Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 25th, 2009

Tranh Ðông Hồ

Tranh Ðông Hồ có từ thời Lê, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc (cũ). Ngày xưa chợ tranh họp 5 phiên trong tháng duy nhất của năm – tháng chạp vào các ngày 6,11,16,21,26. Chợ chỉ họp và bán tranh sau khi các gia đình đã sửa lễ cúng thánh:

Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh…

Ở cái làng nghèo mà hào hoa như làng tranh Đông Hồ trước đây thường truyền nhau câu ca “Làng Mái có lịch có lề – Có sông tắm mát, có nghề làm tranh” và “Lịch sử cũng thể Đông Hồ”. Không khí sầm uất vào cữ một chạp, các thuyền từ xứ Đôn xứ Đoài ghé bến “ăn tranh”. Người làng tranh trước ở ngoài đê vào mùa vụ làm tranh cũng phải một sương hai nắng tất bật khuya sớm. Thôi thì chỗ này rậm rịch tiếng chày giã điệp, chỗ nọ dỡ ván in tranh cọ rửa lau chùi sạch sẽ. Khói đốt than lá tre ẩn hiện la đà trên các ngọn cây. Làng Đông Hồ ruộng đất ít, từ cụ già đến con trẻ đều mê và nghiện trà đặc. Thuốc lào Tiên Lãng và chè móc câu Thái Nguyên là thứ không thể thiếu được trong các đêm làm tranh. Tiếng rít thuốc lào sòng sọc nghe vui tai, nước trà đặc sánh, làm cho đầu óc minh mẫn, tỉnh táo khiến cho nét vẽ, màu vẻ thêm sống động, có hồn có vía. Tranh đẹp hay không đẹp đều chỉ nhất loạt giữ giá một, người sành chơi có thể tuỳ ý lựa chọn. Không khí Tết chộn rộn không chỉ ở cảnh kẻ bán người mua tấp nập, mà cả bởi vẻ rực rỡ, sắc màu tươi rói của những bộ tứ bình, Thạch Sanh, những gà, lợn,mèo,chuột,ngựa…

Tranh Ðông Hồ gà lợn nét tươi trong
Hồn dân tộc sáng hừng trên giấy điệp

Có thể nói, cái đặc biệt của tranh Ðông Hồ là ở chỗ đó. Tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng, Huế … không thể có sắc màu muôn hồng ngàn tía của tranh Ðông Hồ, cũng không thể có nền giấy điệp quyến rũ đó. Người sành tranh Ðông Hồ chính bởi chất dân gian chứa đựng trong tờ tranh nền giấy điệp trắng ngà, lướt nhẹ lượt hoà vàng hay vàng đỏ, không khỏi chạnh lòng nhớ tranh Ðông Hồ ngày xưa.

Người dân làng Hồ chuyên sản xuất tranh nhưng chẳng bao giờ treo trong nhà mà đem bán hoặc cho thiên hạ hết. Người làng ra Hà Nội sinh sống làm ăn tập trung quanh chợ Đồng Xuân làm lại nghề lâu rồi và do đó quen gọi là phố Hàng Mã. Mà cũng chỉ làm hàng mã thật chứ tịnh không thấy sản xuất tranh như ở làng Đông Hồ. Nghề làm tranh trong làng rất được trọng vọng; ai có hoa tay, có thú chơi cầm, kỳ, thi, họa đều được mọi người vị nể (cũng là theo cái thú tao nhã của nhà nho xưa). Làng tranh cũng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Các cụ nghệ nhân trong làng kể lại: Hồi Pháp thuộc, người ở nhà Bác Cổ thỉnh thoảng lại đánh xe ô tô về mua tranh, thậm chí mua cả bản khắc tranh nữa! Nhà cụ Lử có bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng cửa chuồng gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền. Nghĩ mà tiếc đứt ruột! Lại còn nhớ cái thuở Tây càn, dân làng Hồ chạy loạn, binh lửa chiến tranh liên miên và cái khí hậu ẩm ướt khắc nghiệt của thiên nhiên miền Bắc, ván khắc tranh bị hỏng và thất lạc khá nhiều.

Bản gốc tranh Đánh ghen, Gà đại cát, lợn ăn lá dày… cũng không còn nữa. Sau ngày Hòa Bình lập lại thấy trên báo Pháp có in tranh dân gian làng Hồ, Chính phủ ta phải liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp xin cho khắc lại ván tranh để bảo tồn. Tranh Đông Hồ có một dạo lên đến điểm “cực thịnh”, đã từng sáng giá trong các triển lãm nghệ thuật lớn ở các nước trên thế giới với nét vẽ nhuần nhụy, tươi tắn như hồn người đất Việt. Bà con Việt kiều khi về nước cũng phải tìm mua bằng được những “bức tranh làng Hồ và cô Tố Nữ dáng quê hương, để khi ở xa quê trong sương mù Luân Đôn hay cái giá lạnh của Pa-ri hoa lệ, cảm thấy ấm lòng ở chốn tha hương”

Thực trạng của làng tranh bây giờ ra sao? Cũng khó tìm ra được lời giải đáp cụ thể nếu Nhà nước không đứng ra đầu tư và tiêu thụ. Có một dạo Xuhasaba (Hà Nội) nhận đặt và xuất khẩu với số lượng tranh lớn cũng làm nức lòng người dân nơi đây vì giá thành tranh không đắt lắm. Nhu cầu vài năm gần đây thay đổi, cứ mạnh ai nấy làm. Người làng tranh bây giờ nảy sinh tâm lý: ai đặt thì làm, nhiều khi với số lượng tranh quá ít cũng không muốn làm. Thi thoảng lắm cũng có nơi về làng tranh đặt vài nghìn tờ, không sản xuất được thường xuyên nên cũng khó tổ chức sản xuất tranh được đều đặn trong năm, ảnh hưởng đến thu nhập của người làm tranh. Các nghệ nhân như cụ Thúc, ông Sâm, ông Lăng… có tay nghề cao và kinh nghiệm, đều mắt mỏi tay run hoặc dần dần khuất núi cả. Lại nhớ đến ông Lý Lăng -Ông là nghệ nhân vẽ mẫu tranh nổi tiếng làng Đông Hồ theo kinh nghiệm. Nghĩa là vừa làm vừa học… Cứ bắt chước, cứ học hỏi dần. Nhà này nhờ vẽ mẫu tranh này, nhà khác gọi giúp mẫu tranh khác… Cũng là tình xóm giềng, ông chẳng tiếc sức, tiếc công! Ngoài việc sáng tác mẫu tranh, ông còn truyền đạt kinh nghiệm nghề nghiệp của mình cho lớp trẻ học hỏi. Chẳng hiểu bây giờ còn bao nhiêu người cụ đã truyền nghề cho, “trụ lại” được với nghề trước thử thách của cơ chế thị trường khắc nghiệt, nhất là đối với một dòng tranh như dòng tranh Đông Hồ…

Dẫu người làng tranh có làm tranh đi nữa cũng phải chạy theo thị trường, nghĩa là khi pha màu chủ yếu là bột goát để giá thành được rẻ… Còn đâu như thủa nào tranh làng Hồ giữ nguyên được sắc màu tươi tắn, nhuần nhụy của các màu lấy từ… cây vườn, nội cỏ! Họa chăng tranh làng Hồ còn giữ được sắc thái tự nhiên (theo nguyên nghĩa của từ này) chỉ còn được chiêm ngưỡng ở Viện bảo tàng và các sưu tập tư nhân mà thôi! Mà sức sống của tranh dân gian này chủ yếu phản ánh tâm tư nguyện vọng của người lao động. “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”, một nhà thơ xứ Bắc đã từng viết như thế.

Chỉ cần vài tờ tranh cuộn lại bên cạnh nải quả cúng tổ tiên và dán treo trên vách nứa tường tre cũng làm nhẹ nhõm thư thái lòng người khi tết đến và nguôi đi nỗi nhọc nhằn cấy hái trên đồng ruộng! Đấy là chưa kể những khu du lịch ở khắp đất nước ta nếu tiêu thụ được cũng là có dịp để giới thiệu cho bạn bè năm châu thấy cái hay, cái đẹp của tranh dân gian, phần nào góp phần xây dựng đời sống văn hóa trên cơ sở tìm về cội nguồn dân tộc.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Bộ sưu tầm gốm sứ Trung Hoa của Percial David Foundation – phần cuối

The Percival David Foundation of Chinese Art bao gồm một bộ sưu tầm gốm sứ Trung Hoa và các hiện vật liên quan tại Luân Đôn, Anh quốc. Mục đích của Viện là quảng bá cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn hóa và nghệ thuật Trung Hoa. Bộ sưu tập gồm có 1400 hiện vật sứ của các triều đại Tống, Nguyên, Minh Thanh từ thế kỹ thứ 10 đến thế kỹ 18. Nó có những điển hình hiện vật hiếm của dòng gốm Ru và Guan và hai bình sứ từ khí men lam thời nhà Nguyên rất quý giá. Viện cũng lưu trử một thư viện sách lớn của các nước Đông Á và Tây Á lien quan đến nghệ thuật Trung Hoa. Năm 1950 bộ sưu tập lần đầu tiên dược giới thiệu tới trường Đại Học Luân Đôn bởi nhà sưu tập và học giả Sir Percial david. Người ta cho rằng bộ sưu tập này chỉ đứng hàng thứ hai sau Viện Bảo Tàng Quốc Gia Đài Loan.

Vì lý do khủng hoảng tài chính quỷ, Viện Percial David phải đóng cửa vào cuối năm 2007. Bộ sưu tập đã được mang thế chấp dài hạn cho Viện bảo tàng Anh Quốc, nơi nó sẽ được trưng bày cho công chúng thường xuyên trở lại theo từng chuyên đề Gallery dự tính vào tháng 4 năm 2009 nhờ vào sự hào phúng tài trợ bởi Sir Josept Hotung. Gallery công chúng này sẽ là một phần của “Trung tâm nghiên cứu ngành gốm Sir Josept Hotung”, gồm nhiều phân khoa dùng bộ sưu tập vào công tác giảng dạy.

Click trên hình để xem Ful size:

 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Bộ sưu tầm gốm sứ Trung Hoa của Percial David Foundation, thuộc Viện Bảo Tàng Anh

The Percival David Foundation of Chinese Art bao gồm một bộ sưu tầm gốm sứ Trung Hoa và các hiện vật liên quan tại Luân Đôn, Anh quốc. Mục đích của Viện là quảng bá cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn hóa và nghệ thuật Trung Hoa. Bộ sưu tập gồm có 1400 hiện vật sứ của các triều đại Tống, Nguyên, Minh Thanh từ thế kỹ thứ 10 đến thế kỹ 18. Nó có những điển hình hiện vật hiếm của dòng gốm Ru và Guan và hai bình sứ từ khí men lam thời nhà Nguyên rất quý giá. Viện cũng lưu trử một thư viện sách lớn của các nước Đông Á và Tây Á lien quan đến nghệ thuật Trung Hoa. Năm 1950 bộ sưu tập lần đầu tiên dược giới thiệu tới trường Đại Học Luân Đôn bởi nhà sưu tập và học giả Sir Percial david. Người ta cho rằng bộ sưu tập này chỉ đứng hàng thứ hai sau Viện Bảo Tàng Quốc Gia Đài Loan.

Bộ Sưu tập

Việc sưu tầm bắt đầu vào năm 1927 khi nhiều món đồ trong Tử cấm Thành được các thái giám và các thành viên khác thuộc Phủ Vật Dụng Hoàng Gia bán ra. Người ta cũng đồn răng chính Từ Hy Thái Hậu đã dung những món đồ cổ náy để thế chấp cho các khoản vay từ nhiều ngân hàng TQ khác nhau vào năm 1901. Sir Percival David đã thuyết phục các quan chức tổ chức trưng bày các sản phẩm đẹp trong số đó và ông đã khôn khéo mua được khoảng 40 món và một số khác xuất đi Mỹ. Vào năm 1930, ông quay lại TQ một lần nữa và giúp tổ chức nhiều cuộc triển lãm và in nhiều catalogue cho các món đồ này. Ông cũng thâu tóm thêm nhiều đồ qua các nhà buôn Trung Hoa khác nhau. Điều này có nghĩa nhiều đồ một thời là ngự dụng của Hoàng Đế Càn Long (1736-95) hay những món với hiệu triện làm theo ý chỉ của Càn Long đã trở thành một phần của bộ sưu tập.

Vào năm 1931, bộ sưu tập của David được trưng bày tại Khách sạn Dorchester, Luân Đôn. Nó được giử gìn tại đó cho đến khi phải di tản về vùng nông thôn trong suốt thời kỳ Thế Chiến Lần thứ II. David cũng trở thành chủ tịch bộ môn kiến trúc và nghệ thuật trung Hoa của Courtauld Institute of Art , là một phân khoa của trường Đại Học Luân Đôn. David đã giử bộ sưu tập đến cuối đời và thương thảo với trường Đại Học Luân Đôn để duy trì bộ sưu tập cùng với thư viện dưới danh nghĩa Foundation ( Viện do ông thành lập) trực thuộc SAOS (The School of Oriental and African Studies). Bộ sưu tập được mở cửa cho công chúng từ ngày 10/06/1952 tại quảng trường Gordon, Bloomsbury.

Viện Percial David đã hào phóng cho nhiều quốc gia khác mượn để trưng bày. Như cho mượn nhiều hiện vật đời nhà Nguyên cho lể kỷ niệm 700 năm cuộc du hành của Marco Polo tại Venice. Nó cũng gửi nhiều hiện vật khác tới Nhật và Hoa Kỳ.

Hiện nay:

Vì lý do khủng hoảng tài chính quỷ, Viện Percial David phải đóng cửa vào cuối năm 2007. Bộ sưu tập đã được mang thế chấp dài hạn cho Viện bảo tàng Anh Quốc, nơi nó sẽ được trưng bày cho công chúng thường xuyên trở lại theo từng chuyên đề Gallery dự tính vào tháng 4 năm 2009 nhờ vào sự hào phúng tài trợ bởi Sir Josept Hotung. Gallery công chúng này sẽ là một phần của “Trung tâm nghiên cứu ngành gốm Sir Josept Hotung”, gồm nhiều phân khoa dùng bộ sưu tập vào công tác giảng dạy.

Click trên hình để xem full size:

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Đến Bát Tràng mua hàng Phù Lãng, về Hà Ðông vớ phải lụa… Tàu” ?!

Chợ gốm Bát Tràng những ngày đầu xuân khá sầm uất. Ngay lối ra vào là một quầy hàng lớn bán đồ gốm men da lươn. Vào sâu trong chợ, càng thấy loại men này được bày bán phổ biến. Hỏi một chủ quầy, tôi nhận được câu trả lời: “Của Bát Tràng đấy, người ta làm gốm da lươn bán được, tội gì mình không làm”.
Bát Tràng và Phù Lãng là hai dòng gốm có từ lâu đời. Ðặc trưng của Bát Tràng là làm xương gốm bằng đất sét trắng (xưa Bát Tràng có tên Bạch Thổ Phường, tức “phường Ðất Trắng” vì có mỏ đất sét trắng, nay đất sét trắng phải mua từ nơi khác), xương gốm đó được tráng men, với những màu men cơ bản như: men ngọc, men nâu, hoa lam… Trong khi đó, xương gốm Phù Lãng là đất sét có màu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao, xương gốm chuyển màu gan gà, với hai màu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (thường gọi là men da lươn). Nếu vẻ đẹp của Bát Tràng là sự đa dạng về nước men, những nét vẽ tinh tế, thì hồn cốt của Phù Lãng được tạo nên từ sự dân dã, mộc mạc của nước men da lươn.
Hơn chục năm trước, Phù Lãng suýt nữa mất nghề nếu không kịp thời chuyển từ sản xuất đồ gia dụng như chum, vại, ang, tiểu sành… sang đồ gốm mỹ nghệ. Nước men da lươn mộc mạc được người Phù Lãng kết hợp với những đường nét, những tạo hình mang đậm chất nông thôn Việt đã tạo nên sức hút kỳ lạ của gốm Phù Lãng. Theo những chủ cửa hàng ở chợ gốm Bát Tràng, khi thấy gốm mỹ nghệ Phù Lãng ăn khách, người ta nhập về bán kiếm lời. Thế rồi sẵn nghề trong tay, người ta làm phỏng theo phong cách Phù Lãng. Tôi liên lạc với Trần Mạnh Thiều – chủ nhân thương hiệu “Gốm Thiều” của Phù Lãng. Mạnh Thiều phàn nàn: “Ðiều ấy xảy ra vài năm rồi, những mẫu đẹp của Phù Lãng vừa ra lò thì chỉ vài hôm sau Bát Tràng đã sản xuất mẫu như thế. Bát Tràng giao thông thủy bộ thuận tiện, gần trung tâm, mạnh về vốn, đấy là khó khăn lớn cho gốm Phù Lãng “.
Ngoài những sản phẩm “nhái” Phù Lãng, thì những sản phẩm “nhái” Trung Quốc, thậm chí cả những sản phẩm phỏng theo gốm Chăm cũng xuất hiện khá nhiều. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, anh Nguyễn Văn Ðạt, một nghệ nhân làng gốm Bát Tràng, không khỏi băn khoăn: “Ðây là điều đáng buồn với những nghệ nhân Bát Tràng. Những người làm nghề thật sự như chúng tôi luôn sáng tạo trên nền truyền thống của làng mình là chủ đạo. Tuy nhiên, cũng có những người vì lợi nhuận…”.
Nếu như Bát Tràng là làng nghề đặc trưng của Thủ đô thì đất Hà Tây cũ vốn được mệnh danh là “quê lụa”. Quê lụa ở đây là lụa Hà Ðông. Lụa Hà Ðông nổi tiếng là thế, nhưng ngay khi đến tận đất lụa Hà Ðông, thì người ta lại mua phải lụa không rõ nguồn gốc. Trong đó, có một số loại vải na ná như lụa Hà Ðông, mà nhiều người cho rằng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Càng buồn hơn cho du khách khi đi bao nhiêu cây số gió bụi đến tận gốc gác của nghề lụa nức tiếng gần xa vẫn mua phải lụa rởm, mà giá thì cao không khác gì lụa xịn. Vạn Phúc nằm trong tua của nhiều hãng du lịch lữ hành, nên các du khách đến từ nhiều vùng, miền đất nước cũng như khách quốc tế cùng chịu chung cảnh “mua nhầm”. Những sản phẩm này thường có chất lượng kém hơn so với lụa Vạn Phúc và giá cả ở trên thị trường cũng rẻ hơn rất nhiều.
Tìm đến nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc, ông Chỉnh thẳng thắn thừa nhận: “Ðúng là có hiện tượng trộn hàng không rõ nguồn gốc để bán lẫn với hàng lụa Vạn Phúc. Hiệp hội làng nghề không cấm bán hàng từ nơi khác, nhưng phải ghi rõ xuất xứ. Nhưng vẫn có một số người kém ý thức, “lập lờ đánh lận con đen”.
Nguy cơ đánh mất bản sắc
Hai làng nghề được coi là nức tiếng nhất của Thủ đô bây giờ, mỗi làng một vẻ, nhưng đều ít nhiều có dấu hiệu của một đoàn tàu đang có nguy cơ chệch hướng. Cả Bát Tràng lẫn Vạn Phúc đều là những làng nghề làm ra những sản phẩm có tính mỹ thuật, đòi hỏi sự sáng tạo cao. Nhưng thay vì tìm tòi để sáng tạo ra những mẫu mới với chất lượng cao trên nền truyền thống của làng nghề, không ít người tìm đến một con đường ngắn hơn. Những gì đang diễn ra cho thấy sự sáng tạo không được đặt ở vị trí xứng đáng.
Các sản phẩm gốm da lươn được bày bán tràn lan ở làng gốm
Bát Tràng.
Không chỉ làm phỏng theo những dòng gốm khác, mà những sáng tạo của các nghệ nhân chân chính ở Bát Tràng cũng bị nhiều người đánh cắp không thương tiếc. Một nghệ nhân giấu tên ở Bát Tràng cho biết, khi anh vừa nghiên cứu chế ra được một loại men mới, thì ngay lập tức nhiều hộ gia đình tìm cách bắt chước. Và sáng chế về loại men đó của anh, dù mất rất nhiều công sức và thời gian nghiên cứu, chỉ có giá trị trong vài lần đốt lò, vì sau đó, hàng loạt sản phẩm tương tự như thế được bắt chước và làm với giá rẻ hơn. Ở Vạn Phúc, ngoài thương hiệu thuộc sở hữu chung của cả làng, không có một thương hiệu nào bật lên với những sáng tạo riêng, cũng chỉ vì lý do một thời gian sau khi mẫu lụa ra đời, cả làng cùng dệt, và người sáng tạo cũng chỉ còn cách chấp nhận… hòa cả làng!
Trao đổi ý kiến với chúng tôi về việc làm thế nào để loại trừ những hiện tượng “phá” thương hiệu ra khỏi làng nghề, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh cho biết: “Hiệp hội không có thẩm quyền đi phạt những người vi phạm. Nhưng hiện giờ chúng tôi đã có dự án xây dựng khu trung tâm giới thiệu và bán sản phẩm Vạn Phúc. Dự kiến trung tâm rộng chừng 1.000 m2, được xây ba tầng. Ngoài ra, có khu nhà cổ giới thiệu quy trình làm lụa. Chúng tôi sẽ gây dựng để trung tâm là địa chỉ tin cậy của khách hàng. Những người làm ăn theo kiểu “chụp giật” sẽ không được tham gia trung tâm. Không tham gia trung tâm, đồng nghĩa với việc không được Hiệp hội làng nghề bảo đảm về chất lượng. Từ đó, sẽ loại trừ những tiêu cực khỏi làng nghề”. Cách làm của Vạn Phúc, có lẽ là một gợi ý hay cho nhiều làng nghề của Hà Nội nói chung, trong cuộc “đấu tranh” để giữ gìn bản sắc trong cơ chế thị trường.
Sau khi hợp nhất Hà Tây với Hà Nội, Thủ đô hiện có hàng trăm làng nghề khác nhau. Tiếng tăm của những làng nghề kể trên có được, chính là bản sắc được dày công tích tụ qua nhiều đời. Nhưng cơ chế thị trường khiến bản sắc của không ít làng nghề phai nhạt mà hai làng nghề nổi tiếng nói trên là những thí dụ tiêu biểu. Hy vọng rằng, người ta sẽ sớm nhận ra, cái lợi trước mắt có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài, nếu những làng nghề đậm bản sắc văn hóa đánh mất những nét độc đáo riêng có của mình…
nguồn  ” Nhân Dân”

Read Full Post »

Gốm Phù Lãng & Sản phẩm tiêu biểu

Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, làng Phù Lãng (huyện Quế Võ) được coi là nơi phong cảnh hữu tình hiếm có của vùng Kinh Bắc. Làng Phù Lãng từ xa xưa đã hội tụ đầy đủ điều kiện cho nghề gốm ra đời và phát triển. Cùng với gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Đồng Nai, Sông Bé… gốm đã tồn tại và phát triển rất lâu đời, gắn bó với con người trong hầu hết các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội, gắn bó với con người cả khi sống lẫn khi đã chết.

gom-phu-lang-a
Một góc làng gốm Phù Lãng

gom-phu-lang-bNgười nguyên thủy trong Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam (đất nung do làng gốm Phù Lãng làm)

Gốm Phù Lãng có nét sắc thái riêng biệt, đó là những sản phẩm gốm men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thẫm, vàng nâu… mà người ta gọi chung là men da lươn. Thêm nữa, nét đặc trưng nổi bật của gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong, còn gọi là chạm kép, màu men tự nhiên, bền và lạ; dáng của gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa, và rất đậm nét của điêu khắc tạo hình.

Dấu ấn để lại khắp châu thổ sông Hồng là những dấu ấn tín ngưỡng như rồng, phượng, hạc, lư hương, đỉnh, đài thờ, tứ linh, nghê… trên các chùa, đình, miếu, nhà thờ, tháp…

gom-phu-lang-c
Lư hương, bình hoa thờ của gốm Phù Lãng

Gốm đã có mặt trong các gia đình, nhất là vùng thôn quê Bắc Bộ và miền Bắc Trung Bộ, các loại gốm gia dụng như chum, vại, chĩnh, lọ, lục bình, siêu ấm…

gom-phu-lang-d
Chum gốm men nâu

Gốm còn theo người chết về cõi vĩnh hằng như tiểu sành, quách sành…

Ngày nay, gốm đã phát triển thành những mặt hàng dân dụng như chậu cảnh, gạch ốp trang trí, gạch lát nền, phù điêu, tranh gốm, tượng phụ nữ, biểu tượng logo…

gom-phu-lang-e
Bình hoa cổ trang trí hoa văn

Hiện nay, sau nhiều năm mở cửa, thực hiện cơ chế thị trường, đất nước đã thực sự hội nhập. Ngành gốm nói chung cũng phải biến đổi để phù hợp với thị trường và đời sống đương đại. Nhiều người con của làng Phù Lãng không còn bằng lòng với “bảo bối gia truyền” mà đã cố công đi học ở khoa điêu khắc của trường Đại học Mỹ thuật và Mỹ thuật công nghiệp. Có nghệ nhân trẻ đã phải vét đến đồng tiền cuối cùng để đi tham quan thị trường và công nghệ sản xuất gốm ở nhiều nước trên thế giới. Tiêu biểu nhất trong lớp trẻ là Vũ Hữu Nhung, một nghệ nhân biết sáng tạo, kết hợp thành công giữa gốm truyền thống và hiện đại, đã tạo ra được một dòng gốm mới được gọi là Gốm Nhung.

Gốm Nhung là con đường mới đi vào mỹ nghệ, vào nghệ thuật trang trí. Nó giành lấy chỗ cho mình trong những nội thất tân thời… Bằng những khổ công tìm tòi, Gốm Nhung đã phát lộ ra cái đẹp bản chất của gạch, gỗ, đá, vải, mây tre, cây cỏ và thể hiện chúng trên chất liệu của gốm một cách đa hình, đa sắc…

Những năm vừa qua, nhằm bảo vệ và phát triển làng nghề, nhà nước và địa phương đã tổ chức làng Phù Lãng là một trong tuyến du lịch làng nghề do cộng đồng Pháp ngữ vương quốc Bỉ tài trợ với sự tham gia của Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTT), qua đây đã quảng bá tuyên truyền cho khách thập phương về một vùng đất, một làng quê đã biết kế thừa di sản văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại.

PHẠM HUY TƯỞNG

Hình ảnh gốm Phù Lãng sản xuất ngày nay:

 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Tìm hiểu một số hình ảnh biểu tượng trong hội họa TQ xưa

Ngày nay nghành gốm sứ TQ vẫn tiếp tục sản xuất các sản phẩm copy lại từ những nguyên mẫu cổ xưa hoặc sử dụng lối vẽ xưa trên các sản phẩm có dáng dấp cổ điển. Việc nắm bắt được ý nghĩa của các hình vẽ trang trí này sẻ giúp việc sưu tầm hoặc chơi đồ gốm sứ trở nên thích thú hơn. Tuy nhiên, nội dung của bài sưu tầm dưới đây cung cấp thông tin rộng lớn hơn chủ yếu về nghệ thuật hội họa TQ xưa, giải thích ý nghĩa một số tranh biểu tượng; còn trang trí hình vẽ trên gốm sứ chỉ là sao chép lại một phần nào đó của tranh nguyên bản, hiếm khi mang tính sáng tác.

Đối với loại tranh TQ cổ điển này, cái chủ đề với ý nghĩa biểu tượng thì quan trọng hơn phong cách hay kỹ thuật thể hiện (thuật ngữ chuyên môn gọi là kỹ pháp 技法). Tác giả có thể dùng công bút 工笔 (tức là lối vẽ tỉ mỉ, bất cứ vật gì cũng có đường viền thậm chí cọng cỏ hay chiếc lá, rồi tô màu lên); hoặc dùng ý bút 意笔 (tức là lối vẽ phóng khoáng, loại bỏ hoặc rất hạn chế đường viền, thậm chí một nét bút cũng thành lá lan hay cọng cỏ). Tác giả cũng có thể dùng màu sắc rực rỡ tươi thắm, hoặc màu sắc nhàn nhạt lạnh lẽo, thậm chí vẽ toàn mực đen (thuật ngữ gọi là mặc hoạ 墨畫). Dù sao, tất cả điều ấy cũng chỉ là những hình thức thể hiện đa dạng, mà mục đích chủ yếu là nhằm chuyển tải một ý nghĩa biểu tượng nào đó.

Có hai điểm nổi bật của loại tranh này. Thứ nhất, trong cuộc sống người ta thường gán cho một sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng. Thí dụ: trúc là quân tử, mai là giai nhân, cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diên niên 松鶴延年), v.v… Hoạ sĩ chỉ việc thể hiện nó bằng kỹ pháp riêng của mình. Đặc điểm thứ hai là thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người. Thí dụ bức tranh vẽ con cá. Chữ Hán ngư 魚 (cá) đồng âm [yú] (âm Bắc Kinh) với chữ 餘 (dư thừa, dư dật). Qua ý nghĩa biểu tượng này là niềm ao ước một cuộc sống dư dật, khá giả. Nếu vẽ 9 con cá, thì ước nguyện này càng mạnh mẽ. Chữ Hán cửu 九 (số 9) đồng âm [jiǔ] với chữ cửu 久(lâu dài, trường cửu). Cửu ngư 九魚 (9 con cá) phát âm [jiǔ yú] giống như cửu dư 久餘 (dư dật lâu dài), ngụ ý một ước mong được sống khá giả mãi. Điều này cũng giống như người Việt Nam sắp đặt dĩa trái cây chưng tết gồm mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ, xoài với ước nguyện khiêm tốn «cầu vừa đủ xài» trong tiết xuân sang; bởi vì người Việt ở Nam Bộ phát âm «dừa» giống như «vừa», «xoài» giống như «xài». (Thật ra mong ước đó không khiêm tốn đâu, bởi vì ở đời biết thế nào mới là đủ). Tất nhiên sự so sánh này chỉ nhắm vào khía cạnh ngôn ngữ, không xét tới hình thức thể hiện.

Tranh của Đường Dần (đời Minh)

Sau đây chúng ta thử tìm ra một số hình ảnh biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc. Trước tiên, khi nói đến tranh thuỷ mặc 水墨 (thường bị đọc nhầm là thuỷ mạc) thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến tranh sơn thủy. Đây là một mảng đề tài đặc sắc trong hội hoạ Trung Quốc. Hai chữ sơn thuỷ có ý nghĩa triết lý thâm trầm của chúng, không chỉ đơn thuần sơn 山 là núi non, thuỷ 水 là sông nước.

Khổng Tử từng nói rằng: «Kẻ trí vui chơi nơi sông nước, kẻ nhân vui chơi nơi núi non. Kẻ trí hiếu động, kẻ nhân trầm tĩnh. Kẻ trí vui vẻ, kẻ nhân trường thọ.» 知(智)者樂水, 仁者樂山, 知(智)者動, 仁者靜, 知(智)者樂, 仁者壽 (Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh, trí giả lạc, nhân giả thọ.– Luận Ngữ – Ung Dã).

Sông nước trôi chảy, linh động biến dịch không ngừng, tìm về trùng dương mênh mông. Sự trôi chảy không ngừng này tượng trưng bản thể của Đạo. Khổng Tử có lần đứng trên bờ sông, nhìn nước chảy, giác ngộ lý lẽ ấy, nên ngài tán thán: «Ôi, trôi chảy thế này, ngày đêm nó không hề ngừng nghỉ !» 逝者如斯夫不舍晝夜 (Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ ! – Luận Ngữ – Tử Hãn).

Do đó, kẻ trí tuệ thấu đạt lý lẽ của sự vật, linh hoạt tiến triển mãi không ngưng trệ, cũng linh động như bản tính của nước. Kẻ nhân ái yên ổn với nghĩa lý mà dày dặn kiên cố vững bền, cũng tĩnh như bản tính của núi. Động và tĩnh nói về bản thể, mà vui vẻ trường thọ là nói về hiệu quả đạt được.

Người nhân ái và trí tuệ xưa nay hiếm. Trong cõi trần ai, ngay bản thân kẻ nhân và trí cũng không biết tìm đâu ra bạn tri âm tri kỷ. Không biết tìm đâu, nên mượn tranh sơn thuỷ để ký thác tâm tình, gởi gấm nỗi niềm. Nhưng triết lý của sơn thuỷ có lẽ là do giới thưởng ngoạn đời sau gán cho. Thuở xa xưa, chắc gì các hoạ gia đã nghĩ như thế.

Chủ đề nổi bật thứ hai là hoa điểu 花鳥 (hoa và chim chóc). Về hoa, các văn nhân Trung Quốc thường gán cho từng loại hoa một đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào đó, và các họa sĩ đã tiếp thu toàn bộ những quan niệm này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤 đời Tống từng nói: «Trong các loài hoa, cúc là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân tử vậy.» 菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也 (Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã).

Quan niệm cúc là kẻ ẩn dật có lẽ phát xuất từ Đào Tiềm 陶潛 tức Đào Uyên Minh 陶淵明 đời Tấn, một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm quan luồn cúi, treo áo từ quan, hưởng thú điền viên, vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn du. Người đời khen ông là bậc ẩn dật cao khiết. Trong bài Ẩm Tửu 飲酒 của ông có nhắc đến hoa cúc: «Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam.» 採菊東籬下悠然見南山 (Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn). Người ẩn sĩ này uống rượu ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng là biểu tượng của bậc quân tử ẩn dật lánh đời vậy. Đào Tiềm từng thốt rằng: «Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.» 秋菊有佳色裛露掇其英泛此忘憂物遠我遺世情 (Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ xuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình).

Người giàu có ưa chuộng màu sắc lộng lẫy rực rỡ của mẫu đơn. Mẫu đơn là loài hoa quý hiếm, chỉ có bậc quyền quý đài các mới chơi hoa này. Cho nên mẫu đơn là biểu tượng của sự giàu sang phú quý.

Hoa sen là cốt cách của bậc quân tử. Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng tanh bùn. Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấm lạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho và tinh khiết như đóa sen kia.

Tranh của Từ Vị (đời Minh)

Cổ nhân gọi tùng, trúc, mai là ba người bạn mùa lạnh (tuế hàn tam hữu 歲寒三友), bởi vì ba loại cây này dù mùa sương tuyết vẫn tươi tốt trong khi những loại cây khác hầu như cằn cỗi héo hon. Tính chịu lạnh của tùng, trúc, mai tượng trưng đức tính nhẫn nại của người quân tử, tự cường mãi không thôi, luôn trau giồi tài đức trước nghịch cảnh cuộc đời.

Mai, lan, cúc, trúc thường được gộp chung thành một cụm, xem như biểu tượng của bậc quân tử, nên cũng được gọi là «tứ quân tử» 四君子(bốn người quân tử). Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên thậm chí còn so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.» 秋蘭兮清清綠葉兮紫莖滿堂兮美人忽獨與余兮且成 (Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành). Hoa cúc trác việt siêu phàm, là biểu tượng của bậc quân tử ở ẩn mà trên đây đã đề cập. Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô 林逋 yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu mai thê hạc tử 梅妻鶴子 (hoa mai là vợ, chim hạc là con). Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc.» 寧可食無肉不可居無竹 (Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc).

Không chỉ hoa, mà quả cũng mang ý nghĩa biểu tượng nữa. Chẳng hạn quả đào tượng trưng sự trường thọ; thí dụ tranh «Đào hiến thiên xuân» 桃獻千春 (đào dâng nghìn tuổi xuân) vẽ ông lão cầm quả đào. Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái; thí dụ tranh «Lựu khai bách tử» 榴開百子(quả lựu mở sinh trăm con) vẽ ông lão cầm quả lựu bóc dở, cho trông thấy hạt. Quả phật thủ tượng trưng cho phúc; thí dụ tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) là ngụ ý: đa phúc, đa thọ, đa nam tử. Quả quít tượng trưng sự tốt lành (cát). Ngay trong đời sống hằng ngày người ta cũng thích biếu xén nhau quít.

Hoa thường được vẽ chung với điểu. Chim hạc tượng trưng cho sự trường thọ. Người Trung Quốc tin rằng hạc sống đến ngàn năm (hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Hạc thường được vẽ chung với cây tùng (cũng ngụ ý trường thọ), nên tranh «Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu) được dùng để chúc thọ.

Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân) mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn (vịt trời) hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang lạc.

SONG THỌ – tranh Tề Bạch Thạch

Tranh «Thập toàn báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành công.

Dưới cội mai vàng (biểu tượng của phúc) là đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tào khang, quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống) thật là cảm động và thâm trầm biết bao! Con gà mái với bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm.

Con công tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng. Chim phượng (thường gọi gộp là phượng hoàng, thực ra phượng 鳳 là con trống, hoàng 凰 là con mái) là linh điểu, tương truyền chim phượng xuất hiện là thánh nhân ra đời. Nhưng chim loan và chim phượng thì tượng trưng duyên nợ vợ chồng. Tranh «loan phượng hoà minh» 鸞鳳和鳴 (chim loan và chim phượng hoà chung tiếng hót) ngụ ý sự hoà thuận êm ấm của vợ chồng.

Một số động vật cũng có ý nghĩa biểu tượng. Rồng (long 龍 ), một con vật huyền thoại, là biểu tượng của vương quyền. Kỳ lân (kỳ 麒 là con đực, lân 麟 là con cái) tượng trưng nhân ái và thái bình. Con rùa (quy 龜) cũng là thần vật, tương truyền nó sống tới ngàn năm, nên tượng trưng sự trường thọ.

Ngựa là một chủ đề quen thuộc. Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, ý thức rõ quan hệ truyền chủng, không vi phạm cái mà luân lý loài người gọi là loạn luân. Như Dịch Kinh từ đời Chu đã ca ngợi là «Tẫn mã chi trinh» 牝馬之貞 (đức trinh tiết của ngựa cái). Ngựa còn có đức tính trung thành, một đức tính mà Nho gia rất coi trọng trong các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, ngựa từ thời xa xưa có giá trị rất cao. Trong chiến tranh ở Trung Quốc cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự. Các kỵ binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh quân của Trung Quốc. Trong giao thông vận tải thì ngựa là phương tiện nhanh chóng và hữu hiệu. Từ đời Thương người ta đã biết đánh xe ngựa tới nơi xa xôi để buôn bán. Ngoài giá trị quan trọng của ngựa trong vận tải và quân sự, người ta còn tìm thấy giá trị y học của ngựa, được mô tả trong Bản Thảo Cương Mục (xuất bản 1596) nữa. Cứ xem đời nay mà xét, ngày nay người ta xem những xe hơi hiện đại sang trọng là biểu tượng của giàu có thì ngày xưa ngựa chính là biểu tượng đó. Nói chung, ngựa xuất hiện trong tranh Trung Quốc như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Thí dụ bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» 馬到成功 thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» 旗開得勝馬到成功 (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công). Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công. Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn).

Có những vật tưởng như bình thường nhưng cũng có ý nghĩa đặc biệt, thí dụ con cóc tía (thiềm thừ 蟾蜍) tượng trưng cho sự giàu có, can đảm, và cái gì quý báu, khó kiếm ra được. Con bướm (hồ điệp 蝴蝶) tượng trưng sự trùng điệp. Con mèo tượng trưng sống lâu. Con cá chép (lý ngư 鯉魚, cá hoá long, cá vượt vũ môn) tượng trưng thi đỗ, v.v…

Rồi sự kết hợp nhiều thứ khác nhau cũng có ngụ ý tổng hợp. Thí dụ hoa kết hợp với điểu, thảo trùng, cá, đá (tượng trưng sự vững chắc) và các khí vật khác (thí dụ cái bình hoa, ngụ ý an bình) làm tăng thêm thi ý cho tranh, thường đó là lời chúc nguyện cát tường.

Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng «Phú quý hữu dư» 富貴有餘 (phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim công) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm ngụ ý là trùng điệp. Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.

Như trên đã nói, thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người.

– Bông hoa, chữ Hán là hoa 花 phát âm [huā] gần giống chữ hoa (vinh hoa) [huá].

– Hoa sen, chữ Hán là liên phát âm [lián] giống như chữ liên (liên tục) [lián]; hoặc chữ Hán là phát âm [hé] giống như chữ hoà (hoà hợp) [hé].

– Quả thị hay cành thị, chữ Hán là thị phát âm [shì] giống như chữ sự (sự việc) [shì].

– Quả lựu, chữ Hán là lựu phát âm [liú] giống như chữ lưu 流 (trôi chảy, lưu truyền) [liú].

– Cây phong, chữ Hán là phong 楓 phát âm [fēng] giống như chữ phong 封 (ban phong) [fēng].

– Cây ngô đồng, chữ Hán là đồng 桐 phát âm [tóng] giống như chữ đồng 同 (cùng với) [tóng].

– Cành mai, chữ Hán là mai 梅 phát âm [méi] gần giống chữ mỗi (mỗi thứ, mỗi người) [měi].

– Cành trúc, chữ Hán là trúc 竹 phát âm [zhú] gần giống chữ chúc (chúc tụng) [zhù].

– Con gà, chữ Hán là phát âm [ji] gần như chữ cát 吉 (tốt lành) [jí].

– Con cá, chữ Hán là ngư phát âm [yú] giống như chữ (dư thừa, dư dật) [yú].

– Con dơi, chữ Hán là bức 蝠 phát âm [fú] giống như chữ phúc (hạnh phúc) [fú]. Vẽ 5 con dơi tức là ngũ bức 五蝠 , phát âm [wǔ fú] giống như ngũ phúc 五福 . Con dơi vẽ lộn ngược tức là đảo bức 倒 蝠 , phát âm [dào fú] giống như đáo phúc 到福 (phúc đến).

– Con mèo, chữ Hán là miêu 猫 phát âm [máo] gần giống chữ mạo (già 80 tuổi) [mào].

– Con bướm, chữ Hán là điệp 蝶 phát âm [dié] giống như chữ điệt (già 70 tuổi) [dié] và chữ điệp 疊 (trùng điệp) [dié].

– Con hươu, con nai, chữ Hán là lộc 鹿 phát âm [lù] giống như chữ lộc 禄 (bổng lộc) [lù].

– Con vượn, con khỉ, chữ Hán là hầu 猴 phát âm [hóu] giống như chữ hầu 侯 (tước hầu) [hóu].

– Cái quạt, chữ Hán là phiến 扇 phát âm [shàn] giống như chữ thiện (tốt lành) [shàn].

– Ống sáo, chữ Hán là sinh 笙 phát âm [shēng] giống như chữ sinh (sinh nở) [shēng] và chữ thăng 升 (bay lên) [sheng].

– Cái lục bình, chữ Hán là bình phát âm [píng] giống như chữ bình 平 (bình an) [píng].

– Cái mũ, cái mão, chữ Hán là quan 冠 phát âm [guān] giống như chữ quan 官 (ông quan) [guan].

– Ngọc như ý đúng ý nghĩa là như ý 如意 [rú yì].

– Số 9, chữ Hán là cửu 九 phát âm [jiǔ] giống như chữ cửu 久 (lâu dài) [jiǔ].

– v.v…

Phối hợp nhiều thứ với nhau, tranh vẽ mang ý nghĩa biểu tượng tổng hợp. Thí dụ như:

1. Tranh vẽ quả đào với 5 con dơi ngụ ý Ngũ Phúc Lâm Môn 五福臨門. Ngũ Phúc là: phú 富(giàu), thọ 壽 (sống lâu), khang ninh 康寧 (khỏe mạnh), du hiếu đức 攸好德 (yêu nhân đức), khảo chung mệnh 考終命 (chết êm ái).

2. Tranh vẽ quả phật thủ với con bướm ngụ ý sống lâu đến 70-80 tuổi, vì quả phật thủ tượng trưng cho thọ hay phúc, con bướm (điệp) ngụ ý già 70 tuổi (điệt 耋 ) hay trùng điệp (điệp 疊), tức là phúc thọ trùng điệp 福壽重疊.

3. Tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) ngụ ý tam đa 三多: đa phúc 多福 (nhiều phúc), đa thọ 多壽 (rất thọ), đa nam tử 多男子(nhiều con trai).

4. Tranh vẽ quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý ngụ ý «tam đa cửu như» 三多九如 nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững.

5. Tranh vẽ quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra ngụ ý «lựu khai bách tử» 榴開百子 (lựu mở ra sinh trăm con).

6. Tranh vẽ quả lựu với 5 cậu bé con ngụ ý mong cho con cái sau này đều hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.

7. Tranh vẽ quả lựu 榴 (ngụ ý lưu truyền 流) với cái mũ (ngụ ý tước quan 官), cái đai lưng (đái 帶), cái thuyền (thuyền , đọc giống truyền 傳 ) ngụ ý mong cho «Quan đái truyền lưu»官帶傳流 (đai lưng của quan được lưu truyền, tức là được phong quan tước nhiều thế hệ trong gia tộc).

8. Tranh vẽ hai quả thị (ngụ ý sự việc) với ngọc như ý là mong «Sự sự như ý» 事事如意 (vạn sự như ý).

9. Tranh vẽ cây ngô đồng 桐 (đồng âm với đồng 同 : cùng với) với con hươu (lộc 鹿 , đồng âm với lộc 禄: bổng lộc) và chim hạc 鶴 (trường thọ) là ngụ ý «Lộc thọ đồng lộc hạc» 禄壽同鹿鶴 (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).

10. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 (vui vẻ) đậu cây ngô đồng 桐 (đồng âm với đồng 同 : cùng với) là ngụ ý «đồng hỉ» 同喜 (mọi người cùng vui vẻ).

11. Tranh vẽ đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen (liên 蓮 ) và ống sáo (sinh 笙) là ngụ ý «Liên sinh quý tử» 連生貴子 (liên tiếp sinh quý tử).

12. Tranh vẽ 4 đứa trẻ: đứa cầm cành táo (tảo , đồng âm với tảo 早: sớm), đứa cầm ống sáo (sinh 笙 ), đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ là ngụ ý mong: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.

13. Tranh vẽ đứa trẻ ăn mặc sang trọng (phú 富), cổ đeo cái khánh (đồng âm với khánh 慶, hiểu là may mắn hạnh phúc) đang ngắm bầy cá vàng (ngư 魚, hiểu là dư thừa) là ngụ ý mong: giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa.

14. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 đậu cành mai 梅 (đồng âm với mỗi : mọi người) cành trúc (đồng âm với chúc 祝: chúc mừng) là ngụ ý mong cho mọi người đều vui vẻ.

15. Tranh vẽ trúc mai 竹梅 ngụ ý mọi người may mắn.

16. Tranh vẽ mai, trúc với con mèo và con bướm là ngụ ý mong mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.

17. Tranh vẽ mẫu đơn 牡丹 (phú quý) với con gà (雞 đồng âm với cát 吉: tốt lành) ngụ ý «phú quý cát tường» 富貴吉祥.

18. Tranh vẽ con khỉ (hầu 猴) trèo cây phong (phong 楓) có cái ấn cột vào cành cây ngụ ý «ấn phong hầu» 印封侯, tức là được thăng quan tiến chức nói chung.

v.v…

Trên đây là một số minh hoạ tiêu biểu. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của loại tranh (cát tường) này cho thấy ba chủ ý của tác giả: 1- gởi gấm ý chí; 2- ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân; 3- và cầu chúc hạnh phúc cho người khác. Với chủ ý thứ ba, các bức tranh này thường được người ta làm quà tặng nhau vào những dịp mừng thọ hay những dịp đặc biệt như ngày đầu năm, mà những lời chúc nguyện rồi sẽ như chồi non lộc mới nảy nở thành những đoá hoa rực rỡ tươi thắm trong tiết xuân sang.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »