều đại nhà Thanh sau đó.

Các mẫu bình hít được trang trí vẽ mặt trong

Các mẫu bình hít được trang trí vẽ mặt trong

Kể từ cuối thế kỷ 19 , những bình hít được vẽ trang trí mặt trong của Trung Hoa đã được đánh giá bởi các hoàng đế và những nhà sưu tập về mặt nghệ thuật bằng cụm từ “Ghost’s axe God’s work” hàm ý mô tả một kỷ thuật chế tác thượng thừa.

những bình hít được vẽ trang trí mặt trong của Trung Hoa

những bình hít được vẽ trang trí mặt trong của Trung Hoa

Một bình hít là một lọ để chứa hương liệu nhỏ có miệng bé xíu và phần thân bụng dẹp để người ta dễ mang theo và sử dụng. Vật dụng thủ công thu nhỏ này là một dạng kết hợp của kỷ thuật vẽ vi mô và cách thức chế tác, được tán thưởng cao ở triều đại nhà Thanh. Tuy nhiên , việc vẽ mặt bên trong của bình hít khác với cách vẽ trên thủy tinh thông thường. Khi vẽ một bình hít, người thợ vẽ thường dùng một bút tre bẻ góc mũi bút đã chấm mực màu, đưa vào miệng nhỏ của cổ bình và vẽ trong không gian chật hẹp của bình hít. Vì vậy, việc vẽ mặt trong của bình hít khó hơn nhiều so với vẽ trên kính, đòi hỏi một kỷ năng đặc biệt mà không phải bất kỳ người thợ vẽ nào cũng có khã năng phù hợp với một công việc kinh khủng như vậy.

Tấm hình này cho thấy bằng cách nào mà người nghệ sĩ có thể vẽ bên trong một không gian chật hẹp của bình hít.

vẽ bình hít

vẽ bình hít

Trong số các loại bình hít sản xuất vào cuối thời nhà Thanh, thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất là việc phát triển những bình hít được vẽ bên trong, đặc biệt là loại bình hít vẽ chân dung. Các hoàng đế, những nhà quí tộc và người có địa vị uy tín trong xã hội đều có ước muốn chân dung của riêng họ được vẽ khi đặt hàng. Hiện nay, một số bình hít đẹp là hiện vật trưng bày tại Viện Bảo Tàng Cung Điện Bắc Kinh.

Chỉ có khoảng 100 nghệ nhân trong số 1 tỷ người ngày nay có thể thực hiện những kiệt tác vẽ mặt trong thực sự đẹp.

Tác phẩm nghệ thuật vẽ mặt trong của các bình hít TQ truớc đây thường được phân loại như là tác phẩm cung đình và nằm trong số những vật sưu tầm ưa thích của hoàng đế, là quà tặng lưu niệm của triều đình Trung Hoa thời nhà Thanh . Bình Hít TQ thường được vẽ mặt trong với những đề tài như phong cảnh, chân dung, thú, cá, hoa,…

Những bình hít được vẽ mặt trong thật sự là những kiệt tác dạng thu nhỏ thu hút nghệ nhân và các nhà sưu tập trên khắp thế giới. Chúng là kho báu độc đáo thật sự của thế giới về nghệ thuật và của nghệ thuật truyền thống Trung Hoa nói riêng.

 

KhanhHoaThuyNga biên soạn và dịch

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »