Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 2nd, 2009

Bảo tồn VH dân gian không phải là xây phòng trưng bày!
 
 
Việc trưng bày sưu tầm chỉ là một hình thức. Còn để lâu dài và bền vững thì phải làm cho cộng đồng đó nhận thức được hết những giá trị di sản người ta nắm giữ, để nâng niu gìn giữ và truyền lại cho con cháu… – TS Nguyễn Thị Minh Lý.Trong khi nhiều người dân đang nỗ lực truyền giữ giá trị văn hóa dân gian trong cộng đồng như ca trù làng Chanh Thôn, quan họ Đặng Xá… thì ở nhiều cấp quản lý, việc bảo tồn các giá trị vật thể là xây dựng một trung tâm, một phòng trưng bày; giá trị phi vật thể là gom các nghệ nhân vào các đội nghệ thuật trình diễn trên sân khấu, hội trường. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS Lê Thị Minh Lý, Phó cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, để được rõ hơn về vấn đề này.

photo
“Phòng trưng bày không thể làm thay việc lưu giữ những giá trị sống của cộng đồng”

Cách bảo tồn giá trị văn hóa dân gian ở các địa phương đang ở đâu?

– Đây cả là một câu chuyện dài. Nhưng có thể đánh giá chung, ở các địa phương hiện nay, việc bảo tồn có tiến bộ về cách tiếp cận cũng như hiệu quả. Họ đã bắt đầu làm tốt hơn.

Trong một cuộc hội thảo về bảo tồn quan họ Bắc Ninh, nguyên Giám đốc Sở VH-TT Bắc Ninh, Trần Đình Luyện cho rằng: Đã đến lúc cần phải thành lập một Trung tâm nghiên cứu bảo tồn quan họ để nghiên cứu, sưu tầm về không gian văn hoá quan họ một cách có hệ thống. Bà nhận xét gì về quan điểm này?

– Trên thực tế thì Bắc Ninh đã từng có một trung tâm văn hóa quan họ rồi. Vì vậy không nhất thiết phải thành lập thêm 1 trung tâm nữa. Và tôi càng nghĩ rằng không phải cứ có nhiều trung tâm nghĩa là công tác bảo tồn thực hiện được tốt hơn. Bảo tồn ở đây phải mang tính toàn xã hội, nó phải là người dân tự bảo tồn. Còn những trung tâm, viện nghiên cứu chỉ là những công cụ hỗ trợ. Bảo tồn không có nghĩa là đi sưu tầm và lưu giữ đơn thuần, mà phải giữ cái truyền thống đang sống trong đời sống của người dân. Tôi nhắc lại, không phải là có thêm trung tâm, phòng trưng bày nghĩa là công tác bảo tồn thực hiện tốt.

Việc lập các trung tâm sưu tầm, đưa các giá trị văn hóa vật thể vào nhà trưng bày, bảo tàng. Hoặc tập hợp các nghệ nhân (người lưu giữ giá trị phi vật thể) vào các đoàn nghệ thuật để trình diễn đang diễn ra phổ biến. Cách thức này đã hợp lý chưa?

– Đây cũng là 1 hình thức để phát huy những giá trị. Nhưng không thể làm thay việc lưu giữ những giá trị của người dân. Cũng còn tùy phương pháp mà phát huy hiệu quả ít hoặc nhiều. Những địa phương nghiên cứu kỹ lưỡng, tìm được những cộng đồng, những chủ thể văn hóa đích thực, và tạo những cơ hội để đưa những cộng đồng đó đến trình diễn tại bảo tàng thì thành công.Trình diễn ở quảng trường, bảo tàng có hai tác dụng. Một, cộng đồng thấy được giới thiệu, tôn vinh. Thứ hai, nó tạo điều kiện cho những đối tượng công chúng không có điều kiện xuống tận cộng đồng được tiếp cận với truyền thống văn hóa đó. Việc đó cũng làm tăng cường nhận thức về giá trị di sản văn hóa của toàn xã hội, góp phần bảo vệ các chủ thể văn hóa.

Nhưng nếu chỉ gìn giữ bằng cách trưng bày giới thiệu, mà tách di sản ra khỏi cộng đồng sẽ có những hệ lụy như thế nào?

– Việc trưng bày sưu tầm chỉ là một hình thức. Còn để lâu dài và bền vững thì phải làm cho cộng đồng đó nhận thức được hết những giá trị di sản người ta nắm giữ. Thấy được cái hay, cái đẹp, cái quý của di sản để trân trọng, nâng niu gìn giữ và truyền lại cho con cháu, cho những người trong cộng đồng đều thực hành, và nối tiếp từ đời này sang đời khác thì mới gọi là bảo tồn bền vững.

Vậy đối với những địa phương tiến hành bảo tồn mang tính cứng nhắc như trong bảo tàng, Cục Di sản có những biện pháp nào để khắc phục, điều chỉnh?

– Thực ra không phải cứng nhắc mà do chưa nhận thức hết được cách thức bảo tồn một cách hữu hiệu nên chỉ dừng lại ở sưu tầm và trưng bày. Như vậy họ cần phải đi xa hơn nữa, địa phương phải nối dài cánh tay của mình xuống cộng đồng, giúp cộng đồng bảo tồn các giá trị sống.

Để giữ gìn các giá trị sống trong cộng đồng, các địa phương cần những bước đi như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế vật chất hiện nay?

– Trước hết phải nhận diện ra đâu là những giá trị văn hóa có thể trở thành di sản. Bởi có rất nhiều truyền thống, rất nhiều biểu hiện văn hóa nhưng chỉ một phần nào đó mới trở thành di sản thôi.

Khi đã nhận thức được vấn đề đấy, thì phải có những biện pháp cụ thể. Thí dụ, nếu truyền thống bị mai một chút ít thì phải giúp người dân nhớ lại, phục hồi lại. Có thể truyền thống bị đứt quãng thì phải khôi phục lại cho hoàn chỉnh. Ngay sau đó, phải có hình thức hỗ trợ để hình thành những sinh hoạt cộng đồng để gắn kết và duy trì truyền thống. Xa hơn nữa, phải làm cho người dân khai thác những giá trị di sản đó để làm kinh tế như các nghề thủ công truyền thống.

Gắn kết kinh tế vào việc giữ gìn văn hóa dân gian có làm biến đổi đi giá trị nguyên gốc của văn hóa?

– Có biến đổi! Đặc biệt trong cơ chế thị trường thì đây là một mâu thuẫn. Một bên là mong muốn giữ nguyên gốc, một bên là xu thế phát triển và nhu cầu thị trường, nó sẽ làm cho các truyền thống bị sai lệch hoặc bị thương mại hóa.

Chính vì thế, chúng ta cần các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý. Các nhà nghiên cứu sẽ chỉ ra cho đâu là đúng, đâu là giá trị cần gìn giữ. Còn quản lý là hoạch định chính sách, có biện pháp về mặt chính quyền để tạo thế cân bằng, vừa bảo tồn vừa phát triển được.

  • Nguyễn Hữu Bắc (thực hiện)

Vietnamnet

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Bảo tồn tranh Đông Hồ bằng phòng trưng bày?
– Khu bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ rộng hơn 5.000 m2 vừa khánh thành tưởng chừng đem lại sức hồi sinh mới cho dòng tranh đang dần mai một. Nhưng công cuộc bảo tồn có phải chỉ là chuyện xây dựng một phòng trưng bày!Mừng vì đã có nơi để lưu giữ

w400xh268__229afa20311696b2fa48293b6a22e00f
Nhà bảo tồn tranh Đông Hồ

Ngày 25/7, cụ Nguyễn Đăng Chế, một trong những nghệ nhân hiếm hoi còn lại của làng Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh), đã khai trương Trung tâm giao lưu văn hóa dân gian tranh Đông Hồ. Ngoài ý nghĩa tôn vinh dòng tranh, trung tâm còn mong muốn là nơi tập trung đầy đủ nhất những cứ liệu lịch sử, sản phẩm hiện tại, quy trình sản xuất… của làng nghề danh tiếng.

Khu bảo tồn gồm 3 ngôi nhà xây theo lối cổ được cụ phân chia rất rành mạch. Phòng đầu tiên ghi dấu tất cả những chứng tích còn lại của dòng tranh. Cụ để trang trọng trong tủ kính hơn 100 bản khắc gỗ cổ có tuổi từ 60-100 năm do cha ông truyền lại, 6 bộ tranh cổ đã mất mất ván khắc trong đó quý giá nhất là bộ tranh Thạch Sanh ước chừng khoảng 100 năm. Ngoài ra còn khoảng hơn 170 đề tài tranh khác nhau, sưu tập gần như trọn vẹn những đề tài do các nghệ nhân sáng tạo trong suốt lịch sử của làng.

Kế bên là phòng trưng bày tất cả các sản phẩm hiện tại do gia đình cụ hiện đang sản xuất cùng với những sản phẩm vừa được phục chế. Trong không gian tràn ngập các khung tranh cũ mới, người xem phải thật tinh ý mới nhận diện được đâu là giá trị xưa cũ, đâu là xu hướng phát triển tranh mới.

Căn phòng còn lại rộng 250m2 là nơi bày bán tất cả các sản phẩm từ tranh, ván khắc dương bản, giấy dó… để phục vụ du khách. Điểm nhấn đặc biệt là những khu sản xuất xen kẽ từ lúc phết hồ điệp lên giấy dó, phơi giấy đến in bản nét, in màu.

Cụ Nguyễn Đăng Chế thừa nhận không thể duy trì trung tâm nếu không kết hợp giữa văn hóa-du lịch, kết hợp giữa trưng bày và bán sản phẩm. Điều vui mừng hơn cả là đã có được một nơi để lưu giữ những giá trị của cha ông bao đời. Hàng ngày cụ tự hào đón các lớp trẻ tới chiêm ngưỡng ngắm tranh, tự hào khi cuốn sổ cảm tưởng trăm trang chẳng mấy chốc mà đầy những suy nghĩ, trầm trồ của con cháu.

Nhưng lòng nghệ nhân vẫn còn những suy tư, trăn trở…

Giữ trong dân mới mong lâu bền

tranh Đông Hồ được bày bán trong nhà sách

tranh Đông Hồ được bày bán trong nhà sách

 

Cái nuối tiếc lớn nhất của cụ là cảnh nhộn nhịp xưa kia ở bến thuyền sông Đuống để mua tranh đi bán khắp nơi mỗi dịp Tết về. Giờ trong làng chỉ còn 3 nhà sản xuất tranh, phần lớn dân làng chuyển sang nghề làm hàng mã đang buổi ăn nên làm ra.

Cụ cũng chưa vui vì con cháu đến thăm khu trưng bày cũng chỉ để thỏa lòng hiếu kì về một loại tranh mà người ta hay nói, ngắm tranh gà lợn với mảng màu tươi sáng dường như cho vui con mắt. Cụ muốn ít ra người trẻ đến đây phải hiểu được ý nghĩa, mong ước giản dị người xưa muốn gửi gắm vào từng bức tranh. Người trẻ nên hiểu giá trị tranh Đông Hồ so với giá trị của dòng tranh dân gian khác như tranh Kim Hoàng (Hà Tây), tranh làng Sình (Huế). Còn biết được thêm được lịch sử làng nghề thì tốt hơn nữa.

Hôm khai trương trung tâm, các anh ở bên tỉnh có về. Các phòng, sở văn hóa có mặt đầy đủ, cụ lại được sở Khoa học Công nghệ tài trợ để mở hội thảo khoa học bàn về bảo tồn tranh. Bên tỉnh ủy, sở văn hóa rất ủng hộ cụ mở trung tâm, coi đây là một dấu mốc để bảo tồn. Nhưng cụ nghĩ: nếu có một phòng trưng bày để lưu giữ ván khắc, sản phẩm tranh thì anh chỉ giữ được phần xác mà không có phần hồn, nó không khác một bảo tàng lưu giữ hiện vật là mấy.

Cái gì của dân gian thì phải trả về trong dân thì nó mới thực sự sống. Cụ mong muốn tranh Đông Hồ trở lại trong nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của người dân. Giữ trong nếp sống của dân thì mới mong được lâu bền.

w400xh268__6b587b13858363fb82aed56139c4133a w400xh268__cb9abc53ee04a69457a0c9e5f8117a46
Các công đoạn in tranh Đông Hồ

Vietnamnet

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Cổ vật từ những dòng sông Nam bộ

– Ngày 10/12/2008, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM khai mạc một triển lãm khá độc đáo – Cổ vật từ các dòng sông Nam bộ.

Triển lãm trưng bày cả nghìn hiện vật được vớt lên từ hàng trăm địa điểm, cho thấy cổ vật dưới các dòng sông Nam bộ rất phong phú với nhiều loại chất liệu đá, gốm, đồng, vàng, bạc, gỗ…, xuất xứ từ nhiều nước như Việt Nam, Pháp, Tây Ban Nha, Mexico, Thái Lan, Trung Quốc…

Một em bé đi ngang qua khu triển lãm

Một em bé đi ngang qua khu triển lãm

Các cổ vật này thể hiện đời sống sinh hoạt ngày thường (đồ đựng, đồ mỹ nghệ, các loại thuyền bè…) cũng như tôn giáo và cả các trận chiến đấu, tiêu biểu như cọc nhà sàn tìm thấy ở sông Hậu, trống đồng loại II Heger tìm thấy tại sông Đồng Nai, tượng đồng địa tạng ngồi trên con đề thính ở sông Vàm Cỏ, khẩu thần công ở vàm Rạch Gầm – sông Tiền…

Cổ vật từ các dòng sông phản ánh khá chân thực những giai đoạn lịch sử Nam bộ từ đời thường đến các cuộc giao lưu kinh tế văn hóa, xung đột quân sự. Đặc biệt, điểm tương đồng giữa những cổ vật trục vớt từ lòng sông với các cổ vật khai quật trong lòng đất Nam bộ cho thấy, đến nay chỉ có Đồng Nai là con sông duy nhất ở miền Nam tìm thấy các công cụ bằng đá thời tiền sơ sử.

Những phát hiện khảo cổ học cho biết dấu vết xưa nhất của con người tại lưu vực sông Đồng Nai thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ cách nay hơn 1.800 năm (di tích Xuân Lộc) từ đó ra đời văn hóa Đồng Nai. Trong khi đó, dấu tích con người xưa nhất tại khu vực sông Sài Gòn, Vàm Cỏ có niên đại khoảng 3.000 – 3.500 năm (di tích Rạch Núi – Long An, Rỏng Bàng – TP.HCM), và tại khu vực sông Cửu Long, con người xuất hiện chỉ khoảng 2.300 năm (di tích Giồng Nổi – Bến Tre). Sau thời kỳ này là các giai đoạn văn hóa Phù Nam – Óc Eo, Thủy Chân Lạp…

Đời sống của người Nam bộ dù ở giai đoạn lịch sử nào cũng đều gắn bó mật thiết với sông nước. Họ chọn những giồng đất ven sông dựng nhà sàn để ở, dựng đền thờ tiến hành nghi lễ tôn giáo. Sông là đường giao thông trao đổi buôn bán hàng hóa và cũng là nơi diễn ra những trận thủy chiến nổi tiếng như trận Thất Kỳ Giang (sông Nhà Bè – TP.HCM) năm 1782 Nguyễn Huệ đánh tan thủy đội Nguyễn Ánh, trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, Nguyễn Huệ đánh 20 vạn quân Xiêm, trận Nhật Tảo (sông Vàm Cỏ – Long An) năm 1861 Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Pháp Esperancé.

Những cổ vật mà hậu thế tìm thấy hôm nay xuất phát từ nhiều nguồn: những đồ hư hỏng bị vứt bỏ, đồ quý giá sơ ý rơi xuống nước, đồ từ các tai nạn tàu bè, từ thiên tai, từ chiến tranh… Cán bộ Bảo tàng cho biết do dòng chảy của các con sông đưa đồ vật dịch chuyển xa nơi ban đầu nên việc xác định niên đại của chúng trở nên phức tạp. Môi trường nước với các điều kiện hóa lý, cơ học cũng tác động rất mạnh, nên cổ vật dưới các dòng sông đều sứt mẻ và không giữ được vẻ đẹp ban đầu của mình.

Triển lãm Cổ vật từ các dòng sông Nam bộ được tổ chức nhân kỷ niệm 310 năm khai phá miền đất Nam bộ (1698 – 2008) với sự phối hợp của 8 bảo tàng các tỉnh miền Nam và 12 nhà sưu tập tư nhân.

Hình ảnh các hiện vật trưng bày tại khu triển lãm, click trên hình để phóng lớn.

 

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Bảo tồn di sản: phải đúng luật và có tầm nhìn xa

Ông Dương Trung Quốc -Ảnh: N.Triều

Hôm 25/05/2009 tại ngày làm việc thứ ba của kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – thể thao & du lịch Hoàng Tuấn Anh, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, đã trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa.

Trao đổi với báo chí xung quanh vấn đề này, đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC – tổng thư ký Hội Sử học VN – cho biết: “Ðặc thù di sản của chúng ta hiện nay là di sản làng xã, di sản cấp quốc gia rất ít. Phần lớn di sản nguyên bản sử dụng các vật liệu có kết cấu không bền vững, nhất là gỗ. Mà gỗ thì khi hạ giải để trùng tu rất dễ bị làm hỏng, nhưng không hạ giải thì không thể sửa chữa được. Tuy nhiên, không phải là không có những nơi làm ẩu, tùy tiện”.

* Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa, giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội nói rằng một số địa phương do những động cơ khác nhau, đặc biệt là quyền lợi về đất đai, nên lập hồ sơ công nhận di sản văn hóa không đúng tiêu chuẩn, thậm chí không muốn lập để khỏi bị ràng buộc. Quan điểm của ông như thế nào?

– Ðúng là có tình trạng đó. Ví dụ như với vịnh Nha Trang, những người muốn xây dựng các cơ sở kinh tế trong không gian đó cho rằng việc bảo tồn làm ảnh hưởng lợi ích của họ. Nếu nhìn trước mắt thì thấy có nhiều dự án đầu tư vào chắc có lợi, nhưng về lâu dài nếu ta phá di tích đi sau này muốn khôi phục sẽ tốn kém rất nhiều, có khi không khôi phục được. Theo tôi, điều đó thể hiện phần nào tầm nhìn của các nhà lãnh đạo.

* Loạt bài trên Tuổi Trẻ cách đây hai tháng cũng phản ánh tình trạng một số nơi trùng tu di tích không chỉ phá hỏng giá trị cũ mà còn “đắp da đắp thịt” một cách tùy tiện, cơ quan chức năng thì trả lời không kiểm soát được. Theo ông, có cách nào để luật sau khi sửa đổi được thực thi tốt hơn?

– Rõ ràng có những cái hạn chế về luật, có những cái là lỗi ở khâu tổ chức thực hiện. Hơn nữa tôi muốn nói cả đến những chồng chéo về chức năng của các cơ quan, ví dụ giữa cơ quan quản lý nhà nước địa phương với cơ quan tôn giáo. Khắc phục điều này đòi hỏi phải có sự đồng thuận.

Tôi cũng muốn nhắc rằng phần lớn di sản của chúng ta là sinh thể, tức có sự phát triển chứ không phải phế tích. Trường hợp phế tích như tháp Chăm thì vấn đề chỉ đơn giản là giải pháp công nghệ thôi. Nhưng với các di tích dạng sinh thể, việc bảo tồn và phát triển là bài toán rất khó về vấn đề xã hội, nếu làm không tốt đôi khi nảy sinh sự phản cảm. Và như tôi đã nói trên, người làm công tác quản lý phải có tầm nhìn xa và quan trọng là phải làm đúng luật.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa xưa

Các sản phẩm gốm được trưng bày tại Triển lãm Gốm Biên Hòa

Các sản phẩm gốm được trưng bày tại Triển lãm Gốm Biên Hòa

Khoảng thời gian từ năm 1923 đến đầu những năm 1960 đánh dấu thời hoàng kim phát triển rực rỡ của gốm mỹ nghệ Biên Hòa. Gốm mỹ nghệ Biên Hòa khởi đầu từ trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hoà do ông Balick làm hiệu hay nói khác đi gốm Biên Hoà do ông bà Balick khai sinh ra và làm cho nó nổi tiếng trong và ngoài nước. Năm 1923, hai chuyên viên Pháp cũng là hai vợ chồng đặt chân đến Việt Nam. Ông Balick tốt nghiệp trường Mỹ thuật trang trí Paris và bà Mariette Balick, tốt nghiệp trường gốm Limoges. Ông làm hiệu trường trường Mỹ nghệ Biên Hoà (tiền thân của trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai) và bà phụ trách ban gốm. Chính bà Balick đã vạch ra cho ban gốm một hướng đi riêng rất vẻ vang. Đó là sản phẩm gốm trang trí nhiều màu, chạm khắc chi tiết các hoa văn đặc sắc, nhiều màu men lạ mắt tạo sắc thái riêng. Dùng nguyên liệu nội địa, chủ yếu là tro rơm, tro lò, cát Đà Nẵng, vôi Càn Long…làm men. Đất làm là đất chịu lửa cao khai thác ở Đất Cuốc (Tân Uyên), Chánh Lưu (Thủ Dầu Một)…Qua nhiều thử nghiệm, họ tìm ra loại men tro phù hợp gọi là men ta. Với mạt đồng thu được khi hoàn thiện đồ đồng, bà chế được màu xanh đồng “Vert de bienhoa” đẹp nổi tiếng thế giới không thua kém vert d’ islam trong kiến trúc đạo Hồi. Với đá ong Biên Hoà, bà chế ra men đá đỏ rất đẹp…Men tro cao độ (1280) đốt bằng củi tạo ra hoả biến rất đẹp.Trang trí hoa văn độc đáo của gốm Biên Hòa

Gốm Biên Hòa nổi tiếng với màu men xanh đồng trổ hoa

Năm 1950 ông bà Balick về nước, thời gian này HTX mĩ nghệ tách ra khỏi trường, trở thành đơn vị độc lập tự thu, tự chi. Những năm 1950, một số thợ của HTX có nhà cửa ở Tân Vạn cùng với một số địa phương hình thành “xưởng” nhỏ tại nhà. Năm 1958, ông Nguyễn Thành Lễ (Bình Dương) mở thêm xưởng gốm Thành Lễ ngoài xưởng sơn mài. Ông mời nhóm thợ của HTX mĩ nghệ Biên Hoà sang làm cố vấn, làm đầu đàn cho xưởng gốm để sản xuất gốm mĩ nghệ xuất khẩu. Cũng tương tự như gốm Biên Hoà các năm 30, ông không sản xuất ồ ạt, chất lượng được đặt lên hàng đầu, do đó giá thành cao nhưng vẫn được khách hàng nước ngoài đặt hàng. Năm 1960, các chuyên gia Nhật Bản đến làm cố vấn về gốm cho trường Mỹ nghệ Biên Hoà, họ đưa ra kĩ thuật “rót khuôn”, nhờ kĩ thuật này mới sản xuất hàng loạt, về số lượng kĩ thuật này hơn hẳn xoay và in.Kỹ thuật chế tác gốm

Sự ra đời của gốm mỹ nghệ Biên Hòa là một bước ngoặt quan trọng. Từ kinh nghiệm làm gốm cổ truyền đến nghiên cứu phát hiện của ông bà Balick và kỹ thuật làm gốm hiện đại đã tạo nên dòng sản phẩm độc đáo của gốm Biên Hòa nổi tiếng trong và ngoài nước. Từ trường Mỹ nghệ Biên Hòa đến trường Cao đẳng Trang trí Mỹ thuật ngày nay đã trở thành cái nôi nuôi dưỡng nhiều thế hệ nghệ nhân nổi tiếng như Nguyễn Văn Hai, Lê Văn Mậu, Huỳnh Văn Thọ… góp phần làm đẹp cuộc đời bằng vô số sản phẩm gốm.
MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Nghệ thuật tạo hình tượng Phật trong gốm mỹ nghệ Biên Hòa

Nghệ thuật tạo hình tượng Phật trong gốm mỹ nghệ Biên Hòa

Ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XX, gốm Biên Hòa  ngoài kỹ thuật chế tác  gốm địa phương còn tiếp thu kỹ thuật từ gốm Cây Mai (Sài Gòn), tạo nên một dòng gốm đặc sắc với nhiều làng gốm nổi tiếng thời bấy giờ. Giai đoạn phát triển rực rỡ của gốm mỹ nghệ Biên Hòa từ năm 1923 đến đầu những năm 1960.

 

Năm 1903, Trường Mỹ nghệ Biên Hòa được thành lập (ngày nay là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai), gốm Biên Hòa bước vào giai đoạn phát triển mới với việc tiếp thu kỹ thuật tạo gốm của phương Tây. Ban đầu gốm Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng men phương Tây tráng lên gốm phương Đông không phù hợp nên bà Marie Balick (phụ trách ban Gốm, Trường Mỹ nghệ Biên Hòa) đã lập nhóm nghiên cứu men mới, chỉ dùng nguyên liệu trong nước như: đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rơm, tro củi, tro trấu và thủy tinh, dùng kim loại mạt đồng, đá đỏ (đá ong Biên Hòa) và bột màu Cobalt để tạo màu lên men, làm nên màu men độc nhất của gốm Biên Hòa, men xanh đồng của Biên Hòa (Vert de Bien Hoa). Ngoài ra, gốm Biên Hòa còn sử dụng màu đá đỏ, màu trắng rất được ưa chuộng. Đất làm gốm được lấy từ Sông Bé (Bình Phước) đem làm nhão hay hóa lỏng rồi in lên khuôn thạch cao, tuy nhiên kỹ thuật rót khuôn lúc bấy giờ còn hạn chế.

gomienhoa-3.jpg

gombienhoa-6.jpg

gombienhoa-2.jpg

Tranh gốm đề tài Quan Âm

gombienhoa-9.jpg

Quan Âm Tara

Đến năm 1960, kỹ thuật rót khuôn mới được phổ biến khi các chuyên gia Nhật Bản đến tư vấn cho Trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Sản phẩm gốm Biên Hòa được nung ở nhiệt độ khoảng 1.3000C. Đặc trưng chính của gốm Biên Hòa là trang trí theo kiểu chạm khắc chìm phối hợp men màu, tráng men dày kể cả phông nền. Đây là điểm ưu thế để gốm Biên Hòa nhanh chóng khẳng định phong cách độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt. Các sản phẩm gốm Biên Hòa cũng rất phong phú về kiểu dáng, đa dạng về chủng loại, song chủ yếu tập trung làm gốm mỹ nghệ. Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất đó là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới Chân-Thiện-Mỹ.

gombienhoa-4.jpg

Quán Âm Tự Tại

gombienhoa-8.jpg

Quan Âm thủ quyển

Bằng phương thức khai thác đề tài văn hóa truyền thống dân tộc nên mỹ thuật Phật giáo có ảnh hưởng không nhỏ trên sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa. Trong đó, tượng Phật, Bồ tát, La hán… đã được các nghệ nhân gốm Biên Hòa chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả ngưỡng vọng và tâm hồn hướng đến cái đẹp, cái thiện. Những mẫu tượng thường thấy trong gốm Biên Hòa như Phật Thích Ca Mâu Ni với nhiều kiểu dáng nhập định, trì bình, cảm hóa rắn Naga, cầm bình bát, cầm bạch ngọc… Một số kiểu tượng Đạt Ma Tổ sư cũng được khai thác rất phong phú. Đặc biệt là tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Có thể nói, trong các sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa thì tượng và tranh gốm về Bồ tát Quán Thế Âm chiếm đa số.
gombienhoa-10.jpg

gombienhoa-5.jpg

gombienhoa-7.jpg

Quan Âm hoa dây

Trong đó, mức độ tạo hình cũng hết sức sống động và gần gũi với đời thường, như tượng Quan Âm thủ quyển với dáng ngồi bán già, tay cầm cuốn sách. Quan Âm đề lam đơn giản trong hòa sắc và nghệ thuật tạo hình nhưng lại rất gần gũi với đời thường trong kiểu ngồi suy tư như thể đang nghĩ ngợi về nỗi thống khổ của cuộc đời. Tượng Quan Âm sổ châu, Quan Âm Tara là hai hình thể được tạo tác bởi sự kết hợp giữa các dòng văn hóa Việt – Chăm và Khmer thể hiện tính đa dân tộc hết sức phong phú. Tượng Quan Âm tự tại, Quan Âm nhập định và Quan Âm hoa dây là một trong những mẫu tượng tiêu biểu trong nghệ thuật tạo hình của gốm mỹ nghệ Biên Hòa, với chất men đồng đặc trưng của gốm Biên Hòa đã phần nào làm cho các pho tượng thêm vẻ uy nghi, sự hòa sắc hết sức tinh tế với nét khắc nổi các hoa văn trên tượng cũng khá sắc sảo và tỉ mỉ… Ngoài ra còn có các bức tranh gốm về đề tài Quan Âm cũng khá phong phú, thể hiện tính nhập thế của Phật giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
gombienhoa-12.jpg
gombienhoa-11.jpg
gombienhoa-13.jpg

Cùng với gốm Cây Mai (Sài Gòn) và gốm Lái Thiêu (Bình Dương), gốm Biên Hòa đã tạo thành dòng gốm mang phong cách Nam Bộ, đánh dấu một giai đoạn phát triển lịch sử của nghệ thuật gốm tại miền Nam trong thời cận và hiện đại. Các sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa mang đề tài Phật giáo hiện còn lưu giữ đến ngày nay cho thấy tư tưởng Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống cộng đồng các cư dân Nam Bộ xưa. Đây cũng là một minh chứng hùng hồn về lịch sử du nhập và phát triển văn hóa Phật giáo Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ. Ngày nay, gốm Biên Hòa với nghĩa hẹp là sản phẩm của Trường Mỹ nghệ Biên Hòa không còn chế tác, sản phẩm gốm Biên Hòa đã trở thành “của hiếm” thì các pho tượng, bức tranh gốm đề tài Phật giáo đều trở nên có giá trị. Bởi lẽ các tác phẩm ấy được kết tinh bởi đôi tay khéo léo với tâm hồn của những người thợ vô danh xưa, mới lưu lại cho nhân loại nói chung và mỹ thuật Phật giáo nói riêng một sức sống vĩnh hằng…

Báo giác ngộ

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phật tượng gốm sứ ở Nam bộ

Phật tượng gốm sứ ở Nam bộ

1. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, trong đợt khảo sát các ngôi cổ tự, tôi đã thỉnh được một Phật tượng bằng đất nung, cao chừng 30 phân, gãy mất bàn tay phải, đã được “cất giấu” dưới hầm bệ thờ ở chùa Hội Sơn (Q.9, TP.Hồ Chí Minh). Hồi đó, thỉnh các tượng thờ gãy sứt là cốt để đem về nhà sửa chữa, đắp nặn lại cho lành lặn để chưng và cũng có cái để ngày nay nghiên cứu đặng… xóa dốt dần về nghệ thuật tạo hình.


Pho tượng gốm đất nung này được tạo tác theo “Tăng hình” hơn là “Phật hình”; riêng cái mũ thì hao hao cái mũ tỳ lư thường thấy ở tượng Địa Tạng Bồ tát. Hỏi, thầy trụ trì bảo đó là tượng “Phật trì chú”. Hỏi xuất xứ, thầy đáp: Một vị sư đời trước tự nặn bằng đất sét và gởi nung ở lò gạch gần chùa… xưa lắm rồi ! Đây là Phật tượng đầu tiên gợi lên trong tôi mối quan tâm về loại tượng làm bằng chất liệu đất nung và cho đến  nay, đối chiếu với nhiều dữ liệu, tôi xác tín rằng đây là Phật tượng gốm cổ xưa, có thể ra đời sau khi Tổ Khánh Long khai sơn tạo tự để tu hành (1), tức khoảng thế kỷ XVII, XVIII. Phật tượng này thực ra là thuộc loại “tượng Phật mục đồng”, hiểu là loại Phật tượng dân gian. Có điều khác biệt là hầu hết “tượng Phật mục đồng” nặn bằng đất sét, còn tượng này đem nung chín thành loại “ngõa khí”.

gomxu-1.gif

Phật trì chú (gốm đất nung đặc-Chùa Hội Sơn)

2. Đến những năm 1990, duyên may trong đợt đi thực tế thu thập tư liệu viết Địa chí tỉnh Đồng Nai, tôi đến một ngôi chùa, ở đó toàn bộ Phật tượng, trên dưới 100 pho, đều làm bằng đất nung thếp vàng và sơn màu tuyệt đẹp. Đó là chùa Hóc Ông Che (Hiển Lâm tự) ở Hóa An (Biên Hòa) do Hòa thượng Huệ Lâm (1887 – 1945) khai tạo hồi đầu thế kỷ XX. Tên gọi là Hiển Lâm tự nhưng ở đây là một quần thể nhiều cơ sở tín ngưỡng: chùa, miếu, am…

gomxu-2.gif

Địa Tạng bồ tát ( gốm đất nung sơn màu)

Ai vô chùa Hóc thì vô

Đừng quên (miếu) Chư vị, am Cô, đảnh Bà

(Ca dao địa phương)

Hầu hết các Phật tượng ở đây, theo kết quả điều tra hồi cố, đều do sư Điền (pháp danh Lệ Hạnh – Thiện Viên / 1893-1972) và các ông Bùi Văn Cần (chuyên làm đồ mã, học nghề làm gốm từ người anh rể  – người Hẹ), Bùi Văn Bồi (thợ chụm lò gốm chuyên nghiệp) tạo tác. Họ lấy đất sét nguyên liệu của lò lu Trần Lâm (Tân Vạn) đem về chùa làm tượng và nung tại chỗ bằng trấu. Cũng phải nói thêm rằng ông sư Điền có một “người thầy” nữa, vốn là huynh đệ của ông, là sư Thiện Hóa (1854-1944) – tác giả các Phật tượng làm bằng hợp chất ở chùa Châu Thới.

gomxu-5.gif

Bồ Đề Đạt ma ( gốm Cây Mai-chùa Phụng Sơn)

Có lẽ, đội ngũ nhóm những người làm tượng gốm đất nung năng nổ và đông đảo hơn, bởi loại tượng gốm đất nung này có số lượng nhiều và thấy ở nhiều ngôi chùa Đồng Nai, Dĩ An, Thủ Đức, xuống tận Bà Rịa-Vũng Tàu; lại thấy ở các chùa nội thành TP.Hồ Chí Minh, xuống tận Trà Ôn, Chợ Mới – cù lao Giêng (An Giang) (2).

gomxu3-a.gif

gomxu-7.gif

Giám trai (gốm cây Mai-Chùa Giác Viên)

Nói chung, loại tượng gốm đất nung nhẹ lửa (hầm non độ 6000C – 7000C) này chủ vào kỹ pháp dựng cốt và cắt dán. Tùy theo tư thế (ngồi, đứng, tọa thú) mà dựng cốt khác nhau để lấy đó làm giá đỡ cho việc cắt các lát đất theo kiểu cắt giấy dán làm đồ mã. Chính khâu cắt dán này đã tạo nên các dạng thức ngoại hình đa dạng và sinh động. Lại nữa, người tạo tác còn dùng khuôn âm bản để tạo nên các đồ án hoa văn trang trí trên lát đất trước khi dán, tạo nên những họa tiết trang trí đa dạng: tường vân, hồi ba, ngọc châu…

gomxu-8.gif

Phật Tổ (Gốm Biên Hòa)
 
gomxu9.gif
Tara trắng (gốm Biên Hòa)

Hiển nhiên là tập hợp Phật tượng gốm đất nung này là một tập thành phong phú về số lượng lẫn đề tài và kiểu thức mỹ thuật. Chính vì vậy, chúng đã góp phần của nó vào kho tàng mỹ thuật Phật giáo, mỹ thuật vùng đất mới nói chung.

3. Xét về mặt kỹ pháp dựng hình và trang trí, chúng ta dễ nhận ra ảnh hưởng của gốm Cây Mai (Sài Gòn xưa / tức Chợ Lớn sau này) – đặc biệt là kỹ thuật cắt dán và in khuôn các bộ phận rời. Tượng gốm Cây Mai chủ yếu là các sản phẩm sành cứng (nung ở nhiệt độ cao) có tô vẽ men màu (chiếm tỷ trọng lớn là xanh lục và lam cô ban), song cũng có một số tượng thờ đất nung sơn màu (như bộ Thập điện Minh vương ở chùa Phước Lưu / Trảng Bàng, các tượng thần ở chùa Từ Quang / quận 8, chùa Giải Bệnh ở Phú Lâm…). Nói cách khác, loại tượng gốm đất nung nói trên có nguồn gốc trực tiếp từ loại tượng đất nung Cây Mai này. Chúng ra đời đáp ứng nhu cầu thờ tự của các chùa làng, bởi giá thành rẻ hơn loại tượng sành cứng men màu sản xuất tại các lò gốm chuyên nghiệp.

gomxu10.gif

La Hán phục hổ ( gốm Lái Thiêu)

Gốm Cây Mai, theo các tài liệu thư tịch, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tập trung ở vùng đất quanh chùa Cây Mai – một cổ tự danh tiếng của đất Gia Định – mà đến nay, dấu tích còn lại là địa danh rạch Lò Gốm, đường Lò Siêu, Xóm Đất… và sau đó lan tỏa lên Trường Thọ (Thủ Đức), Lái Thiêu, Biên Hòa.

Phật tượng gốm Cây Mai có niên đại chính xác là tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên với câu chữ đắp nổi trên bệ tượng: “Đề Ngạn / Nam Hưng Xương điếm tố / Canh Thìn niên …” (Năm Canh Thìn là năm 1880; Đề Ngạn là Sài Gòn ngày xưa / nay là Chợ Lớn). Đây là pho tượng có giá trị lịch sử lẫn giá trị tạo hình.

gomxu-11.gif

Phật chuyền pháp luân (gốm Lái Thiêu)

Cho đến nay, Phật tượng gốm Cây Mai còn tồn tại không nhiều, nhưng hầu như tất thảy đều là những pho tượng đẹp, được tạo tác công kỹ. Đáng kể là tượng Bồ Đề Đạt Ma (chùa Phụng Sơn, quận 11, TP. HCM), tượng Chuẩn Đề cỡi Khổng Tước (chùa Giác Sanh, quận 11, TP.HCM), tượng Tiêu Diện Đại Sĩ (chùa Phụng Sơn quận 11, và chùa Bảo An quận Bình Thạnh, TP.HCM), đặc biệt là bộ tượng Di Đà tam tôn kích cỡ to lớn ở chùa Phước Lưu (Trảng Bàng), do lò Bửu Nguyên tạo tác vào năm Ất Tỵ (1905) đáng được coi là vô giá.

Nói chung, gốm Cây Mai không tạo tác Phật tượng nhiều như các loại tượng thần, các quần thể tiểu tượng trang trí ở các đình, miếu, chùa Hoa; song khởi đi từ đó, Phật tượng gốm đất nung lại phát triển mạnh mẽ.

4. Gốm Cây Mai bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 1920-1940 do tốc độ đô thị hóa, nguồn đất nguyên liệu và củi đốt tại chỗ cạn kiệt nên dời dần về Trường Thọ (Thủ Đức), Lái Thiêu và Biên Hòa.

Ở Lái Thiêu và Biên Hòa, dòng gốm Cây Mai phát triển một thời gian; nhưng sau đó, theo một thỏa thuận giữa các chủ lò gốm, hai nơi này không sản xuất các mặt hàng gốm Cây Mai nữa (3 ). Có lẽ do thỏa thuận này mà ở khu vực ngoại vi Lái Thiêu và Biên Hòa: Bửu Long – Tân Vạn – Hóa An – Dĩ An – Thủ Đức… đã phát triển mạnh mẽ loại tượng gốm đất nung bán chuyên nghiệp, mang tính chất phiên bản của gốm Cây Mai nói trên. Mặt khác, cùng với sự phát triển các dòng sản phẩm gốm đặc thù, gốm Lái Thiêu và gốm mỹ nghệ Biên Hòa cũng đã cho ra đời các loại Phật tượng riêng.

Gốm Lái Thiêu, trong suốt hơn 150 năm qua, chủ vào sản xuất sản phẩm gia dụng, sản phẩm gốm mỹ nghệ chiếm tỷ trọng nhỏ: đôn, đôn voi, tiểu tượng. Theo đó, Phật tượng gốm trước đây là tượng nhỏ, cao chừng 15 – 30cm, để cung ứng cho việc thờ tự trong gia đình Phật tử, phổ biến là tượng Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật Bà Quan Âm, La hán phục hổ… (Trong một hai thập kỷ gần đây mới sản xuất tượng La hán đủ bộ, các loại tượng Phật kích cỡ lớn, cao 70 – 90cm). Nói chung, đa phần Phật tượng gốm Lái Thiêu được tạo tác bằng kỹ thuật khuôn rót nên ngoại hình, đường nét, y trang không mấy sắc sảo, rõ nét, ít dụng công tỉ mỉ như tượng gốm của Trường Mỹ nghệ Biên Hòa.

Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa, thoạt đầu được gọi là “Trường Bá nghệ” được thành lập vào năm 1902 và năm 1906 tuyển sinh ban Gốm. Tuy nhiên, từ những năm 1920 về sau thì sản phẩm gốm của các thế hệ thầy trò trường này mới xác lập được sản phẩm gốm đặc thù, được thế nhân gọi là “Gốm mỹ nghệ Biên Hòa”: trang trí nhiều màu (nổi tiếng là men xanh đồng / vert Biên Hòa và men lam Hồi / vert Islam), chạm khắc chìm và chấm men màu trong từng ô theo kiểu đồ pháp lam (cloisonné). Tuy có kế thừa những thành tựu của kỹ thuật chế tác, sản phẩm, lò nung và men… của gốm Cây Mai, nhưng sản phẩm gốm “Mỹ nghệ Biên Hòa” đã được nâng cao và công nghệ hóa ở những khâu cơ bản nên chất lượng và vẻ đẹp khác các loại gốm bản xứ truyền thống.

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa sản xuất đủ các chủng loại sản phẩm. Riêng về tượng cũng khá phong phú, bao gồm tiếu tượng, tượng người, tượng thần, Phật. Riêng về Phật tượng, gốm mỹ nghệ Biên Hòa chủ yếu dựa vào các mẫu tượng cổ nổi tiếng của Tây Tạng, Trung Quốc, Campuchia… cả tượng tròn lẫn phù điêu: Phật đắc đạo, Phật nhập Niết bàn, Phật ngồi trên rắn chín đầu, Quan Âm (Quan Âm ngư lam, Quan Âm tọa nham, Tara trắng?)… Danh mục Phật tượng Biên Hòa hết sức phong phú, đó là chưa kể đến Phật tượng đúc bằng chất liệu bột đá (đá nhân tạo)…

Nhìn chung, khởi đi từ tượng gốm đất nung tự tạo, các dòng phái gốm sứ đã tạo tác nên một tập thành Phật tượng phong phú cả về số lượng, kiểu dáng và phong cách mỹ thuật. Đó là chưa kể đến tập hợp Phật tượng được tạo tác bằng gốm đen (hắc đào) ở An Giang vào những năm 1980.

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

(1) Xem Gia Định thành thông chí (biên soạn hồi đầu thế kỷ XIX). Bản dịch Tu trai Nguyễn Tạo, S, 1972. (2) Kể ra một số ngôi chùa: Bảo An (An Hòa, Long Thành, Đồng Nai), Bửu Sơn (Tân Bình, Thuận An, Sông Bé), Châu Thới (Thuận An, Sông Bé), Chúc Thọ / Thủ Huồng (Cù lao Phố), Diệu Giác (Bình Thạnh, TP.HCM), Hoàng Ân (Cù lao Phố), Hiển Lâm (Hóa An, Biên Hòa), Long Ẩn (Bửu Long, Biên Hòa), Long Hòa (Chơn Tiên, Bà Rịa-Vũng Tàu), Long Thiền (Bình Nghị, Gò Công Đông), Phước Hậu (Trà Ôn, Vĩnh Long), Tân Sơn (Bửu Hòa, Biên Hòa), Tân Quang (Hóa An, Biên Hòa), Thanh Long (Biên Hòa), Thanh Lương (Bửu Hòa, Biên Hòa), Thiên Long (TP.Biên Hòa), Trường Thọ (Gò Vấp, TP.HCM) (3) – Monographie de la province Thudaumot. B.S.E.I, 1910, p23-24. – Monographie de la province Biên Hoa. Pub. De S.E.I. Saigon, 1901, p. 43 – 44 – M. Robert: Monographie de la province Biên Hoa. Imp du Centre / Loui Minh, Saigon, 1924, p 119

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN




Read Full Post »