Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 23rd, 2009

Hai trường phái vẽ tranh Thủy Mặc Trung Quốc

Thủy mặc, từ ngàn năm nay đã được coi là quốc họa của Trung Quốc – Thủy mặc (là nước hòa với mực), chất liệu chính của các tác phẩm hội họa cổ đại. Được vẽ bằng bút lông, dùng thuốc nước hoặc mực nho trên giấy xuyến chỉ (loại giấy làm thủ công nhưng rất cao cấp, trắng, mịn, chứ không phải hơi vàng ngà và sần như giấy dó của tranh Đông Hồ), họa sĩ (HS) vẽ thủy mặc phải hơn cả một võ sư: tích đủ nội công lại đầy cảm xúc, ý tưởng rồi mới hạ bút, vì đặc điểm của giấy xuyến chỉ là rất thấm mực, bút vẽ nét nào ăn nét ấy, không thể sửa chữa. Sắc màu của mực đậm hay nhạt tùy vào nét bút đưa đường nét và tạo hình thế nào, tạo ra thay đổi bất ngờ. Cây bút lông và nghiên mực nho có sức biểu hiện to lớn, đưa người xem vào góc độ thẩm mỹ tao nhã. Vì vậy mà hai chữ bút mực không chỉ là những công cụ và phương tiện trong thư pháp và hội họa mà cũng chính là từ gọi thay cho nghệ thuật thư pháp hội họa.

Thể theo lối vẽ và phong cách hội họa, chia tranh TQ làm 2 dạng: tranh màu tả thực và tranh thủy mặc ngụ ý với những nét chấm phá truyền thần.

Tranh tả thực (Tề tất họa), tức lối vẽ hết sức chi tiết sát với cảnh thực, ở VN gọi là công bút. Bút pháp này tế nhị gọn ghẽ với những đường nét giàu sức thể hiện, phác họa nên giàn khung của cảnh vật, trong quá trình này HS hết sức chú trọng từng bộ phận chi tiết của cảnh vật sau đó tiến hành tô màu. Phẩm màu tươi đậm dùng cho lối hội họa này phần nhiều là các loại chất khoáng vì thế mà qua nhiều năm bảo tồn, màu sắc vẫn tươi rói. Loại tranh này đẹp mắt, hào hoa, có giá trị trang trí, bề thế, nên trong lịch sử TQ, nhiều HS cung đình đều áp dụng lối vẽ này để thể hiện sự quý phái của triều đình.

Tranh thủy mặc ngụ ý (Thô tất họa), đường nét giản đơn, phác họa nên chất liệu và ngụ ý của cảnh vật. Thường vẽ phong cách này là HS Tề Bạch Thạch (thế kỷ 19), vẽ tôm, cá, cực siêu, sống động và HS Từ Bi Hồng (thế kỷ 20) với những bức vẽ về ngựa trình độ bậc thầy “thiên hạ vô địch”. Cả hai ông đều có bảo tàng cá nhân ở Thủ đô Bắc Kinh.

Họa phái này không nhấn mạnh cảnh vật trong tranh có sát đúng với đối tượng được miêu tả hay không, mà áp dụng rộng rãi các thủ pháp: khái quát, khuếch đại, vận dụng suy tưởng với mức độ lớn nhất, gửi gắm tình cảm, cá tính của mình vào đối tượng được phác họa. Tác phẩm dạng này mang tính tức cảnh, tùy hứng, nhấn mạnh hiệu quả bất ngờ, ngẫu hợp, vì thế nhiều tác phẩm này không dễ sao lại. Tranh truyền thống gắn với thơ từ, lời đề, chữ khắc cổ – hình thức thể hiện tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật: thơ, thủ pháp tranh họa, in ấn, cơ bản chỉ sử dụng mực đen hay màu thanh nhạt. Phong cách thanh tao, nhã nhặn, chủ đề của những hình thức hội họa này là non nước, hoa cỏ, chim muông không chỉ theo đuổi sự tinh tế, chuẩn xác của đối tượng được miêu tả mà thường hay “phóng bút” đi theo cảm giác, nhấn mạnh cái chất liệu tinh thần của vật và cảnh. Đối ứng với tranh thủy mặc là loại tranh lên màu tả thực. Dạng này thường áp dụng đường nét phác họa một cách chuẩn xác đối với cảnh vật, hay đi sâu vào miêu tả một cách chi tiết, sau đó sử dụng màu sắc diêm dúa, nồng đậm để tăng ấn tượng… Phong cách dạng tranh này tinh tế, chuẩn xác, toát lên ý vị quý phái, bề thế, được các HS phái cung đình tôn sùng.

Dưới đây giới thiệu các bức vẽ theo lối “Tề tất họa” rất chi li và sống thực của họa sĩ ChenJun:

Click trên hình để xem, và download về xem zoom in mới thích.

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Việc dạy vẽ không thuộc chủ đề của Blog, tôi chỉ thấy hay hay nên post lên đây mà không dịch ra và các bạn cũng sẻ thấy  đọc dễ thôi:

Painting a bamboo – Elizabeth Yu Ellsworth

A Painting Lesson

Are you ready to do your own Chinese brush painting? Good! If you are not sure about what you’ll need go to Material and learn about the Four Treasures of Chinese painting.

Today we will do a painting of a bamboo. Bamboo is usually the first subject tackled by beginning students. It is the easiest subject to master and is also the most calligraphic. Bamboo painting is all about the beauty of line. You will be amazed at all the different qualities of line you can achieve with just one brush, simply by changing the angle and pressure with which you hold it.

Practicing Separate Elements

stems

Start by practicing the stems of the bamboo. The stems rise from the ground and grow towards the sky. In the same way, when you paint the stems start with the brush at the bottom of the page and pull upwards. Press the brush hairs flat against the paper, pull up to paint the first segment, and release. Leave a little space in between each segment. Repeat till you reach the top of the paper. Make a whole page of stems this way. See if you can vary them in width as well as dark and lightness.

stems and nodes with nodes

Now fill in the bamboo nodes. These are the little hooked lines which connect the segments of the bamboo. Make them a little darker than the bamboo stems.

branches

Next practice painting a page of small branches. It takes more control to make all the branches thin like this so hold your brush close to the bottom of the brush and rest your hand lightly against the paper.

leaves in circle

Start a new sheet of paper to practice the leaves. When painting leaves it is important to continually change the brush pressure. Think of the brush as a dancer, with the very tip of the brush being the dancer’s toes. Start the leaf by having the dancer up on the tips of her toes. As you paint the leaf the dancer comes down flat on her feet and then gradually rises up on her toes again. In this way you will get the beautiful thin point at the beginning and end of the leaf, and the thicker part in the middle. Practice a whole circle of leaves this way.

leaf pattern

Now practice grouping the leaves in patterns of twos, threes and fours. Notice the leaves touch or almost touch at the top and are spread apart at the bottom. As in playing golf or tennis, follow through with the arm after each brushstroke is complete.

stem

Putting It All Together

You are now ready to combine all the elements you’ve practiced into a finished painting. Start with a clean sheet of paper. Paint a singular stem that starts from the bottom of the page and goes off the top. Don’t worry if there are white spaces where the ink was sparce. These white spaces enhance the three dimensional look of the stem.

stem

Now add the nodes in between each of the segments.

stem and branches

Add a few branches. Note that the branches grow from the bamboo nodes; never from the middle of the stems.

stems and lower leaves

Add a group of leaves to the bottom branches. In this painting I decided to make it a cluster of five.

stems and upper leaves

Finally add two more clusters of leaves to the upper branches. Try to vary the amount of ink so some leaves appear darker and some lighter. In this way some leaves will look closer to you while others appear farther away.

Your painting is now complete. Rather than clutter up the painting with many branches and leaves, allow the bamboo to be surrounded by a good deal of “white” or “empty space”. In a Chinese painting the empty space is as important as that which is painted. The saying “less is more” particularly holds true for this style of Chinese painting.

finished bamboo with chop

If you have a chop (a stamp with your name carved onto it) you can add it alongside the painting. Always place the chop in a place where it does not interfere with the rest of the painting. You can also place it someplace where the subject of the painting needs a counterbalance in the space on the paper.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Dụng cụ vẽ tranh thủy mặc – tứ bảo

Dụng cụ vẽ tranh thủy mặc

Dụng cụ vẽ tranh thủy mặc

Bốn dụng cụ cần thiết để vẽ tranh thủy mặc Trung Hoa thường được coi là quý giá nên được gọi là tứ bảo. khi bạn đề cập đến “tứ bảo” người Hoa ngay lập tức nhận ra đó là: Cọ vẽ, thanh mực tàu, đá mài mực và giấy vẽ.

Các loại cọ vẽ:

Các loại cọ vẽ tiêu biểu của Trung Hoa được làm bằng cán tre, với lông cọ là lông dê, cừu, thỏ, chó sói hoặc lông ngựa. Một cây cọ thật mềm thường được dùng để vẽ chim, hoa hoặc viết thư pháp. Một cây cọ có lông cứng được dùng để vẽ núi non hay tre. Các cọ vẽ mới nên ngâm trong nước lạnh vài phút để tẩy rửa chất keo. Khi cọ vẽ không dùng tới nên đặt trên giá đựng phẳng hoặc móc trên giá treo .

Thanh mực:

Thanh mực tàu tạo ra mực khi chà lên đá mài mực cùng với vài giọt nước. Thanh mực tàu được làm từ bồ hóng gổ thông, xạ hương và các loại tinh dầu khác như  dầu thực vật. Đôi khi chúng được trang trí bằng hình và thơ. Một thanh mực tốt phải đen bóng và có mùi thơm dễ chịu.

Đá mài mực:

Đá mài mực được làm từ  đá có cấu tạo mịn và nhẵn như đá phiến. Hầu hết đá mài mực có hình vuông với một giếng lõm tròn và có nắp đậy. Để tạo mực , chế một lương nhỏ nước vào đá, nhúng thanh mực dọc đứng và chà nhẹ với chuyển động tròn. Nên thực hiện việc mài mực với thái độ bình thản và chậm rãi. Phương thức mài mực giúp người họa sĩ bình tâm và ổn trí, và như vậy sẻ bước vào trạng thái đúng đắn khi vẽ. Đối với những người không có thời gian mài mực thì mực lọ cũng có bán sẳn.

Giấy vẽ (Giấy xuyến chỉ):

Hầu hết mọi người ( Tây phương) đều gọi giấy vẽ của Trung Quốc là giấy gạo (rice paper), thật ra là một nhầm lẫn trong tên gọi. Giấy này không thật sự làm từ gạo, mà từ  sớ sợi của nhiều loại thảo mộc khác nhau và một loại vỏ cây đặc biệt trộn với rơm ( rice traw). Giấy trắng, mịn và rất thấm. Giấy có chất lượng tốt thường được gọi là ” honest” (giấy thật), nó giúp bạn thể hiện từng nét cọ cũng như dấu đi một số khiếm khuyết khi vẽ.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Tranh Thủy Mặc vẽ phong cảnh – 3

Dưới đây là 22 tranh thủy mặc vẽ phong cảnh, click trên hình để xem bigger size.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Phong thủy nhà cửa là gì?Cũng dễ hiểu thôi!

Thời xưa, những gia đình có học, có tiền, hoặc là quan chức, khi làm nhà cần xem phong thủy rất cẩn thận. Vị trí đặt ngôi nhà thường chọn nơi có dòng nước uốn quanh, đằng sau xa xa có đồi hoặc là núi thấp án giữ. Ngôi nhà gắn liền với thiên nhiên, có màu xanh cây lá, có dòng nước mát dịu, nhà tôn cảnh, cảnh làm nổi bật nhà. Địa thế làm nhà như vậy là để nhận khí thiêng sông núi, tinh hoa của mặt trời, mặt trăng. Không gian khoáng đạt thuận lợi cho việc di dưỡng tinh thần, rèn luyện ý chí. Những chuyện như thế, ngày nay tìm đâu ra với cảnh đất chật, người đông?!

Vị trí làm nhà ngày xưa chọn nơi: “Núi Cửu Hoa, chùa ẩn trong mây, sông Thanh Qua cầu vờn nhành liễu”. Thôn xóm nằm gọn trong vòng ôm của hàng liễu, có dòng nước uốn lượn, phía Bắc xa xa có núi xanh như bình phong chắn ngữ. Động và tĩnh hài hòa làm cho con người sinh sống ở trong môi trường thật là dễ chịu.

Phong thủy có cả một kho lí thuyết dài dòng để chỉ dẫn cách tìm đất làm nhà. Nhà làm trên vùng núi thì xem thế núi, luận long mạch để xác định đúng vị thế nhà. Vùng gò đồi ở nơi rộng thoáng thì bốn phía phải như quy chầu. Không được quá trống trải, không có vực hoặc thế đất trụt, trượt. Vùng đồng bằng phải có long mạch, có đường quanh bên phải, có ngòi nước bên trái, trước nhà có sân và vườn rộng, xa nữa là hồ, là ao. Sau nhà đất tạo thế như mây đùn, khói tỏa.

Một cách khái quát thì luận về nhà cửa cũng cần dựa vào lí thuyết cơ bản của phong thủy là Khí và lí khí . Thuyết khí về nhà ở chủ yếu là thuyết nạp khí và thuyết sắc khí. Nạp khí gồm địa khí và môn khí. Địa khí là khí trong đất tại nơi làm nhà. Môn khí là khí từ cổng đưa vào, từ cửa vào nhà. Sắc khí là màu sắc cảm nhận được qua ngôi nhà. Cần nói rõ cho khách quan là chúng ta chưa phân tích đúng sai mà chỉ mới đưa ra những luận điểm cơ bản của phong thủy sử dụng khi làm nhà.

Để luận ra địa khí trong thôn ấp hay phố xá là điều mơ hồ. Khi làm nhà không thể bỏ qua phương vị. Địa khí luận được từ phương vị dẫn khí. Chẳng hạn như Mộc tinh, Kim tinh, Thổ tinh, làm nhà ở đây thì con cháu làm nên, ăn ra. Hỏa tinh là long thần cần bác hoán (di dịch, hoán cải), nếu không, ở chẳng ra gì. Thủy tinh cần tụ hội thì của cải đến nhà. Minh đường (trước nhà) cần rộng và bằng phẳng.

Từ phương vị (vị trí theo hướng), từ luận về thanh long (mạch nước), bạch hổ (đường cái cạnh nhà), minh đường, chu tước (đất đai, hồ nước trước nhà), huyền vũ (đất sau nhà), phong thủy có những điều lưu ý quan trọng như: Lối ra vào của sườn núi hoặc thung lũng, tránh làm nhà. Điều này dễ hiểu vì những lối này thường bị hạn chế về kích thước chiều rộng. Gió thổi qua những lối này có vận tốc lớn hơn những chỗ khác nên tuy được cái mát mẻ nhờ gió lưu thông tốc độ cao nhưng cũng dễ vì thế mà cơ thể con người trong nhà dễ bị nhiễm lạnh. Gió luồn lách vào nhà tạo ra luồng gió lùa, y học cổ truyền đã nhận định, như vậy, dễ tạo ra cảm mạo phong hàn.

Trước nhà phải có minh đường rộng, thoáng. Điều này có thể hiểu là trước nhà có không gian rộng để đón nắng, làm rộng tầm mắt cho con người thoải mái, Huyền vũ không được quá cao, sau nhà không bị chắn cản làm cho khi mưa, nước không đe dọa xối xuống sau nhà, thậm chí đất có thể sập úp kín ngôi nhà ta ở. Tuy thế, sau nhà cũng không được có hố sâu. Có hố sâu sau nhà, phong thủy rất kiêng kị. Bên trái nhà có dòng nước quanh co, nước không bị tù túng mà cũng không được chảy xiết. Bên phải nhà có đường đi đủ rộng nhưng cũng không phải là lối đi tấp nập, ồn ào, náo nhiệt. Nhà không làm trên nền giếng lấp. Nhà làm trên giếng lấp sợ đất lấp chưa hoàn thổ sẽ lún sụt trong nhà hoặc ít ra tạo vùng ẩm thấp do đất xốp chứa nước nhiều hơn chỗ đất nguyên.

Nhà tránh ở ngã ba đường cái mà có lối xộc thẳng đâm vào mặt tiền. Nhà không làm nơi ngõ cụt, thường những nơi này hay có luồng gió quẩn, đưa bụi bẩn vào nhà. Không chọn vị trí nhà gần đền chùa, miếu mạo… Phong thủy có thể giải thích theo quan điểm của mình những điều cần tránh vừa nêu. Chẳng hạn nhà làm nơi cửa núi, cửa thung lũng thì gió độc vào nhà, gia đình li tán. Nhà làm trên nền giếng cũ thì gia chủ ốm đau. Nhà làm trong ngõ cụt gia chủ đơn côi. Nhà làm gần đền miếu gia chủ tâm thần bất định. Hàng ngày con người cần lao động để tồn tại mà luôn luôn tiếp xúc với không khí thần thánh, sao mà ổn định tâm lí được. Nhà làm mà phía sau có núi cao chủ nhà cuồng chữ…

Kích thước của ngôi nhà, của các bộ phận nhà cửa theo phong thủy cũng có quy tắc khá chặt chẽ. Để đo chiều dài, người xưa sử dụng “bộ” thay cho “thước” (xích). Chín thước là hai bộ. Mỗi thước xấp xỉ 40cm ngày nay. Số lượng ‘bộ” định cho từng bộ phận nhà hoặc toàn nhà cũng có phép tắc. Một “bộ” gọi là kiến, hai “bộ” là mãn, bốn “bộ” là bình, năm “bộ” là định, sáu “bộ” là chấp, bảy “bộ” là phá, tám “bộ” là nguy, chín “bộ” là thành, mười “bộ” là thu, mười một “bộ” là khai, mười hai “bộ” là bế. Đến “bộ” thứ mười ba thì lặp lại chu kỳ trên.

Kiến là kích thước cơ bản, trừ là bỏ bớt, mãn là đầy đủ, bình là vừa phải, định là không có thay đổi, chấp là nên nắm lấy, phá là tan vỡ, nguy là không ổn định, thành là đạt được điều hay, thu là nhận lấy, khai là mở mới, bế là dừng là tắc. Theo như thế mà chọn lấy điều mong muốn khi định kích thước nhà và các bộ phận nhà. Kích thước lại được luận đoán theo lành dữ rất khiên cưỡng. Chẳng hạn như kiến là nguyên cát (gốc của điều lành), trừ là sáng sủa, mãn là thiên hình, bình là quyền thiệt (uốn lưỡi), định là kim quỹ (thước vàng), chấp là thiên đức, phá là xung sát, nguy là ngọc đường, thành là tam hợp, thu là tặc kiếp (cướp giật), khai là sinh khí, bế là tai họa.

Nên chọn kích thước theo kiến, mãn, bình, thu. Kích thước chấp nhận được là trừ, nguy, định, chấp. Thành, khai dùng tốt. Hết sức tránh các kích thước trong bộ bế, phá. Chiều rộng nhà không chọn mãn, bình, thu, bế. Chiều dài nhà lấy theo trừ, định, chấp, khai. Số “bộ” của nhà hợp với quy tắc trừ, định, chấp, nguy, khai, kiến thì ở trong nhà ấy sớm sinh quý tử. Nhà có số “bộ” hợp với quy tắc trừ, định, nguy, khai, chấp, kiến thì người trong nhà mau thăng quan tiến chức.

Thuật phong thủy hết sức coi trọng sự mở cửa của nhà. Cửa, cổng, đón đưa môn khí mà như lí khí luận thì môn khí cùng với địa khí là hai tiêu chí quan trọng nhất của ngôi nhà. Cửa có thể tiếp nhiên khí nếu hướng lên trên, hướng xuống dưới thì tiếp địa khí, đón lành, tránh dữ. Để quyết định cửa của ngôi nhà, cần cân nhắc phương vị của cửa, xem cửa nên mở ra không gian nào. Chiều cao, bề rộng của cửa, vật đối diện với cửa đều hết sức quan trọng. Cửa nhìn ra không gian thoáng đãng, để có thể khi ngước lên ngắm trăng nhìn mây, coi ngang tầm mắt thì ngắm cây, nhìn hoa, đẹp biết mấy.

Sự cần thiết trong nhà cũng có những quy tắc theo phong thủy. Nơi đặt bài vị thờ cúng tránh đối diện với phương Thái Tuế. Đặt bài vị vào các năm Tí, Sửu, Dần, Hợi kiêng quay mặt hướng Bắc. Đặt bài vị vào các năm Mão, Thìn phải kiêng quay mặt về hướng Đông, Các năm Tỵ, Ngọ, Mùi, kiêng quay mặt hướng Nam. Các năm Thân, Dậu, Tuất kiêng quay mặt hướng Tây. Như thế, theo phong thủy, mỗi năm phải đặt lại bài vị một lần. Xưa nay, nhiều nhà chỉ đặt hướng bài vị một lần đâu đó phải họ làm ăn sa sút.

Còn tổ chức không gian trong kiến trúc mặt bằng cần theo những quy định cũng khá chặt chẽ như cần đảm bảo các quy tắc đối xứng, ngay ngắn, rộng hẹp. Cây cối trong kiến trúc sân vườn của khuôn viên nhà ở cũng cần cẩn thận. Trồng cây dâu trước nhà là điều kiêng kị vì điều đó đồng nghĩa với tang môn thần. Đó chẳng qua vì tiếng Tàu, tang là dâu, đồng âm với tang là nhà có đám nên kiêng mà thôi. Sau nhà lại không nên trồng cây hòe mà phải trồng ở nơi đón khách. Đó là vì muốn trình ra cái chí tam công nguyện ước. Truyện xưa kể Vương Dụ thời Tống trồng ba cây hòe ở sân trước và nói: “Hậu thế của ta sẽ có người làm đến tam công (tư mã, tư đồ, tư không) thật là thỏa chí của ta”. Sau đó nhà này có người làm đến chức tam công thật.

Phong thủy bắt đầu phát sinh từ Tiên Tần bên Tầu, dai dẳng kéo dài, đến bây giờ còn nhiều người bị ảnh hưởng.

Thuật phong thủy, trên thì xem thiên văn, dưới xét địa lý. Lí thuyết cơ bản từ học thuyết thái cực, âm dương, ngũ hành, tinh tượng cực kì bí hiểm. Thày phong thủy thêu dệt chuyện li kỳ, gán ghép nhiều sự kiện lịch sử, thổi phồng sự trùng hợp ngẫu nhiên tô cho phong thủy màu sắc kì ảo, làm cho dân chúng cảm thấy thần bí.

Hãy hỏi có vua chúa nào xây cung, đặt mộ mà không mời thày phong thủy tham mưu chính cho mình. Nhưng có đời vua chúa nào tồn tại vĩnh hằng?! Khi thuận thời, nhà xây cho thuê khen được thày đặt đất, coi hướng làm nhà. Khi ế ẩm khách thuê như mấy năm gần đây, gia chủ ai nỡ trách tại thày phong thủy. Thiết kế kiến trúc giải quyết tốt công năng, kết cấu bền vững, đường dáng hài hòa, gia chủ phấn khởi làm nên ăn ra. Đó là cái phong thủy tốt nhất cho người sắp làm nhà vậy!

 

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

Hình tượng hoa sen trên gốm sứ hoàng thành Thăng Long

Hoa sen là loài hoa được nhiều nước trên thế giới tôn thờ từ rất sớm. Đối với người Ấn Độ hoa sen là tượng trưng cho quyền lực sáng tạo của thiên nhiên, của Lửa và Nước. Còn đối với người Ai Cập, hoa sen là tượng trưng của Orisis và Horus là các thần Thái dương và Hỏa ty.

Thạp gốm thời Trần

Thạp gốm thời Trần

Trong nghệ thuật Lưỡng Hà và Ai Cập, hoa sen biểu trưng cho vũ trụ. Nhưng vượt lên tất cả các tôn giáo khác, hoa sen có ý nghĩa lớn lao đối với đạo Phật. Bởi hoa sen có những đức tính cao quý, gần gũi với triết lý của đạo Phật. Cây hoa sen mọc ở dưới ao hồ “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Trong giới Phật giáo, Phật được ví như hoa sen, ở giữa thế giới trần tục mà vẫn giữ tròn đạo tính. Hễ nơi nào có cây sen mọc thì làm cho nước đục nơi đó lắng lại thành trong. Nó cũng giống như người tu hành, không những giữ tròn đạo tính mà còn cảm hóa được chúng sinh.

Mùa thu năm 1010, sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng là dời đô từ kinh đô Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long. Đây là thời kỳ mà Phật giáo phát triển mạnh, được coi là quốc giáo, nên hình tượng hoa sen được ứng dụng rất nhiều. Người ta làm các đài hoa sen, các bệ tượng Phật hình hoa sen tại các chùa tháp. Đặc biệt là tại thành Thăng Long, kiến trúc chùa Một Cột mô phỏng nội đóa sen khổng lồ. Trong nghệ thuật trang trí, hoa văn hoa sen cũng được ứng dụng nhiều trong các đồ án. Từ những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa tháp, diềm bệ tượng và các đồ gốm sứ… Tất cả các đồ án trang trí cũng như nghệ thuật tạo hình này trong di sản nghệ thuật Phật giáo thời Lý Trần đều được tìm thấy trên rất nhiều di vật tìm thấy tại khu di chỉ khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long.

Mảnh bệ tháp sứ trắng thời Lý (tìm thấy ở hố B16) tuy chỉ còn lại hình 3 tiên nữ đang trong tư thế múa và giơ hai tay nâng cao đài sen cũng đủ làm người xem cảm phục trước sự tinh tế trong nghệ thuật tạo hình và kỹ thuật tạo tác gốm của cha ông. Diềm văn cánh hoa sen đắp nổi được giản lược trong bố cục đứng, đầu cánh sen tròn khỏe gợn cong lên ở chóp, hoàn toàn gợi thực nhưng cũng hoàn toàn cách điệu theo một tỷ lệ vàng trên hầu khắp các đài sen, bệ sen. Lớp men trắng sữa rạn trên bề mặt vẫn còn độ trong và óng mượt, chứng tỏ kỹ thuật tạo tác gốm thời Lý đã đạt tới một trình độ cao, không thua kém gốm Tống Trung Quốc cùng thời.

Chậu gốm thời Lý

Chậu gốm thời Lý

Một di vật gốm độc đáo khác có trang trí hoa sen mà các nhà khảo cổ học khẳng định là chỉ duy nhất tìm thấy trong Hoàng thành Thăng Long, đó là chậu men trắng thời Lý. Chiếc chậu có đường kính khoảng 45 cm được gắn liền với một vành chân đế có trang trí hoa sen (xem ảnh). Đối lập với khối chậu to và đặc phía trên, vành chân đế với băng hoa sen trang trí được trổ thủng tạo vẻ mềm mại, thanh thoát, khiến cả khối chậu và đế trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Đồ án hoa sen này được cách điệu thành hoa dây. Bố cục của đồ án này xuất phát từ sợi dây được uốn lượn thành sóng hình sin và giữa các quãng trống của các bước sóng hình sin người nghệ nhân lại khéo léo thể hiện một bông hoa sen hay nụ sen cách điệu. Việc trổ thủng dải hoa sen cách điệu này cho thấy tính sáng tạo và óc thẩm mỹ rất cao của các nghệ nhân thời Lý. Điều đặc biệt là với kích thước khá lớn như vậy, nhưng chiếc chậu vẫn còn nguyên vẹn khi các nhà khảo cổ lấy lên từ lòng đất sau hàng bao thế kỷ.

Đồ án trang trí hoa sen trên gốm men ngọc rất đặc trưng của thời Lý cũng được tìm thấy với số lượng lớn tại di chỉ Hoàng thành Thăng Long. Nhóm bát đĩa khắc chìm hoa sen mang phong cách Việt đặc trưng: Nghệ nhân khắc chìm hình hoa sen lên xương đất sau đó tráng men và đem nung. Đây là loại gốm có chất lượng cao, men phổ biến có màu xanh ngọc sắc đậm, xương gốm trắng, mịn.

Mảnh đài sen men vàng thời Lý là phát hiện rất mới mẻ và dường như loại gốm này mới chỉ được tìm thấy trong khu vực Hoàng thành Thăng Long. Tiến sĩ Bùi Minh Trí, người trực tiếp phụ trách và nghiên cứu phần gốm sứ khai quật được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long cho biết: “Trước đây nhiều nhà khoa học nghĩ rằng gốm men vàng chỉ có ở thời Lê, sau là thời Nguyễn. Loại men đó thường thấy trên các vật liệu kiến trúc như ngói hoàng lưu ly lợp trên mái các cung điện dành cho vua như điện Thái Hòa (Huế). Nhưng cuộc khai quật ở Hoàng thành Thăng Long đã tìm thấy loại gốm men vàng là đồ ngự dụng được tạo dáng rất đẹp với hoa văn tinh xảo”.

Bút pháp bay bổng, mảng và nét được đơn giản hóa đến cao độ, sự thay đổi sắc độ của màu nâu và men ngà đã tạo thành một phong cách riêng mà nay chúng ta thường gọi là gốm sành xốp hoa nâu thời Lý-Trần. Đây là một loại gốm được đánh giá cao về nghệ thuật tạo dáng cũng như về nghệ thuật trang trí: Nó mang đậm chất Việt Nam và có nhiều nét độc đáo so với các loại gốm cổ khác trên thế giới. Gốm hoa nâu trong Hoàng thành được tìm thấy khá nhiều. Đó là các loại vò, chậu, thạp trang trí hoa sen, dây lá. Trên chiếc thạp gốm hoa nâu thời Trần (trong ảnh) có đường kính 40 cm cao 65 cm, nét bút của nghệ nhân hoàn toàn phóng khoáng, bay bổng. Chính vì không gò bó theo một khuôn mẫu đăng đối nào như trên các đồ án trang trí hoa sen thời Lý, nên những bông sen ở đây trông rất sinh động. Nét vẽ khi thì nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao, lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Trên một mảnh vỡ khác của gốm hoa nâu, dường như ai cũng phải thốt lên trầm trồ khi nhìn thấy họa tiết hoa sen dây theo kỹ thuật “nền tô men nâu, hoa văn men trắng” với đường nét chạm – khắc uốn lượn mềm mại, tinh xảo, bộc lộ vẻ đẹp sang trọng, quý phái.

Hoa văn trên đồ gốm sứ Hoàng thành Thăng Long vô cùng phong phú đa dạng. Trong đó hoa văn hoa sen được thực hiện nổi bật như biểu tượng của sự thanh cao. Theo dòng chảy lịch sử, hoa văn của mỗi thời kỳ cùng với kỹ thuật tạo tác gốm riêng đã làm nên vẻ đẹp độc đáo của gốm sứ Việt Nam.

Nguyễn Thu Thủy (HNM)


MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số kiến trúc xưa ở Việt Nam

Hình tượng Rồng:
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước.

Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ăn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.

Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống… và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

– Hình tượng con Rùa: Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.

– Hình tượng chim Phượng: Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp.

Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái.

– Hình tượng con Hạc: ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Trong tứ  linh  ” Long, Lân, Qui, Phụng” , con nghê biểu tượng thuần Việt đã thay thế con Lân do vậy tứ  linh thú của người Việt là ” Long, Nghê, Qui, Phụng”. Xem thêm bài về hình tượng con nghê.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »