Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 27th, 2009

Bắt tàu trục vớt cổ vật trái phép

16/04/2009

Ảnh: Xuân Lý
Ngày 16.4, tin từ Bảo tàng Bình Thuận, trong chuyến khảo sát con tàu cổ bị chìm tại vùng biển Bình Thuận, đoàn khảo sát đã phát hiện, vây bắt và dẫn độ về Hải đội 2 Bộ đội biên phòng Bình Thuận tàu QNg – 90591 do ông Nguyễn Hữu Quang (27 tuổi, ở Bình Châu, Bình Sơn, Quảng Ngãi) làm thuyền trưởng đang trục vớt trái phép cổ vật ở con tàu cổ nói trên.

Qua khám xét, tàu có chứa 1.933 cổ vật quý hiếm. Số cổ vật này bao gồm nhiều chủng loại, có xuất xứ từ các lò gốm cổ của Trung Quốc (ảnh). Theo Giám đốc Bảo tàng Bình Thuận Nguyễn Xuân Lý, số cổ vật này được chế tác vào cuối triều đại nhà Minh và có khung niên đại ở thế kỷ XVII.

Con tàu cổ đã được phát hiện từ năm 2007 và tọa độ này đã được các cơ quan chức năng của Bình Thuận đăng ký bảo vệ nghiêm ngặt. Hiện Bộ đội biên phòng Bình Thuận đang thu giữ số cổ vật nói trên để chuyển giao cho Bảo tàng tỉnh quản lý.

* Hai ngôi mộ cổ ở TP Hội An (Quảng Nam) đã được các thợ hồ phát hiện khi thi công phần móng nhà số 308 đường Lý Thường Kiệt, P.Tân An vào chiều 15.4. Hai ngôi mộ này nằm liền kề nhau ở độ sâu 3,5m, mỗi ngôi mộ có chu vi hơn 3m2. Kết quả khảo sát ban đầu cho biết, mộ được xây bằng chất liệu vôi ghè, bên trong còn sọ và xương người. Tuy nhiên, hiện cơ quan bảo tồn di sản – di tích của TP Hội An đang bảo quản và vẫn tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu, chưa đưa ra nhận định chính thức về niên đại cũng như giá trị của hai ngôi mộ.

Quế Hà – H.X.Huỳnh

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Advertisements

Read Full Post »

Gốm Luy Lâu – Một dòng gốm đã tắt

Các cuộc khai quật gốm cổ Luy Lâu (hay còn gọi là gốm Dâu) ở khu vực như Nguyệt Đức, Thanh Khương, Bãi Định, Bãi Nổi, Hà Mãn…thuộc huyện Thuận Thành đã cho thấy nét nổi bật của dòng gốm này là một loại men lạ mắt phủ màu xanh ô-liu trầm ấm và trong vắt. Khi xem màu và chất liệu men của dòng gốm cổ Luy Lâu nhiều người liên tưởng đến màu xanh ngả bí của dòng gốm Thiệu Dương, Thanh Hoá. Thậm chí, nhiều sản phẩm của dòng gốm này khiến ta dễ nhầm lẫn. Giáo sư sử học Dương Trung Quốc cho rằng: “Dòng gốm Thiệu Dương, Thanh Hoá xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên nên có lẽ gốm cổ Luy Lâu cũng đồng niên đại như vậy. Đây là dòng gốm phát triển có niên đại cách đây đã trên dưới 2000 năm”.

Cho đến nay, những sản phẩm gốm cổ Luy Lâu vẫn được coi là sản phẩm mẫu mực của dòng gốm dân gian rất đậm nét tồn tại trong xã hội cổ đại nước ta, tiêu biểu cho dòng gốm bản địa ở phương Nam. Xưa kia các nghệ nhân làm gốm cổ Luy Lâu đã có một trình độ kỹ thuật cao. Sản xuất gốm được làm trên bàn xoay là một thớt gỗ tròn dưới trục quay cắm xuống đất. Kỹ thuật của bàn xoay là một miệng đất dẹt hình đĩa dùng cân đáy, sau đó lấy một thỏi đất vê xếp vòng tròn cao lên dần, trên gần miệng vê đất dày hơn cho miệng đầy đặn. Cách tạo hình này giúp cho phần giáp giới giữa đáy và vòng đất đầu tiên không lưu lại một rãnh lõm.

Gốm cổ Luy Lâu có nhiều dòng sản phẩm. Ngoài những vật liệu xây dựng như gạch ngói các loại, đồ dùng sinh hoạt có men hoặc không men như bát, đĩa, âu, vò… phục vụ cho tầng lớp quý tộc quan lại và thị dân còn có những sản phẩm bình dân đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của dân chúng. Trang trí hoa văn trên gốm Luy Lâu là hình chữ S trên những viên gạch, là vòng tròn tiếp tuyến trên khuôn đúc đồng, đường vặn thừng thô hay mịn trên các nồi gốm. Sắc thái của đồ gốm cổ Luy Lâu xưa phổ biến là màu đỏ thẫm hoặc xám nhạt; xương gốm có các hạt cát, bã thực vật, vỏ ốc hến.

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, gốm Luy Lâu đã bị mai một khá nhiều và có nguy cơ thất truyền. Thực tế hiện nay chỉ có Hợp tác xã Gốm sứ mỹ nghệ Luy Lâu (xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) tổ chức sản xuất gốm Luy Lâu theo đúng cách thức truyền thống. Dưới bàn tay khéo léo của đội ngũ thợ lành nghề, hàng ngàn mẫu mã như các loại hũ, ngọc bình, trống đồng, tượng,… được sản xuất. Một điểm khác biệt của gốm Luy Lâu với nhiều nơi khác là mẫu mã do Hợp tác xã Gốm sứ mỹ nghệ Luy Lâu sản xuất chỉ đơn chiếc, hoàn toàn làm bằng thủ công, các hoạ tiết mang nhiều yếu tố dân gian, có kích thước to nhưng tinh xảo. Chất men đặc trưng chiết xuất từ cây dâu nên có màu men xanh, màu đỏ, nâu đậm, màu ôliu. Những sản phẩm sản xuất hầu hết do các tổ chức, cá nhân yêu thích gốm Luy Lâu đặt hàng. Tuy còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì, phát triển một dòng gốm “vang bóng một thời” nhưng với những nét riêng độc đáo, gốm Luy Lâu đã và đang từng bước khẳng định giá trị văn hoá lẫn trí tuệ của những nghệ nhân vùng đất Kinh Bắc xưa và nay.

Ông Nguyễn Đăng Vông say sưa với gốm

Ông Nguyễn Đăng Vông say sưa với gốm


Gốm cổ Luy Lâu

Gốm cổ Luy LâuCầu kỳ đến từng chi tiết

 

Click trên hình để xem bigger size

 


Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Các cổ vật có hình con Nghê của Bảo tàng Guimet (Paris):

1. Chân đèn có tượng Nghê, với ký hiệu cho biết được chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng.

Nghê Bát Tràng

Nghê Bát Tràng

2. Đĩa vẽ hình Nghê, được sản xuất cho thị trường Trung Đông và những nước theo Hồi giáo.

Đĩa trang trí hing con nghê

Đĩa trang trí hing con nghê

Các hiện vật hình con Nghê của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội):

1. Đỉnh có nắp, men trắng xám rạn. Triều Lê Trung Hưng, tháng 4 năm Vĩnh Hựu 2 (1736). Đỉnh có nắp hình vòm, chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, xung quanh trổ thủng bát quái, gờ miệng phẳng, thân phình, 3 chân thú chạm nổi hổ phù, 2 quai hình rồng. Trang trí nổi các băng văn dây lá lật, hồi văn chữ T, lá đề và rồng trong mây. Minh văn khắc dưới đế. Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi nhị, tứ nguyệt nhật cung tác). Men rạn trắng xám.

viewanh_tcagt72xmdinhconap

2. Nậm rượu, men nhiều mầu. Triều Mạc – Lê Trung Hưng, thế kỷ 16 – 17. Nậm có cổ cao hình trụ, miệng đứng, thân chia 6 múi nổi hình cánh hoa, chạm nổi hình Nghê và hoa, viền đế tô nâu. Men trắng ngà và xanh rêu.

viewanh_tcauuckyynmruou

3. Tượng Nghê, men trắng ngà và xanh rêu. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 17. Tượng Nghê trên bệ chữ nhật, tư thế ngồi chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau khuỵu gập lại, đầu ngẩng, cổ đeo chuỗi nhạc nổi. Xung quanh thân và chân chạm mây. Ðế chữ nhật chạm mây, hoa sen và hồi văn. Men trắng ngà và xanh rêu.

viewanh_tcag6to0dtuongngh

4. Hũ có nắp, men rạn và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802-1819). Nắp hũ hình vòm có chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, vẽ mây xung quanh. Hũ có gờ miệng uốn, cổ ngắn, vai phình, thân cao, đế rộng. Vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng tròn. Vẽ lam đề tài phong cảnh sơn thuỷ, nhà cửa, cây lá, người đội ô, người chèo thuyền. Minh văn viết bằng men lam dưới đế. “Gia Long niên chế” (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long).

viewanh_tcaehqga1hunapmenran

5. Hũ có nắp, men nâu trắng và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802-1819). Nắp có chỏm hình Nghê vờn ngọc, vẽ hoa lá men lam. Hũ có gờ miệng phẳng, cổ ngắn, vai phình, đáy lõm. Trên vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng. Xung quanh thân vẽ lam tiêu – tượng, mã – liễu, tùng – lộc. Minh văn viết 4 chữ. “Gia Long niên tạo” (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long). Men nâu, trắng và lam.

Hũ có nắp (BTLSVN)

6. Đài thờ có nắp, men rạn, ngà. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 18. Đài thờ có 2 phần, miệng hình ô van, nắp trang trí nổi núm hình Nghê, băng lá lật, mai – trúc – cúc – tùng, chữ “vạn”, hổ phù. Men rạn ngà.

Đài thờ (BTLSVN)

7. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê đứng trên bệ chữ nhật, quanh thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.

Tượng nghê sành (BTLSVN)

8. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê quỳ trên bệ chữ nhật, đuôi xoắn, thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.

Nghê sành (BTLSVN)

Sưu tập tư nhân: Tượng Nghê, bằng sứ.

Tượng con nghê

(Nguồn: Bảo tàng Guimet (Paris), Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm Gọ Bình Thuận

Xóm Gọ, còn gọi là xóm Nồi (tiếng Chăm là Play Gok), nằm ở làng Chăm Trì Đức, xã Phan Hiệp, Phan Điền, Bình Thuận. Xóm nằm khuất sau con lộ lao xao xe cộ. Những con đường vào xóm rất nhỏ và nếu không có người chỉ đường, chưa chắc bạn có thể tìm ra địa chỉ lừng danh đó.

Xóm làm gốm đã được nghìn năm, đời này nối tiếp đời kia, nhưng chỉ những người con gái nơi đây khi lớn lên mới tập tành nhồi đất, còn đàn ông thì chuyên trách việc lấy đất, nhào trộn. Đất nguyên liệu được lấy ở Xuân Quang. Đất sét nơi đây không cần sàng sảy, chỉ cần  đập nhuyễn ra, khi trộn với nước là thành màu đỏ hồng.

 

Nghệ nhân xóm Gọ với những sản phẩm gốm nung.

Nghệ nhân xóm Gọ với những sản phẩm gốm nung.

Nghề làm gốm ở xóm Gọ mang tính “gia truyền”, con cái học từ cha mẹ. Có nhà từ già đến trẻ chỉ làm gốm, ban đầu là các sản phẩm truyền thống như nồi, trách, dụ, khạp, lu, chậu, mái, hỏa lò, khuôn bánh căn, ống nhổ trầu, sau đó là các sản phẩm mỹ nghệ theo nhu cầu của thị trường. Trước sân, sau hè của mỗi nhà ở xóm Gọ luôn rộn ràng cảnh làm gốm. Đất sét đem về trộn lên, bàn xoay đơn giản là một bàn gỗ nhỏ, người làm cứ “xoay mình” theo sản phẩm, chứ không như cách làm gốm ở nhiều nơi khác.

Gốm làm xong được thoa lên một lớp nước đất sét gọi là “thổ hoàng” để màu gốm sau khi nung đẹp hơn. Sau đó, tất cả sản phẩm được tập trung ở bãi đất trống cạnh làng, phơi nắng cho khô rồi gom lại, chất rơm rạ và củi bọc quanh, một lớp gốm xen một lớp củi, nổi lửa lên, đốt qua đêm. Gốm của nhà nào thì đánh ký hiệu trên sản phẩm, sau khi lửa tắt, gốm nguội thì của ai nhà ấy đem về.

 

Gốm nung xóm Gọ đặc trưng bởi những vết đen...

Gốm nung xóm Gọ đặc trưng bởi những vết đen...

Cách đốt theo kiểu ủ lửa tạo ra màu gốm lấm tấm vết đen rất độc đáo. Để tạo những vết đen loang lổ thẩm mỹ ấy, khi gốm còn nóng, người ta rảy lên bề mặt sản phẩm loại nước chế bằng quả dông, quả thị.

Trước sự phát triển của cuộc sống và nhu cầu tiêu thụ gốm trang trí, nhiều họa sĩ đã đến xóm Gọ, tạo dáng gốm, đặt hàng. Bán chạy nhất là các sản phẩm bình mẹ bồng con, bình trang trí hoa văn, tượng Chăm hoặc các loại sản phẩm gốm gia dụng. Trong những cuộc trưng bày tại các hội chợ, gốm Gọ bán rất chạy, thường thì các nghệ nhân đến tận nơi biểu diễn cách tạo sản phẩm.

... tạo nên nhờ kỹ thuật ủ lửa

... tạo nên nhờ kỹ thuật ủ lửa

Thoát ra khỏi không gian làng quê, gốm Gọ đã theo chân du khách có mặt tại nhiều quốc gia. Năm 1996, có ba người phụ nữ làm gốm ở xóm này được mời sang Nhật trình diễn. Không chỉ đem những mặt hàng gốm đất nung Chăm đi trưng bày ở xứ người, họ còn giới thiệu và dạy nghề làm gốm.

Theo Phụ Nữ TP HCM

Read Full Post »

Gốm Gò Sành – gốm Chăm cổ

Từ lâu, Gò Sành hay xóm Sành – tên một xóm nhỏ thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định – đã trở thành điểm tham quan, tìm hiểu của giới nghiên cứu gốm cổ trong nước và quốc tế.

Nằm cạnh quốc lộ nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, vị trí Gò Sành rất thuận lợi cho những ai có dự định đến thăm.

Người dân Phụ Quang kể rằng, trong khi đào đất xây dựng hoặc canh tác, họ thường gặp những vùng đất ken dày các mảnh gốm sứ với nhiều bát, đĩa, cốc còn nguyên vẹn. Tuy không biết chúng đã bị vùi lấp từ bao giờ nhưng họ cho rằng chủ nhân của những cổ vật này là người Chăm.

Vào khoảng những năm 70 thế kỷ trước, gốm Gò Sành đã theo chân giới buôn bán đồ cổ đi đến nhiều vùng, gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam và thế giới. Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ TP HCM đã đến Phụ Quang để tìm hiểu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào tại Gò Sành nhưng họ cũng đưa ra giả thuyết, người Chăm đã làm ra những sản phẩm gốm này.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng

go-sanh

Tượng gốm Gò Sành.

Hơn 10 năm sau, những hiện vật gốm Gò Sành lại được nhắc đến. Dựa vào những hiện vật có nguồn gốc từ Gò Sành của một nhà sưu tầm trong nước, Rosana Brown, một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á, dành một chương trong luận văn tiến sĩ của mình viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định. Cho đến trước năm 2000, đã có bốn cuộc khai quật được tiến hành liên tục tại khu di tích này.

Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có năm nhóm. Ở huyện An Nhơn có Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các đều nằm dọc hai bờ sông Kôn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy.

Những cuộc khai quật khảo cổ tại Gò Sành được thực hiện vào các năm 1991, 1992, 1993. Cuộc khai quật năm 1994 có sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò số 1, số 2 và số 3 là ở Gò Sành.

Lò số 1 có tên là lò Cây Quăng, hiện còn khá nguyên vẹn, từ tường, nền và sản phẩm nung cuối cùng. Nó có dạng hình ống với tổng chiều dài 14 m. Buồng lò hình chữ nhật, mở rộng dần về phía cuối, đo được 1,6 m. Chiều rộng ở phía trước là 2,8 m.

go-sanh2

Gốm Gò Sành có nhiều sản phẩm độc đáo

Ở một bên tường có cửa để vào xếp và dỡ sản phẩm. Một bức tường thẳng cao 0,5 m tách riêng phần buồng lò và bầu đốt. Chỗ tường phía cuối lò cũng xây bằng những bao nung để thoát lửa và khói, được xếp thành hàng ngang với 6 lỗ trống. Hai lớp nền thuộc hai thời kỳ khác nhau, được phân biệt rõ ở phần buồng lò, với lớp nền dày 0,3 m. Tường lò được xây bằng bao nung, nhồi đất sét kín ở bên trong. Đây là kỹ thuật xây rất mới mà các nhà nghiên cứu chưa thấy xuất hiện ở đâu khác trên đất Việt Nam.

Lò số 2 có tên là lò Cây Mận (Cây Roi), nằm ở phía nam của Gò Sành. Về kỹ thuật, nó giống như lò số 1, tường cũng xây bằng những bao nung lèn đất. Cách sắp xếp cột chia lửa trong bầu đốt cũng tương tự.

Lò số 3 nằm dưới lò số 2. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là lò có niên đại xây dựng sớm nhất. Tường không làm bằng bao nung mà hoàn toàn bằng đất. Lò rộng 1,2 m chỗ gần bầu đốt, 1,7 m ở phía sau. Chiều dài thân lò 5,3 m. Ở cuối tường mở bốn lỗ trống thoát khói. Ống khói nhỏ, góc thoát lên trên, lối dẫn lửa vào nằm ở cùng độ sâu với buồng lò, cho phép lửa từ bầu đốt đi lên. Đây là kiểu đốt lửa độc đáo của người Chăm mà trước đây chưa thấy một tư liệu nào nói đến.

go-sanh3

Hiện vật tại hố khai quật Gò Sành

Hiện, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định thu thập và lưu giữ một bộ sưu tập khá phong phú các sản phẩm gốm Gò Sành. Việc xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập có thể giúp hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Sản phẩm sành sứ chủ yếu được sản xuất tại đây bao gồm bát, đĩa, chậu tráng men, ngói không men và vật trang trí kiến trúc. Những chiếc bát đĩa tráng men Celadon và bình hũ tráng men nâu có đặc điểm tương tự với sản phẩm các lò Phúc Kiến (Trung Quốc).

Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn có xương màu xám mực, đỏ nhạt, giai đoạn sớm dùng kỹ thuật con kê, men tráng gần sát đáy; giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.

Gốm Gò Sành sản xuất ra không chỉ để phục vụ tại chỗ mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan thuộc Philipphines có hàng nghìn đồ gốm Gò Sành.

Cho đến nay, chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắn chắn niên đại khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung. Nhưng qua những kết quả khai quật tại Gò Sành và ở nước ngoài, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của làng nghề này nằm trong khoảng thế kỷ 15-16. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng, việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, chậm lắm là đến thế kỷ 16.

Dựa vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, loại hình các sản phẩm được làm ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu kết luận, chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Chămpa cổ.
Theo Địa Chí Bình Định

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đồ cổ… sexy

Từ thuở xa xưa ông bà ta đã biết cách đưa cái hồn nhiên, thuần phác trong đời sống riêng tư, thể hiện trên các vật dụng lễ hội hoặc đồ dùng thường ngày.

Mặt những trống đồng cổ nhất được tìm thấy như Ngọc Lũ, Miếu Môn có khắc nổi các cặp sinh thực khí nam nữ lồng vào nhau trong nghi lễ cầu mong sự sinh sôi nảy nở; trên nắp thạp đồng Đào Thịnh nổi tiếng, có đúc bốn cặp tượng trai gái đang trong tư thế giao duyên; cán dao găm Đông Sơn lại thể hiện một đôi có hai đầu, thân áp vào nhau liền làm một, cùng gắn bó trong một chiếc đai thắt lưng lớn…

Cặp sinh thực khí

Cặp sinh thực khí

Còn dưới đây là chuyện về món đồ cổ độc đáo liên quan đến… sexy.

Chuyện thứ nhất: Khoảng năm 1977, khi khai quật di chỉ tại Đông Sơn, Thanh Hoá người ta đã tìm thấy một pho tượng đồng đen nhỏ cao chừng 10 cm. Pho tượng làm bằng khuôn sáp đẹp lạ thường, khác hẳn những di vật đã tìm được liên quan đến nền văn hoá Đông Sơn. Vả lại, cái cách thể hiện sexy một cách quá ấn tượng của “ai đó” với pho tượng, làm chính hai vị giáo sư chủ trì cuộc khai quật là Diệp Đình Hoa và Chử Văn Tần cũng thấy ngại ngần khi đăng tấm ảnh của nó trên tạp chí Khảo cổ học. Đó là một người nam khoả thân đang tư thế giơ một chân, hai tay ôm vòng cung, cái “sinh thực khí” của anh ta thì được phóng đại rất… dễ sợ (ảnh dưới).

do-co-2
Hình ảnh làm các nhà khảo cổ… đỏ mặt.

Do tóc người này xoăn tít mà có nhà khảo cổ giả thiết pho tượng xuất xứ từ châu Phi bởi một hoàn cảnh nào đó đã “lạc” sang ta. Thế rồi một ngày cuối năm 1987, có ông già người ở chính cái làng đã khai quật 10 năm về trước, mang đến viện Khảo cổ học Hà Nội một pho tượng đồng cũng rất lạ. Đó là một người nữ, kích cỡ nhỏ bé hơn pho kể trên một chút, tay trái vắt lên che mặt e thẹn, tay phải như cố giấu phần hở hang phía dưới.

do-co-1
Người phụ nữ đang e thẹn che mặt…

Thật bất ngờ, khi đưa người nữ vào trong vòng tay của pho tượng người nam tóc xoăn kia, thì hoàn toàn trùng khít, đích thị là một đôi uyên ương đang say sưa tình tứ.

Nhiều năm nay, tiến sĩ Nguyễn Việt, giám đốc trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, đã đưa ảnh và cả khuôn mẫu hai pho tượng này đi giới thiệu, trao đổi với đồng nghiệp ở nhiều bảo tàng, ĐH Mỹ, châu Âu, Australia, Nhật… nhưng vẫn chưa tìm được lời giải đáp thoả đáng, về nguồn gốc của mỗi pho tượng và liệu chúng có mối liên hệ thực sự nào với nhau không.

Chuyện thứ hai. Hoạt cảnh nóng. Năm 2002, công an Quảng Nam thu giữ một số đồ cổ mua lậu từ dân địa phương lặn tìm cổ vật của chiếc thuyền buôn thế kỷ trước bị đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm. Trong số đó có một đĩa gốm Chu Đậu, do vận chuyển đã bị mẻ một góc, song còn nhìn rõ trong lòng đĩa mô tả một cuộc làm tình trong tư thế khá là… hiện đại.

do-co4
Hình ảnh cuộc giao hoan trong tư thế khá… hiện đại.

Chu Đậu là làng gốm thuộc tỉnh Hải Dương, hưng thịnh vào thế kỷ 14 – 16. Chiếc đĩa gốm này được chế tác từ thời nhà Hồ, nhà Mạc, hình vẽ thể hiện sự tự do cá nhân, mạnh bạo trong tình yêu, đó là thời kỳ sau những cải cách tiến bộ của Hồ Quý Ly, đã tác động làm rạn nứt phần nào ý thức hệ phong kiến Nho – Khổng hàng nghìn năm ngự trị.

Về hình sexy trong đĩa, có thể giải thích theo cách là: có một chàng thợ gốm trẻ vô danh của lò gốm Chu Đậu kia, khi đang làm việc chợt nhớ đến cô gái mình yêu, tưởng tượng, nghịch ngợm vẽ những nét khoáng đạt lên cái đĩa ấy, rồi để lẫn vào các đĩa khác đem nung. Và, thứ sản phẩm đơn chiếc đó còn sót lại sau bao cuộc bể dâu, hiện diện đến ngày hôm nay như một minh chứng về đời sống văn hoá phồn thực trong thôn xóm Việt vài trăm năm về trước.

Dù là cảnh “lạ kỳ”, nhưng chiếc đĩa này đã được giới thiệu trang trọng trong cuốn Gốm sứ trên 5 con tàu cổ ở vùng biển Việt Nam.

Chuyện thứ ba Đến cảnh “tắm tiên”?

Nhưng không chỉ có thế. Bức tranh trên chiếc ang cổ (đáy 12,5cm, cao 22,5cm) này cũng vớt được từ tàu đắm Cù Lao Chàm và khiến các nhà nghiên cứu hết sức thú vị. Đó là một hoạt cảnh đặc sắc: một cô gái tóc dài ngồi bên chum nước. Có thể hình dung là cô gái đang ngồi “tắm tiên” (?). Một một đàn ông bưng quần áo đến cho cô thay, không hiểu đó là người chồng hay người hầu?

Lại có một người nữa đứng nấp sau gốc cây, rõ ràng là nhòm trộm, nhưng nhìn kỹ thì giống một cô hầu tinh nghịch hơn là một bậc “tu mi nam tử” nào đó thích rình mò.

Cảnh cô gái tắm bên chum nước.

Cảnh cô gái tắm bên chum nước.

Bức tranh được vẽ trên mặt gốm hoa lam, với những nét vẽ phác qua đơn giản, cho nên rất khó đoán định nội dung: Là một minh họa cho một điển tích cụ thể nào đó (hơi xa xôi quá để liên tưởng tới Truyện Kiều: Buồng the phải buổi thong dong/ Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa/ Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Đầy đầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên) hay chỉ là một bức vẽ chơi? nhận định của chuyên gia nghiêng về khả năng đó là nét vẽ nghịch chơi đầy ngẫu hứng của người họa sỹ vẽ gốm cách đây đã hơn 500 năm.

Dưới đây là một số đồ tôi cho là giả cổ cũng… very “sexy”

do-co5

do-co6

do-co7

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Kiến trúc xưa ở Cù lao Phố

Cù lao Phố là một cù lao nằm trên sông Đồng Nai, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì đã tự chia ra làm hai nhánh ôm trọn một dải đất sa bồi. Dải đất đó chính là Cù lao Phố, nằm ở phía Đông – Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là xã Hiệp Hòa, với tổng diện tích đất đai là 694,6495ha.

Cù lao Phố còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy có thể đi đến mọi miền.rải qua nhiều thăng trầm lịch sử, Cù Lao Phố, thương cảng sầm uất của Nam Bộ một thời, nay vẫn còn lưu được nhiều nét xưa.

Trước thế kỷ thứ 6, Cù Lao Phố là vùng đất hoang vu thuộc vương quốc Phù Nam. Trong lịch sử mở rộng bờ cõi của cha ông, cuộc nam tiến đã thực sự thành công khi vùng đất Đồng Nai – Gia Định được tiền nhân khai phá.

Sự hình thành và phát triển của dải đất nằm giữa sông Đồng Nai này bắt đầu từ năm 1679, gắn với sự kiện hai trung thần nhà Minh (Trung Quốc) là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch không quy phục triều đình Mãn Thanh, đã dẫn dắt hơn ba nghìn binh lính vượt biển xuôi về Nam trên 50 chiến thuyền. Họ vào cửa Tư Dung (địa phận Thuận Hóa) xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho lánh nạn. Chúa Nguyễn đã thu nạp và cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này chia làm hai cánh, một do hai tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình chỉ huy đã chọn vùng Đồng Nai – Gia Định để khai phá, một do Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến thống lĩnh tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho – Cao Lãnh làm chốn dung thân.

Cầu Ghềnh dẫn vào Cù Lao  Phố.

Trần Thượng Xuyên sau khi định cư đã chiêu mộ thương lái từ Trung Quốc sang mua bán và mở mang thương cảng. Từ đó, vùng Cù Lao Phố trở nên sầm uất, trên chợ, dưới thuyền, bán mua tấp nập. Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển như dệt chiếu, tơ lụa, đúc đồng, làm pháo, đồ gốm, đục đá… Các thương thuyền của người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ thường xuyên vào ra.

Là người có tầm nhìn xa, Trần Thượng Xuyên thấy vùng đất này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp vì thuận lợi giao thông thủy, bộ. Do đó, ông đã huy động sức người sức của để xây dựng thương cảng Nông Nại Đại Phố thành trung tâm thương mại danh tiếng bậc nhất phương Nam thời bấy giờ. Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được chúa Nguyễn truy phong Thượng đẳng thần, thờ ở đình Tân Lân bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Hòa.

Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn, mở mang bờ cõi phương Nam, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là người đầu tiên được nhắc đến. Vào năm 1698, được chúa Nguyễn sai kinh lược phương Nam, viên thống soái này đã chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh. Tại đây, ông  thiết lập bản doanh, tổ chức cơ sở hành chính, ổn định đời sống dân chúng bằng cách thiết lập phủ, huyện, tổng, xã, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn. Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đã giúp chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi. Ông cũng chính là người có sáng kiến khuyến khích dân chúng các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược, hình thành các làng mạc trù phú ở Đồng Nai.

Về sau, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề do cuộc bạo loạn của thương nhân người Phúc Kiến (Trung Quốc) là Lý Văn Quang vào năm 1747 và cuộc giao tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn, đặc biệt là năm 1776. Nhà cửa phố xá bị thiêu trụi, cư dân dần dần lưu tán, chấm dứt thời kỳ hưng thịnh của Cù Lao Phố sau gần 100 năm.

Tinh hoa còn đó

Chùa Ông ở Cù Lao Phố.

Cù Lao Phố hiện còn lưu nhiều dấu tích về thời hưng thịnh với những công trình mang đậm tín ngưỡng như chùa Đại Giác, đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, miếu Quan Đế, chùa Thủ Huồn… Những tinh hoa trong các làng nghề gốm sứ, điêu khắc hay những sự kiện lịch sử trong lao động và bảo vệ lãnh thổ, sự định hình thiết chế xã hội, các di tích văn hóa của vùng đất này… được Trịnh Hoài Đức biên khảo hết sức công phu trong bộ Gia Định Thành thông chí.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Với hệ thống những công trình tín ngưỡng tôn giáo trên mảnh đất ghi đậm dấu ấn lịch sử văn hóa, Cù Lao Phố là điểm du khảo lý thú cho những ai yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật. Đứng bên bờ sông Đồng Nai, du khách có thể nhìn thấy Cù Lao Phố nổi bật giữa dòng sông, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ, tịnh xá…

Chùa Đại Giác

Chùa Đại Giác

Được xem là nơi địa linh nhân kiệt, Cù Lao Phố đang là đối tượng của các nhà nghiên cứu khảo cổ học về những giá trị văn hoá, lịch sử.

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Sự kiện lịch sử:

Sự thịnh vượng của vùng Cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679 -1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:

* Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu, đánh úp dinh Trấn Biên (tiền thân của Biên Hòa sau này), giết chết Nguyễn Cư Cẩn (tước Cẩn Thành Hầu) là người cai quản dinh. Tin cấp báo về Thuận Hóa, chúa Vũ vương (Nguyễn Phúc Khoát) liền sai cai cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đang đóng ở Mô Xoài đem binh vào cứu viện. Tống Phước Đại phá tan đạo quân của Lý Văn Quang, bắt được chúa đảng cùng đồng bọn 57 người. Tuy dẹp được cuộc bạo loạn, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.

* Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở cù lao Phố vì họ đã ủng hộNguyễn Phúc Ánh  . Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Sau khi chợ búa cùng phố xá bị tàn phá nặng nề, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sáp nhập với làng Minh Hương sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay…

Kể từ đó, vùng Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Older Posts »