Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 11th, 2009

Bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng

Đến thăm Bảo tàng Điêu khắc Chăm – một bảo tàng độc đáo không chỉ của thành phố Đà Nẵng,Việt Nam mà còn của cả thế giới – dẫu giữa ngày mưa hay ngày nắng, buổi sáng hay buổi chiều, du khách vẫn nhận ra một không khí rất riêng mà nơi này, do đặc trưng của mình vẫn luôn giữ được: sự trầm lắng của những hoài niệm.

BT_BTCham_003

Chính thức được xây dựng vào tháng 7 năm 1915, với sự giúp đỡ của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng hiện tại có khoảng gần 2.000 hiện vật lớn nhỏ, trong đó có gần 500 hiện vật đang trưng bày bên trong nhà Bảo tàng (được phân chia thành các phòng trưng bày gồm: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Bình và Bình Định), một số hiện vật trưng bày ngoài sân vườn và hơn 1200 hiện vật hiện đang lưu giữ trong kho. Hầu hết các tác phẩm điêu khắc hiện có tại bảo tàng là những tác phẩm nguyên bản trên 3 chất liệu chính là sa thạch, đất nung và đồng, phần lớn là sa thạch, có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau.

Các tác phẩm nghệ thuật được trưng bày tại đây hầu hết đều có một cuộc đời chìm nổi như chính số phận của nền văn hóa rực rỡ đã sản sinh ra nó. Từ trong đổ nát của thời gian, chiến tranh và cả sự quên lãng của con người, những tác phẩm điêu khắc Champa tuyệt vời đã được nhiều thế hệ dày công mang về đây. Và trong chỉnh thể có tính hệ thống này, các công trình của các nghệ nhân Champa xưa lại có được một đời sống mới.

Đến bảo tàng, ta như thấy lại quá khứ vàng son của một dân tộc mà lòng say mê và khả năng sáng tạo nghệ thuật đều ở một trình độ rất cao. Thế giới thần linh kỳ bí, những câu chuyện bằng hình ảnh, các biểu tượng tôn giáo, đường cong thân thể các vũ nữ, những bầu ngực căng tròn, nụ cười phảng phất nét thời gian… tất cả đều sống động, chi tiết và gợi cảm vô cùng.

BT_BTCham_004

Chịu ảnh hưởng sâu sắc nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của văn minh Ấn Độ nhưng người Champa xưa đã biết nhìn đời sống và tôn giáo theo những cảm quan riêng của mình. Sự khúc xạ đó đã tạo ra cho thế giới nghệ thuật của họ một vẻ đẹp rất riêng, gần gũi nhưng lại thiêng liêng, quen thuộc nhưng lại độc đáo, tinh tế, không lẫn lộn.

Một số hiện vật tại Bảo tàng điêu khắc Chămpa

 

Nguồn : http://danang.gov.vn

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Viên phi công và chiếc đĩa cổ

Truyện ngắn của Phạm Xuân Hiếu

Tên phi công cao to từ trong hang rón rén bước ra trong bộ đồ bay màu xám. Tóc bù xù, râu lởm chởm vàng đen, đầu cúi xuống nhìn lá cờ trắng đeo trước ngực, tay hắn cầm bát, tay cầm đĩa chìa ra như xin ăn. Hắn chịu đầu hàng lực lượng dân quân, bộ đội sau bảy ngày lẩn trốn. Con béc-giê vàng óng dũng mãnh như con hổ của bộ đội biên phòng chồm lên cổ, quật hắn ngã lăn mấy vòng trước cửa hang.

Hắn là Gionsale, phi công hoạ tiêu bay trên chiếc F4 đã nhiều lần ném bom miền Bắc. Lần này hắn từ hạm đội 7 bay vào đất liền ném bom cầu Phú Lương, nhằm cắt đứt đường giao thông huyết mạch từ cảng Hải Phòng lên Hà Nội. Máy bay của Gionsale đã bị dính đạn trước khi tới mục tiêu, buộc phải cắt bom bừa bãi rồi bỏ chạy. Nhưng hắn không thoát, máy bay đã bốc cháy trên bầu trời biên giới Việt Trung.

Gionsale nhảy dù xuống khu rừng già, giữa núi cao hiểm trở, trốn trong một cái hang cách bản Vàng Tè nửa ngày đường. Gần năm ngày sau, lực lượng truy tìm mới phát hiện ra cửa hàng hắn lẩn chốn, nhờ con Ních, dày dạn kinh nghiệm của bộ đội biên phòng. Hai ngày bao vây, kêu gọi đầu hàng, Gionsale dứt khoát không chịu ra. Lực lượng vây bắt đã quây kín khu vực hang. Lệnh trên, không ai được vào, Ních cũng không cho vào, sợ nguy hiểm, hy sinh không cần thiết. Không ai biết được địa hình trong hang sâu, rộng thế nào. Cửa hang thì bé, khó tấn công nên lực lượng bao vây kiên trì phục kích bắt sống.

Trong hang, Gionsale nghe thấy tất cả nhờ tiếng vọng của vách đá. Gionsale đã biết thế nào cũng có ngày này, nhưng hắn chưa chịu đầu hàng vì còn lương thực, thực phẩm và một phần vì danh dự một quân nhân, một sĩ quan cường quốc trên thế giới. Bây giờ giữa đầu hàng bảo toàn sinh mạng và tự sát danh dự như sĩ quan Nhật Hoàng thời đại chiến thứ hai đều vô nghĩa. Bởi Gionsale nghĩ nhiều về tương lai của cái hang hơn là số phận bị bắt. Trời xui khiến thế nào mà Gionsale lại hữu duyên biết được một bí mật trong hang, được cầm trên tay hai thứ mà cả đời Gionsale mơ cũng không bao giờ thấy.

Lòng kiên trì thay đổi khi không có tương lai. Sức khoẻ rồi cũng lụi tàn khi không được chăm sóc. Đường cùng phải tìm lối thoát, dẫu rằng không biết tại sao? Năm ngày chui lủi, hai ngày thi gan không ngủ làm người Gionsale rời rã, không đủ sức để mà ngoan cố. Gionsale tính toán kỹ mọi chuyện rồi quyết định đầu hàng.

Bốn giờ chiều ngày thứ tám, Gionsale được áp giải về trường tiểu học Vàng Tè, bị tạm giam ở văn phòng ông hiệu trưởng, chờ ôtô huyện đội về đưa đi. Gionsale bị trói bằng sợi dây rừng. Hai mu bàn tay lông vàng sưng to, đỏ tấy. Đôi lúc đau đớn quá, hắn chỉ nhăn nhó mà không dám kêu. Cả chiều đi bộ, chắc khát nước nên các anh bộ đội bảo Nụ, cô giáo của trường lấy nước lá đắng bê lên miệng Gionsale. Nhìn bát nước đen ngầu, Gionsale sợ sệt chưa dám uống. Nụ hiểu ý, uống một hớp nhỏ, Gionsale mới yên tâm uống ừng ực một hơi mãn nguyện. Đôi mắt xanh nhoè lệ. Nụ nhìn búi dây rừng trói tay Gionsale chuyển màu tái tím mà thấy tội nghiệp, liền chạt về phòng mình lấy sợi dây dù pháo sáng đưa cho anh biên phòng thay sợi dây rừng. Gionsale nhìn Nụ, miệng lắp bắp: “Thanhkyou…Thanhkyou”. Vừa lúc đó có mấy phóng viên dựa vội xe đạp trên sân chạy vào, đưa máy ảnh chụp lia lịa. Rồi phỏng vấn Nụ cùng với mấy anh Bộ đội Biên phòng…

Hai giờ sau, một chiếc xe com măng ca đến áp giải hắn về Hà Nội. Trước khi xe lăn bánh, các anh biên phòng mang tất cả những thứ thu được ra bàn giao gồm: đồ bay, dao, súng, thuốc các loại, giấy tớ, đồng hồ, nhẫn, ví tiền… Các anh định bỏ lại hai thứ: một bát, một đĩa màu trắng nhưng viên phi công cứ lạy xin. Hắn cúi khom người nói như mếu: “Cái này là của mẹ tôi đưa cho khi sang Việt Nam, dặn nhiều lần: Khi nào con đi ném bom miền Bắc, nhớ mang theo, chẳng may bị bắn rơi thì đưa bát đĩa ra cúi khom người như xin ăn. Với lòng nhân đạo, thương người của dân tộc Việt Nam, con sẽ không bị chết đói và sẽ được tha thứ”. Nghe cậu phiên dịch nói lại và nhìn dáng vẻ tiều tuỵ, lênh khênh cúi lom khom ngửa tay xin bát, đĩa của Gionsale, nhiều người không nín được cười.

Về đến trại giam Hoàng Tử, viên phi công Gionsale lại xin mang bát đĩa theo làm kỷ niệm. Gionsale nằn nì mãi. Thấy lạ, ban quản giáo không cho và đặt vấn đề: “Tại sao vậy”?. Và họ đưa đi nghiên cứu kiểm tra xem có phải là phương tiện điện tử liên lạc trá hình không?

Chiếc bát, đĩa được gửi đi Viện Khoa học giám định, cuối cùng viện kết luận: “Đó là bát, đĩa sứ bình thường nhưng có hoa văn đẹp”. Viện trả lại trại làm hồ sơ lưu giữ tang vật. Viên phi công biết thế của mình, đành ngậm tăm, tính chuyện lâu dài…

Bởi Gionsale đang là tù binh, kẻ thù của một đất nước bên Đông bán cầu, khác dân tộc, khác màu da và tiếng nói. Tội của Gionsale nặng lắm, khó có thể tha thứ được bởi đã thả bao nhiêu tấn bom, phá hoại bao công trình và giết không biết bao người vô tội. Gionsale không có lý do gì để được sống, bởi bàn tay Gionsale đã gián tiếp ấn nút nhuộm máu người già, trẻ em trên mảnh đất nghèo nàn, lạc hậu, nhưng thừa dũng cảm, giàu lòng nhân ái vị tha này.

Gionsale tự nhủ: Nếu được tha, hắn sẽ làm lại cuộc đời, chuộc lại lỗi lầm, trở lại vị trí là nhà khảo cổ học đi nghiên cứu khai quật cho đất nước này, đất nước đang phải đánh đổi mọi thứ để lấy hoà bình. Đồ cổ, văn hoá cổ đại chả là cái gì đối với con người nghèo khó đang cần lương thực, thực phẩm, súng đạn để chiến đấu giành độc lập tự do. Những thứ sành sứ, lọ chai chưa giúp gì cho hoà bình. Nhưng nó lại giúp cho nhân loại sớm nhận ra giá trị văn hoá của lịch sử.

Với Gionsale – một sinh viên xuất sắc khảo cổ học mới ra trường, đã từng đi nghiên cứu, khai quật nhiều cổ vật trên thế giới, hiểu những đồ kia giá trị hơn vàng. Gionsale tiếc cho đời làm lính, oán hận chiến tranh. Liệu hắn có còn sống để trở về với vợ con? Gionsale nghĩ nát óc mà chưa có lời giải. Đêm Gionsale mơ thấy một đàn chim hung dữ phá tan cửa hang tranh cướp báu vật: lấy Vương Miện, Long Bào, khênh vàng bạc, ngọc ngà, bê chum vại mang đi. Gionsale rút khẩu súng bên mình bắn đến hết đạn mà không con chim nào chết. Giật mình tỉnh dậy, Gionsale thấy mình vẫn trong bốn bức tường phòng giam. Người giám thị đứng bên cửa gọi đi cung.

Sau một thời gian giam giữ, bây giờ Gionsale là tên tù binh được hưởng mọi quyền lợi theo luật tù binh chiến tranh trong trại giam Hoàng Tử. Một thời gian dài suy nghĩ, Gionsale xin được gặp cán bộ cao cấp. Đại tá Thanh có mặt tại phòng lấy cung. Gionsale nhìn vị đại tá bệ vệ trong bộ trang phục màu xanh cỏ úa, nét mặt nghiêm nghị nhưng vẫn toát lên sự cởi mở nhân từ. Ngồi ghế đối diện ông, Gionsale cúi mặt trầm tư suy tính. Lát sau Gionsale nhìn đại tá, mạnh dạn hơn:

– Thưa ngài. Tôi muốn trao đổi một thông tin liên quan đến cuộc chiến này. Nhưng tôi cần sự bảo lãnh của ngài cùng với sự tha thứ khoan hồng của đất nước ngài để đổi lấy tự do cho tôi sớm hơn. Nếu ngài đồng ý:

Vị đại tá chau mày: “Chuyện gì đây”?. Rồi ông thư thả nói như ra lệnh: “Luật pháp nước chúng tôi luôn độ lượng khoan hồng với những kẻ thù biết ăn năn hối cải, thành thật khai báo giúp chúng tôi nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh tàn khốc này”. Gionsale như thanh minh: “Thưa ngài, những điều tôi khai báo với ngài lần này không nằm trong lĩnh vực quân sự, kinh tế, nó vượt ra ngoài cuộc chiến tranh. Nhiều năm sau các ngài mới hiểu ra giá trị văn hoá, kinh tế của nó. Nếu tôi không báo với ngài, tôi sẽ ân hận, không xứng đáng là một nhà khảo cổ học mà tôi đã khai với các ngài. Chúng tôi làm nghiên cứu văn hoá không phải cho tôi, đất nước tôi, đất nước ngài, mà cho toàn nhân loại”. Đại tá Thanh như hiểu ra một phần cuộc hỏi cung. Ông thư thả: “Tôi đảm bảo quyền lợi chính đáng của anh”. Gionsale cảm ơn ông đã nhận lời. Rồi từ từ kể:

“Chuyện nhảy dù và ẩn nấp trong hang tôi đã thành thật khai hết, các ngài cũng đã thấy rất hài lòng. Riêng chuyện cái bát, đĩa thì không như vậy, chuyện là do tôi đặt ra. Thực tình hai thứ đó tôi lấy ở trong hang”.

Vị đại tá sực nhớ đến cái bát cái đĩa đã đưa đi giám định, có văn bản trả lời hẳn hoi, chỉ là cái bát ăn cơm bình thường. Có khác dáng mỏng đẹp hơn so với bát sứ Hải Dương mà ông vẫn dùng. Gionsale dừng một lát, nhếch mép cười như chế nhạo, đoán biết ông đại tá không hiểu gì về đồ cổ, kho báu mà bao nhiêu nhà sưu tầm cổ vật trên thế giới đều mơ ước.

Mà cũng phải thôi, ông là nhà chiến lược quân sự nòi, nhập ngũ đánh Pháp từ hồi mới lớn. Chỉ quen với chiến trường, bom đạn, nào đã được học gì về văn hoá cổ đại và khảo cổ học đâu? Bây giờ nghe Gionsale nói về đề tài này, ông không biết tính sao. Gionsale ngước đôi mắt xanh trong như mắt mèo nhìn ông như hỏi: “Ông có muốn hiểu không” rồi y nói tiếp:

“Tôi cuốn dù, chôn sâu xuống đất cùng các thứ không cần thiết, xoá sạch dấu vết rồi đưa ống nhòm quan sát xung quanh. Trên vách núi, một đàn sóc chạy, nhảy trong bụi cây. Đoán biết ở gần đó thế nào cũng có hang to, nhỏ, tôi đến gần, quả nhiên là như vây.

Tôi nhẹ nhàng vạch dây leo, soi đèn pin chui vào trong. Hang lạnh lẽo tối om, tạo cho tôi cảm giác yên tâm vì cửa hang bé lại kín, đã lâu không có dấu chân người. Tôi tranh thủ tìm nơi cất giấu trang bị bay càng kín càng tốt vì biết mình đang bị truy lùng. Hang nhiều góc ngách sâu thẳm. Tôi chọn một tảng đá bằng phẳng trong một ngách sâu để nghỉ. Xung quanh nhiều nhũ đá đẹp như tranh điêu khắc, đầu nhũ xanh trắng lóng lánh. Nước chảy róc rách tạo nên âm thanh huyền ảo.

Đêm trong hang, tôi sợ hãi lo âu về số phận của mình rồi tôi thiếp đi… Tôi thấy mình đang nằm trong lò nung toàn cổ vật, ngọn lửa xanh đỏ quyện xung quanh: Tiếng đàn ông oang oang, tiếng đàn bà nhỏ nhẹ lao xao như tiếng chim, rì rào như tiếng gió. Tôi lắng tai nghe, rình theo họ, không thấy họ ở đâu, không hiểu chuyện gì? Tôi choàng tỉnh dậy với khẩu Côn. Soi đèn pin khắp hang, rồi dừng lại ở những vạch khác lờ mờ trên trần, có thể nói đó là một bức tranh khắc. Một vầng trăng, một con chim đang xoè cánh. Đúng rồi con cú mèo đang đứng trên bệ đá, bệ đá có khắc chữ, chữ gì nhỉ? Chữ Hán.

Người tôi như có sức mạnh, tỉnh táo lạ thường, quên ngay mình là viên phi công đang lẩn trốn. Tôi trở lại mình, người đam mê sưu tầm nghiên cứu khảo cổ học, với bao kiến thức đã học ở trường Khảo cổ học nhân loại Hoa Kỳ cùng với kho tàng hiện vật cổ đại mấy đời dòng họ nhà tôi truyền lại.

Với kiến thức và bề dày kinh nghiệm, tôi không mấy khó khăn để kết luận trong đây có nhiều điều bí ẩn. Tôi bắt đầu giải mã những gì đã nhìn thấy. Bắt đầu từ những vách đá xanh trơn, khe đá nông sâu vòng vèo, rêu cáu mốc meo, những vết tích lớn nhỏ: Đâu là nhân tạo, đâu là thiên tạo. Tất cả kiến thức hiện có tôi đều mang ra áp dụng phân tích, suy tìm nhưng chưa có hy vọng.

Đêm trăn trở, tôi lại soi đèn pin lên trần hang, ngắm chim, ngắm trăng. Đúng rồi, trăng lưỡi liềm đầu tháng, tức là trăng không sáng. Con chim cú mèo là loài thú ăn đêm, mắt nó sáng như đèn. Nó đang xoè cánh bay, tức là nó đã nhìn rõ con mồi hay hướng bay, bay trong ánh trăng mờ. Còn dưới chân nó là chữ Nhân. Đúng rồi: Nhân là người. Người trong bóng tối phải nhìn sáng như sao. Sao là đèn. Đèn soi hướng nào? Con cú mèo nhìn về đâu? Bay đi đâu? Phải có dụng ý. Không ngẫu nhiên trên trần lại có bức tranh kỳ quặc như vậy. Tôi tập trung phân tích kỹ những khắc hoạ trên đó, tự đặt giả thiết, tự tìm tòi lời giải. Bế tắc, lo âu vì các ông đang bao vây kêu gọi đầu hàng.

Cạnh phiến đá chỗ tôi nằm có một giếng nước nhỏ hơi méo mó, nửa như nhân tạo, nửa như thiên tạo, rất nông, nước trong veo nhìn rõ đáy giếng nhẵn bóng như gương. Tôi vẫn lấy nước ở đó uống, rửa mặt. Bên cạnh giếng là bộ xương người đã bị vôi hoá, chỉ còn chiếc đầu lâu là nhận ra. Tôi đoán là người cuối cùng biết chuyện trong hang. Chiếc bát chiếc đĩa tôi lấy được là trên miệng giếng. Đó là loại bát, đĩa quý dành riêng cho vua chúa. Có niên đại trên dưới ngàn năm”.

Nói đến đây Gionsale dừng lại với cốc nước, uống một hớp rất tự tin, ngước nhìn mọi người, nhìn Đại tá Thanh như khẳng định: “Các ông có tin không? Trong đó có kho báu. Nếu các ngài cho tôi ra, tôi xin nghiên cứu khai quật giúp các ngài”.

Gionsale trình bày những nghiên cứu, suy đoán của mình như trình bày luận chứng khoa học, nhưng chưa thuyết phục được Đại tá Thanh. Ông nghe xong gật gù: “Tôi ghi nhận những suy đoán của anh. Buổi giao ban ngày mai tôi sẽ báo cáo lên cấp trên”.

Ông hiểu rằng lời thỉnh cầu của Gionsale không có câu trả lời. Vì kho báu cổ vật chưa có cơ sở để khẳng định. Hồ sơ tìm kiếm trong hang đã ghi rõ. Việc này chắc phải để mai sau. Còn bây giờ, nếu là kho súng đạn, tài liệu chiến tranh thì ông sẽ thi hành ngay.

Chuyện qua đi, Gionsale không nhận được hồi âm dù nhiều lần đề đạt với quản giáo. Rồi hiệp định Pari được ký kết. Gionsale được trở về đoàn tụ với gia đình sớm hơn những gì mà Gionsale nghĩ. Ngày được nhận trả tư trang giấy tờ, ảnh vợ con, nhẫn cưới, có chiếc bát, chiếc đĩa. Gionsale giật mình, hoa mắt, không tin mình còn được nhìn thấy báu vật chứ đứng nói được sở hữu mang về nước. Mọi chuyện ngoài sức tưởng tượng của Gionsale.

Dẫu rằng được sở hữu hai báu vật độc đáo trong kho tàng cổ vật, nhưng Gionsale không thấy tự hào, không dám công bố với bạn bè. Sau những năm tháng dài suy nghĩ, Gionsale quyết định trả lại sự thật cho lịch sử, cho dân tộc Việt Nam. Một dân tộc yêu chuộng hoà bình, chịu mất mát nhiều thứ vì chiến tranh mà lãng quên kho tàng văn hoá. Bây giờ hoà bình, họ đáng được hưởng những gì họ có. Nghĩ vậy Gionsale quyết định xin trở lại Việt Nam trả lại báu vật.

Gionsale đi theo đoàn cựu chiến binh Mỹ trở lại Việt Nam. Một lần nữa với tư cách là nhà khảo cổ học, Gionsale xin được chứng minh giá trị của hai hiện vật cổ kính, thần bí mà Gionsale đã lấy ở trong hang, mang được về nước, nay mang trở lại.

Trong buổi giao lưu, trước sự chứng kiến của nhà chức trách và các nhà khoa học, Gionsale cầm chiếc bát hình chóp nón, màu bạch định đường kính 13 cm đưa lên soi qua ánh mặt trời. Mọi người đều thấy hoa văn cúc dây nối tiếp nhau chìm sâu trong lớp men trắng ngà như gạo nếp. Nhiều bông hoa cúc điểm xung quanh. Bên trong bát một lớp men lờ mờ óng ánh, đứt đoạn, chắp nối vẽ trên lớp men hoa văn cúc dây.

Gionsale múc một bát nước để trên bàn cho mọi người nhìn rõ. Nước vẫn trong, bát vẫn trắng đẹp như thường. Gionsale cho một ít thạch tín (thuốc độc) vào nước, lập tức lớp hoa văn cúc dây mờ nhạt óng ánh chuyển thành màu đen hiện hình đầu lâu, xương ống. Mọi người chứng kiến đều kinh hoàng thán phục chiếc bát, đĩa chống độc của các vua chúa thời xưa. Đó là một công trình chế tác đồ sư khoa học có từ ngàn năm trước, hiện nay đã thất truyền.

Sau khi chứng minh suy đoán lô gích có kho báu trong hang, Gionsale xin được góp một phần kinh phí cho dự án nghiên cứu thăm dò cổ vật tại Việt Nam.

P.X.H

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Truyền thuyết về kho tàng Champa ở thành Đồ Bàn

champa-1 (Small)

Thành Đồ Bàn đụơc xây dựng từ thế kỷ X nằm trên xã Nhơn Hậu huyện An nhơn tỉnh Bình Định cách QL 1A 3km về hướng tây , xưa kia đây là kinh đô của nước Chiêm thành từ vua Chế bồng Nga – Chế Mân vv. Nơi đây di sản văn hoá Chiêm thành và Tây sơn còn tồn tại cho đến bây giờ: Thành trì – tượng đá phù điều , tháp cổ và các bảo vật hoàng cung,đặc biệt Công chúa Đại Việt: Huyền Trân năm 1306 đã lên kiệu hoa về làm hoàng hậu Champa .

Năm 1377 đại quân của vua Trần Duệ Tông đã tiến đánh thành Đồ bàn . , Quân Việt đã vây và tiến công chiếm thành , vua Chiêm băng hà truóc khi vỡ thành , vua Chiêm đã cho quan quân chôn dấu kho tàng của triều đình , cùng của cải của người dân . Vì vậy cho đến nay vẫn còn truyền thuyết về các kho tàng của Chiêm thành trên đất Bình Định .

1) Khai quật kho tàng tại tháp Mẫn : vào những năm 194.. thời Bảo Đại còn làm vua , tại thôn vạn thuận ,xã nhơn thành , An Nhơn ,Bình Định , ở trước tháp Mẫm một nông dân khi cày ruộng đã vô tình phát hiện khi lưỡi cày của ông vấp vào 1 con nghê bằng đá , đã báo quan và Pháp đã về đây nghiên cứu khai quật . Tại vị trí này Pháp đã rào lại mứon dân công Việt Nam đào khai quật với diện tích 1 sào . Kết quả : rất nhiều tượng cổ nằm dưới hầm này , một số dân công kể lại có những hòn ngọc to xanh , trắng óng ánh đuọc bó kỹ lại tất cả đuọc chất lên 4 chiếc xe GMC của Pháp chở đi , lúc đó có Bảo Đại về tham quan , bà nội tôi có chạy ra xem mặt vua .Một số tượng lớn hiện nay còn lưu giữ tại bảo tàng Chàm Đà Nẵng và Qui Nhơn – phần còn lại quý giá như vàng bạc đá quý đã đuọc đem về nước Pháp .

Ngôi tháp này bị sụp đổ lâu rồi nên đã tận dụng gạch của tháp này về xây dựng chùa Thập tháp .

2) Truyền thuyết về kho tàng Chiêm : vào nhưng năm 1966 có nhiều nguòi dân Chăm đã về nơi đây mang theo bản đồ để tìm lại kho tàng cha ông để lại – sau ngày giải phóng vẫn còn nhiều người Chăm về tìm kiếm . Vào những năm 1950 bà tôi khi vào Ninh thuận buôn bán ở lại 1 nhà dân Chăm , họ hỏi có biết thành Trà Bàn không , và có nói rằng theo lời kể dòng họ thì có kho tàng còn chôn dấu ở trong thành này . khi chôn dấu họ có tính đến chu kỳ quay của mặt trời so với điểm mốc”đó là vào lúc N giờ ngày YY năm XXXX mặt trời sẽ chiếu vào đỉnh tháp Cánh Tiên trong thành , bóng của đỉnh tháp nằm ở đâu thì nơi đó có chôn kho báu vật của triều đình truóc khi tháo chạy” chỉ có dòng họ mới biết ngày giờ năm tháng đó đuọc . Vì vậy hiện nay vẫn chưa khai quật đuọc.

3) Cuộc khai quật theo bản đồ : vào nhửng năm 1985 : một ông giám đốc công ty CS BĐ( HĐE) không biết do nguồn nào ông đã có 1 bản đồ chôn dấu kho tàng này – ông đã xin được giấy phép khai quât của TW , ông đem cả 1 đoàn quân hùng mạnh – che chắn kỹ càng và tiến hành đào bới gần chân thành . kết quả sau 15 ngày là không có gì .

4) Truyền thuyết dân gian : trong dân chúng còn lưu truyền rằng ” vàng của Chiêm được chế tác thành hình các con vật heo , gà vịt vv. trước khi mất thành họ đã chôn giấu và dùng phép thuật để yểm bùa chú vào”. những người dân trong thành ban đêm thường thấy bầy heo vàng đi ăn hoặc bầy gà mẹ dẫn gà con đi ăn , nhưng không thể nào bắt được . Nhưng do duyên số có những người bắt được heo vàng về từ người nghèo khó trở nên giàu có và có nhiều người như vậy .

champa-2 (Small)

Tháp cánh tiên nơi dùng làm chuẩn để xác định kho tàng chămpa

Những chuyện có thật là hiện nay lâu lâu dân chúng trong thành vẫn vô tình đào bới đuọc những vật có giá trị của thời Chămpa : vàng được chế thành buồng cau – con voi- con gà với tuổi vàng thấp ( 6 so với 9 bây giờ) có cả những cộng xích vàng

champa-3 (Small)

Tacgia Loitranchinh – Yamahamotor.com.vn

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Bức tranh “nuy” nổi tiếng lập kỷ lục đấu giá

 

Bức vẽ của danh họa Lucian Freud.

hoasifreuds1

(Dân trí) – Một bức tranh nổi tiếng của danh họa người Anh Lucian Freud vẽ một phụ nữ đang ngủ trong tư thế khỏa thân vừa trở thành bức họa có giá cao nhất trong lịch sử khi tác giả và nguyên mẫu còn sống.


Bức họa của Lucian Freud có tên “Benefits Supervisor Sleeping”, thuộc sở hữu của một nhà sưu tầm tư nhân ở châu Âu, đã được bán với giá 33,6 triệu USD tại trung tâm Rockefeller ở New York.

“Benefits Supervisor Sleeping” đã đánh bại kỷ lục đấu giá trước đó dành cho tác phẩm của một họa sĩ còn sống khi bức Hanging Heart của Jeff Koons được bán với giá 23,5 triệu USD hồi năm ngoái.

Nguyên mẫu của bức họa vẽ năm 1995 là Sue Tilley, giờ 51 tuổi. Tilley đã nằm trên một chiếc ghế sofa trong tư thế không mảnh vải che thân để làm mẫu cho họa sĩ Freud. Điều đáng nói là Tilley đã phải nằm làm mẫu trong suốt 9 tháng.

British Paintings
“Benefits Supervisor Sleeping” là bức họa có giá cao nhất trong lịch sử khi tác giả và nguyên mẫu còn sống.

Bà Tilley, hiện đang làm quản lý cho một trung tâm giới thiệu việc làm nói: “Tôi rất cảm động. Tôi vẫn không tin rằng điều kỳ lạ như vậy lại xảy ra với mình”.

Khi được hỏi bà cảm thấy như thế nào khi khỏa thân để vẽ tranh, Tilley nói: “Lúc đầu, tôi hơi ngượng ngùng nhưng sau đó tôi thấy quen dần. Nó đã trở thành một việc hoàn toàn bình thường giống như là tới bác sĩ vậy”.

Tilley, từng làm người mẫu cho họa sĩ Freud trong 4 năm vào những năm 1990, cũng cho biết rằng các bài báo khẳng định bà nặng 128 kg khi làm mẫu cho “Benefits Supervisor Sleeping” là không chính xác. Bà cũng không biết cân nặng hiện tại của bà là bao nhiêu.

 

hoasifreuds3
Người mẫu Sue Tilley giờ đã 51 tuổi.
“Tôi chẳng bao giờ cân vì tôi không quan tâm”, Tilley nói. Cũng vì thân hình mập mạp mà Tilley còn có biệt danh “Big Sue”.

Họa sĩ Lucian Freud, 85 tuổi, đã bắt đầu vẽ “Big Sue” vào năm 1993. Khi đó Tilley, người được nghệ sĩ Australia Leigh Bowery giới thiệu với Freud, phải nằm trong tư thế không thoải mái trên một sàn nhà trơ trụi. Sau đó ông đã mua chiếc ghế sofa cho Tilley.

Họa sĩ Lucian Freud là cháu của nhà phân tâm học nổi tiếng Sigmund Freud. Ông sinh tại Đức nhưng sau đó chuyển tới Anh. Freud được coi là họa sĩ hàng đầu nước Anh hiện nay. Các khách hàng nổi tiếng của ông là Nữ hoàng Elizabeth II và siêu mẫu Kate.

Bài do TUAN_NGUYEN đăng trên Yamaha-motor.com.vn

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »