Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm, 2009

Hiệu đề thường dùng trên đồ gốm sứ thời Khang Hy

( Áp dụng cho tất cả các loại gốm sứ bao gồm cả đồ sứ men lam – blue and white )

Ba tranh chân dung Hoàng Đế Khang Hy - Thanh

Ba tranh chân dung Hoàng Đế Khang Hy - Thanh

Tại vị 7 tháng 2, 1661 – 20 tháng 12, 1722

Tiền nhiệm Thuận Trị Đế

Kế nhiệm Ung Chính Đế

Vợ 4 hoàng hậu và 1200 phi tần

Hậu duệ

37 người, bao gồm 25 nam và 12 nữ

Tên đầy đủ

Ái Tân Giác La Huyền Điệp

Niên hiệu

Khang Hi

Thụy hiệu Nhân Hoàng đế

Hoàng tộc Nhà Thanh

Thân phụ Thuận Trị Đế

Sinh 4 tháng 5, 1654

Mất 20 tháng 12, 1722 tại Bắc Kinh, Trung Quốc

Đại Thanh Khang Hy niên chế theo 2 cách viết thường và kiểu triện.

"Đại Thanh Khang Hy niên chế" theo 2 cách viết thường và kiểu triện.

Bên trái là lối viết chữ thường Kaishu ; Bên phải là lối viết theo kiểu chữ triện Zhuanshu mà theo Gotheborg.com cho biết có thể khẳng định không thể hiện diện trên đồ gốm sứ thật sự sản xuất dưới thời Khang Hy. Sir Harry Garner đã có ý kiến cho rằng hiệu đề Khang Hy có thể phân thành ba nhóm theo trình tự thời gian dựa vào sự khác biệt cơ bản trong cách viết tiếng Hán:Thới kỳ đầu: với nét chữ lớn (bold)Thời kỳ giửa: các hiệu đề được viết tự do, (rather loose)Thời kỳ cuối: Chữ viết chính xác, chặc chẻ với cở chữ khá nhỏ lối viết ít tự do hơn hai nhóm khác. Đặc biệt thường thấy ở những đồ vật kích thước nhỏ và chất lượng thượng hạng ví dụ như ở các đồ thuộc dòng men màu mận ‘peach bloom”. Suốt thế kỷ 18 các loại hiệu đề Khang Hy trên đồ gốm sứ dường như chưa bị sao chép. Một lý do khã dĩ giải thích có thể là  cả hai triều đại Ung Chính và Càn Long đã bận bịu trong việc quan tâm về hình ảnh của thời đại riêng của họ và thấy rằng các thiết kế gốm sứ riêng của mình nổi trội hơn những thời kỳ trước.Trong thời kỳ đầu của Hoang Đế Khang Hy sáu văn tự hiệu đề nhà Minh của thời kỳ Hoàng Đế Thành Hóa (Chenghua)  cũng được tìm thấy và đôi khi là Jiajing, nhưng càng về cuối triều đại Khang Hy hiệu đề KH 6 văn tự kiểu Kaishu  là thường được dùng nhất. Các hiệu đề gốm sứ thời Khang Hy thật sự nên là loại có sáu văn tự. Các hiệu đề “Khang Hy niên chế” duy nhất là hiệu đề thật là loại được viết bên trong khung vuông đôi và được độc quyền dùng trang trí trên các vật dụng cung đình, loại đồ sứ ngự dụng cao cấp nhất. Tất cả các hiệu đề Khang Hy bốn chữ không có viền bao đều được làm từ/trong khoảng thời kỳ Quang Tự (1875 – 1908)  vào lúc ấy bốn văn tự kiểu Kaishu được dùng rộng rải nhất.

Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.

Hiệu đề Khang Hy nhưng không phải trên gốm sứ ngự dụng - non-imperial wares

Dưới đây là các hiệu đề thời Khang Hy phần lớn là dân dụng khác do Vermeer and Griggs đề nghị: (click  trên hình để phóng lớn)

KhanhHoaThuyNga (dịch và biên soạn)

Bài viết liên quan:

Đề hiệu (reign marks) trên đồ gốm sứ thời Ung Chính nhà Thanh

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

CHUYỆN DÀI BẢO TÀNG MỸ THUẬT Ở VIỆT NAM, CÒN DÀI…(*)

Nguyên Hưng


Bảo tàng mỹ thuật, ở đâu, cũng được hiểu là không gian lưu trữ những giá trị tiêu biểu và mang tính điển phạm (canon) của một nền nghệ thuật, một giai đoạn nghệ thuật, một vùng đất nghệ thuật, một trào lưu nghệ thuật, hay, của một nghệ sĩ v.v…


Trong ý nghĩa đó, bảo tàng mỹ thuật-cho dù là bảo tàng tư nhân, bảo tàng chỉ về một nghệ sĩ…-bao giờ cũng được hiểu thêm, là không gian lưu trữ những mối đồng cảm chung, những niềm tự hào chung, những bài học chung, và, những niềm khích lệ chung v.v… của, không chỉ một nền nghệ thuật, một đất nước, mà rộng hơn, thậm chí của con người nói chung, xuyên qua mọi thời đại…


Trong cách hiểu như vậy, việc xây dựng và mở cửa các bảo tàng mỹ thuật, không phải chỉ là để lôi kéo du khách, phục vụ giới nghiên cứu…, mà còn là một trong những hoạt động không thể thiếu của một thể chế văn hóa-giáo dục. Người ta đến bảo tàng mỹ thuật, là lặn sâu vào thế giới tâm hồn của của một cộng đồng, một con người, là bước vào thế giới sinh động của những khám phá, những trãi nghiệm và đối thoại… Bảo tàng mỹ thuật trở thành một không gian chiêm nghiệm, nơi người ta có thể nhận thấy cuộc sống con người thực ra phong phú hơn, quí giá hơn…, và, lớn lên…


Những người quản lý bảo tàng mỹ thuật, do đó, luôn luôn, phải là những chuyên gia. Đặc biệt là những người làm nên “phần hồn”-những người làm công việc sưu tầm, chọn lọc tác phẩm, những người làm công việc hệ thống hóa và trưng bày tác phẩm, những người làm công việc truyền thông và tổ chức sự kiện nhằm sinh động hóa hay nhằm gia tăng giá trị hoạt động bảo tàng v.v…


Các bảo tàng mỹ thuật ở Việt Nam, cho đến nay, có rất ít dấu hiệu về sự có mặt của các loại chuyên gia như thế. Tại ngân sách dành cho các bảo tàng quá eo hẹp chăng? Tại cơ chế còn có quá nhiều trói buộc chăng? Hay tại sự yếu kém của các thành phần “chuyên gia” đang làm việc? Hay tại sự bất cập của các nhà quản lý ở ngay các bảo tàng, thậm chí là ở ngay cấp chính phủ?… Hình như tất cả các câu hỏi nêu ra ở đây đều không thừa. Hình như tất cả đang là một mớ bòng bong cứ chèo kéo kìm hãm lẫn nhau…


Cho đến nay, đã có nhiều ý kiến phê bình thực trạng nghèo nàn, ít giá trị thực chất, đìu hiu và èo uột… của các bảo tàng mỹ thuật ở Việt Nam. Hầu hết, đều với mong muốn mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng xem ra, để hóa giải thực trạng này, có lẽ, không phải là chuyện dễ dàng. Đào tạo được chuyên gia là chuyện đã khó. Để thấy được chuyên gia giỏi là chuyện khó hơn. Và, từ thấy cho đến dùng được là cả một khoảng cách diệu vợi…


Vấn đề cốt lõi chi phối cả thảy, theo tôi, thực ra vẫn là cách nhìn, cách nghĩ về nghệ thuật. Ở Việt Nam, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình lý luận hay phê bình lý thuyết nào đụng chạm đến vấn đề này. Do đó, mọi chiến lược diễn giải nghệ thuật ở Việt Nam, vẫn cứ theo quán tính của các kiểu tư duy thời bao cấp, thậm chí là tư duy thời chiến… Không chỉ vẫn bất cập với đặc trưng riêng của từng loại hình nghệ thuật, mà còn quá duy ý chí trong các quan điểm về chức năng của nghệ thuật, bất cập thực tế. Khi các chiến lược diễn dịch nghệ thuật mang tính định chế chưa được thay đổi thì các tiêu chí thế nào là những giá trị tiêu biểu và mang tính điển phạm (canon) của một nền nghệ thuật cũng sẽ không thể thay đổi; thì các cơ chế nâng đỡ và thúc đẩy cho hoạt động bảo tàng cũng sẽ không thể thay đổi thực sự về chất… Và, khi những thứ này không thay đổi-tức diện mạo, tức “phần hồn” của bảo tàng chưa thay đổi-thì tất cả những hoạt động khác, từ truyền thông đến tổ chức sự kiện này nọ v.v… cũng sẽ… bằng thừa!


Lâu nay, ở Việt Nam, chổ này chổ kia, đã đề cập đến sự có mặt cần thiết của “nhân vật” curator trong việc chuyên nghiệp hóa hoạt động bảo tàng mỹ thuật. Nhưng, cơ chế nào sẽ dung dưỡng “nhân vật” này? Và, ngay cả khi được dung dưỡng, liệu họ có làm được gì hay không khi mà các tiêu chí phát hiện và tiến cử nghệ thuật của họ và của các nhà quản lý vẫn cứ luôn sai nhịp…!


Ngay cả việc tưởng như đơn giản nhất, nên làm nhất là việc tổ chức đưa các em học sinh phổ thông đến tham quan bảo tàng, tập cho các em tiếp xúc dần với nghệ thuật thôi, cũng đã là việc không tưởng. Bảo tàng nào cũng có thể đặt cách được một nhân viên phụ trách phần việc đó, cũng có thể trích ra một khoảng ngân sách để làm. Nhưng vấn đề không nằm ở đó. Vấn đề nằm ở phía giáo dục… Chịu!

(*) Bài đã đăng trên Doanh nhân Sài Gòn cuối tháng-số tháng 10/2007

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Bảo tàng Mỹ Thuật và tranh chép

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Marcus Wilson-Smith / Alamy đăng trên Time

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Marcus Wilson-Smith / Alamy đăng trên Time

Theo một bài báo mới đây của tác giả Martha Ann Overland đăng trên tạp chí Time với tựa đề “Nạn chép tranh của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam” (04/05/09), thì câu hỏi được đặt ra là bao nhiêu tranh và tượng trưng bày tại Bảo tàng Mỹ Thuật Quốc gia Việt Nam là bản chính?

Đã có bàn tán từ nhiều năm nay là nhiều tác phẩm có giá trị của các nghệ sĩ Việt nam hoặc là đã bị thất lạc hoặc đã được bán đi và bản sao chép được đặt tại Bảo tàng.

Một điều hầu hết giới họa sĩ Việt Nam đều biết là trong thời gian chiến tranh, bộ phận Phục chế của Bảo tàng Mỹ thuật chính là nơi sao chép tranh, một thực tế các viên chức bảo tàng cũ và đương thời đều công khai nói tới.

Nora Taylor, một sử gia về nghệ thuật và chuyên gia về các họa sĩ Việt Nam, người hiện đang dạy tại Viện Nghệ thuật Chicago, nói trên báo Time rằng những “bản chính” của bức Chơi ô ăn quan, mà một thời đã được treo tại Bảo tàng Mỹ Thuật, nay đang được treo tại cả Singapore và Nhật Bản.

Ông Trần Khánh Chương, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho BBC Tiếng Việt biết hôm 05/04 rằng một số tranh, tượng sưu tập được trưng bày tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật là bản sao chép và Hội Mỹ thuật Việt Nam đã chính thức đề nghị Bảo tàng Mỹ thuật chỉ trưng bày các bản chính.

Hai ví dụ tranh sao chép từng được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật nhưng không ghi rõ là tranh chép mà ông Trần Khánh Chương nhắc tới là bức ‘”Chơi ô ăn quan” của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh và bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân.

Tuy nhiên theo ông Chương, đề nghị này của Hội Mỹ thuật Việt Nam đã được Bảo tàng Mỹ thuật thực hiện, do vậy phần lớn các tác phẩm trưng bày hiện nay tại Bảo tàng Mỹ thuật là bản chính.

Ông Chương giải thích thêm, việc trưng bày bản sao các tác phẩm nghệ thuật là do trước đây Bảo tảng không có nhiều các bản chính và một số tượng là bản sao vì bản chính là ở các chùa chiền, không thể lấy đi để đưa vào Bảo tàng được, tuy nhiên theo ông các trường hợp đó đều phải ghi rõ là bản sao.

Tổn hại

Việc trưng bày bản sao/chép các tác phẩm lẫn với các bản chính đã làm ảnh hưởng tới giá trị toàn bộ bộ sưu tập của Bảo tàng.

“Tổn hại lớn nhất là nay Việt Nam bị mang tiếng xấu.” Theo Nora Taylor, Viện Nghệ thuật Chicago

Vẫn theo bài báo trên tờ Time, thì điều trớ trêu là việc Việt Nam sao chép các tác phẩm có giá trị lại bắt nguồn từ mục đích nhằm cứu di sản nghệ thuật của nước này trong thời gian chiến tranh.

Bài báo trích dẫn lời ông Nguyễn Đỗ Bảo, thuộc Hội Mỹ thuật Hà Nội, từng là nhân viên Bảo tàng Mỹ thuật hồi năm 1966, nói: “Mỹ nói họ sẽ ném bom Việt Nam và đưa đất nước này trở lại thời kỳ đồ đá.” Để bảo tàng được mở cửa kể cả trong thời kỳ chiến tranh, thì các bản sao chép được trưng bày và bản chính được mang đi sơ tán.

Không phải tất cả các tác phẩm đều được trả về lại Bảo tàng sau chiến tranh. Hồ sơ, nếu có, thì đã bị mất. Trong trường hợp chính các nghệ sĩ vẽ lại tranh của mình thì cũng không còn biết đâu là bức chính và đâu là bức vẽ lại. Và tình hình còn tồi tệ hơn vào thời kỳ sau chiến tranh, văn hóa sao chép tranh tiếp tục.

Theo tác giả bài báo, bà Martha Ann Overland, việc Bảo tàng Mỹ thuật cho các nghệ sĩ đang bị túng thiếu mượn các tác phẩm của mình để vẽ lại và bán kiếm tiền đã làm cho vấn đề thật giả tồi tệ hơn. Liệu các họa sĩ trả lại bản chính hay bản sao chép? Và bà cũng đặt ra câu hỏi: Liệu nghệ sĩ vẽ lại chính tranh của mình thì đây có thể bị coi là tranh giả hay không?

Vào những năm 80, chính Bảo tàng Mỹ thuật còn lập ra một bộ phận chuyên sản xuất các bản sao chép có chất lượng cao để bán, tuy nhiên hoạt động này đã kết thúc vào những năm 90.

Họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai họa sĩ Bùi Xuân Phái, viết trong cuốn Con đường hội họa, có nhắc tới việc Bảo tàng Mỹ thuật – BTMT- có cả một dịch vụ sao chép tất cả những bức tranh nào ở trong bảo tàng nếu khách yêu thích và đặt vẽ giống y như vậy.

“Tôi đã được nghe chính nhà sưu tập Hà Thúc Cần khoe kể với tôi rằng ông ta đã đặt BTMT làm phiên bản tất cả những bức tranh quan trọng có trong BTMT (từ năm 1987) hệ quả đã xảy ra tiêu biểu nhất của vấn đề này chính là bức “Bến Phà ở Sông Đà ” của Bùi Xuân Phái mà ông Hà Thúc Cần đã dùng phiên bản này để tham gia bán đấu giá tại nhà bán đấu giá danh tiếng hàng đầu thế giới Christie’s vào tháng 10/1997 tại Singapore với giá bán là 47.000 USD,” họa sĩ Bùi Thanh Phương viết.


Hiện có bao nhiêu bức 'Chơi ô ăn quan' của Nguyễn Phan Chánh?

Hiện có bao nhiêu bức 'Chơi ô ăn quan' của Nguyễn Phan Chánh?


Tình trạng sao chép các tác phẩm nghệ thuật này đang làm hại tới chính thị trường mỹ thuật từng một thời kỳ khá “nóng” của Việt Nam.

Vẫn theo bà Nora Taylor, thuộc Viện Nghệ thuật Chicago, thì các nghệ sĩ trẻ sống bằng nghề sao chép tranh đang lo ngại rằng việc làm một thời đem lại lợi nhuận cho họ nay đang làm hại cho chính họ.

Thậm chí dù việc làm bản sao chép không phải với mục đích đánh lừa người xem, người mua, thì tình hình này cũng đã tồi tệ tới mức không bảo tàng danh giá nào muốn mượn các tác phẩm từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nữa.

Vẫn theo bà Nora Taylor, “Tổn hại lớn nhất là nay Việt Nam bị mang tiếng xấu.”

Giải pháp

Hồi tháng Ba năm nay, Hội Mỹ thuật Việt Nam với sự hỗ trợ của Hiệp hội Phát triển bản quyền Na Uy đã tiến hành hội thảo “Bản quyền tác giả trong lĩnh vực mỹ thuật VN – thực trạng và giải pháp” diễn ra tại thành phố Đà Nẵng.

Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của đông đảo giới họa sĩ và các nhà phê bình mỹ thuật trong nước và cũng phản ánh một thực trạng khá bi đát trong việc bảo vệ tác quyền của các tác phẩm nghệ thuật.

Sau khi đã sống gần như trọn đời dưới chế độ do đảng Cộng sản chỉ đạo họ có thể vẽ gì và trưng bày ở đâu, thế hệ các nghệ sĩ cao tuổi giữ im lặng.

Nhưng các nghệ sĩ trẻ không còn nằm trong sự quản lý của nhà nước thì lên tiếng thúc giục Bảo tàng Mỹ thuật cần mời chuyên gia tới giúp phân loại bản chính và bản sao chép trong bộ sưu tập của mình.

Họ muốn Bảo tàng lên danh mục hồ sơ tranh và bỏ không trưng bày các bức sao chép hay nếu có thì cần ghi rõ như vậy.


Theo BBC.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

CỔ VẬT TRONG CÁC DI TÍCH TRIỀU NGUYỄN Ở HUẾ

Sưu tập cổ vật gốm sứ

Sưu tập cổ vật gốm sứ

Trong 16 địa điểm di tích triều Nguyễn do Trung tâm Bảo tồn Di Tích Cố đô Huế(TTBTDTCĐ Huế) quản lý có 12 di tích đang bảo quản và trưng bày khoảng 2400 cổ vật. Ngoài ra, Huế còn có Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế), được coi là nơi cất giữ phần hồn của cổ tích, tập trung hơn 8300 cổ vật, phần lớn được sưu tập từ các cung điện, lăng tẩm của triều Nguyễn. Đó là những vật dụng từng gắn bó mật thiết với cuộc sống của các bậc đế hậu; những đồ dùng cho các nhu cầu sinh hoạt, lễ nghi, tín ngưỡng và quốc phòng của hoàng gia và triều đình nhà Nguyễn; những tặng phẩm, thương phẩm phản ánh các quan hệ ngoại giao, thương mại giữa Việt nam với các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Anh, Thái lan…trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XX.

Ngoài BTMTCĐ, Huế là nơi tập trung nhiều nhất những cổ vật của triều Nguyễn, các di tích như: lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Khải Định, Thế Tổ Miếu, điện Thái Hòa, điện Huệ Nam, khu lưu niệm Đức Từ Cung… là những nơi đang thờ tự và trưng bày những cổ vật quý giá nhất của triều đại này.

Điện Biểu Đức ở lăng Thiệu Trị hiện đang trưng bày những bức tranh gương có kích thước lớn nhất Việt Nam ghi lại những bài ngự chế thi và hai bức trướng bằng gỗ khắc cẩn hai bài ngự chế văn Cơ Hạ viên và Điện khai văn án của vua Thiệu Trị bằng xà cừ rất tinh xảo.

Kim chi ngọc diệp

Kim chi ngọc diệp

Điện Hòa Khiêm trong lăng Tự Đức có nhiều cổ vật quý bằng ngà như bộ xăm hường hay bộ ấn triện của vua Tự Đức; những chiếc chóe bằng pháp lam ngũ xắc xứng đáng được mệnh danh là những lưu vật thiên sót của nghệ thuật pháp lam thời Nguyễn. Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ sưu tập tranh gương gần 20 bức, vẽ cảnh minh họa những bài thơ ngự chế của vua Thiệu Trị. Đó là những bài thơ trong Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập, được nhà vua tuyển chọn, giao cho chánh sứ Trương Hảo Hợp, khi đi sứ sang thanh vào năm 1845, thuê thợ Trung Hoa đề thơ lên kính và vẽ tranh minh họa. Điện Lương Khiêm, nơi thờ Đức Từ Dũ, bà Thái hậu sống thọ nhất trong số các phi tần thời Nguyễn, cũng là nơi trình bày nhiều tự khí và cổ khí gắn bó với thân thế của 3 nhân vật: vua Tự Đức, Đức Từ Dũ và vua Kiến Phúc.

Điện Ngưng Hy ở lăng Đồng Khánh là một trong những nơi trưng bày nhiều cổ vật nhất. Phần lớn những cổ vật này có niên đại từ triều Tự Đức đến triều Khải Định. Trong đó, đáng chú ý là sưu tập những vật dụng từng gắn bó thiết thân với vua Đồng Khánh như chiếc nón găng có chóp bịt đồi mồi, bộ cung tên vua dùng khi đi săn; cả những hiện vật có nguồn gốc ngoại lai nhưng phản ánh một cách trung thực sở thích, thói quen của vị vua thân Pháp này như: lọ nước hoa eaux de Cologne, chiếc ba-tông, bức tranh in cảnh chinh chiến của Napoléon Đệ nhất…

Khay đựng mứt bằng pháp lam

Khay đựng mứt bằng pháp lam

Tuy nhiên, nơi trưng bày và thờ nhiều cổ vật nhất ở Huế chính là điện Huệ Nam, ngôi điện thờ Thiên Y ANa Thánh Mẫu lớn nhất miền Trung Việt Nam. Những cổ vật nơi đây chủ yếu là tặng vật của các triều vua, từ Đồng Khánh đến Khải Định, dâng tặng Thánh Mẫu, ngoài ra là những tự khí do các con tôi, đệ tử của Mẫu dâng cúng. Cổ vật ở đây phong phú về loại hình, đa dạng về chất liệu và có kỹ thuật tạo tác tinh tế, ghi dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo của vua quan và binh dân xứ Huế một thời. Đến thăm nơi này, du khách có thể chiêm ngưỡng những đồ sức do vua quan triều Nguyễn ký kiểu từ Trung Hoa đưa về dùng làm đồ tự khí như những chiếc bát nhang, độc bình, những bộ trà, đồ dâng rượu cúng, hay chiếc võng dùng để cung nghinh Thánh Mẫu từ đình làng Hải Cát về điện Huệ Nam trong những dịp lễ hội vía Mẫu hàng năm.

Một nơi thờ cúng khác có số lượng cổ vật nhiều không kém điện Huệ Nam là Thế Tổ Miếu. Ngôi miếu này tọa lạc bên trong Đại Nội, được xây dựng từ đầu niên hiệu Minh Mạng. Đây là nơi thờ tự chính thức 10 vị vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định, Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân. Mỗi gian thờ bài trí một bộ gồm: án thờ. kỷ thờ, sập thờ, khám thờ…Tất cả đều được làm bằng gỗ, bạc, tơ lụa, đồ sứ…rất có giá trị. Bên trong các khám thờ là thần vị các bậc đế hậu của vương triều Nguyễn. Đó là những cổ vật vô giá được lưu giữ muôn đời.

Lư đồng

Lư đồng

Điện Thái Hòa, ngôi điện quan trọng bậc nhất trong các cung điện ở Huế, là nơi chứng kiến sự đăng quang và trị vì của tất cả các vị vua nhà Nguyễn, là nơi đình thần diện kiến thiên tử trong các ngày sóc, vọng. Nơi đây, hiện đang trưng bày chiếc ngai vàng, là biểu tượng quyền uy của vương triều Nguyễn cùng các án thờ, các tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ, bằng đồng, bằng gốm sứ hơn hai trăm năm tuổi. Khu lưu niệm Đức Từ Cung, một di tích chỉ có gần 50 năm tuổi, nhưng lại là nơi ghi dấu nhiều nhất về cuộc sống, sinh hoạt của các bậc vương hầu, phi tần trong cung Nguyễn.

Nhiều di tích kiến trúc khác, sau khi được trùng tu, tôn tạo, cũng được TTBTDTCĐ Huế chú ý đầu tư nghiên cứu, sử dụng nguồn hiện vật đang lưu giữ ở BTMTCĐ Huế để tái trưng bày nội thất như đã từng được bài trí trong quá khứ. Đó là các công trình như Hưng Tổ Miếu, Cung Diên Thọ, Khương Ninh Các(Đại Nội), Điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), Điện Chấp Khiêm (lăng Tự Đức)…

Có thể nói, nguồn cổ vật đang hiện diện trong các di tích thời Nguyễn ở Huế là những sử liệu vô giá ghi lại những dấu tích sống động của triều đại này, giúp cho việc nghiên cứu một giai đoạn nghiên cứu một giai đoạn lịch sử đầy biến động và vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Đó là những vật chứng để người đời sau hiểu thêm về đời sống trong cung đình Huế; về thân thế và sự nghiệp của các bậc đế vương triều Nguyễn; về các quan hệ ngoại giao, thương mại giữa Việt Nam với các nước khác thời phong kiến; về lễ nghi và đời sống tôn giáo, tin ngưỡng thời Nguyễn.

Trên phương diện kỹ thuật- nghệ thuật, thông qua các hoa văn, họa tiết, kỹ thuật chế tác, các cổ vật này đã giúp cho các nhà nghiên cứu và du khách hiểu thêm về trình độ kỹ thuật, sự tồn tại và hoạt động của các nghề thủ công truyền thống trong dân gian và các quan xưởng nhà Nguyễn.

Một gian trưng bày cổ vật ở nội thất điện Long An

Một gian trưng bày cổ vật ở nội thất điện Long An

Về mặt kinh tế, chúng là những cổ vật có giá trị kinh tế cao, là nguồn tài sản vô giá của di sản văn hóa Việt.

Đối với hoạt động du lịch, sự hiện diện của các cổ vật trong các di tích đã tạo ra cho những không gian lịch sử, không gian văn hóa, không gian tri thức vốn là những cái đích cần hướng đến của một tour du lịch văn hóa loại hình du lịch được coi là thế mạnh của cố đô Huế nói riêng và Việt Nam nói chung. Không thể hình dung được cảnh tượng một khu di tích, dù được trùng tu hoàn mỹ, đúng nguyên trạng nhưng lại thiếu vắng những cổ vật, những tự khí bài trí ở nội và ngoại thất. Khi ấy, đó sẽ là những di tích chết vì chúng đã thiếu mất những dấu ấn xưa cũ của quá khứ mà cổ vật chính là thứ chứa đựng cái cũ quý giá đó.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác trưng bày cổ vật trong các di tích triều Nguyễn, trong nhiều năm qua, TTBTDTCĐ Huế, cơ quan quản lý các di tích này đã có nhiều nỗ lực trong việc tu bổ, phục hồi di tích kiến trúc kết hợp với việc tái hiện các không gian lịch sử trong các di tích thông qua việc trưng bày cổ vật. Triển khai thực hiện Dự án Bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, trong giai đoạn I(1996-2000), đã có 16 địa điểm di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được tổ chức trưng bày mới (hay chỉnh lý trưng bày từng phần) theo xu hướng ” tái hiện không gian lịch sử để nâng cao giá trị văn hóa Việt Nam cho khu di tích”. Đó là các di tích: điện Long An, điện Thái Hòa, Thế Tổ Miếu, cung Diên Thọ, Tả Vu(Đại Nội); điện Huệ Nam; điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Lương Khiêm, điện Hòa Khiêm, điện Chấp Khiêm (lăng Tự Đức); điện Ngưng Hy ( lăng Đồng Khánh); cung Thiên Định (lăng Khải Định) và khu lưu niệm Đức Từ Cung.

Ngai Thái Tử

Ngai Thái Tử

Trong giai đoạn hai (2001-2006), TTBTDTCĐ Huế đang xúc tiến các dự án chỉnh lý trưng bày tại các di tích: Thế Miếu(giai đoạn 2), Khương Ninh Các, Duyệt Thị Đường, Thái Bình Lâu, Tịnh Minh Lâu, cung Trường Sanh (Đại Nội); điện Long An (giai đoạn 2), Cơ Mật Viện (Kinh Thành); điện Minh Thành (lăng Gia Long); điện Lương Khiêm, nhà Ôn Khiêm, nhà Chí Khiêm (lăng Dục Đức); điện Long Ân (lăng Dục Đức); Trai Cung (đàn Nam Giao)…

Nhìn chung, việc trưng bày cổ vật trong thời gian qua đã thể hiện những nổ lực đáng khích lệ của các nhà nghiên cứu và các nhà bảo tàng học đang làm việc trong TTBTDTCĐ Huế. Từ những nguồn hiện vật đang được lưu giữ tại các điểm di tích và tại BTMTCĐ Huế, dựa trên những hình ảnh tư liệu, các nguồn tư liệu hồi cố của các nhân chứng từng sống, làm việc và từng viếng thăm các di tích Nguyễn trong thời hoàng kim, những người làm công tác trưng bày ở TTBTDTCĐ Huế đã cố gắng tái tạo cho các khu di tích những cảnh trí như đã từng hiện hữu. Ở những di tích này, việc trưng bày chủ yếu sử dụng nguồn hiện vật phong phú, với các thủ pháp trưng bày truyền thống, tự nhiên, nhằm mang đến cho du khách cảm giác đang được hiện hữu trong những không gian cổ xưa. Họ tận mắt chiêm ngưỡng những cổ vật một thời gắn bó với các bậc vua chúa chính trong môi trường và không gian mà chúng đã tồn tại gần 200 năm qua. Đây là những lợi thế của việc bài trí cổ vật trực tiếp ở các di tích lịch sử – văn hóa, là điều mà các bảo tàng hiện đại không thể có được.

TĐAS

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

 

Read Full Post »

Tranh làng Sình xưa và nay

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Vị trí: Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Đặc điểm: Tranh Làng Sình chủ yếu phục vụ cho việc thờ cúng của người dân trong vùng.

Thời Trịnh – Nguyễn, cùng đoàn người vào đất Thuật Hoá định cư, ông Kỳ Hữu Hoà mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản, tranh làng Sình ra đời từ đó. Ông Hoà được coi là ông tổ nghề tranh ở làng sình.

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Có thể phân làm ba loại:

1-  Tranh nhân vật chủ yếu là tranh tượng bà, vẽ một người phụ nữ xiêm y rực rỡ với hai nữ tì nhỏ hơn đứng hầu hai bên. Tượng bà còn chia thành ba loại: tượng đế, tượng chùa, và tượng ngang. Loại tranh này dán trên bàn thờ riêng thờ quanh năm.

2- Lại còn các loại tranh khác gọi là con ảnh, gồm hai loại: ảnh xiêm vẽ hình đàn ông đàn bà, và ảnh phền vẽ bé trai bé gái (phải chăng phền do chữ phồn thực của Ðông Hồ). Các loại nhân vật còn lại là tranh ông Ðiệu, ông Ðốc và Tờ bếp (có lẽ tranh vẽ Táo quân). Các loại tranh này sẽ đốt sau khi cúng xong.

3-  Tranh đồ vật vẽ các thứ áo, tiền và dụng cụ để đốt cho người cõi âm: áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… thường là tranh cỡ nhỏ. Tranh súc vật (gia súc, ngoài ra còn có voi, cọp và tranh 12 con giáp) để đốt cho người chết.

Tranh làng Sình có thể sánh với các dòng tranh miền Bắc (như Ðông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống), một thời đã lưu hành khắp vùng Thuận Quảng. Sình là tên nôm của làng Lại Ân, cách Huế chừng 7km về phía đông bắc. Sách Ô Châu cận lục ra đời hồi thế kỷ 16 đã nói đến Lại Ân như một địa danh trù phú.

Xóm Lại Ân canh gà xào xạc

Giục khách thương mua một bán mười…

Vào khoảng tháng năm, tháng sáu, khi trời nắng to nước cạn, từng nhóm 57 chàng trai dong thuyền dọc theo đầm phá Tam Giang, đến Cầu Hai, Hà Trung, Lăng Cô để cào điệp, một loại trai sò có vỏ mỏng và phẳng. Có loại điệp chết đã lâu ngày vỏ lắng dưới bùn gọi là “điệp bùn”, khi nhặt chỉ còn là những mảnh màu trắng, mỏng, mềm dễ sử dụng hơn. Loại điệp mới chết gọi là “điệp bầy” nổi trên bùn, có vỏ cứng lẫn nhiều màu đen. Ðiệp đem về loại hết tạp chất, chỉ còn lại lớp vỏ trắng bên trong, được đem giã nhỏ. Mỗi cối giã có từ 26 người thay nhau giã, gần như suốt đêm tới sáng. Những câu hò giã điệp cũng vang lên như lúc giã gạo. Bột điệp lấp lánh trộn với bột nếp khuấy thành hồ, phết lên giấy sẽ cho ra một thứ giấy trắng lấp lánh ánh bạc. Bàn chải quét điệp làm bằng lá thông khô bó lại, gọi là cái “thét”. Khi chiếc thét quét qua mặt giấy sẽ để lại những vệt trắng song song lấp lánh.

Ðể kiếm các loại cây cỏ pha chế màu có khi họ phải lên tận rừng già phía tây Thừa Thiên – Huế. Hai thứ cây chỉ có ở đây là cây trâm, phải chặt từng đoạn mang về, sau đó mới chẻ nhỏ để nấu màu; còn cây đung thì hái lá và bẻ cành. Lá đung giã với búp hòe non sẽ cho màu vàng nhẹ. Các màu khác cũng được làm từ cây cỏ trong vườn như hạt mồng tơi cho màu xanh dương, hạt hòe cho màu vàng đỏ, muốn có màu đỏ sẫm thì lấy nước lá bàng. Ngoài ra người làng Sình còn dùng đá son để lấy màu đỏ, bột gạch để có màu đơn. Màu đen được dùng nhiều nhất, lại là màu dễ làm nhất. Người ta lấy rơm gạo nếp đốt cháy thành tro, sau đó hòa tan trong nước rồi lọc sạch để lấy một thứ nước đen, đem cô lại thành một thứ mực đen bóng. Những màu chủ yếu trên tranh làng Sình là các màu xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi.

Tranh Sình có kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó thông dụng. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25×35), pha ba (25×23) hay pha tư (25×17). In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên.

Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Tuy màu tô không tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Công việc “điểm nhãn” ở một số tranh cũng do thợ chính làm nhằm tăng thêm vẻ sinh động của tranh.

Những mảng màu lớn thì dùng một thứ bút riêng làm bằng tre gọi là thanh kẻ để tô màu. Những chi tiết nhỏ thì dùng bút lông đầu nhọn. Việc tô màu được làm theo dây chuyền, mỗi người phụ trách một hai màu, tô xong lại chuyển cho người khác. Những bàn tay tô màu như múa thoăn thoắt trên tờ tranh, có người kẹp hai, ba cây bút ở đầu ngón tay để tô cùng một lúc hai, ba mảng màu. Ðiểm nỗi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo của nó là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên. Cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí, người họa sĩ tài hoa của đất thần kinh xưa, đã tìm thấy trong tranh Sình bảng màu “ngũ sắc Huế”, hơi khác với bảng “ngũ sắc phương Đông”. Và nếu ta so sánh những gam màu sử dụng trên tranh thờ sẽ thấy nó gần gũi với tranh pháp lam trang trí trên các kiến trúc của kinh thành xưa. Ðó là sự hòa sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hỏa hoàng, phí thủy với hổ phách…

Cái khác biệt của tranh làng Sình với các dòng tranh dân gian khác chính ở nét vẽ và bố cục còn rất thô sơ, hồn nhiên đậm chất mộc mạc làng quê. Khi sáng tác một bức tranh, bản mộc chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính ( thường là màu tím chàm). Những màu sắc còn lại được người nghệ nhân vẽ bằng tay. Chính vì thế không có bức nào giống bức nào. Mỗi bức đều mang trong mình tâm trạng của nghệ nhân lúc đó.

Khi nghiên cứu về tranh làng Sình, nhiều nhà nghiêu cứu cho rằng gam màu sử dụng trên tranh làng Sình gần giống với gam màu được sử dụng trên tranh pháp lam tại các kiến trúc kinh thành Huế: hoà sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hoả hoàng, phí thuỷ với hổ phách.

Bức tranh khi hoàn thành sẽ lấp lánh bởi vỏ điệp, nền nã bởi chất màu thô mộc, quyến rũ và quan trọng hơn cả là khi bức tranh đến tay người sử dụng đã ẩn chứa một cái gì đo thiêng liêng của cõi tâm linh.

Chấn hưng bằng phương pháp công nghiệp!

Nghề làm tranh giấy truyền thống làng Sình mai một dần từ sau 1945. Chiến tranh loạn lạc chẳng mấy ai để ý đến chuyệ thờ cúng cho đúng với truyền thống, lễ nghi.

Tranh giấy làng Sình làm ra bán không ai mua, người dân bỏ giấy, bỏ mực chuyển chuyển sang làm những nghề khác để mưu sinh. Sau năm 1975, cả làng chỉ còn vỏn ven 3 hộ dân bám đuổi với nghề làm tranh truyền thống.

Những khuôn bản mộc để in tranh lưu truyền hơn mấy năm cũng bị thất lạc dần theo sự mai một của làng nghề này. Thật hiếm để tìm lại những bản mộc xưa.

Ông Kỳ Hữu Phước kể rằng: Để giữ được những bản mộc của ông cha để lại, ông đã phải bọc nilon, chôn thật sâu dưới đất hàng chục năm. Bây giừo ông Kỳ Hữu Phước còn giữ lại vỏn vẹn có hai bộ mộc bản có tuổi trên 150 năm.

Năm 1999, trước nhu cầu của thị trường, nghề làm tranh giấy truyền thống Làng Sình đứng trước cơ hội được phục hưng. Những khuôn mộc thất truyền, người làm tranh bỏ công đi tìm lại nhưng số lượng không nhiều. Để có khuôn mộc in tranh truyền thống người làm tranh chỉ còn cách tìm lại những bức tranh được cất giữ rồi tự làm lấy bản mộc. Hiện tại, người làm tranh làng Sình phục hồi 25 bản mộc để in tranh truyền thống.

Giấy dó để làm tranh truyền thống được thay bằng loại giấy công nghiệp, màu cũng được thay bằng màu công nghiệp bán trên thị trường. Chính vì thế mà giá thành cho mỗi bức tranh cũng giảm đi đáng kể.

Từ việc đứng trước nguy cơ biến mất, đến vài ba hộ dân, tăng lên chục hộ rồi dần tăng lên con số vài chục hộ trở lại với nghề. Đến thời điểm này, làng Sình có 32 hộ làm nghề tranh truyền thống.

Tranh dân gian làng Sình thời hiện đại không còn giữ nguyên được bản chất truyền thống, bởi lẽ từ nguyên vật liệu đã được thay bằng những nguyên vật liệu công nghiệp, tiện lợi hơn gấp nhiều lần.

Có giấy, có màu công nghiệp, giờ đây người làm tranh truyền thống làng Sình mỗi ngày có thể in trên bản mộc 1.000 bức mỗi ngày. Các công đoạn in ấn, phối màu cũng được giảm thiểu, số lượng tranh cung cấp cho thị trường mỗi năm xấp xỉ 200 ngàn tờ.

Làm nhanh, số lượng nhiều, nhưng cái thần sắc của bức tranh làng Sình nổi tiếng một thời cứ mất dần đi.

Để bắt kịp với cơ chế thị trường, tăng số lượng tranh cung cấp cho thị trường những nghệ nhân chân đất gắn bó cả cuộc với nghiệp làm tranh truyền thống lại có ý tưởng công ngiệp hoá tranh truyền thống làng Sình!

Một dự án khuyến công của xã Phú Mậu, h.Phú Vang, TT-Huế đang được triển khai, theo dự án này, người dân làm tranh truyền thống sẽ được đầu tư mua máy xén, mua Rulô quay. Giấy sẽ không còn xén thủ công nữa, bản mộc được khắc hẳn lên bề mặt rulô, cách làm này không mục đích nào hơn là tăng năng suất làm tranh.

Lý giải cho cách làm này, nghệ nhân dân gian Kỳ Hữu Phước cho rằng: “ Với 30 triệu đồng đầu tư mua sắm máy xén, ru lô quay, rồi đây chúng tôi sẽ một mặt tăng năng suất, thu hút lao động để giữ vững làng nghề truyền thống cha ông”(?)

In bằng rulô thì nhanh thật, năng suất thật! Nhưng theo một nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian thì cái hồn của tranh làng Sình chính nằm ở cái vuốt tay trên mặt giấy khi in bảm mộc! Vậy thì làm kiểu “ công nghiệp” chắc rằng tranh làng Sinh sẽ mất cái hồn ấy!

Cách làm công nghiệp hoá tranh dân gian ở làng Sình, liệu rồi đây những bức tranh giấy được sản xuất tại đây có còn nguyên bản chất truyền thống dân gian?

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

tls

Trẻ con bây giờ là nhân lực chính trong công đoạn tô màu!

Theo Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam và Việt Báo

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Bộ sưu tập gốm sứ của Bảo Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế

Với hơn 3700 hiện vật, bộ sưu tập gốm sứ của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế) tương đối phong phú về thể loại và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đồ gốm sứ còn được bảo tồn tại Việt Nam. Sưu tập gốm sứ tại Bảo tàng này rất đa dạng, bao gồm các loại gốm mộc, gốm men ngọc và gốm hoa nâu thời Lý-Trần (thế kỷ XI- XIV), gốm hoa lam thời Lê (thế kỷ XVI-XVII), gốm thời Mạc (thế kỷ XVI), gốm trang trí thời Nguyễn (thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX), gốm sứ Trung Hoa thời Minh – Thanh ( thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XX ) và gốm sứ Pháp. Sự phong phú còn được thể hiện trên phương diện kiểu dáng và loại hình trong một tiến trình lịch sử gần 10 thế kỷ. Đặc biệt BTMTCĐ Huế có một sưu tập đồ sứ Trung Quốc đồ sộ, chủ yếu là đồ sứ men trắng vẽ lam thời Minh – Thanh (cuối thế kỷ XIV – đầu XX), mà người Trung Hoa vẫn gọi là Thanh Hoa . Nguồn cổ vật này phần lớn được sản xuất từ các địa phương Giang Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc). Sự hiện diện của chúng trong Bảo tàng này có lẽ từ con đường ngoại giao (vật ban tặng, ký kiểu) và thương mại (do vua chúa Việt Nam và quan lại trong nước mua về từ Trung Quốc để phục vụ cho các nhu cầu của cung đình).

Cặp lồng sứ men lam

Cặp lồng sứ men lam

Trước hết, đối với nhóm hiện vật gốm, BTMTCĐ Huế lưu giữ khoảng 700 hiện vật gồm các loại gốm mộc, gốm tráng men… từ thời Lý đến thời Nguyễn. Đối với gốm thời Lý-Trần, ở đây còn giữ được những chiếc ấm tích men ngọc, những chiếc vò bằng gốm nâu, đáng kể nhất là những chiếc dĩa men ngọc trang trí hoa lá theo lối vẽ ám họa, đế để mộc. Đặc biệt, trong sưu tập này còn có một chiếc thố hoa nâu trang trí hoa lá xen kẽ với các họa tiết tô màu nâu giới hạn trong các nét khắc chìm, một phong cách trang trí điển hình của thời Trần. Về gốm thời Mạc, Bảo tàng còn giữ được khoảng 10 hiện vật, trong đó loại hình chân đèn chiếm đa số. Đó là những chân đèn hình con tiện làm bằng gốm trắng có lớp men phủ màu trắng xám hay trắng ngà. Hoa văn được thể hiện theo hai phong cách : vẽ trực tiếp trên xương đất với lối vẽ phóng bút hoặc đắp nổi trên thân hiện vật những đồ án rồng mây, lá đề. Sự góp mặt của đồ sành trắng hoa lam thời Lê trong sưu tập này là không đáng kể, chủ yếu là một vài chiếc dĩa ăn và hai chiếc kandy, trang trí hoa lá cúc cách điệu trong những ô hình đầu cánh hoa.

Dĩa sứ

Dĩa sứ

Dưới thời Nguyễn, nền kỹ nghệ gốm sứ bị sa sút mặc dù các vua chúa nhà Nguyễn rất chú trọng phát triển nghề này. Từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần triều đình đã thiết lập chế độ tượng cục ( các công xưởng của nhà nước ) mà lúc đông nhất đã lên tới 70 tượng cục ( thời chúa Nguyễn Phúc Chu trị vì ), chiêu tập thợ thủ công vào làm việc với tư cách là những người lính thợ. Một trong những tượng cục rất phát triển thời ấy là Nề ngõa tượng cục còn duy trì cho đến thời vua Đồng Khánh. Nề ngõa tượng cục đã sản xuất nhiều loại gạch ngói xây dựng, gạch ngói trang trí phục vụ cho công cuôc kiến thiết thủ phủ Phú Xuân và kinh đô Huế sau này. Những sản phẩm này vẫn được lưu giữ trong BTMTCĐ Huế. Dưới thời Gia Long ( 1802-1820) nhà vua cho lập một xưởng chế tác đồ gốm tại LongThọ ( phía tây nam kinh đô Huế ) do nhà nước trực tiếp quản lý. Triều đình cho mời một người thợ Trung Quốc, tên là Hà Đạt quê ở Giang Tây và 3 người thợ khác từ Quảng Đông đến Long Thọ dạy nghề cho các lính thợ người Việt với kỳ vọng nâng cao kỹ nghệ gốm sứ ở Việt Nam lúc bấy giờ. Đất sét phục vụ cho công xưởng này lúc đầu được khai thác trực tiếp dưới chân đồi Long Thọ nhưng về sau do chất lượng không tốt nên phải lấy đất ở những vùng xa hơn như Triều Sơn, Vân Cù ( cách Huế 15-20km về phía Bắc ) Tuy nhiên, do điều kiện của lò nung, nguyên vật liệu, và trình độ kỹ thuật nên đồ gốm ở Long Thọ chỉ đạt đến trình độ gốm tráng men cao cấp mà thôi. Những sản phẩm này được sử dụng trong kiến trúc và trang trí cung điện thời Nguyễn trên đất Huế. Ngoài những đồ án trang trí thông thường còn có những đồ án tứ linh, hổ phù, những bức phù điêu với các đề tài dân dã trang trí ở các đầu đao, cổ diềm, lá mái, mà điện Ngưng Hy trong lăng Đồng Khánh là một điển hình. Về sau, nhờ sự sưu tập của Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Association des Amis du Vieux Hué) – cơ quan tiền thân của Museé Khải Định ( tức BTMTCĐ Huế sau này), những sản phẩm của lò gốm Long Thọ đã có mặt trong sưu tập này.

Đặc biệt, nơi đây còn giữ được nhiều tượng gốm như tượng chư vị đức Phật, tượng Hộ pháp, tượng Kim Cang, tượng Quan Công…từ các ngôi chùa ở Huế và phụ cận. Đáng chú ý là bộ tượng Thập điện Minh Vương sưu tập từ Khương Ninh Các – một di tích tôn giáo độc đáo tọa lạc bên trong Hoàng Thành Huế – là bộ tượng hoàn chỉnh nhất và đạt đến trình độ nghệ thuật cao nhất trong kỹ nghệ chế tác gốm sứ cũng như nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.

Phần quan trọng trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập những đồ sứ men trắng vẽ lam do các triều vua chúa Việt Nam thời Lê Trịnh và thời Nguyễn đặt mua từ các lò sứ Trung Quốc, mà chúng tôi sử dụng thuật ngữ Đồ sứ ký kiểu để định danh, thay cho thuật ngữ Đồ sứ men lam Huế (Bleus de Hué) vẫn được giới chuyên môn và những nhà sưu tập sử dụng, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng này.

Tô sứ

Tô sứ

Những cuộc tranh luận về đồ sứ ký kiểu trong vài năm gần đây của các nhà khảo cứu đã cho biết nguồn cổ vật đặc biệt này được các vua chúa Việt Nam thời Lê-Trịnh, Tây Sơn, thời tiền Nguyễn (tức thời các chúa Nguyễn thống lĩnh Đàng Trong) và thời Nguyễn đặt làm từ các lò sứ Ngự chế và Quan chế dưới triều Thanh (Trung Quốc) (1), và đã tạo ra những dòng đồ sứ ký kiểu nổi danh như đồ Nội Phủ – Khánh Xuân (thời Lê-Trịnh), đồ Tây Sơn, đồ chữ Nhật () (thời Nguyễn)… trừ đồ sứ ký kiểu thời Tây Sơn là hoàn toàn vắng mặt trong BTMTCĐH, những dòng đố sứ khác thuộc hệ Thanh Hoa Từ của hai triều: Lê – Trịnh và Nguyễn đều góp mặt nơi đây.

Về đồ sứ Nội Phủ-Khánh Xuân của triều Lê-Trịnh, gốc gác của chúng vốn ở Đàng Ngoài và được ký kiểu chủ yếu trong giai đoạn 1767 – 1786, tức là chủ yếu từ thời chúa Trịnh Sâm trở đi. Tại sao chúng có mặt tại Bảo tàng này?. Theo thiển ý có hai giả thuyết đáng lưu tâm: thứ nhất, sau khi tiến quân ra Bắc Hà lần thứ nhất vào mùa thu năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thâu tóm một phần quan trọng của cải của vua Lê, chúa Trịnh đem về Phú Xuân rồi sau đó lại bị đoạt lấy bởi triều đại nhà Nguyễn. Các đoạn trích dưới đây có thể minh chứng cho điều ấy:..Về Cống Chỉnh, tôi cho là một người điển hình đi trước thời cuộc, một Tào Tháo cận kim thời đại, biết hết nơi nào có của báu xứ Bắc nhường cho vua Quang Trung lựa đồ sứ và báu vật lấy về (TĐAS), còn bao nhiêu vàng bạc, Chỉnh đều tóm thâu…(2). Suốt ngày 17/8 Bính Ngọ (1786) Huệ cố giữ Chỉnh trong dinh nói chuyện lan man. Đến canh ba đêm đó, một ám hiệu truyền ra, quân Tây Sơn nai nịt sẵn, cả thủy lục lặng lẽ kéo đi, bao nhiêu của cải trong kho đụn Bắc Hà đem đi theo cả (VHS) (3). Sau khi ở Bắc về, Nhạc về thẳng quốc thành (tức Quy Nhơn – TĐAS) Huệ đến Phú Xuân đóng binh lại, không tiến nữa, sửa đắp thành lũy, thân nghiêm hiệu lệnh, giữ lấy hết cả những quân khí và của báu mà khi bắc chinh chưa lấy được. Nhạc sai sứ đem ấn sắc phong Huệ làm Bắc Bình Vương và hỏi các hóa bảo lấy được ở phủ Trịnh. Bắc Bình Vương chống mệnh không chịu dâng (4). Với những dẫn chứng trên đây, việc cho rằng số đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh hiện có mặt tại BTMTCĐH là do nhà Nguyễn đoạt lại từ tay vương triều Tây Sơn không phải là không có căn cứ. Giả thuyết thứ hai cho rằng đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh có trong BTMTCĐ Huế là do công lao sưu tập của các thành viên A.A.V.H. (Association des Amis du Viuex Hué) trong giai đọan tiền thân của Musée Khải Định. Điều này xem ra có vẻ có lý hơn bởi các thành viên của A.A.V.H. đã làm thật tốt công việc sưu tập đó với nhiều loại hình cổ vật có trên dải đất Thuận Hóa và các vùng phụ cận, nhất là đối với các tượng Chàm. Chính điều này đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Musée Khải Định vào năm 1923.

Tiềm chân cao (Thiệu Trị)

Tiềm chân cao (Thiệu Trị)

Đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh có ở BTMTCĐ Huế tuy không nhiều nhưng cũng góp mặt khá đầy đủ các hiệu đề: Nội phủ thị trung, Nội phủ thị hữu, Nội phủ thị nam, Nội phủ thị đông, Nội phủ thị đoài, Nội phủ thị bắc, Khánh Xuân và Khánh Xuân thị tả. Riêng đồ sứ có hiệu đề Khánh Xuân, hiện BTMTCĐ Huế chỉ có một hiện vật duy nhất. Đó là một cái dĩa vẽ rồng. Những hiệu đề khác, hiện vật tương đối phong phú, bao gồm các loại chậu hoa, ống phóng, đĩa, bát và khay trà. Phần lớn hiện vật đều nguyên vẹn.

Về đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, BTMTCĐ Huế hiện là nơi đứng đầu Việt Nam về số lượng hiện vật tàng trữ. Dưới triều Nguyễn, theo Đại Nam thực lục cho biết đã có 26 sứ đoàn (5) đi sứ Trung Quốc. Những sứ bộ này, ngoài nhiệm vụ chính làm cầu nối bang giao giữa hai triều Nguyễn-Thanh, còn đặt nhiều đồ sứ mang về nước. Những đồ sứ này có ghi niên hiệu các vua nhà Nguyễn hoặc các năm đi sứ lên đáy hiện vật, cũng như có lấy một số phong cảnh và địa danh Việt Nam làm đề tài trang trí. Theo sự tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, dòng đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn trong khoảng thời gian từ 1804 – 1824, có tất cả là 46 loại hiệu đề (6), thì số hiện vật sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có đến 29 loại hiệu đề. Nhận diện toàn bộ hiện vật sứ ký kiểu ở đây, chúng tôi có mấy nhận xét:

– Thứ nhất, đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn rất phong phú về số lượng và loại hình. những hiện vật này được ký kiểu trải dài theo tiến trình ký kiểu dưới triều Nguyễn, từ lần ký kiểu đầu tiên với hiệu đề Giáp tý niên chế đến lần ký kiểu cuối cùng với loài đồ sứ có hiệu đề Khải Định giáp tý niên tạo và rải đều dưới tất cả các triều vua có ký kiểu đồ sứ chứ không tập trung vào một triều đại nào.

Tiềm quý giáp (Thiệu Trị)

Tiềm quý giáp (Thiệu Trị)

– Thứ hai, đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn ở Bảo tàng này đa dạng về tất cả các loại hình: đồ trang trí, đồ sinh hoạt; đồ nghi lễ; tế tự; cũng như phong phú đối tượng sử dụng: ngự dụng, quan dụng, dân dụng. Đặc biệt nhóm đồ sứ trang trí có rất nhiều hiện vật thuộc loại lớn như đôn, chậu, thống…vốn là vật trang trí ở các sân chầu, cung điện. Trong khi đó lại hiếm vắng tranh tượng trang trí. Đối với nhóm đồ sứ sinh họat, hiện vật trong BTMTCĐ Huế chủ yếu là đồ dùng cho nhu cầu ăn uống, rất hiếm đồ trà. Đây là điều trái ngược hoàn toàn với các sưu tập tư nhân và các bảo tàng khác trong nước. Các nhà sưu tập khi bắt đầu chơi cổ ngoạn thường sưu tầm các món đồ nhỏ, rẻ tiền rồi sau đó mới tiến tới sưu tầm các cổ vật lớn, quý hiếm và đắt tiền. Trong khi đó, nguồn đồ sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có nguồn gốc trực tiếp từ cung đình Huế, đặt biệt là do di chuyển, tiếp nhận từ các lăng tẩm, cung điện nên phong phú về chủng loại, nhất là các hiện vật có kích thước lớn. Trong lịch sử tồn tại của mình, một số cổ vật của BTMTCĐ Huế đã thất thoát do chiến tranh và mất cắp, cũng như do những nhân vật có thế lực trong chính quyền cũ lấy đi vào các thời điểm éo le của lịch sử như 1947, 1968, 1972… Họ đã chọn những cổ vật nhỏ nhưng quý hiếm để mang đi cho thuận tiện. Kết quả là nguồn cổ vật nhỏ ở đây không nhiều và quý bằng nguồn cổ vật có kích thước lớn. Đó cũng là cái may trong cái rủi của BTMTCĐ Huế vậy !

– Thứ ba, ngoài nguồn đồ sứ có gốc gác từ cung đình Huế với các món đồ ngự dụng đề rõ niên hiệu các vua Nguyễn như Minh Mạng niên chế, Thiệu Trị niên tạo,Thiệu Trị niên chế, Tự Đức niên tạo…với các mô típ trang trí đặc trưng cho sự quyền quý, cho ngôi vị đế vương như tứ linh, bát bửu, được sưu tập và tàng trữ một cách tất yếu, nơi đây còn có những đồ sứ quan dụng, vốn chỉ có ở các quan phủ, vương phủ, không hiểu sao lại góp mặt trong Bảo tàng này. Đó là các hiện vật có hiệu đề: Đặng Huy công từ, Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường…hay các hiện vật vẽ tích Mai hạc với hai câu thơ chữ Nôm tương truyền là do thi hào Nguyễn Du ứng tác: Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen. Chính điều này đã khiến cho sưu tập đồ sứ ký kiểu nơi đây thêm đa dạng và hấp dẫn.

Chóe sứ thời Khang Hy , quà tặng của triều đình Thanh.

Chóe sứ thời Khang Hy , quà tặng của triều đình Thanh.

– Thứ tư, do có số lượng lớn nên sưu tập đồ sứ ở BTMTCĐ Huế có rất nhiều hiện vật độc đáo và qúy hiếm. Ở đây lưu giữ được hai hiện vật có hiệu đề Giáp tý niên chế – một chiếc tô do ông Hy Bách ở thành phố Hồ chí Minh hiến tặng và một chiếc đĩa có gốc gác từ thuở Bảo tàng mới khai sinh. Loại hiện vật ký kiểu có hiệu đề này, hiện nay giới sưu tập và giưới chuyên môn chỉ biết không quá đầu ngón tay. Ở đây còn có những hiện vật sứ được coi là độc nhất vô nhị, vô tiền khoáng hậu như chiếc đầu hồ bằng sứ vẽ rồng năm móng mang những đặc trưng rất Huế và rất Nguyễn, hay bộ đĩa ba cái trang trí các đồ án phượng hoàng, ngư tảo có hiệu đề: Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường… do Đặng Huy Trứ mang về năm 1868. Đặc biệt, có những hiện vật như loại tô vẽ phong cảnh ngã ba Bằng Lãng (trước lăng Minh Mạng) có đề bài thơ chữ Nôm Một thức nước in trời…, đáy có chữ Nhật vốn được coi là quý hiếm, các bảo tàng khác và các sưu tập tư nhân chỉ có một chiếc thì đã lấy làm vinh hạnh. Vậy nhưng, loại tô này ở BTMTCĐ Huế lại có đến 282 chiếc (!).

Trên đây là những ý kiến cá nhân chúng tôi về sưu tập đồ gốm sứ trong BTMTCĐ Huế. Ngoài nguồn gốm sứ có nguồn gốc bản địa và Trung Quốc, BTMTCĐ Huế còn có hàng trăm hiện vật gốm sứ Nhật Bản và Pháp. Đó cũng là nguồn cổ vật quý rất đáng khảo cứu và trưng bày. Tiếc rằng do những khó khăn về điều kiện trưng bày nơi đây bởi diện tích trưng bày hạn chế, hệ thống tủ kệ và chiếu sáng chưa đáp ứng, nên phần lớn nguồn cổ vật này vẫn đóng kín trong kho, chỉ có một số rất ít được mang ra phục vụ du khách. Hy vọng rằng trong một tương lai không xa, khi BTMTCĐ Huế xây dựng được phòng trưng bày chuyên đề thì sưu tập gốm sứ nơi đây, trong đó có đồ sứ ký kiểu, sẽ trở thành một chuyên đề chính với đầy đủ chủng loại, dáng kiểu, niên đại và loại hình, sẽ được ưu tiên tuyển chọn và trưng bày để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước.

TS. Trần Đức Anh Sơn

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

BÌNH PHONG TRONG KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG VIỆT

Ths. Phan Thanh Hải

Dientho.jpg
Bình phong ở cung Diên Thọ

Thật khó tưởng tượng được nếu trong không gian của một ngôi nhà truyền thống Việt lại thiếu vắng một chiếc bình phong. Cái vật duyên dáng ấy có khi được đặt ở ngoài sân với đủ kiểu đủ dáng vẻ; có khi được đặt ngay trong nhà với kích thước vừa phải, ngay sau cửa chính; hoặc có khi kết hợp cả hai. Nhưng cái bình phong tưởng thật thân thiết, thật gần gũi ấy hình như từ trước đến nay lại chưa được tìm hiểu thấu đáo. Bài viết dưới đây của tác giả Phan Thanh Hải sẽ là nỗ lực đầu tiên để khắc phục vấn đề này.

I. Từ một huyền thoại

ngubinhhue.jpg
Núi Ngự Bình một tâm bình phong thiên tạo cho cố đô Huế

Năm 1636, chúa Nguyễn Phước Lan đã vì sự nghiệp phát triển của Đàng Trong và cả vì mối tình với một cô gái yêu kiều ở đất làng Kim Long mà đã quyết định dời thủ phủ-kinh đô từ Phước Yên về vùng đất tươi đẹp bên bờ con sông Hương mang tên Kim Long. Hơn 50 năm tiếp đó, thủ phủ Kim Long đã được xây dựng thành một “đô thị lớn”, phồn hoa diễm lệ bậc nhất của Đàng Trong khiến không ít giáo sĩ phương Tây khi đến đây đã tỏ ra hết sức thán phục. Vậy mà đến năm 1687, ngay sau khi kế vị, chúa Nguyễn Phước Thái đã cho dời ngay thủ phủ về đất Phú Xuân, cách đó chỉ khoảng 3km. Nguyên nhân của sự dịch chuyển này là do đâu? Các nhà nghiên cứu khi phân tích sự kiện trên đã đưa ra nhiều nguyên nhân, nhưng trong huyền thoại dân gian Huế thì dường như chỉ có một: đó là vì ngọn núi Ngự Bình vốn xưa mang tên là Bình Sơn! Ngọn núi này được trời đất tạo ra dường như là để che chắn cho kinh đô của bậc đế vương. Chính chúa Nguyễn Phước Thái là người đầu tiên nhận ra điều này và ông đã không ngần ngại cho xây dựng lại cả một kinh đô chỉ vì một chiếc bình phong! Cũng từ đó Bình Sơn mới chính thức trở thành Ngự Bình và dần dần trở thành biểu tượng của đất Huế (miền Hương-Ngự)(1).

II. Nguồn gốc của bình phong

Bình phong có từ bao giờ? Thật khó trả lời chính xác câu hỏi này, chỉ biết rằng, ở phương Đông, từ khi con người biết xây dựng nhà cửa thì các quan niệm về phong thuỷ cũng dần dần xuất hiện và từng bước hoàn thiện, chiếc bình phong ra đời cũng từ các nguyên lý của phong thuỷ học.

Khiem%20tho.jpg
Bình phong trước lăng Khiêm Thọ

Theo các nhà nghiên cứu về phong thuỷ Trung Quốc, việc sử dụng bình phong cho gia trạch cũng như mộ phần bắt nguồn từ lý thuyết về Triều và án trong Phong thuỷ. Triều có nghĩa là “quay về, hướng về”, viết tắt của chữ Triều sơn, tức chỉ núi quay về, chầu về nhà cửa hay mộ phần – tựa như sự đối ứng giữa chủ và khách. Núi chầu về trong nghĩa triều sơn chỉ những ngọn núi ở phía xa và ở mặt trước. Triều sơn có nhiều loại, có loại đỉnh nhọn, đỉnh bằng, đỉnh tròn…. Trong Phong thuỷ thường chỉ chuộng loại núi tròn đều hay ngang bằng bởi cho rằng loại núi nhọn hay có góc cạnh thường phát ra khí chẳng lành.

Còn “Án” vốn nguyên có nghĩa gốc là cái bàn, bàn đương nhiên là đặt trước mặt của người ngồi. Án sơn là để chỉ ngọn núi nhỏ ở phía trước gia trạch hay mộ phần (2).

Nói chung, triều và án hết sức cần thiết cho gia trạch và mộ phần, tác dụng của chúng là ngăn cản những ảnh hưởng xấu (theo quan niệm dân gian) hay Hỏa khí (theo thuyết âm dương Ngũ hành) xâm nhập trực diện từ phía trước. Nhưng không phải lúc nào triều và án cũng mang lại những điều tốt lành mà đòi hỏi phải có sự lựa chọn phù hợp nhưng việc lựa chọn này lại hoàn toàn không dễ dàng.

Thường thì mộ phần đặt ở vùng núi non nên việc chọn triều án khá thuận tiện, nhưng nhà cửa gia trạch lại chủ yếu nằm ở miền đồng bằng nên rất khó tìm triều và án. Trừ trường hợp cung điện đồ sộ của nhà vua thì đương nhiên phải tìm ra triều và án, còn thì đa số quan lại, thường dân chỉ mong tìm được án đã là tốt lắm rồi. Nếu không có án, người ta thường tạo nên những vật thay thế như đắp non bộ, trồng hàng rào hay xây bức tường ngắn… Chiếc bình phong ra đời từ đây. Thuở ban đầu bình phong được làm rất đơn giản bằng các vật liệu dễ kiếm như tre nứa, gỗ, phiến đá, thậm chí bụi cây cũng được. Nhưng càng về sau, bình phong càng ngày càng được chú trọng làm bằng vật liệu bền vững như xây gạch, đắp đá; hình thức của bình phong cũng ngày càng cầu kỳ và phong phú.

Người Việt vốn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của văn minh Trung Hoa và các học thuyết Phong thuỷ nên cũng từ rất sớm, chiếc bình phong đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong ngôi nhà của họ. Còn hơn cả người Hán, người Việt đã phát triển quan niệm về chiếc bình phong trở nên phong phú, đa dạng lên nhiều.

III. Các loại bình phong

Longma.jpg
Bình phong hình tượng long mã

Đối với đại đa số chúng ta, khái niệm bình phong hầu như không được phân biệt rõ ràng, dù là triều hay án, dù to hay nhỏ đều gọi chung là bình phong. Tuy nhiên trong Phong thuỷ thì không phải như vậy. Như trên đã nói, triều và án là hai khái niệm khác nhau và tác dụng của chúng cũng khác nhau khi áp dụng. Phong thuỷ rất chuộng triều sơn, nhưng trên thực tế thường chỉ áp dụng được cho các công trình có quy mô lớn hoặc cả một quần thể công trình như Kinh đô, lăng tẩm của vua chúa… Ngót ngàn năm trước, khi tìm ra đất Thăng Long, Lý Thái Tổ đã ca ngợi đây là mảnh đất “long bàn hổ cứ” có “sơn triều, thủy tụ”, địa thế tuyệt vời để xây dựng kinh đô. Lê Quý Đôn khi vào tiếp quản đô thành Phú Xuân năm 1775, cũng đã hết lời ca ngợi thế phong thủy của mảnh đất này, đặc biệt là vai trò của triều sơn: “Đất rộng bằng như bàn tay, độ hơn 10 dặm, ở trong là Chính dinh, đất cao, bốn bề đều thấp, tức là chỗ nổi bật giữa đất bằng, ngồi vị Càn trông hướng Tốn; đằng trước quần sơn chầu về la liệt, toàn thu nước về bên hữu, vật lực thịnh giàu”.(3)

Nhưng phần lớn đối với các cuộc đất, do không có triều sơn nên người ta chỉ chú trọng đến án. Đối với kinh đô Huế, núi Ngự Bình cũng không phải là triều sơn mà chính là án, cũng như với lăng Thiên Thọ (lăng Gia Long), án chính là ngọn Đại Thiên Thọ Sơn…

Thế nhưng án cũng có 2 loại: ngoại án và nội án; ngoại án hay tiền án là chiếc bình phong đặt ở phía bên ngoài, ở phía trước công trình; còn nội án là chiếc bình phong (cũng có khi gọi là trấn phong) đặt ngay trong công trình.

Nhìn chung, đối với các công trình lớn, ngoại án thường là các ngọn núi, có thể là núi tự nhiên để nguyên, có thể là núi tự nhiên nhưng được sửa sang lại cho phù hợp, cũng có thể là núi nhân tạo hoàn toàn như ngọn núi nhỏ đắp phía trước phần lăng vua Tự Đức (Khiêm Lăng). Đối với những công trình hoặc cụm công trình có quy mô nhỏ hơn thì ngoại án thường được xây dựng thành một bức bình phong bằng gạch đá, hoặc có thể là một bờ rào, hàng cây, một phiến đá…

Đối với các loại bình phong được xây dựng cẩn thận bằng gạch đá, thường ngoài ý nghĩa về phong thuỷ còn là những công trình mang ý nghĩa trang trí thật sự. Về đại thể, tuy chỉ là một bức tường xây ngang nhưng kỳ thực kiểu dáng và cách thức trang trí của bình phong thì thật vô cùng phong phú. Kiểu bình phong phổ biến nhất có lẽ là kiểu cuốn thư nhưng có rất nhiều biến thể. Các đề tài trang trí trên bình phong cũng đa dạng, nhưng phổ biến nhất vẫn là những con vật trong Tứ linh, gồm long(rồng)-lân-phượng-quy (rùa). Tại các đình làng, các am miếu dân gian, hình tượng long mã hay hổ cũng được sử dụng rất nhiều trên bình phong.

Nội án tức chiếc bình phong đặt bên trong công trình, ngay sau cửa chính. Dù có kiểu dáng, hình thức rất phong phú nhưng chúng đều là loại bình phong có thể di chuyển được. Chất liệu làm các loại bình phong này cũng rất đa dạng, bằng gỗ, bằng mây, bằng tre, bằng đá hoặc đá kết hợp với gỗ, thậm chí bằng đồng, bằng bạc, vàng… nhưng có thể nói, gỗ là loại chất liệu được sử dụng phổ biến hơn cả. Hầu hết các bức bình phong được sử dụng làm nội án đều được trang trí rất công phu và có giá trị nghệ thuật cao.

Căn cứ vào hình thức kiểu dáng có thể chia nội án thành 2 loại: loại bình phong một tấm cố định và loại bình phong nhiều tấm rời ghép thành.

Loại bình phong một tấm cố định phổ biến nhất là có kiểu cuốn thư, được làm chắc chắn, có chân cố định, khi di chuyển phải di chuyển nguyên tấm. Còn loại bình phong nhiều tấm rời ghép thành thường có hình chữ nhật hoặc vuông, do 6,8 hay10 tấm gỗ hình chữ nhật ghép lại với nhau bằng bản lề. Loại này có thể có chân hoặc không có chân, khi di chuyển có thể di chuyển cục bộ từng phần hoặc có thể tháo rời ra để tiện vận chuyển. Kiểu bình phong này hiện còn khá phổ biến tại Nhật Bản, Hàn Quốc (4).

IV. Sử dụng bình phong thế nào cho phù hợp

Đây thực sự là một bí ẩn của Phong thủy học. Sách vở về Phong thuỷ xưa rất hiếm khi đề cập đến điều này, các kiến thức về sử dụng bình phong chủ yếu được truyền thừa qua các thế hệ thầy Địa lý. Phỏng vấn một số thầy Địa lý có uy tín ở khu vực miền Trung thì được biết, kích thước triều sơn không quan trọng lắm, chủ yếu là do dáng vẻ, thần thái của chúng tạo nên; còn kích thước của án (kể cả ngoại án và nội án) thì rất quan trọng đối với chủ nhân công trình. Tuy nhiên, đối với phần đông dân chúng do không hiểu hết các nguyên lý uyên áo của Phong thủy nên thường cho rằng, bình phong cốt để che kín ngôi nhà (hoặc huyệt mộ) cho ấm cúng và ngăn chặn gió độc, hay để ngăn chặn những thứ khí chẳng lành phát ra từ những vật lạ phía trước nhà (cây cối, cột mốc, đường đi…), nên việc dựng bình phong không theo quy chuẩn và kích thước phù hợp, gây mất cân đối cho công trình, ảnh hưởng đến thẩm mỹ thậm chí gây trở ngại cho việc đi lại.

Thực ra, theo Phong thủy, nguyên do phải đặt bình phong (kể cả ngoại và nội án) đều nhằm cản bớt hỏa khí xâm nhập quá mạnh vào nhà gây hại cho chủ nhân. Phong thủy căn cứ vào thuyết Ngũ Hành cho rằng, phía trước công trình thuộc Hỏa(phía Nam); bên phải công trình là Kim (phía Tây), tượng cho chủ nhân; bên trái thuộc Mộc(phía Đông) tượng thê tài (vợ, tiền tài); phía sau thuộc Thủy(phía Bắc) tượng tử tôn (con cháu); còn trung ương thuộc Thổ. Quy định này cũng dễ hiểu vì vốn xưa nhà được đắp bằng đất (thổ); nhà sinh ra chủ (Kim), chủ sinh ra con cháu (Thủy) và điều khiển vợ, người làm (Mộc). Ngũ hành tương sinh hay tương khắc tùy thuộc khi ta đặt công trình vào các hướng cụ thể của thiên nhiên. Nếu đặt mặt trước công trình về hướng Nam (đây lại là hướng được người Việt yêu thích nhất khi làm nhà: “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”) thì Hỏa khí càng thêm vượng, dễ gây tổn hại cho chủ nhân nên mới đặt bình phong để ngăn chặn. Còn đối với các công trình xoay mặt về phía Bắc (nhất là các chùa) thì hầu như không sử dụng bình phong vì phía Bắc thuộc Thủy, mà Thủy lại khắc Hỏa. Chính vì những nguyên lý này mà khi làm nhà (hoặc lăng mộ) người ta phải mời thầy Địa lý để có sự nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp.

Kích thước bình phong thế nào là vừa phải? Theo Phong thủy, khí được dẫn vào công trình từ cổng hay cửa. Trường hợp cổng và cửa công trình cùng một hướng thì Hỏa khí được dẫn trực tiếp vào mặt trước công trình. Trong kiến trúc truyền thống, cửa giữa là cửa chính để chủ nhân ra vào nên bình phong phải làm sao che kín được cửa giữa. Kinh nghiệm của các thầy Địa lý cho biết, kích thước của bình phong thường lấy từ kích thước của cửa giữa công trình nhưng có gia giảm để làm sao đứng từ trung tâm công trình nhìn ra thì cảm thấy bình phong vừa che kín hết cửa giữa là được. Đó là bề ngang của bình phong, còn chiều cao thì lấy theo mái hiên công trình. Nhà cửa xưa mái hiên thường thấp, chiều cao của bình phong (nhất là nội án) làm sao nhìn ngang bằng mái hiên nếu ta đứng từ trung tâm công trình nhìn ra; còn đối với ngoại án, kích thước là phù hợp nếu ta ngồi trên ghế mà cảm thấy có thể gác hai tay vừa vặn trên đầu bình phong (tức như đặt hai tay trên bàn).

Khoảng cách đặt bình phong (ngoại án) đối với công trình cũng khá linh động nhưng đều có căn cứ vào kích thước công trình. Theo phần lớn các thầy Địa lý, khoảng cách giữa công trình và bình phong (Phong thủy gọi là Tiểu minh đường) thường lấy tương đương với kích thước bề ngang công trình. Tuy nhiên, nếu do hoàn cảnh, ngoại án phải đặt hơi xa thì cần có một lớp bình phong khác hoặc nội án hỗ trợ. Tiêu biểu là trường hợp Kinh thành Huế, do núi Ngự Bình cách Kinh thành đến 3km, Tiểu minh đường hơi rộng hơn bề ngang Kinh thành (chỉ khoảng 2,2km) nên trước mặt Hoàng Thành đã có thêm Kỳ Đài có vai trò như lớp án thứ hai che chắn cho nhà vua.

Ở Việt Nam, có lẽ Huế là nơi còn giữ lại được nhiều kiểu bình phong nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì Huế là cố đô cuối cùng của Việt Nam, lại vẫn giữ được khá nguyên vẹn diện mạo của kinh đô thời quân chủ. Nhưng không chỉ trong kiến trúc cung đình mà ngay cả ở đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ… dường như nơi nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy những bức bình phong được trang trí cầu kỳ, tinh xảo. Tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế hiện nay vẫn còn giữ được một số bức bình phong tuyệt đẹp, trong đó có cả bình phong bằng gỗ loại một tấm cố định, có cả loại ghép nhiều tấm hình chữ nhật đan bằng mây trên khung gỗ, lại có cả những bức bằng đá, bằng bạc, bằng ngà voi được chạm trổ cực kỳ tinh xảo. Đây thật sự là những kiệt phẩm của các nghệ nhân tiền bối mà mỗi khi đứng trước chúng ta thường có cảm giác như bị mê hoặc hút hồn. Chẳng biết do chúng quá đẹp hay do chúng đã hội tụ được phần nào những điều thần bí của Phong thuỷ.

V. Chú thích:

(1) Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, tập Kinh sư có phần nói rõ về núi Ngự Bình: “ở Tây bắc huyện Hương Thủy, nổi vọt lên ở quãng đất bằng như hình bức bình phong, làm lớp án thứ nhất trước Kinh thành..” ( Bản dịch của Viện Sử học. nxb KHXH, Hà Nội, tr 107). Vua Thiệu Trị đã từng xếp ngọn núi này là một trong 20 thắng cảnh của đất Thần kinh, có thơ vịnh lấy nhan đề là Bình lãnh đăng cao. Bài thơ được khắc vào bia đá, hiện vẫn còn ở chân núi.

(2) Phong thủy không giải thích thật chi tiết vì sao phải dùng triều và án, chỉ thấy truyền lại những câu phú như:
Nguyên văn: Tạm dịch:

Điện tiền hữu án trị thiên kim

Viễn hỉ tề mi cận ứng tâm

Án nhược bất lai vi khoáng đãng

Trung phòng phá hoại hoạ tương xâm.

Trước điện có án ngàn vàng

Xa hợp ngang mày, gần chính giữa.

Án nếu không được khoáng đãng,

Gia đình bị phá, hoạ tìm ngay.

Ngoại sơn tác án diệc kham cầu

Quan bão nguyên cầu khí bất lưu

Túng hữu huyệt tình vô cận án

Trung phòng điên bái tẩu tha châu

Núi xa làm án chẳng mong cầu

Ôm kín nguyên thần khí chẳng thông

Nếu ở gần huyệt không có án

Gia đình điên đáo tẩu phương xa

(3) Lê Qúy Đôn toàn tập, tập I: Phủ biên tạp lục. Bản dịch của Viện Sử học. Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr.112.

(4) Tháng 7 năm 2003, tại cuộc Hội thảo khoa học “Văn hoá dân gian Đông á với hoạt động bảo tồn và triển lãm” (The Preservation and Exhibition of East Asian Culture in Relation to Folk Craft Aesthetics), bà KATAYAMA Mariko (thuộc Bảo tàng Triều Tiên tại thành phố Kyoto, Nhật Bản) đã trình bày một tham luận rất thú vị về sự tương đồng và dị biệt giữa bình phong Hàn Quốc và bình phong Nhật Bản. Chính qua tham luận này tôi mới biết rằng, tại Nhật Bản và Hàn Quốc hiện nay chỉ còn tồn tại loại bình phong chữ nhật ghép từ nhiều tấm gỗ, còn loại bình phong nguyên tấm như kiểu Việt Nam và Trung Quốc đang sử dụng khá phổ biến thì hầu như không còn.

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Older Posts »