Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 8th, 2009

Eroticism trong nghệ thuật hội họa

55 hình chụp các tác phẩm hội họa:

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 

Read Full Post »

Đền Angkor Wat ở Campuchia là nơi bị bọn trộm “viếng thăm” thường xuyên nhất

Di sản “bốc hơi”

Các hiện vật cổ trong các viện bảo tàng bỗng dưng “bốc hơi” và rồi người ta thấy chúng có mặt trong các cuộc bán đấu giá; nhiều di tích được xem là di sản thế giới đang lâm vào tình trạng xuống cấp trầm trọng.

Rõ ràng, việc bảo vệ những giá trị lịch sử trở nên nan giải, đó là chưa kể đến một hiện tượng xảy ra rất thường xuyên trong vài năm qua… Tháng 8/1994, Thổ Nhĩ Kỳ – tuy không truy tố sự việc ra tòa – nhưng nhất định đòi lại một tác phẩm điêu khắc và một trụ ngạch (dãy trang trí trên gờ tường) đang an vị trong các phòng triển lãm nghệ thuật ở New York. Truớc đó không lâu – năm 1993 – Viện Bảo tàng Metropolitan ở New York cũng đã buộc phải trả về hàng trăm cổ vật bằng vàng và bạc cho người Thổ Nhĩ Kỳ sau nhiều năm hai bên tranh cãi gay gắt.

Người Thổ vẫn còn đó một nỗi lo khác nữa. Đầu những năm 1870, nhà khảo cổ Heinrich Schliemann (Đức) đã khai quật một kho tàng toàn hiện vật bằng vàng mà ông tin rằng đấy là tài sản thuộc Vua Priam của thành Troy. Schliemann cho chở kho tàng này ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, đem về đến Berlin nhưng sau đó thì nó rơi vào tay Liên Xô thời Thế chiến II. Bây giờ thì cả người Thổ lẫn Đức đều muốn giành lại kho tàng nhưng người Nga bảo rằng nó phải thuộc về họ vĩnh viễn.

borobudur02

Chùa Borobudur (Indonesia).

Borobudur-perfect-buddha_

Kho tàng Elgin cũng lâm vào tình trạng tương tự. Được nhà quý tộc Elgin (Anh) tìm thấy trong điện Parthenon (Athens, Hy Lạp) trong những năm 1800, kho tàng này trở thành “tài sản” của Vương quốc Anh khi chính phủ nước này mua nó cho Viện Bảo tàng Anh năm 1816. Người Hy Lạp đang cố hết sức để lấy lại di sản này nhưng mọi việc vẫn đang tranh chấp quyết liệt.

Còn Palestine thì đang giành giật với Jordan để sở hữu cuộn bản thảo Kinh Thánh bằng da mà theo đánh giá có cách đây hơn 2.000 năm, được tìm thấy vào những năm 1940 – 1950 ở Bờ Tây. Sự việc vẫn chưa đến hồi kết…

Các nước Đông Nam Á và vành đai Thái Bình Dương vài năm gần đây đã trở thành địa chỉ quen thuộc và nổi tiếng cho khách du lịch thế giới. Người ta đổ xô đến để ngắm danh lam thắng cảnh và nhất là để chiêm ngưỡng các di tích có tuổi hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm.

Thu nhập từ du lịch chiếm 0,9% tổng thu nhập quốc nội (GDP) ở Trung Quốc; 1% GDP ở Nhật; 1,1% ở Hàn Quốc; 2,7% ở Malaysia; và 4,4% ở Thái Lan. Sự hấp dẫn từ doanh thu béo bở của ngành du lịch đã khiến cho các nước sở tại khẩn trương trùng tu những di tích lịch sử để thu hút khách. Việc này vô tình đã làm cho di tích không trở nên tốt hơn mà ngày càng xuống cấp trầm trọng vì những kế hoạch xây dựng vội vàng cùng với sự phá hủy một cách vô tình nhưng cũng có khi hữu ý của lượng du khách quá đông.

Đó là chưa kể đến loạt cơ sở kiến trúc hạ tầng – như nhà hàng, khách sạn, bãi nghỉ mát… xây dựng cận kề – đã làm cảnh quan trở nên thô kệch đến độ buồn cười do không hài hòa với quần thể kiến trúc cổ. Surapol Natapintu – Giáo sư khảo cổ học tại Đại học Silpakorn (Thái Lan) – nói: “Tôi cho rằng một ngày nào đó sẽ chẳng còn lại gì ở thành phố cổ Ayutthaya (được xây dựng khoảng năm 1350) mà chỉ còn lại những khách sạn sang trọng và rồi cũng sẽ chẳng có một du khách nào buồn đến đó”.

Sẽ chẳng có gì đáng trách nếu như người ta chỉ tham quan các di tích lịch sử mà thôi. Trong thực tế, việc bảo vệ khỏi nạn trộm cắp đã tốn rất nhiều tiền để trang bị đủ loại dụng cụ phòng chống phức tạp mà kết quả vẫn không mấy sáng sủa. Bọn trộm chuyên nghiệp ngày càng tinh vi. Các nhà bảo tàng thường bị mất trộm nhất là những nơi được trang bị hiện đại nhất! Cảnh sát lại không am hiểu nhiều về đồ cổ nên bị bọn trộm “qua mặt” mà vẫn không biết mình đã bị lừa.

Tại Đông Nam Á, di tích bị bọn trộm “viếng” thường xuyên nhất là đền . Gần như mỗi đêm đều có những vụ làm ăn của chúng, và “hàng” được chuyển sang Thái Lan một cách bình yên – nơi mà những món đồ cổ này được trưng bày trong các cửa hiệu đồ cổ, chờ khách – đa số là người phương Tây – mua về để rồi lại đem đi bán đấu giá ở đâu đó trên thế giới. Một món đồ có khi đi vòng khắp thế giới rồi mới lọt vào tay của một nhà sưu tầm nào đó.

Về lý thuyết, Chính phủ Thái Lan nghiêm cấm tất cả các vụ buôn bán đồ cổ Khmer được tìm thấy trong nội địa Thái Lan, nhưng lại không ban hành luật cấm các vụ buôn bán cổ vật Khmer được nhập khẩu từ Campuchia! Vì thế, các chuyến chuyển “hàng” từ biên giới Campuchia vào đất Thái vẫn nhộn nhịp.

*** Một phiên họp tổ chức cách đây không lâu dưới sự bảo trợ của Hội châu Á, Viện Bảo tồn Getty và Hội Siam đã được thực hiện với việc thảo luận các biện pháp tái tạo và giữ gìn những di sản quốc gia. Một số di sản chủ yếu được thảo luận kỹ là:

. Huế: Kinh thành cổ tại Huế (được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới). Một quần thể kiến trúc thời phong kiến với những dinh thự, lăng tẩm được xây dựng cực kỳ công phu.

. Angkor: Khu vực được giới khảo cổ quan tâm nhiều nhất ở Đông Nam Á, bao phủ một vùng rộng hơn 200 km2, gồm đền đài cổ của những kinh thành thuộc Vương quốc Khmer từ thế kỷ XI-XV. Nổi tiếng nhất trong quần thể kiến trúc này là đền Angkor Wat. UNESCO đã thiết lập chương trình bảo vệ khu di tích này.

. Động Ajanta: Loạt các lăng mộ theo kiểu Phật giáo tại Ajanta (Ấn Độ) được xây từ thế kỷ II-I tr.CN. Tại đây, có nhiều chùa và đền được làm bằng cách khoét vào vách núi, trông thật hùng vĩ và linh thiêng.

. Dunhuang: Gồm 492 hang động thờ ở Mogao (tây bắc Trung Quốc). Nổi tiếng với những tượng thờ và tranh tường thể hiện nền nghệ thuật Phật giáo trong suốt thời gian dài 1.000 năm.

. Borobudur: Ngôi chùa nổi tiếng khắp Indonesia này được xây dựng thành 3 thang bậc: trung tâm là một kiến trúc hình kim tự tháp với năm dãy nhà xung quanh; một tháp hình nón với 3 bậc cấp uốn quanh; và trên chóp cao nhất là đền thờ. Ngoài ra, còn có những bức tường được chạm khắc tinh vi.

. Mohenjodaro: Đây là vết tích của khu thành cổ khổng lồ ngày xưa tại thung lũng Indus ở Pakistan, gồm một thành lũy rất lớn với những pháo đài và khu phố sinh hoạt. Thành cổ này được xây dựng hoàn toàn bằng đá vào thiên niên kỷ thứ III tr.CN.

. Luang Prabang: Ngôi thành cổ này ngày xưa là kinh đô của Vương quốc Lan Xang từ năm 1353 đến 1560; của Vương quốc Luang Prabang từ năm 1720 đến 1946 và từ năm 1946 đến 1975 là kinh đô Hoàng gia Lào.

. Pagan: Rất nhiều trong số 1.000 lăng tẩm của kinh thành cổ Pagan (Myanmar) đã bị hư hại nặng bởi trận động đất năm 1975. Đây là quần thể kiến trúc có tường vây quanh mà trong đó kiến trúc lâu đời nhất tồn tại có lẽ là Nat Hlaung Gyaung được xây ở thế kỷ thứ X.

. Kyongju: Nằm ở đông nam bán đảo Triều Tiên, đây là kinh đô của Vương quốc Shilla trong suốt một thiên niên kỷ, với nhiều lăng tẩm, đền, chùa. Kyongju đang xuống cấp trầm trọng.

. Herat: Một trong những trung tâm của văn hóa thế giới vào thế kỷ XV. Ngôi đền Hồi giáo và khu thành trì đã bị hư hỏng nặng trong cuộc nội chiến Afghanistan năm 1979.

Ở Việt Nam: Đình cổ “bốc hơi”, mà chính quyền xã không biết?

Trong kỳ họp HĐND tỉnh Thanh Hoá diễn ra từ ngày 17/7 – 19/7 các đại biểu đã chất vấn Sở Văn hoá – Thể thao & Du lịch việc ngôi đình Đông Môn bị tháo dỡ và đưa đi khỏi làng Đông Môn cách đây gần 3 năm, nhưng chính quyền địa phương và ngành văn hoá lại không hề hay biết.

Đây là ngôi đình thuộc xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, nằm sát với quần thể di tích thành nhà Hồ đang được lập hồ sơ trình UNESSCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Đình Đông Môn là ngôi đình có kiến trúc thời Nguyễn đã được xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh.

Năm 2005, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định hỗ trợ 450 triệu đồng phục vụ cho việc chống xuống cấp đối với ngôi đình. Dự án do UBND xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc làm chủ đầu tư. Nhưng chính quyền xã này mặc nhiên để cho nhà thầu tháo, dỡ đình mang đi mà không hay biết.

Việc làm trên là vi phạm Luật di sản, vi phạm các quy định về bảo vệ di tích văn hóa – lịch sử. Đối với công trình văn hóa lịch sử đã xếp hạng khi tháo dỡ phục vụ tu bổ, sửa chữa phải được hạ giải, lập sơ đồ chính xác và không được đưa ra khỏi địa bàn.

Trao đổi với PV, ông Phạm Ngọc Thuyết – Chủ tịch UBND xã Vĩnh Long cho rằng, trong quá trình trùng tu ngôi đình, nhưng do kinh phí hạn hẹp nên không thể xây dựng được căn nhà tạm để bảo quản toàn bộ kết cấu đình Đông Môn. Do vậy, những kết cấu này đã được vận chuyển về TP Thanh Hoá để bảo quản nhằm tránh sự huỷ hoại khỏi thời tiết khắc nghiệt.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Chuyện “nổ” về “đồng tiền cổ” trị giá 300 tỷ đồng

tiên co dom_img

Đồng tiền cổ” mà ông Phú cho là trị giá 16 triệu USD

Thời gian qua dư luận ầm ĩ về chuyện một người Việt Nam có may mắn sở hữu đồng tiền cổ trị giá lên tới 16 triệu USD. PV chúng tôi khi tiếp xúc với nhân vật và cổ vật đã khẳng định: Đây là trò bịp của chủ sở hữu miếng kim loại và của một số kẻ a dua.

Con đường trở thành “triệu phú đô la”!

Căn nhà nằm đối diện với chợ Rừng, thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh khá đẹp, có 3 tầng kiên cố. Nhưng hình như nó bỗng trở nên mỏng manh khi chứa trong mình cổ vật trị giá 16 triệu đô. Ra đón chúng tôi là người đàn ông trung niên tươi cười hớn hở, trên tay ông cầm một túi nilon đựng giấy tờ, trong đó có cả một chiếc cà vạt to tướng lòi hẳn ra ngoài.

Ông sốt sắng: “Nhà báo hả? Tôi là Lê Văn Phú đây! Lên nhanh đi, tôi bận lắm!” dù lúc đó vừa sau bữa ăn trưa và vợ ông vẫn đang lụi cụi rửa bát. Không chuông báo động cảm nhiệt bằng tia hồng ngoại, không vệ sĩ kính đen chân thẳng đuột, lúc lên đến tầng ba thì cũng chẳng két sắt, chẳng hộp bảo quản chân không gì sất, chỉ thấy ông Phú lạch xạch một hồi mở tủ kính rồi lôi ra chiếc tất chân màu cháo lòng: “Đây! Nó đây!”. Nhìn ông nhoay nhoáy lật cái vật gây ô nhiễm môi trường nhưng lại bảo có giá trị cả núi tiền, đương nhiên, chúng tôi không khỏi mắt tròn mắt dẹt kinh ngạc.

“Cổ vật” mà ông Phú đưa cho chúng tôi thưởng lãm là một miếng kim loại hình tròn, một mặt có in hình Tổng thống thứ 18 của Mỹ Uylisses S. Grant – đắc cử hai nhiệm kì 1869 – 1877. Mặt kia in dòng chữ tiếng Anh dịch nôm là: Trung uý trong cuộc chiến tranh với Mexico, thăng chức từ đại uý lên chỉ huy lực lượng liên minh, nổi bật trong cuộc nội chiến, người trầm lặng của Appomattox. Bên dưới có dòng chữ (dịch thoát): “Chấp nhận vô điều kiện”.

Với một giọng kể mạch lạc và truyền cảm, ông Phú cho biết đây là cổ vật do cha ông để lại, do tò mò nên nhân 10 năm bình thường quan hệ Việt Mỹ, năm 1996, ông Phú có gửi hồ sơ về miếng kim loại này cho Đại sứ quán Mỹ để tìm hiểu tông tích, sau đó Đại sứ quán Mỹ gửi cho ông chứng nhận giá trị về cổ vật mà ông sở hữu. Sau đó nhân biết được địa chỉ của một người sưu tầm tem cổ là ông Ah Shaw – số 91 đường Baxter, Williams Town, Massachusetts, 01267, USA, ông Phú đã gửi hồ sơ sang và nhận được hồi âm: Miếng kim loại đó liên quan đến cuộc chiến Mỹ – Mexico.

Nhân có thông tin này, ông Phú đã sưu tầm các loại thông tin kim cổ và đã tóm tắt lịch sử của miếng kim loại này như sau: Khi cuộc xung đột Mỹ và Mexico đang căng thẳng hồi năm 1846 – 1848 thì Mỹ đã phải xin hoà bình và ký Hiệp ước Guadelope Hidalgo. Theo thoả thuận, Mỹ phải mua lại phần đất Nam Mexico và Califonia với số tiền 15 triệu đô la. Tuy nhiên trong thời điểm này, đang trong thời kì suy thoái kinh tế nên Mỹ phải thanh toán bằng vật bảo chứng tượng trưng (Tiền thật thì thanh toán sau – PV), việc sửa đổi biên giới giữa hai nước được hoàn tất bằng hiệp định năm 1953.

Như vậy miếng kim loại (mà ông và nhiều người hay gọi là đồng tiền cổ) có trị giá đúng 15 triệu đô la và nó được vinh danh là vị sứ giả hoà bình. Về giá trị hiện tại, miếng kim loại này lại được tăng thêm 1 triệu đô la nữa không phải do lạm phát, giá gạo dầu muối mắm tăng chóng mặt mà vì một thông tin ông Phú mới đọc được trên tờ báo: “Năm 1947, ngân hàng Riggs cho Chính phủ Mỹ vay 16 triệu đô la trong cuộc chiến chống lại Mexico”. Ông Phú kết luận: “Như vậy đồng tiền cổ của tôi phải trị giá đúng 16 triệu đô”.

Trò đùa của… Trạng!

Trên “đồng tiền cổ” như cách gọi của ông Phú và một số người thì ngoài ảnh chân dung và các dòng chữ như đã kể trên không có một con số nào trên đó, chính vì vậy có thể khẳng định miếng kim loại này không phải là đồng tiền vì không có mệnh giá và tên cơ quan phát hành. Đây là một huy hiệu của một hội hay tổ chức nào đó, căn cứ vào nội dung thì có thể của Hội Cựu chiến binh Mỹ, những người đã trải qua cuộc chiến với Mexico. Việc dùng các loại huy hiệu kiểu này cũng thông thường như trò chơi của trẻ con bên ta, dăm bẩy đứa trẻ xẻ miếng gỗ hoặc mảnh sành, mảnh sứ thành các phần khác nhau rồi khi nào tập trung ghép lại khớp với nhau mới nhận mặt “người trong tổ chức” dù hàng ngày vẫn nhẵn mặt đâu là thằng Tí, thằng Tèo, cái Hĩm, cái Nở…

tiên co dom 1_img
Ông Phú giới thiệu về đồng tiền cổ

Bản “chứng nhận cổ vật” do Đại sứ quán Mỹ cấp mà ông Phú đóng khung và mang ra khoe thực ra là bản giấy khen (tạm gọi) có nội dung: “Certificate…”. Dịch thoát: “Đánh giá cao ông Lê Văn Phú là người tham gia vào cuộc thi biểu trưng kỉ niệm 10 năm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – Việt Nam”. Đây là cuộc thi do Bộ Văn hoá Thông tin (trước đây) và Đại sứ quán Mỹ phối hợp tổ chức.

Theo các tài liệu mà chúng tôi thu thập được thì biểu trưng của tình hữu nghị Việt – Mỹ do ông Lê Văn Phú sáng tác là hình ảnh một người đội mũ cánh chuồn (đại diện Việt Nam- PV) đứng nhìn một người râu quai nón (đại diện cho Mỹ – PV), khoảng trống giữa hai người này là mấy con chim (có thể là bồ câu) đang bay. Và người râu quai nón đại diện cho Mỹ ấy chính là chân dung Tổng thống thứ 18 của Mỹ Uylisses S. Grant- người được in trên miếng kim loại (cũng vẫn ở tư thế đó, như một bản photocoppy). Như vậy, tờ giấy được đóng khung này hoàn toàn không liên quan gì đến miếng kim loại 16 triệu đô kia.

Hiệp ước trao đổi lãnh thổ Mexico – Mỹ hoàn tất năm 1853, thời kì khủng hoảng tiền tệ trước đó vài năm và miếng kim loại được coi là vật bảo chứng mang lại hoà bình cho thời kì đó lại in hình Tổng thống thứ 18 của Mỹ Uylisses S. Grant. Vị Tổng thống này có thời gian cầm quyền từ 1869 – 1877. Lúc đó không biết ở cương vị nào mà con người này lại được hân hạnh có chân dung mình lên vật bảo chứng trị giá lớn như vậy?

tiên co dom 2_img
PV (phải) kiểm tra “báu vật 16 triệu đô”

Bức thư của người chơi tem Ah Shaw – số 91 đường Baxter, Williams Town, Massachusetts, 01267, USA gửi cho ông Phú chỉ với nội dung ghi thể hiện hết ngoài phong bì: Mong muốn trao đổi tem cho nhau – Với những người chơi tem thì những bức thư vượt đại dương kiểu này là chuyện hết sức thông thường. Còn nội dung thư theo như bản photo mà ông Phú trao cho chúng tôi (bản chính ông nói đã bị… thất lạc!) thì cũng không nói đến “đồng tiền cổ” nào cả mà chỉ như một đoạn trích ngắn về lịch sử cuộc chiến Mỹ – Mexico. Đó là chưa kể hai nét chữ trên phong bì và trong thư có sự khác biệt, không cùng một chủ nhân… Tất cả câu chuyện đồng tiền cổ triệu đô chỉ là một kiểu chắp nối sự kiện khập khiễng, khiên cưỡng!

Coi tiền hơn… rác!

Sau lần tiếp xúc này tôi có thể hoàn toàn tự hào về vẻ bề ngoài của mình: Vô cùng lương thiện, ít nhất là trong mắt chủ nhân của “báu vật 16 triệu đô” này. Gặp ông Phú lần đầu tiên nghe giới thiệu là người muốn viết bài về ông, về “báu vật” của ông, ông cũng chẳng cần hỏi thẻ nhà báo, hỏi giấy tờ của tôi. Và trong lúc tôi cầm mảnh kim loại (đem đổi ngang có thể được hai chiếc máy bay hạng sang) chạy khắp nhà để tìm chỗ sáng hòng chụp ảnh thì ông Phú xuống nhà rót nước, mà lâu đến nỗi tôi phải bỏ “báu vật” vào túi áo mình cho đỡ mỏi tay cầm, lúc móc ra trả nó còn lẫn vào mấy đồng xu, may là cái mảnh kim loại ấy đã cũ, xỉn màu nên cũng dễ tìm.

Vứt tôi lại với cả một căn phòng cổ vật, ông Phú đi cạo râu, vội vàng đến mức lỡ tay chảy máu mép, ông hớn hở: “Chiều nay, tớ phải lên Hà Nội làm khách danh dự cho một công ty bán hàng đa cấp. Nó mời mình lên để làm sang cho nó ấy mà!”. Tôi cũng suýt nữa bị xúc động khi bài viết: Ông lão và báu vật 16 triệu đô… được ông Phú đóng khung trang trọng đặt ngay ngắn cạnh tờ giấy “Đánh giá cao…” rặt tiếng Tây kia.

xaluan.com

Các bài đã đăng :

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Nha Trang: triển lãm cổ vật Tiếng vọng từ biển

SGTT – Nhân dịp Festival biển Nha Trang 2009 và mùa du lịch hè 2009, triển lãm cổ vật Tiếng vọng từ biển sẽ mở cửa từ 5.6 đến hết tháng 9.2009, tại 16 đường Trần Phú, TP Nha Trang.

600 cổ vật tiêu biểu trong khoảng 1 triệu cổ vật khai quật từ các con tàu đắm và đáy biển Việt Nam trong những năm gần đây, gồm các chất liệu gốm, đá, gỗ, kim loại… sẽ được trưng bày. Trong đó, phần lớn là đồ gốm xuất khẩu của Trung Quốc thế kỷ 18, gốm Chu Đậu Việt Nam thế kỷ 15 và gốm Thái Lan Sawankhalok thế kỷ 15.

 

Mô hình tàu chở gốm Việt Nam

Mô hình tàu chở gốm Việt Nam

 

Bảo tàng Khánh Hoà tham gia triển lãm với 100 cổ vật tiêu biểu, trong đó có các cổ vật được trục vớt từ các vùng biển trong tỉnh Khánh Hoà như: khẩu thần công trục vớt năm 2008 tại Cam Ranh; ba bình gốm cổ cỡ lớn (thế kỷ 10 – 11), trục vớt tại khu vực gần đảo Hòn Tre (Nha Trang)…

Theo ông Lê Xuân Thân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, Trưởng ban tổ chức, đến với Festival lần này có sự tham gia của các đơn vị trong và ngoài nước như: đoàn nghệ sĩ Pháp xây dựng con rồng bằng inox lớn nhất Việt Nam; tô phở lớn nhất Việt Nam hay chương trình diễu hành xe Vespa cổ với sự tham gia của nhiều câu lạc bộ trong nước. Có doanh nghiệp hỗ trợ bằng cách tổ chức uống cà phê miễn phí trong suốt tuần lễ, nếm rượu vang miễn phí…

( bản tin từ sgtt.com.vn & 60s.com.vn)

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 


Read Full Post »

Phố di sản ở Phnom Penh

Con đường số 450 bên hông khu chợ Nga ở thủ đô Phnom Penh từ lâu đã trở thành một thiên đường mua sắm của dân du lịch bụi trên thế giới khi đến Campuchia, một con đường đầy ắp đồ lưu niệm từ cổ chí kim

Du khách rất thích thú khi dạo phố bán đồ lưu niệm

 

 


Có vàng

Chiếc liềm gặt lúa của người Campuchia, viên đá pạc-ma, mã não cổ của người Khmer, chiếc đĩa gốm Chu Đậu đời nhà Trần, lục bình xanh trắng đời nhà Thanh, bức tượng Phật cổ Campuchia bằng đồng hoen gỉ, hằng hà sa số những đầu tượng đá – gỗ – đồng mô tả các gương mặt sống động của Phật, của các vị thần trong tín ngưỡng dân gian Khmer bày la liệt trên vỉa hè, trong cửa hàng khiến người xem như lạc vào một bảo tàng thu nhỏ.

Thong dong, nhẹ nhàng… du khách lần lượt khám phá từng vẻ đẹp của con đường 450 thông qua những món đồ bày bán trong tiệm, trên vỉa hè. Là khu chuyên bán đồ lưu niệm, nhưng trong số mênh mông sản phẩm vẫn có rất nhiều những món cổ vật giá trị mang nguồn gốc xuất xứ từ khắp nơi – chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á. Mỗi cửa tiệm ở 450 bày bán đủ thứ nhưng luôn có một mặt hàng riêng làm thế mạnh của cả tiệm, tiệm đồ đồng (cũ – mới), tiệm tượng gỗ, tiệm gốm sứ, đồ đá… rất phong phú và đa dạng cả về chủng loại, chất liệu, chất lượng lẫn giá trị.

Đủ loại tượng đầy ắp một cửa hiệu ở đường 450

 

Cổ vật đồ đồng, vàng có niên đại ngàn năm tuổi thuộc nền văn hoá Khmer còn khá nhiều ở 450. Có thể kể đến tiệm 124, vợ chồng ông chủ là hai nhân vật khá quen thuộc trong giới buôn bán cổ ngoạn khắp Campuchia, Việt Nam, Thái Lan… Cả hai dãy tủ trong cửa tiệm bày la liệt các loại tượng đồng, vàng, các loại lục lạc lớn nhỏ đủ kích cỡ đã ngả màu thời gian, lên teng xanh láng mướt, tất nhiên kèm trong đó vẫn là vô số đồ giả cổ không kém phần tinh xảo với công nghệ thượng thừa của các nhà chế tác đồ giả cổ. Nhưng không gian bày biện ở dưới tiệm chỉ là đồ vừa tầm, đồ đỉnh cao được cất giữ trong kho ở tầng trên mới là những món đồ gia chủ muốn tiếp thị để bán hàng sau khi đã sàng lọc đối tượng khách.

Người sưu tầm, khách du lịch khi lạc vào mê trận dòng đồ vàng, đồ đồng trên phố 450 ít nhiều phải nắm vững kiến thức cơ bản sẽ đãi được những món đồ giá trị, tất nhiên giá cả cũng không phải quá đắt so với thị trường Việt Nam, Thái Lan hay Hàn Quốc, Singapore, Nepal…

Ngoài chuyện dạo chợ, khách du lịch khi đến với chợ Nga, đến với đường 450 cũng được chứng kiến những nghệ nhân chế tác các thể loại tượng lớn nhỏ mang đậm văn hoá Khmer ngay tại vỉa hè trước cửa tiệm từ khâu tạc hình, chạm khắc, làm giả cổ… với giá phải chăng để làm tượng trang trí trong góc nhà, ngoài sân hay làm quà tặng kỷ niệm cho bạn bè, người thân, nhân một chuyến du Cam.

Riêng với dòng cổ vật, rất nhiều những món đồ giá trị của dòng gốm sứ đời Minh, Thanh của Trung Quốc, đến gốm Chu Đậu đời Trần của Việt Nam, ngay cả những chiếc đôn gốm Cây Mai của Sài Gòn xưa cũng thấy xuất hiện khá nhiều ở 450. Chủ nhân các tiệm cho biết hầu hết dòng gốm sứ mua được từ Việt Nam, chủ yếu ở Lê Công Kiều. Campuchia có thế mạnh về đồ đồng, đồ đá và đồ vàng thuộc nền văn hoá Chămpa. Giá cổ vật gốm sứ ở Việt Nam ngày càng tăng và khan hiếm, rất nhiều người sưu tầm chuyên nghiệp, khách du lịch thường tìm đến 450 sàng lọc những bình, choé, đĩa, tô, liễn, thố… mà theo đánh giá của giới buôn bán là thị trường này còn khá nhiều đồ đẹp, có giá hợp lý do họ đã mua từ những năm trước với giá phải chăng và nay chưa cập nhật được mức giá của thị trường chuyên biệt trong dân sưu tầm.

Có đá

Các công đoạn chế tác tượng ngay tại vỉa hè ở đường 450

Hôm dạo chợ Nga ở 450, một khách du lịch Pháp đi cùng tâm đắc với cặp cá bằng đồ đồng còn nguyên vẹn, lên teng xanh trông rất cổ xưa được chủ tiệm hét có niên đại gần 2.000 năm với giá khởi điểm có 600 đô la. Sau hồi kỳ kèo, cặp cá giá còn 300 đô la, anh khách Pháp hí hửng vì nghĩ mua được món hời. Ông chủ bán hàng nói tiếng Việt lơ lớ cười rinh rích: “Đồ mới đó, mua của mấy người đúc đồng ngoài Thanh Hoá, làm giả cổ lại, mấy thứ này dễ bán cho Tây lắm. Đồ thiệt làm gì có nguyên vẹn cả cặp, nếu có giá cũng gấp hơn chục lần”.Một điều đặc biệt với những khách du lịch từ Việt Nam khi đến khu chợ Nga gần phố 450 mua sắm là giới buôn bán ở đây có thể giao tiếp bằng tiếng Việt, dễ dàng cho việc trả giá, thương lượng và tìm hiểu thêm về những món đồ ưng ý. Tuy nhiên, nếu so sánh lượng đồ cũ – mới, thật – giả ở khu chợ Nga, hiển nhiên lượng đồ mới, đồ giả vẫn chiếm đại đa số. Nhưng đấy là lẽ thường bởi các tiệm bán đồ đều ghi rõ là cửa hàng bán đồ lưu niệm. Còn chuyện đồ cổ, đồ xưa, khách tuỳ nghi lựa chọn, thuận mua vừa bán.

Biết phân biệt được thật - giả, cũ - mới trong đồ bày bán ở 450 sẽ đãi được những món cổ vật giá trị với giá phải chăng

Ở khu chợ Nga, những chiếc đồng hồ hàng nhái hiệu Longines, Movado rao bán với giá 200 – 300 ngàn cũng được dân du lịch ưa chuộng. Bên cạnh đó các loại nữ trang bằng vàng, bạc, dây đeo thời trang cho giới trẻ, quần áo, giày dép, cả những viên đá thạch anh đủ màu sắc lẫn những viên thiên thạch bằng đầu ngón tay cái đã qua mài nhẵn thín cũng bày bán khắp khu chợ Nga với giá từ 2 – 10 đô la (chưa trả giá).

Chợ và các cửa tiệm đồ lưu niệm đóng cửa vào tầm 5 giờ chiều, ngay lúc ấy các hàng quán thức ăn đa dạng về ẩm thực đặc trưng kiểu Campuchia lần lượt mọc lên xung quanh chợ. Sau khi đã dạo chợ chán chê với các mặt hàng lưu niệm, các món cổ vật, thêm một khám phá về ẩm thực vỉa hè ở chợ Nga với các món dân dã hủ tiếu, bún, gà nướng, chim nướng, chè, cháo… cũng là điều thú vị của một lần ghé chợ Nga, ghé phố cổ vật 450.

bài và ảnh Thiên Ý ( nguồn sgtt.com.vn)

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

Read Full Post »

Thanh kiếm ngắn Đông Sơn mang hình tượng Hai Bà Trưng

Chiếc kiếm ngắn Đông Sơn mang dư ảnh Hai Bà Trưng

1- Tượng nam và tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn và phân bố của chúng

Từ lâu tôi đã chú ý đến những tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn. Việc phân biệt tượng nam hay nữ trên cán dao găm Đông Sơn đã từng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thảo luận[1], nay nhờ tư liệu phong phú, có thể xác định chúng khá đơn giản và rõ ràng. Trước hết có thể nhận thấy hai loại hình tiêu biểu nhất trong số những tượng phát hiện trong context khảo cổ hoặc của những sưu tập sớm có độ tin cậy cao : những tượng nữ khai quật ở Làng Vạc (Nghệ An), Núi Nưa (Thanh Hoá) và tượng nam ở Núi Đèo (Thuỷ Nguyên), Quả Cảm (Bắc Ninh), Đông Sơn (Thanh Hoá)[2] những tượng trong sưu tập d’Argence hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử và hai tượng trên cán dao Đông Sơn khai quật được ở nam Trung Quốc[3]. Sự khác biệt của hai nhóm tượng này thể hiện khá rõ và mang tính địa phương. Những tượng Làng Vạc và Núi Nưa thể hiện lối trang phục kín khắp người (áo váy) với thắt lưng dày trên phần eo luôn buông dài tận chân có tua núm và các vòng hạt chuỗi đeo nhiều tầng ở cổ. Các nhà nghiên cứu đều dễ thống nhất đó là đặc trưng tượng nữ, cho dù kiểu đầu tóc ở các tượng có ít nhiều thay đổi. Ở nhóm tượng còn lại, đặc trưng nổi bật nhất là ở trần (hở hai núm vú dẹt) và đóng khố ngắn có tua. Các khố này được trang trí hoa văn và tạo thành hai bản dẹt hình thang phía trước và sau bộ phận sinh dục. Đây là bằng chứng thuyết phục của tượng nam. Từ những tiêu chuẩn này chúng ta có thể nhận ra thêm những đặc điểm trang sức của nam và nữ thời Đông Sơn : ví dụ nữ đeo nhiều vòng chuỗi, khuyên tai, vòng cổ tay lớn và đơn giản trong khi tượng nam đeo khuyên tai gối quạ (Quả Cảm, Hồ Nam…), vòng đeo ở cánh tay… Cũng với những đặc trưng nhận biết này ta có thể nhận ra những tượng „lạ“ được làm không phải theo phong cách Đông Sơn.

Hai nhóm tượng trên thực chất là hai khối tư duy tôn vinh nam nữ có chủ đích. Kiểu thể hiện khá ổn định với hai cánh tay cong khuỳnh chống nạnh đối xứng tạo độ cầm đày tay cho một cán dao găm. Đa phần tượng nữ phát hiện được ở vùng sông Mã, sông Cả là nơi chế độ mẫu hệ còn bảo lưu rất lâu về sau này. Chúng ta đều biết, sự lan toả của chế độ phụ hệ trong lịch sử Việt Nam có chiều hướng từ phía bắc xuống phía nam. Khối các dân tộc tàn dư hoặc chịu ảnh hưởng của văn hoá Chăm ở miền Trung nước ta cho đến hiện nay vẫn còn chứa đậm nhiều nét bảo lưu của chế độ mẫu hệ. Việc phổ biến cán dao găm tượng nữ ở vùng Nghệ An, Thanh Hoá chứng tỏ chế độ mẫu hệ trong khoảng trước thế kỷ 3 sau Công nguyên còn rất phổ biến tại đây. Ngược lại, vùng phân bố của các tượng nam tập trung ở phía bắc, tức lưu vực sông Hồng (Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh…) phản ánh hiện tượng chế độ phụ hệ có thể đã xác lập phổ biến. Vùng sông Mã được coi như vùng đan xen với sự tồn tại cả hai loại hình với ưu thế trội thuộc về các tượng nữ. Gần đây có một số thông tin phát hiện tượng nam ở vùng Làng Vạc. Điều này, nếu đúng, cũng không lấn át được tính ngự trị của các tượng nữ ở vùng này.

2- Tượng đôi trên cán dao găm, một số phát hiện ngẫu nhiên

Trong khai quật khảo cổ học chính thức chúng ta chưa từng phát hiện được những tượng đôi trên cán dao găm. Tuy nhiên, trong một số trưng bày và công bố gần đây ở trong và ngoài nước, xuất hiện một số tượng đôi thể hiện trên cán dao găm Đông Sơn.

Nhóm nhiều tượng đôi nhất thuộc về sưu tập của Nguyễn Đại Dương trưng bày tại nhà hàng Trống Đông Sơn. Tôi đã có may mắn được nghiên cứu trực tiếp ba tượng đôi thuộc sưu tập này. Theo tôi, chỉ có chiếc dao găm có tượng hai người ngồi trên vai nhau là đáng chú ý. Chiếc dao găm này được người sưu tầm đầu tiên (Nguyễn Đại Dương là người mua lại về sau) cho biết có nguồn gốc Nghệ An (Làng Vạc ?) (hình).

IMG_0160Haiba1

Cụm tượng này thể hiện hai người công kênh nhau. Người ngồi trên mang rõ nét những đặc trưng quý tộc nữ. Kiểu đầu tóc bồng chải ngược như phần đầu không chỏm của tượng Núi Nưa hay tượng trên dao găm 2505-77 của Bảo tàng Barbier-Muller[4]. Trang trí trên toàn thân (tay và váy) phản ánh chiếc áo váy thêu in hoa văn. Trên cổ người ngồi trên đeo hai lần vòng chuỗi. Hai tai đeo hai vòng khuyên lớn. Thắt lưng quấn cao trên eo với dải thả búi thõng phía đằng sau. Phần đùi và chân đều có hoa văn trang trí kiểu trang trí trên váy. Hai chân để trần lộ rõ ngón thả thõng đến ngang đùi người bên dưới đước giữ bởi hai tay của người công kêng mình. Cánh tay người ngồi trên khuỳnh ra, phần bàn tay ôm lấy phần đỉnh đầu của người dưới. Mặt quý tộc nữ thể hiện theo kiểu mặt người Núi Nưa, tức khuôn mặt bầu hình trám với chiếc cằm nhọn. Khi bị gỉ dễ nhầm với chòm râu nhọn của đàn ông. Mắt khắc bằng hai đường viền như kiểu vòng tròn đồng tâm.

Tượng bên dưới đứng nhìn thẳng, phần đầu bị kẹp giữa đùi người ngồi trên nên không rõ kiểu đeo vòng và trang trí đầu. Hai tay giữ chặt chân người ngồi trên. Thắt lưng và váy được thể hiện rất rõ nét theo những đặc trưng phục trang nữ. Chân đi đất để lộ ngón.

IMG_3869doublew

Một tượng cán dao găm khác có nội dung tương tự được giới thiệu trong cuốn „Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“ do Monica Crick biên tập, xuất bản đầu năm nay ở Geneva (Thuỵ Sĩ)[5]. Theo tác giả, hiện vật này thuộc sưu tập của Phạm Lan Hương. Đó cũng là một cặp đôi nữ công kênh nhau trên vai cùng phong cách với tượng thuộc sưu tập nhà hàng Trống Đông Sơn ở Hà Nội. Dao găm có kiểu chuôi và lưỡi lá tre theo phong cách sông Mã. Trên bản lưỡi có khung trang trí thu theo khuôn hình lá lưỡi. Kiểu trang trí trên toàn thân với búi thắt lưng thả dài khiến chúng được xếp vào nhóm tưọng nữ, mặc dầu người phía dưới to lớn hơn dường như được khắc những nét vạch ở cằm thể hiện vành râu cằm ? Theo tôi người bên dưới cũng là nữ giới. Người ngồi trên có đai đầu và phía sau có một chiếc trâm cài hình chữ C nằm úp hai đầu soắn nhiều vòng. Trên lưng người này có những đường vạch chìm như thể hiện mớ tóc xoã của bức tượng. Mảng eo được thể hiện bằng ba vòng quấn thắt lưng. Dải thắt lưng có búi lớn thả ở phía sau thóng xuống ngang thắt lưng của người công kênh bên dưới. Tai trái người ngồi trên đeo một khuyên nhưng tai phải đeo chồng tời hai khuyên và dường như có cả một cụm chuỗi vòng nhỏ phía trên, như kiểu đeo tai ở tượng chiến binh nam mang đầu lâu trên lưng. Chân người này để trần lộ cả ngón đang quặp chặt vào eo người bên dưới và được giữ bởi hai tay người bên dưới. Trên phần chân từ đầu gối trở xuống của người ngồi trên có những đường trang trí hoa văn rất phổ biến của tượng nữ Làng Vạc, Núi Nưa. Đó là những vòng tròn đồng tâm tiếp tuyến song song đối xứng biến thể thành hai hình chữ S đối xứng gương như cách thể hiện trên quai thạp đồng vậy. Khuôn mặt người trên thể hiện nữ tính rất rõ với đôi mắt khắc chìm vành mi dưới cong hất lên tương ứng với cái miệng đang cười. Hai tay ôm lấy đầu người công kênh mình.

Tượng phía dưới đứng thẳng, hai tay nắm chặt cổ chân người ngồi trên. Mặt thể hiện nam tính với râu cằm, tai đeo vòng, nhưng phần trang phục lại thể hiện rõ nét nữ tính với thắt lưng thả búi và váy dài tận chân.

IMG_1252Haiba

Đáng nói nhất ở đây cụm tượng người, thú mang đậm phong cách Làng Vạc với sự thể hiện tập trung cặp tượng nữ sinh đôi ngồi song song trên lưng voi được đỡ bởi hai con thú lạ khác (Hình). Cụm tượng này được tạo thành cán cầm của một lưỡi kiếm ngắn thanh mảnh như một quyền trượng hơn là một vũ khí thực thụ. Chủ nhân lưỡi kiếm này cũng là bà Phạm Lan Hương. Báu vật này hiện đang trưng bày tại Galerie HIOCO, Paris[6]. Cán kiếm là một tác phẩm nghệ thuộc phức hợp chứa đựng nhiều tư duy của nghệ sĩ. Tư duy này phác thảo trên nền một phong cách nổi tiếng của nghệ thuật trang trí cán dao đồng Làng Vạc : Đôi hổ đỡ voi mang bành. Cuộc khai quật Làng Vạc của Viện Khảo cổ học trong những năm chiến tranh (1972-73) đã phát hiện in situ con dao găm đầu tiên như vậy[7]. Bảo tàng Barbier-Mueller cũng sở hữu một chiếc tương tự[8] (hình). Trên thanh kiếm ngắn của Hioco Galerie, phần thân cán cũng tạo bởi hai con thú có hình dáng gần giống với một con tôm khổng lồ. Phần miệng thể hiện hàm răng như cá sấu với hàm dưới lại như một cánh tay đỡ chân con voi. Lần này con voi được tạo hình đối xứng với hai đầu rõ rệt. Bốn trụ chân chính của voi được gắn liền với tay (hàm dưới) con thú (tôm hùm) bên dưới, trong khi hàm trên (hoặc mũi nhọn ở đỉnh mũi tôm, có mắt nổi giống mắt tôm hùm) gắn với vòi và cặp ngà voi. Khi nhìn chính diện mặt voi, hai cái tai vuốt nhọn trông rất giống hình tai trên khuyên hai đầu thú Sa Huỳnh. Tôi nghĩ rằng chúng có ảnh hưởng phong cách nghệ thuật khuyên tai hai đầu thú Sa Huỳnh. Khác biệt là ở sự thể hiện bành voi.

2505-26LVTiger

Ở các cán dao hổ đỡ voi Làng Vạc khác, phần bành voi thể hiện một bành ngồi có chân đỡ trông như một ngôi nhà sàn mái cong của Inđonesia. Trên thanh kiếm tôi đang nói tới, thay vào vị trí bành voi là tượng hai nữ quý tộc ngồi xổm ở tư thế hai tay ôm gối chắp trước ngực. Đầu gối hở ra và đôi chân để trần lộ ngón. Hai tượng giống nhau như hai chị em sinh đôi. Tượng thể hiện theo phong cách Núi Nưa (Thanh Hoá) với kiểu tóc hất bồng cao có thắt eo ở giữa. Mặt hình trám bầu, cằm nhọn. Mắt kiểu vành tròn đồng tâm có lông mày chấm rải, mũi vuốt nhô. Trên phần cổ và ngực có những vòng chuỗi nhiều tầng. Phía sau lưng gáy là một hốc lõm hình thang có hai vòng bán khuyên, vừa như thể hiện búi tóc, vừa dùng làm chỗ có thể đeo nhạc chuông. Hiện vật này đã được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm của công ty giám định cổ vật Ciram (Paris). Tôi may mắn có được 2 ngày trong cuối tháng Sáu năm nay nghiên cứu trực tiếp hiện vật và hiện có trong tay toàn bộ kết quả nghiên cứu thành phần hoá học, X-ray của báu vật này.

3- Tính biểu trưng và tính mô tả trong nghệ thuật tạo tượng cán dao găm Đông Sơn – hình tượng những nữ anh hùng Việt Nam sống vào cuối văn hoá Đông Sơn : Bà Trưng, Bà Triệu.

IMG_1280HaibaVoi

Từ lâu, tôi đã theo đuổi một ý nghĩ về tính biểu trưng (Symbolism) hay tính tả thực (Realism) của các nhân vật trên cán dao găm. Phân tích 30 cán dao găm hình người, thú Đông Sơn mà tôi hiện có tiêu bản studio có thể nhận thấy các nghệ nhân Đông Sơn đã có những ràng buộc mang tính quy chuẩn kỹ thuật, nghệ thuật khi chế tạo tượng cán dao găm : dáng đứng, kiểu đầu tóc, váy, khố, vòng trang sức, cách thể hiện hoa văn … và ở giai đoạn đầu, cán dao găm Đông Sơn mang tính biểu trưng quyền lực chung của thủ lĩnh nhiều hơn[9]. Tượng người được tạo ra mang tính đại diện chứ không nhằm mô tả một nhân vật cụ thể.

IMG_1186BaTrieu

Tuy nhiên vào khoảng cuối Đông Sơn (thế kỷ 1 tr.Cn – thế kỷ 3 sau Cn) xuất hiện những pho tượng chứa đựng „cá tính“ – mang rìu chiến, dao găm, đầu lâu người (hình). Phần chắn lưỡi cũng được trang trí thêm bởi những móc câu soắn tròn (hình) và đặc biết xuất hiện tượng quý tộc nữ được công kênh và tượng hai chị em sinh đôi nói trên[10]. Theo tôi, ba hiện vật giới thiệu ở trên có độ tin cậy cao mặc dù nó không nằm trong các cuộc khai quật khảo cổ học chuyên nghiệp.

IMG_3889daulaw

Chúng đều tôn vinh những quý tộc nữ khiến tôi liên tưởng đến sự thực lịch sử gắn liền với những nhân vật nữ anh hùng cụ thể xuất hiện trong khoảng cuối văn hoá Đông Sơn : Hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị đầu công nguyên (thời kỳ người Việt chưa mang họ như ngày nay) và sau đó là Bà Triệu (thế kỷ 2-3 sau Công nguyên, khi người Việt quý tộc bắt đầu mượn họ phương bắc – họ Triệu – vua Nam Việt).

DSC04329

Truyền thuyết đều gắn họ với voi chiến (ngựa chiến vào Việt Nam rất muộn và không thuộc truyền thống quân sự Việt). Và hình ảnh hai chị em quý tộc sinh đôi ngồi trên lưng voi hai đầu của chiếc kiếm nói trên hoàn toàn có thể gắn với tính tả thực về hiện tượng khởi nghĩa Hai Bà Trưng gây chấn động cả khu vực Đông Á đương thời. Những tượng nữ mang phong cách Núi Nưa đứng đơn cũng là sự tôn vinh những nữ thủ lĩnh anh hùng như vậy. Đặc biệt tượng nữ trên kiếm ngắn mang rìu chiến hiện trưng bày ở Galerie HIOCO (Paris) là một minh hoạ rất sinh động cho giả thuyết này (hình).

TS Nguyễn Việt – Trung Tâm Nghiên Cứu Tiền Sử Đông Nam Á


[1] Lê Văn Lan, 1974, Trang phục thời đại Hùng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, tập 2, Hà Nội, tr. Trịnh Sinh và Nguyễn Văn Huyên, 2002, Trang sức trong văn hoá Đông Sơn, Hà Nội. Phạm Minh Huyền, 1997, Tượng người trên cán dao găm Đông Sơn, trong Khảo cổ học, số… Hà Nội. Nguyễn Việt, 2004, Trang phục trong văn hoá Đông Sơn, trong Kỷ yếu Hội nghị 80 năm nghiên cứu Văn Hoá Đông Sơn, Thanh Hoá.

[2] Goloubew, V. ,1929, L’Âge du Bronze au Tonkin et dans le Nord-Annam, BEFEO, tom XXIX, Hanoi, fig.18C và Pl.XIX. Janse O., 1946, 1952, Archaeology in Indichina, Phụ bản ảnh, fig. 20.

[3] Một tượng đã được giới thiệu trong cuốn Văn hoá Đông Sơn, Hà Nội, 1994, chủ biên Hà Văn Tấn. Một tượng khác khai quật ở Hồ Nam năm 1974 ( xem Cheng Dong và Zhong Shao-yi , 1990, Ancien Chinese Weapons- Collection of Pictures, hình 4-188)

[4] Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“, ed. by Monica Crick, Collection Baur, Geneva 2008, Cataloge : Bronzes, 3.

[5] Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“, ed. by Monica Crick, Collection Baur, Geneva 2008, Cataloge : Bronzes, 2.

[6] Galerie Christophe HIOCO, 2008, Vietnamese Bronzes – The Symbolism of Emotion, Paris, tr. 20. No 4-Swort

[7] Hà Văn Tấn (ed.), 1994, Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội. Hình

[8] Arts de l’Antiques – Fluerons du musee de Barbier-Muller, ed. by Laurence Mattet, Paris, Geneva. Catalogue tr. 462.

[9] Dao găm xuất hiện trong văn hoá Đông Sơn vào khoảng thế kỷ 4-5 tr.Cn. Dao có cán tượng người đều thuộc loại hình sông Mã, tức ở phần chắn giữa lưỡi và đốc thường được đúc dài và thon nhọn ở hai đầu sau đó uốn cong soắn hình sừng trâu. Loại này có kiểu lưỡi hình lá tre mặt cắt thấu kính dẹt khác hẳn với loại dao găm ảnh hưởng phong cách Điền. Có ba loại đốc phổ biến : Ngang hình chữ T, hình củ hành hay củ tỏi (gallic) có hoặc không có trổ lỗ và hình tượng người, động vật. Sự xuất hiện của các loại tay cầm dao găm loại hình này không đồng đều. Những dao găm trong mộ Việt Khê đại diện cho nhóm sớm. Tại đây, chúng ta chưa thấy dấu hiệu nào của dao găm cán tượng người mà mới chỉ thấy những dao găm thuộc loại hình có đốc tay cầm đơn giản : “chữ T”, “củ hành”. Những dao găm khảo cổ học phát hiện ở Làng Vạc đều thuộc nhóm muộn (khoảng sau thế kỷ 2 tr.Cn). Bên cạnh sự tiếp tục phổ biến của hai dạng sớm bắt đầu xuất hiện dạng muộn với nhiều kiểu tượng người thú khác nhau. Những dao găm Đông Sơn cán tượng nam phát hiện ở Trung Quốc được xếp niên đại Chiến Quốc (thế kỷ 3-4 tr.Cn). Theo chúng tôi, có hai giai đoạn phát triển dao găm cán tượng người : giai đoạn sớm ở vào thế kỷ 2-4 tr.Cn là giai đoạn tạo tượng người mang tính công thức, biểu trưng và giai đoạn sau xuất hiện những tượng mang nét cá tính, mô tả. Những dao găm cán tượng người, thú phát hiện ở Làng Vạc thuộc giai đoạn phát triển sau.

[10] Trong sưu tập dao găm Đông Sơn của nhà hàng Trống Đông Sơn (Hà Nội) có một số tượng mang nội dung lạ. Tôi đã có dịp nghiên cứu studio những tượng đó, như tượng đôi nam nữ, tượng đôi “dâng rượu”, tượng người thổi sáo…nhận thấy nhiều điểm ngoài quy luật truyền thống của nghệ thuật và kỹ thuật Đông Sơn.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »