Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 24th, 2009

48 bức họa cổ Trung Quốc, thời nhà Thanh (1644 – 1840) – Tiếp theo

Những bức hình này một phần do khổ tranh thực tế khá to, một phần là sở hửu của viện bảo tàng nên mức độ công bố có hạn, một phần hình chụp chuyển lên mạng đã hạn chế số lượng pixel nên khi xem trên blog bản thân tôi phải dùng thêm kính lúp mới xem rỏ tiểu bố cục. Với phần mềm rất nhẹ Benvista Photozoom tải từ mạng xuống xem thì chất lượng hình khi zoom tốt hơn rất nhiều ( không bể hình). Hy vọng các bạn có thể thưởng ngoạn được bộ tranh này vì chính ra với cách phối màu cổ điển monogram và analogic ở hầu hết các bức họa ta có thể xem được nhiều hình mà không nhức mắt.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

48 bức họa cổ Trung Quốc, thời nhà Thanh (1644 – 1840)

Những bức hình này một phần do khổ tranh thực tế khá to, một phần là sở hửu của viện bảo tàng nên mức độ công bố có hạn, một phần hình chụp chuyển lên mạng đã hạn chế số lượng pixel nên khi xem trên blog bản thân tôi phải dùng thêm kính lúp mới xem rỏ tiểu bố cục. Với phần mềm rất nhẹ Benvista Photozoom tải từ mạng xuống xem thì chất lượng hình khi zoom tốt hơn rất nhiều ( không bể hình). Hy vọng các bạn có thể thưởng ngoạn được bộ tranh này vì chính ra với cách phối màu cổ điển monogram và analogic ở hầu hết các bức họa ta có thể xem được nhiều hình mà không nhức mắt.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

28 bức họa cổ Trung Quốc, thời cận đại (1840 – 1911)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Vì sao làng gốm Hương Canh chỉ còn là cái tên

Làng gốm Hương Canh thuộc huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) từ cách đây 300 năm đã nổi tiếng là trung tâm sản xuất gạch, ngói “khổng lồ” của cả miền Bắc. Lúc nào, làng cũng như một đại công trường; khói tỏa mù mịt quanh năm suốt tháng… Thế mà bây giờ, cả cái công trường gạch, ngói này bỗng nhiên “khai tử” bởi một lý do đơn giản: Không còn một tấc đất nguyên liệu để sản xuất, phải đi “đong” từng cục đất.
Anh Nguyễn Tất Viên và lò gạch cuối cùng ở làng Hương Canh nổi tiếng.


Bước vào Hương Canh bây giờ, đâu cũng chỉ là những lò gạch nằm lạnh ngắt. Bói mãi không ra một cái lò còn đỏ lửa. Gương mặt người làng Hương Canh đầy nuối tiếc. Ai cũng có thể say sưa kể về một “thời vang bóng” nhưng họ đều nhận ra rằng, khó có cơ hội quay trở lại cái giai đoạn hoàng kim nữa.

Ông Nguyễn Thanh, 61 tuổi, ở xóm Lò Cang, người đã có mấy chục năm gắn bó với những lò gạch, lò ngói, kể rằng ngói Hương Canh đã nổi tiếng từ 300 năm trước. Ngói lợp đỏ hồng khắp các mái nhà, tổ ấm. Ngói trùm lên cả đình làng. Hết bán gần rồi lại bán xa. Ngói còn được đưa lên tàu, xuôi nước sông Hồng ra biển, ngược tận Vân Đồn (Quảng Ninh), vào tận Nghệ An, Hà Tĩnh. Hương Canh đã trở thành một thương hiệu mà nhiều làng làm ngói khác chỉ cần nghe tên là “kính nể”. “Nhưng bây giờ, Hương Canh chỉ còn lại là cái tên thôi”, ông trầm ngâm, nuối tiếc.

Ông còn kể, cho đến những năm đổi mới, hàng trăm hộ gia đình ở Hương Canh vẫn còn nung ngói theo hình thức hợp tác xã. Sau đó, mô hình hợp tác xã ngói tan vỡ, người ta lại ôm ngói về nhà mở lò riêng. Cho đến cách đây chừng 12-13 năm thì ngói trở nên lép vế, nhưng người Hương Canh đã nhanh chóng quay sang đóng gạch xây dựng và cứ thế ăn nên làm ra.

Nhờ được cơ chế thị trường tiếp sức, gạch nung bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Bởi thế, chỉ trong một thời gian ngắn, từ hàng chục lò gạch được nhân lên hàng trăm lò gạch. Rồi sự thịnh vượng cũng chỉ được chừng vài năm thì hàng loạt chủ lò gạch lại đứng trước một bài toán rất nan giải, đó là đất nguyên liệu cứ bị khoét, đào, sấn mãi dẫn đến không còn một thước đất để làm gạch nữa.

Số lượng lò gạch xuất hiện quá nhiều, quá nhanh trong khi quỹ đất lại chỉ có hạn, quy hoạch thì không hề có. Không còn cách nào, nhà nhà phải tính đến nước đi sang các làng, xã ở lân cận để mua đất về đóng gạch. Nhưng rồi, đến lượt các làng, xã khác cũng không còn đất để làm gạch, dần dần đã dồn hàng loạt hộ dân vào một tình thế không thể khác là phải “giã từ lò gạch”.

Đi từ đầu làng đến cuối làng, hỏi han mãi, cuối cùng chúng tôi mới tìm được một chủ hộ còn làm gạch. Đó là gia đình anh Nguyễn Tất Viên, 48 tuổi, ở xóm Đống Mước. Anh khẳng định: “Cách đây 10 năm, ở Hương Canh đã có tới 600 hộ mở lò làm ngói, làm gạch. Thế nhưng bây giờ, ngói hầu như không còn một lò nào nữa. Gạch thì còn đúng một lò nhà tôi”.

Có lẽ, không hoạt động nào “ăn” đất cát tốn kém như làm gạch, ngói. Từng vạt ruộng, bờ ao cứ bị “gặm” dần. Ban đầu, người ta tranh thủ “gợt” lớp đất ở mặt ruộng để làm gạch. Dần dần, ruộng cũng thành ao, hố. Cả làng, đâu cũng chỉ toàn ao, hố. Hết ruộng, người ta “móc” đến vườn.

Dẫn chúng tôi ra khu vườn nhỏ trước nhà, nơi 4 vạn viên gạch mộc đang xếp phủ kín lối đi. Chỉ xuống 2 cái ao cuối vườn, anh Viên bảo: “Hai cái ao kia cũng vì khoét đất làm gạch mà thành. Khoét sâu quá rồi thì không thể khoét thêm được nữa”.

Do không có đủ đất, nên cái lò gạch cuối cùng của anh ở làng Hương Canh cũng chỉ mỗi năm một lần đỏ lửa. Trỏ vào cái lò, anh bảo: “Nếu có đủ đất thì tôi có thể đắp thêm 4-5 cái lò như thế nữa. Giờ làm gạch rất có lãi. Nhưng không có đất, phải đi “ăn đong” từng cục đất, làm ăn thất thường, thu nhập thất bát”.

Cách đây 2 năm, trong làng vẫn còn khoảng 20 nhà làm gạch, ngói song ngày ngày, bà con phải kéo nhau sang tận các xã Sơn Lôi, Quất Lưu, Tân Phong, Tam Hợp… để mua từng xe đất một. Nhưng hiện nay, các xã kể trên cũng không còn đất nguyên liệu. Bởi vậy, bà con phải mua đất “rong”- tức là khi nào có xe ô tô chở đất qua làng thì bà con đổ ra mua về làm gạch. Không có thì lại ngồi chờ!

Gặp chúng tôi ở đầu làng, chị Trần Thị Yên, chừng 50 tuổi, ở xóm Trong, bảo: “Nếu sản xuất gạch thì rất tốn kém đất nguyên liệu. Vì thế chúng em mới dùng để sản xuất ngói. Bây giờ người ta đua nhau xây nhà mái bằng, nhà hộp, nhà lầu… nên chẳng còn mấy ai mua ngói lợp nữa. Tuy thế, mọi năm vẫn túc tắc bán được vài vạn. Nhưng sang năm nay đen đủi quá. Đầu năm giá cả lên cao, người ta đình hoãn xây dựng. Thế là ngói làm ra coi như “đứt” hẳn. Trong nhà em giờ còn đúng 3 vạn ngói, nung từ tháng 4 vừa rồi, mà chưa bán được viên nào”. Chị tính, 3 vạn ngói có trị giá khoảng 15 triệu đồng là một món tài sản lớn của nhà nông.

Không còn cách nào cứu vãn, người làng đành quay lưng lại với ngói, gạch. Chị vợ anh Viên còn kể: “Nhìn giá gạch tăng vù vù đợt đầu năm mà bứt rứt tay chân lắm, nhưng không có đất thì biết làm sao được”.

Chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Hữu Sản- Chủ tịch UBND thị trấn Hương Canh. Hỏi tại sao xã không quy hoạch một khu để bà con có đất sản xuất gạch? Ông than thở: “Phần lớn đất đã và đang được tỉnh quy hoạch, thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp. Quanh đây, giờ khu công nghiệp đã bao vây kín. Trong khi đó, có chỗ đất nào có thể làm gạch thì đã đào bới banh bét cả rồi. Vả lại, thị trấn chỉ còn lại ít đất lúa. Nếu sấn đất lúa để làm lò gạch thì lại không có lương thực. Phải đảm bảo lương thực đã. Bởi thế, đất để sản xuất gạch đang là vấn đề nóng bỏng của địa phương”.

Ông Sản cũng thừa nhận, không có việc làm đang là nỗi lo đè nặng hàng loạt nông dân trong làng. Anh Viên chỉ vào 2 đứa con trai của mình, lo lắng: “Chúng tôi có thể cố gắng chạy vạy cho những đứa như thế này vào làm công nhân, bảo vệ tại khu công nghiệp nhưng còn những người lỡ cỡ như chúng tôi, đi làm cửu vạn thì không đủ sức, vào nhà máy thì thừa tuổi… sẽ không biết sống ra sao?”.

Theo SGGP

Read Full Post »

Đưa nghệ thuật vào gầm cầu, hè phố
Hơn 200 không gian công cộng đang ngủ yên tại các thành phố lớn Việt Nam được đánh thức bằng những ý tưởng nghệ thuật độc đáo.

Cây cầu Long Biên thức dậy với những ký ức lịch sử sống động, cột cờ Cửa Bắc choàng tỉnh bởi ánh sáng và âm nhạc tràn ngập, bồn nước cũ trên đường phố Sài Gòn không còn đen đúa, rêu mốc mà được thay chiếc áo mới… Đó là những ý tưởng được đưa ra trong cuộc thi Đánh thức không gian do Hội đồng Anh và báo Thể thao và Văn hóa tổ chức. Cuộc thi thu hút gần 500 tác giả, hầu hết là dân nghiệp dư.

Giàu ý tưởng cho không gian chung

Hầm đi bộ khu vực Ngã tư Sở Hà Nội nhận được nhiều ý tưởng độc đáo. Tác giả Nguyễn Thùy Trang đề xuất sử dụng hệ thống đèn chiếu sáng mới bằng công nghệ media thay thế hệ thống đèn tuýp, bố trí rải rác hoặc tập trung tạo điểm nhấn; tạo ấn tượng thêm cho khu hầm bằng các ghế ngồi, thùng rác; và gọi đó là “trò chơi của ánh sáng”.

Với dự án Về quá khứ, Dương Minh Hạnh muốn khu hầm bộ hành đồng thời trở thành nơi trưng bày vô số thông tin cùng các tác phẩm nghệ thuật về thời kỳ Hùng Vương, Phật giáo, 36 phố phường Hà Nội cổ hòa quyện với Hà Nội năng động, hiện đại.

Các nghệ sĩ say mê trang trí cho không gian công cộng.
Ảnh: Lê Thoa

Nhiều dự án khác cũng khá đặc sắc. Ngô Ngọc Tấn muốn trang trí cho bức tường hầm chui với hệ thống vi mạch điện tử đồ họa, phát sáng vào ban đêm và có khả năng tự đổi màu. Hồng Sâm lại muốn biến những chiếc cầu vượt thành bầu trời xanh cùng những áng mây. Nhóm tác giả Lại Thành Tín nghĩ ra ý tưởng dùng đèn chiếu cao áp và hệ gương cầu, tái tạo các nhịp cầu đã mất trên cây cầu thế kỷ Long Biên…

Ngoài ra, các nghệ sĩ còn muốn thay áo mới cho bồn chứa nước, biến tòa nhà đang xây dở thành các bức tranh tường kích cỡ lớn, làm đẹp cho vỉa hè thành phố bằng hàng trăm bức vẽ độc đáo…

Nghệ thuật cho không gian công cộng: Bình dân hay đỉnh cao?

Đây là một trong những nội dung gây tranh cãi giữa nhóm nghệ sĩ thị giác với các kiến trúc sư, những người làm công việc quy hoạch tại lễ trao giải cuộc thi nói trên ở Hà Nội ngày 27/3 (TP HCM ngày 29/3).

Nghệ sĩ thị giác Trần Lương cho rằng, con đường gốm sứ của họa sĩ – nhà báo Nguyễn Thu Thủy, “vì chiều lòng ai đó nên hạ thấp mức độ nghệ thuật”. Ông Lương nói: “Tôi thấy không thỏa mãn vì trong những bức tranh gốm sứ đó có cả nội dung tuyên truyền, nhầm lẫn bản sắc, lạc sang văn hóa du lịch”.

Con đường gốm sứ – dự án đang gây tranh cãi về nghệ thuật công cộng.
Ảnh: Như Ý

Phản ứng về điều này, kiến trúc sư Phạm Thúy Loan, Viện phó Viện Kiến trúc và Quy hoạch, cho rằng, đưa nghệ thuật vào cộng đồng là để người dân gắn bó, yêu thích và thấy mình là một phần trong đó, chứ không nên quá khắt khe như đối với nghệ thuật đỉnh cao.

Đồng tình quan điểm này, tiến sĩ Michael DiGregorio, đại diện Quỹ Ford, đơn vị tài trợ con đường gốm sứ, chia sẻ, ông quan tâm tới giá trị cộng đồng hơn và những tác phẩm nghệ thuật công cộng ấy cần có sự chung tay của tất cả nghệ sĩ, người dân.

Kiến trúc sư Phạm Thúy Loan nhấn mạnh, một không gian thực sự công cộng phải vừa được yêu thích, tiện lợi cho cộng đồng, có tiện nghi tối thiểu, có nghệ thuật để thưởng thức, vừa không phải trả tiền.

Lê Thoa

Read Full Post »

Gốm Hương Canh – Vĩnh Phúc

 Làng gốm Hương Canh chuyên làm vại, chĩnh, chậu, lọ, tiểu sành. Gốm Hương Canh xưa nay rất được ưa chuộng. Người ta bảo nhau "xứ móng cái, vại Hương Canh".

Làng gốm Hương Canh chuyên làm vại, chĩnh, chậu, lọ, tiểu sành. Gốm Hương Canh xưa nay rất được ưa chuộng. Người ta bảo nhau "xứ móng cái, vại Hương Canh".

Xưa nay dân làng Hương Canh mỗi khi kể về ông tổ nghề gốm cổ truyền của vùng mình, vẫn thường nhắc đến hai vị: một là cụ Đỗ Quang, hai là cụ Đào Nồi (còn gọi là ông Nồi hay Nồi Hầu)…“Truyền thuyết Hùng Vương” (Hội VHNT Vĩnh Phú xuất bản 1981) trang 106, 107 có truyện ông Nồi. Truyện rằng: ở làn Hương Canh, xã Tam Canh (nay thuộc huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) có một gia đình nghèo, chuyên sống bằng nghề nặn nồi niêu. Hai ông bà hiếm hoi sinh được một mụn con trai, đặt tên là Nồi. Nồi càng lớn, càng thông minh, lại giỏi vẽ, giỏi vật, được An Dương Vương cho làm tướng cai quản quân sĩ Âu Lạc. Ông Nồi kết hôn với cô gái mồ côi làng Chiêm Trạch gần kinh đô Cổ Loa, sinh được 2 trai, đặt tên là Đống và Vực. Ba cha con ông Nồi đã nhiều lần làm cho quân xâm lược Triệu Đà thất điên bát đảo. Khi thấy Triệu Đà dùng kế hiểm, cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn với công chúa Mỵ Châu, ba cha con ông vào triều can ngăn, vua Thục không nghe. Ông Nồi cùng hai con xin từ chức về Chiêm Trạch làm ruộng, nặn nồi. Quân Triệu chiếm được Loa Thành, Triệu Đà sai người dụ ba cha con ông ra làm quan. Thấy ông không nghe, Triệu Đà cho quân bao vây Chiêm Trạch. Cả nhà ông phá vây, chạy về quê cũ Hương Canh. Giặc bao vây Hương Canh, ông quay về Chiêm Trạch, lúc ấy là nửa đêm, dân làng đã đóng chặt cổng. Giặc đuổi tới nơi, vợ chồng ông rút dao tự vẫn. Đống và Vực chạy đến nơi, thấy cha mẹ đã chết, cũng tự tử theo. Dân làng chôn cất họ ở khu gò rìa làng. Về sau, mọi người gọi đấy là “Gò Thánh Hoá”. Nhân dân hai thôn Ngọc Chi và Vĩnh Thanh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) đã lập đền thờ và ở Hương Canh nhân dân cũng lập đền thờ cúng ba bố con ông Nồi.

“Truyền thuyết các vị thần Hà Nội”(Nhà xuất bản Văn hoá – thông năm 1994) trang 50, 51 kể lại: Xưa có một người quê Hương Canh (Vĩnh Phúc) làm nghề nặn nồi niêu. Hai vợ chồng nhà ấy sinh được một cậu con trai đặt tên là Nồi…

Trong cuốn “Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề” do Giáo sư Trần Quốc Vượng và PTS Đỗ Thị Hảo biên soạn (Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc-1996) ở mục Nghề Gốm, trang 92, 93, 94 có ghi:

Đào Nồi con ông Đào Hoằng, vốn gốc người Tuyên Quang, ông tổ 4 đời đã chuyển cư về làng Hương Canh (Vĩnh Phúc) lập nghiệp bằng nghề nặn nồi niêu. Nối được nghiệp nhà, Đào Nồi nổi tiếng khắp vùng là người thợ lỗi lạc, tài hoa. Ông lấy vợ họ Dương, người làng Chiêm Trạch (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) cũng là thợ làm nồi khá giỏi giang. Vợ chồng sinh được 2 con đặt tên là Đống và Vực. Đào Nồi không những giỏi nghề mà còn tinh thông võ nghệ, được Thục An Dương Vương cho làm quan, ban tước Hầu, nên còn gọi là Nồi Hầu. Triệu Đà diệt được Vua Thục, đem quân vây làng Chiêm Trạch bắt Nồi Hầu, Gia đình ông chạy về quê cũ Hương Canh. Giặc vây làng Canh, ông lại đưa vợ con quay về Chiêm Trạch. Cổng làng chưa kịp mở, giặc đã tới. Vợ chồng ông rút dao tự sát, hai người con trai cũng chết theo. Dân làng thương tiếc, kính phục, chôn cất gia đình ông ở một khu gò, gọi là mộ Thánh hoá (thuộc thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc, Đông Anh). Đồng thời lập đền thờ để nhớ ơn người vừa là tổ nghề vừa có khí tiết, không đội trời chung với kẻ thù xâm lược.

Làng Hương Canh thuộc xã Tam Canh (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) vốn có nghề làm vại, làm tiểu sành… từ rất lâu đời. Dân gian kể rằng: Ngày xưa có ba ông thợ rất giỏi nghề gốm. Họ rất thân thiết với nhau và cũng rất gắn bó với nghề, muốn con cháu đời sau nối được nghiệp cha ông, các ông bèn chia nhau đi: Một người về Thanh Hoá, một người về Bắc Ninh, và một người về Hương Canh. Cụ tổ ở Hương Canh tên là Đỗ Quang. Hành trạng cụ không được lưu truyền nhưng đền thờ và tượng vẫn còn (hiện ở giữa xóm Cang). Đền không biết xây từ bao giờ nhưng vào năm Cảnh Hưng (vua Lê Hiển Tông 1740-1786) đã được tu bổ khang trang. Hàng năm dân làng tổ chức giỗ tổ vào ngày mồng 6 tháng Giêng, ngày mất của tổ nghề.

Tiến hành khảo sát vùng xóm Cang (cũ), cán bộ khảo cổ đã phát hiện ở độ sâu 2 mét có nhiều mảnh gốm cổ, bao gồm: mũi ngói, chế phẩm của vại, nồi, vung… (theo tài liệu của Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn).

Như vậy, từ truyền thuyết dân gian, đến ngôi đền thờ tổ nghề và các di chỉ khảo cổ, ta có thể khẳng định nghề gốm Hương Canh đã có từ lâu đời, và ở Hương Canh có đến 2 ông tổ nghề gốm: ông Đào Nồi, hay Nồi Hầu là ông tổ nghề gốm nồi niêu, ông Đỗ Quang là ông tổ nghề gốm chum, vại. Ở Hương Canh đã từng có ngôi đền thờ ông tổ nghề Đào Nồi – Nồi Hầu hay không, theo chúng tôi cũng không quan trọng lắm, miễn là cho đến nay ông vẫn tồn tại trong tâm thức người dân Hương Canh cùng với những huyền thoại về người thợ nặn tài hoa và có khí tiết anh hùng.

Một số ai đó cứ cố chứng minh rằng ở Hương Canh không có Đào Nồi – ông Nồi – Nồi Hầu, tưởng cũng nên nhìn rộng ra các vùng gốm khác trong cả nước. Thực tế qua khảo cổ học cho thấy, không phải làng gốm nào ra đời cũng phát triển và mở rộng lên mãi. Nhiều khu gò gốm nổi tiếng hiện chỉ còn là phế tích. Những thế hệ con cháu của họ sau này không còn biết nghề gốm ở ngay trên quê hương mình nữa, có chăng chỉ là ký ức (ví như nghề nặn nồi niêu không còn thấy ở Hương Canh, mà chỉ còn thấy chum, vại, tiểu… rồi gạch, ngói?).

Nghệ nhân Nguyễn Thanh Nhàn làng nghề gốm Hương Canh.

Nghệ nhân Nguyễn Thanh Nhàn làng nghề gốm Hương Canh.

Nhưng có điều này là sự khẳng định chắc chắn: Ở Hương Canh, nghề gốm cổ truyền phát triển kéo dài nhiều thế kỷ nổi tiếng khắp nơi, ăn sâu vào tiềm thức người dân. Mặt hàng truyền thống ở Hương Canh rất đa dạng, phong phú: vại, chum, lon, nồi, ấm… và tiểu sành. Gốm Hương Canh phát triển không theo hướng đồ sứ mà theo hướng sành hoá, với kiểu dáng đẹp, độ nung cao, đanh và không thấm nước, nhằm phục vụ những nhu cầu thiết yếu nơi dân dã.

(Nguồn: Bùi Đăng Sinh –VHTT)

Một số hình ảnh gốm Hương Canh

Sản phẩm gốm Hương Canh.

Sản phẩm gốm Hương Canh.

Bình vôi cách điệu.

Bình vôi cách điệu.

Bình đựng nước trang trí.

Bình đựng nước trang trí.

Chum đựng hình miệng cá.

Chum đựng hình miệng cá.

Tích đựng nước.

Tích đựng nước.

Tượng bán thân

Tượng bán thân

 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đặt tượng Bát Tiên đúng phương vị phong thủy.

Truyền thuyết Đạo Lão nói rằng Bát Tiên đều đã nếm qua rượu và đào tiên nên bất tử và được coi là biểu tượng của sự trường sinh và những điềm lành.

Tranh vẽ Bát Tiên

Tranh vẽ Bát Tiên

Tám vị tiên này thường được vẽ trên các tác phẩm gốm sứ của Trung Hoa để tượng trưng cho sự may mắn. Hình ảnh của họ còn được chạm trổ trên những tấm kim loại mỏng. Thường gặp nhất là hình ảnh “bát tiên quá hải” hoặc là từng vị được chạm trổ trên trên ngà voi, gỗ và đồng ( trong bài post trước có nói). Trong ngành học văn hóa truyền thống của Trung Hoa, cũng có những so sánh tám vị tiên đạo Lão này với mười tám vị La Hán trong Phật giáo.

Tượng Bát Tiên

Tượng Bát Tiên

Tám vị tiên của đạo Lão và mười tám vị La Hán của Phật giáo nắm giữ những quyền năng siêu nhiêu và có phép thuật. Sự hiện thân của những vị này trong các biểu tượng đặt trong nhà, chẳng hạn một bức tranh, pho tượng được tin rằng sẽ ban tặng sức khỏe, niềm hạnh phúc và may mắn đến cho gia chủ. Vì mỗi vị tiên đại diện cho những hoàn cảnh sống đặc biệt khác nhau, đồng thời nắm giữ những quyền năng riêng nên nếu muốn đặt một vị trong nhà thì bạn nên biết rõ ý nghĩa của từng vị.

bảng tóm lược ý nghĩa và phương vị của Bát Tiên.

bảng tóm lược ý nghĩa và phương vị của Bát Tiên.

Hồ lô bát quái đồ và Bát Tiên kết hợp

Hồ lô bát quái đồ và Bát Tiên kết hợp

Đầu tiên là vị tiên Chung Ly Quyền (Han Zhong Li), hiệu là Vân Phòng, làm Đại tướng trong triều đình nhà Hán nên còn được gọi là Hán Chung Ly hay Hớn Chung Ly. Ông có hình dáng mập mạp, trong chiếc áo phanh trần, để lộ chiếc bụng tròn, tay phe phẩy chiếc quạt thần dùng để cứu người bệnh. Khi mới sanh Chung Ly Quyền, cha mẹ ông thấy có điềm khác lạ là trên nóc nhà hào quang sáng đỏ. Chung Ly Quyền tượng trưng cho sức khỏe và quyền năng chữa bệnh. Có vị tiên này trong nhà sẽ giúp cho các thành viên trong gia đình tận hưởng môt cuộc sống khỏe mạnh, lâu dài.

Vị tiên thứ hai là Trương Quả Lão (Zang Guo Lao), tay mang một nhạc cụ giống như ống tre. Ông nắm giữ sự thông thái của tuổi già và có khả năng tự biến mất. Ông được tôn trọng như một nhà hiền triết ban sự thông thái, minh mẫn cho những người cao tuổi trong gia đình.Vị tiên thứ ba là Lã Động Tân ( Lee Dong Bin), một học giả ẩn dật được tôn sùng như thần hộ mệnh của những người bệnh. Ông thường mang sau lưng một thanh kiếm phép để xua đuổi những linh hồn quỷ dữ và loại bỏ những loại bỏ những đau khổ do các nguồn năng lượng xấu gây ra. Ở cánh tay phải, ông cầm một cây phất trần thường để chữa bệnh. Có mặt trong nhà, ông sẽ giúp cho mọi thành viên của gia đình tránh được bệnh tật mà theo Phong Thủy là do những âm hồn và âm khí tạo ra.

Vị thứ tư là Tào Quốc cữu (Chao Gu Jiu), em ruột của Tào Thái hậu, đời vua Tống. Thường mặc một chiếc áo nhà quan quý phái, ông toát ra một sự cao quý, thanh nhã. Ông giơ cao trong lòng bàn tay trái một bộ castanet để đem lại quyền cao chức trọng cho người trưởng tộc của gia đình. Những chính trị gia hoặc những cầu mong quyền lực nên thỉnh ông về thờ trong nhà.

Vị tiên thứ năm là Lý Thiết Quả (hay còn được gọi là Thiết Quải – cây sắt) ( Lee Tie Guai) , trông như một kẻ ăn mày, nhưng là người có thể thi triển những quyền năng siêu nhiên. Ngài họ Lý, tên là Huyền, hiệu là Ngưng Dương, nên thường gọi là Lý Ngưng Dương, diện mạo nghiêm trang, tinh tình hào sảng, học rộng biết nhiều, không mộ công danh, muốn đi tu tiên. Biết được Lão Tử đang dạy dạo trên Hoa Sơn, Lý Ngưng Dương liền tìm đến xin học. Chính vì thế mà hình ảnh của ngài tượng trưng cho trí tuệ và sự sáng suốt.

Tiên ông thứ sáu là Hàn Tương Tử (Han Xiang Zi), người đã sáng tác ra những bản nhạc êm dịu từ ống sáo thần. Tiếng sáo thu hút những điềm lành bao quanh ông, vì thế mà tất cả muông thú, côn trùng, cây cỏ đều phát triển mạnh mẽ khi ông xuất hiện. Khả năng đặc biệt của Hàn Tương Tử là có thể làm cho cây cối mọc nhanh trong tích tắc. Hình ảnh Hàn Tương Tử với rất nhiều những mầm cây trong chiếc bao tải đeo sau lưng tượng trưng cho một cuộc sống viên mãn.

Vị tiên tiếp theo là Lam Thể Hòa (Lan Chai He) tương truyền do Xích Cước Đại Tiên đầu thai xuống trần, nên còn nhớ tánh cũ, thường mặc áo rộng xanh, buộc dây lưng đen, một chân đi đất, một chân mang giày, mùa hè mặc áo bông mà không biết nóng nực, mùa đông chỉ mặc áo đơn mà không biết lạnh. Thường ngày, ông cầm cặp sanh dài, đi ra chợ, vừa ca vừa nhịp, để xin tiền bố thí. Những bài ca do ông tự đặt ra đều có ý khuyên đời bỏ dữ theo lành. Tiền xin được, ông cột vào dây lưng và bố thí cho người nghèo khổ. Tuy nhiên, trong rất nhiều tài liệu khác nhau thì cho rằng Lam Thể Hòa là một vị tiên nữ với biểu tượng là giỏ hoa, mang đến sức khỏe và niềm vui cho gia đình.

Vị tiên cuối cùng có tên là Hà Quỳnh hay Hà Tiên Cô  (He Xiang Gu) quê ở huyện Tăng Thành, tỉnh Quảng Châu. Khi còn bé, vị tiên này có sáu cái xoáy trên đầu mà ai cũng cho là kỳ tướng. Sau khi thành tiên, Hà Tiên Cô thường cầm hoa sen linh thiêng và cây phất trần. Thờ bà trong nhà thì những người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình sẽ hạnh phúc và gặp nhiều may mắn.

Nếu có điều kiện bày tám vị tiên cùng nhau theo tám hướng, như  bảng ở phần trên:

Chung Ly Quyền, hướng Đông, tính Mộc.
Trương Quả Lão, hướng Bắc, tính Thủy.
Lã Động Tân, hướng Tây Bắc, tính Kim.
Tào Quốc Cữu, hướng Đông Bắc, tính Thổ.
Lý Thiết Quải, hướng Nam, tính Hỏa.
Hàn Tương Tử, hướng Đông Nam, tính Mộc.
Lam Thể Hòa, hướng Tây, tính Kim.
Hà Tiên Cô, hướng Tây Nam, tính Thổ.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »