Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 22nd, 2009

Gốm Phù Lãng xưa và nay

Làng Phù Lãng (thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), cách thị xã Bắc Ninh khoảng 10km và cách sông Lục Đầu khoảng 4km. Ngày cuối tuần du khách có thể tới đây để tìm hiểu về nghề gốm truyền thống, về lịch sử của làng, cũng như tận hưởng cuộc sống thôn dã vẫn còn đậm nét ở vùng đất này.

Nếu xuất phát từ Hà Nội, bạn chỉ mất khoảng 1 tiếng để tới làng Phù Lãng.

Nay Phù Lãng có 3 thôn: Trung thôn, Thượng thôn, Hạ thôn. Theo Tô Nguyễn, Trình Nguyễn trong sách Kinh Bắc – Hà Bắc thì ông tổ nghề gốm Phù Lãng là Lưu Phong Tú. Vào cuối thời Lý, ông được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc.

Trong dịp đi này, ông học được nghề làm gốm và truyền dạy cho người trong nước. Đầu tiên, nghề này được truyền vào vùng dân cư đôi bờ sông Lục Đầu sau đó chuyển về vùng Vạn Kiếp (Hải Dương). Vào khoảng đầu thời Trần (thế kỷ XIII) nghề được truyền đến đất Phù Lãng Trung.

Có thể thấy, sản phẩm chính của gốm Phù Lãng xưa là chum vại, ấm đất, chậu cảnh, tiểu sành… Ngày nay với những bàn tay tài hoa muốn khôi phục và gìn giữ nghề truyền thống của làng, các nghệ nhân thế hệ mới như nghệ nhân Vũ Hữu Nhung – với cái tên quen gọi Gốm Nhung, nghệ nhân Thiều với tên quan thuộc Gốm Thiều đã phát triển những tinh hoa của nghề gốm với nghệ thuật tạo hình khối, hoa văn.

Nhiều sản phẩm và mẫu gốm mới như: tranh gốm, lọ hoa gốm, ấm chén gốm, gốm trang trí, gốm ốp tường, lư hương… đã và đang được khách, doanh nhân, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước yêu thích.

Nét đặc trưng nổi bật trong trang trí gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong, mà người Phù Lãng quen gọi là chạm kép các đề tài: tứ linh, nghê, hạc, mặt hổ phù, chữ Thọ, hồi văn, cánh sen, sóng nước…

Đối với những sản phẩm được sản xuất đại trà như gốm dân dụng, người Phù Lãng rất ít trang trí. Tuy nhiên, gốm Phù Lãng có ưu thế ở chất men màu tự nhiên, bền và lạ, dáng gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất và đậm nét điêu khắc.

Hiện nay, đồ gốm dùng trong tín ngưỡng dân gian Phù Lãng vẫn còn hiện diện trong một số di tích lịch sử ở châu thổ sông Hồng như các đình, đền, chùa… Tới đây, du khách có thể cùng những người thợ gốm tạo ra những sản phẩm cho riêng mình để kỷ niệm cho một chuyến đi đầy thú vị.

Điều đặc biệt là làng gốm Phù Lãng còn nhiều vẻ nguyên sơ, cuộc sống của người dân nơi đây cũng mộc mạc như chính chất liệu làm gốm vậy!

Theo Sài Gòn giải phóng

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Ông tổ nghề một số làng nghề gốm

Ở Việt NamThờ tổ nghề là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho nhân dân, di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ǎn quả nhớ kẻ trồng cây”…

1. Đôi điều về tín ngưỡng thờ tổ nghề

Tổ nghề (còn gọi là Tổ sư, Thánh sư, Nghệ sư – người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc là người thứ nhất đem nghề ở nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh. Tổ nghề có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta rất phát triển, có truyền thống lâu đời, sản phẩm phong phú, đa dạng về chất liệu, kiểu loại. Có thể kể một số nghề như: Nghề dệt chiếu cói, dệt the, dệt lụa, dệt nhiễu, thêu, thợ may, thợ mộc, nghề kim hoàn, chạm bạc, khảm xà cừ, nghề giấy, nghề mây tre, làm nón, nghề sơn, chạm khắc đá, đúc đồng, nghề gốm… Những người làm nghề thường ở thành phường nhóm, làng (làng nghề). Biết ơn những vị sáng lập truyền nghề cho mình và di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ǎn quả nhớ kẻ trồng cây”, họ thờ phụng các vị tổ của nghề mình đang làm. Có thể lập bàn thờ tổ nghề tại gia, và vào ngày tuần tiết, sóc, vọng, giỗ tết, đều có cúng cấp. Nhưng phổ biến hơn cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền riêng để thờ tổ nghề riêng của nghề mà phường, làng mình đang làm. Đặc biệt, nhiều vị tổ nghề còn được thờ làm thành hoàng làng.

Trong một nǎm, lễ cúng tổ nghề quan trọng nhất là nhằm vào ngày kỵ nhật của vị tổ nghề, đối với những vị mọi người đều biết hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường, trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của tổ nghề mình.

Thờ phụng tổ nghề, người ta cầu mong Ngài phù hộ cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro. Sau khi công việc có kết quả, người ta làm lễ tạ ơn. Ngày kỵ nhật tổ nghề tại các phường còn gọi là ngày giỗ phường.

2. Ông tổ nghề một số làng nghề gốm ở Việt Nam

Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay, đồ gốm đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân ta.

Gốm cổ truyền Việt Nam đã có cách đây sáu, bảy ngàn năm. Gốm xuất hiện trong những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long… Rồi ta thấy trong di chỉ thuộc hậu kỳ đồ đá mới Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu, giai đoạn Gò Mun… Đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển cao và hết sức phong phú.



Sản phẩm gốm men lam của Bát Tràng

Trong truyền thuyết, sự xuất hiện của đồ gốm, đồ sứ như một điều bí hiểm, linh thiêng “Đồ gốm, sứ là loại chất bột nằm sâu trong lòng đất, ở những nơi linh thiêng có ma quỷ canh giữ. Muốn khai thác được phải chọn ngày lành tháng tốt. Lên tới mặt đất, nhờ ánh sáng chói lọi của mặt trời soi dọi chất bột đó mới biến thành gốm, sứ…”

Thực ra đó chỉ là truyền thuyết ly kỳ để tăng cái phần quan trọng của kỹ nghệ gốm, sứ xa xưa. Thực chất hàng gốm, sứ ra đời nhờ đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ thủ công. Lịch sử Việt Nam, tập 1, trang 38 có ghi: “Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ đục… quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, cưa khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi… bằng đá được chau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm (nồi, bát, cốc, vò…) có hình dáng đẹp, chắc, khoẻ, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí, đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ….”

Vậy là kỹ nghệ gốm giai đoạn Phùng Nguyên (cách ta gần 4.000 năm) ở nước ta đã phát triển mạnh. Con người buổi đó đã biết nghĩ ra bàn xoay và chế tạo ra thứ men để phủ ngoài, tăng thêm vẻ đẹp kỳ diệu của đồ gốm.

Đây là một thời kỳ của nước Văn Lang. Cho tới thời Âu Lạc, kỹ nghệ gốm đã phát triển mạnh lắm. Nghề nung gạch, làm ngói… cũng đã có từ ngày này.

Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kỹ nghệ được khuyến khích phát đạt.

Nghề gốm, xem ra phát triển rải rác khắp đất nước. Ở tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm. Cứ ven các dòng sông, chúng ta gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Hoặc chúng ta gặp những dãy lò gốm đang ăn khói nghi ngút. Những trung tâm sứ gốm ở nước ta, xuất hiện từ thời Lý – Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh nghề nghiệp, đó là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Hà Nam Ninh), Chum Thanh (Thanh Hóa)… Mỗi vùng quê gốm lại giữ kỹ nghệ riêng biệt. Và mỗi nơi, lại có mặt hàng gốm đặc trưng riêng của mình, tạo thêm cái đa dạng và phong phú của công nghệ gốm Việt Nam. Nếu nói trung tâm gốm ở nước ta, phải nói tới Bát Tràng – Thổ Hà – Hương Canh. Một đặc điểm riêng biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ nó tiện đường chuyên chở, và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản xuất gốm, sứ.



Gốm Bát Tràng ngày nay

Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý – Trần có người đỗ Thái học sinh (đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần) được cử đi sứ nhà Tống (Trung Quốc) là: Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa), Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà (Hà Bắc), Lưu Phong Tú, người làng Kẻ Sặt (Hải Dương). Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề sứ gốm. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau: Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng, và:

– Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng.

– Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ.

– Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm.

Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng Vua xem. Nhà Vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông là “Tổ sư”, tức “Tổ nghề”.

Phường gốm Bồ Bát sau có rời ra ngoài Bắc. Dọc theo con sông Hồng, tới một bãi sông có đất thó trắng, họ dừng lại lập lò gốm ở đó, với tên gọi Bạch Phường thổ, sau này đổi là Bát Tràng phường. Và ngày nay, ta quen gọi là Bát Tràng.

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Chuyện tán gẩu về chó Tây do bác sĩ Thú Y viết

2929888687_8f646bcc02_o

Có thể nói chó là loài vật gần gũi nhất của loài người,và đồng thời cũng là bạn đồng hành lâu đời nhất của nhân loại.

Tuy được xem là bạn, nhưng loài người đâu phải lúc nào cũng chơi đẹp với loài chó đâu. Sự phân biệt đối xử này cũng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố chẳng hạn như hoàn cảnh kinh tế gia đình cũng như phong tục tập quán của từng quốc gia riêng biệt.

Nhìn chung thì các xứ phương Tây họ rất quý trọng con chó hơn các xứ phương Đông.Tác giả chưa bao giờ thấy một quốc gia Âu Mỹ nào cho phép làm thịt chó để bán như trường hợp tại Việt Nam, Đại Hàn, Trung Quốc, Phi Luật Tân…

Ăn thịt chó là vấn đề mà các nước Tây phương tối kỵ. Họ xem việc này như một hành động dã man, kém văn minh, nhưng mỗi quốc gia đều có nền văn hóa và tập tục ăn uống riêng biệt của nó cho nên không thể phán xét người khác và bắt họ phải giống theo mình được.

SƯỚNG NHƯ CHÓ TÂY CHÓ MỸ

Ngày nay tại Bắc Mỹ khách hàng bốn cẳng rất được trân quý về mọi mặt. Ngoài ra, đây là một mặt hàng hái ra tiền mà.

Để phục vụ nhu cầu của giới chó, trước hết phải kể đến kỹ nghệ chế biến thức ăn cho chó với rất nhiều thương hiệu, đủ loại, đủ cỡ, có thứ khô có thứ ướt, đầy đủ bổ dưỡng cho từng mọi lứa tuổi, cho mọi nhu cầu phát triển và tăng trưởng của con vật. Kế đến là những kỹ nghệ phụ thuộc như kỹ nghệ thuốt thú y rất quan trọng. Gần đây giới thuốc thiên nhiên cũng nhảy vào ăn có hầu giựt phần thuốc thú y. Rồi còn kỹ nghệ quần áo và đồ trang sức cho chó nữa chớ. Ngoài ra còn vô số dịch vụ linh tinh khác nhắm vào khách hàng bốn cẳng nầy.

Chó cũng có bánh biscuit để ăn, đồ chơi và có xương giả để gặm cho đỡ buồn miệng và cho sạch răng.

Bên Hoa kỳ, tại một số thương xá sang trọng như Fashion Island Mall, California người ta cho phép các bà bồng chó theo lúc đi mua sắm.

Cửa hàng Ikea chuyên bán bàn ghế và đồ vật trong nhà đồng thời cũng có gian hàng chuyên bán thêm những loại sản phẩm riêng cho chó mèo với thương hiệu  pets and people và khẩu hiệu quảng cáo là The more you give, the more they give.

Một số nhà hàng và tiệm cà phê lộ thiên như Starbuck coffee shop cho phép khách được dem chó vào trong tiệm.

Chó cũng có thể đi du lịch xa với chủ. Đi máy bay cũng phải trả thêm tiền vé cho con chó. Thằng con trai của người viết và vợ nó sống ở tỉnh bang Alberta, phía Tây Canada mỗi lần về Montreal chơi đều có đem theo hai con chó nhỏ nhốt trong lồng và để dưới chân nơi chỗ ngồi trên phi cơ. Air Canada chặt ngọt mỗi con 50$ cho mỗi bận cũng hơi đau.

Rất nhiều hotel ở Hoa Kỳ như Holiday Inn, Motel 6, Westin ở Costa Mesa California và ở Canada có Holiday Inn, Hampton Inn,Vancouver đều cho phép du khách đựợc mang theo chó vào phòng, lẽ dĩ nhiên là phải chi thêm vài chục đô cho phần con chó rồi.

Chó còn được đưa đến những cửa tiệm đặc biệt để được làm đẹp, để được cắt móng và chải lông.

Thỉnh thoảng người ta còn tổ chức những cuộc triển lãm thi sắc đẹp cho chó. Khác hơn với các cuộc thi hoa hậu ở người, ở đây dặc biệt là không có phân biệt chó cái chó đực gì hết, chó nào đẹp đều được chủ ghi tên dự thi.

CHÓ Ở KHẮP NƠI

Tại Hoa Kỳ, 62 % gia đình có nuôi chó mèo với vào khoảng 77 triệu người có nuôi mèo, và 65 triệu người khác có nuôi chó. Chi phí tổng cộng được ước lượng vào lối 32 tỉ US$ / năm.

Tại Âu Mỹ, vào mùa đông lạnh lẽo, các bà các cô chu đáo thường trang bị áo ấm, mang vớ đàng hoàng cho con chó cưng của mình rồi mới dẫn nó đi dạo phố. Một lần tác giả cũng chứng kiến một bà vừa đi dạo và vừa đẩy một cái xe trên đó không có em bé nào hết nhưng lại có một con chó nhỏ rất dễ thương. Sướng ghê. Chắc con chó khéo tu ở kiếp trước.

Chó ngày nay có những đặc quyền mà trước kia chỉ dành cho trẻ con trong nhà . Chủ  cũng có thể mua bảo hiểm y tế và sức khỏe cho chó.

Các chó quý đều được gắn một cái chip dưới da trên đó có ghi đầy đủ lý lịch của chúng. Đây chẳng qua là một loại thẻ căn cước của con vật để ngừa trường hợp bị mất cấp và đem bán cho người khác.

Tại Canada các nhà làm luật đang soạn thảo dự luật đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của thú vật nuôi trong nhà mà chủ đích chính nhắm vào con chó và con mèo. Luật nầy sẽ giúp giải quyết phần nào sự tranh tụng giữa ông chủ và bà chủ lúc hai đàng ly dị. Ai sẽ giữ con fido đây? Tiền cấp dưỡng hằng tháng cho nó là bao nhiêu? Quyền đến thăm viếng nó thế nào? Có những người giàu có còn lo xa hơn. Họ làm di chúc để tài sản lại cho con chó cưng của mình khi họ phải đi theo ông theo bà.

Đó bạn thấy không, người Tây phương họ lo cho chó không khác gì hơn lo cho  một đứa trẻ.

Tại Việt Nam nghe nói cũng có phong trào nuôi chó kiểng hiếm quý để chứng tỏ sự giàu sang, sự văn minh tiến bộ và giai cấp của người nuôi…

NHỮNG ĐỨA TRẺ CÓ LÔNG

Chó rất được cưng chiều vì vậy có người gọi chó là những đứa trẻ có lông  (furry children).

Có nhiều bạn nình ông Việt Nam có lẽ vì hận tình đen bạc hoặc bị bồ đá hay kềm kẹp sao đó nên đôi khi tuyên bố những câu xanh dờn, đại ý là tại các xứ Âu Mỹ phồn vinh thật sự này, thằng nình ông không có kí lô nào cả nên phải đứng sau con chó,và dĩ nhiên là phải sau cả đàn bà và sau cả một đứa con nít nữa.

CHÓ CŨNG BIẾT BUỒN CHÁN XUỐNG TINH THẦN

Chó rất quyến luyến chủ, bởi vậy mỗi khi chủ phải vắng nhà 1-2 ngày nó sẽ rơi vào trạng thái buồn chán cực độ, trầm cảm, la khóc, tru rống suốt ngày, rồi cắn phá đồ vật, bàn ghế trong phòng, và ỉa đái tùm lum tà la.

Để tránh tình trạng nầy, các Thú y sĩ ngày nay đã sử dụng các loại thuốc an thần, trị trầm cảm ở người để dùng cho chó. Đó là Prozac (fluoxetine), Paxil (paroxetine), Zoloft (sertraline), Elavil (amitryptyline) và Clomicalm(clomipramine).Chỉ riêng có Clomicalm do Labo Novartis bào chế mới được cơ quan FDA Hoa Kỳ nhìn nhận cho phép xài ở loài chó.

Chủ cũng có thể gởi chó đến những nhà trọ đặc biệt để nhờ họ giử trong thời gian mình đi vắng nhà. Tiền nào của nấy, có những nhà trọ cho chó rất sang trọng có thể ví như thuộc loại bốn sao hoặc năm sao.

Còn sợ tốn tiền thì tìm nhà bà con hoặc bạn bè mà gởi đỡ con chó trong vài ba ngày.

CHÓ CŨNG BỆNH NHƯ NGƯỜI

Chó cũng như người, cũng phải chịu quy luật sinh bệnh lão tử.

Chó sinh ra đến 1-2 tuổi thì coi như đã trưởng thành, và trung bình khi được 15 tuổi thì nó đã già lắm rồi, tương đương với cụ ông 80- 85 tuổi. Chó thường chết vào khoảng tuổi này.

Chó cũng bệnh hoạn, đau yếu như chúng ta vậy. Để chăm lo sức khỏe cho chó thì có đội ngủ thú y sĩ rất hùng hậu. Ngày nay ngành thú y cũng phát triển rất mạnh và được chuyên ngành như bên y khoa. Có thú y sĩ chỉ chuyên về giải phẫu, có người khác thì chuyên về  chẩn đoán bằng quang tuyến X ray, người khác thì chuyên về mắt…

Chó cũng bị các bệnh ngoài da, bệnh đường ruột, đau răng…Chó cũng cần được chủng ngừa bệnh tật không khác gì ở con người.

Chó ăn uống bừa bãi cũng có thể bị béo phì, bị các bệnh tim mạch, bị tiểu đường, và bị bệnh thận y như ở người vậy. Một số phòng mạch và bệnh viện thú y của vài trường đại học cũng được trang bị với những loại máy móc tối tân high tech, kể cả máy, digital X ray, Nuclear Scintigraphy (Scan), Ultrasound, Echography, Magnetic resonance Imaging ( MRI), Computed tomography (CT)…không thua gì các bệnh viện tiên tiến của nhân y.

Chó già thường bị các bệnh về mắt như cườm cataract, bệnh tăng nhản áp glaucoma, bị mù lòa, bị điếc tai, viêm khớp, thoái hóa khớp, suy thận mạn tính, sạn thận, bộng đái, và cũng có thể bị các bệnh ung thư… Các loại cancer thường gặp nhất ở chó, là cancer ở da gọi là Mast cell tumor (thường gặp ở loại chó Boxer), Cancer vú (mammary tumor) ở thú cái 5-10 tuổi chưa được thiến, cancer hạch bạch huyết lymphoma và một loại cancer xương rất ác tính (osteosarcoma). Ba loại cancer đầu có thể trị khỏi bằng giải phẩu, phối hợp với xạ trị (irradiation) và hóa trị  (chemotherapy) y như bên người.

Có điểm khác hơn ở người, là nếu thấy trị liệu quá tốn kém, mất thời giờ mà sẽ không đem đến một kết quả nào cả, thì thú y sĩ sẽ bàn luận với người chủ nuôi và đề nghị nên cho chó ngủ luôn một cách thật êm ái bằng một mũi Euthanyl (Pentobarbital). Nói theo văn chương là trợ tử thú y (euthanasia). Sau đó thì nhờ công ty mai táng chó mèo lo liệu chôn cất đàng hoàng mồ yên mã đẹp tại nghỉa trang dành riêng biệt cho thú vật. Lẽ dỉ nhiên là phải hao tài chút đỉnh rồi nhưng tình cảm là vô giá nên không thể đo lường bằng tiền bạc được. Tác giả không biết các Cha bên Công giáo có làm nghi thức đọc kinh hay rửa  tội cho chó không và các Thầy bên Phật giáo có đọc kinh Sám Hối Vãng Sanh cho hương linh con vật không?

Xin mách nhỏ, đây cũng có thể là một cách kiếm chút đĩnh tiền hợp pháp cho chùa chiền và nhà thờ trong thời buổi suy thoái kinh tế hiện nay.

ĐỂ GHI ƠN CON CHÓ

Để biết ơn và đề cao sự hy sinh và sự trung tín của loài chó, một số tượng đài của loài vật này được thấy dựng lên rải rác tại vài nơi trên thế giới như ở Pháp, ở Anh và ở bên Đức.

THẤY CHÓ NGƯỜI MÀ NGẪM NGHĨ ĐẾN CHÓ TA

Ngẫm nghĩ lại mà thương xót cho số phận của những chó chẳng may phải đầu thai sống tại những xứ nào đó nên phải moi thùng rác mà ăn rồi còn bị hành hạ đánh đập và thường là phải chấm dứt cuộc đời chó má của mình trong các quán ăn quán nhậu.

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Gốm sứ Bình Dương ngày nay

Cùng với các làng nghề gốm sứ Bát tràng, Tràng An, Biên Hoà… gốm sứ Bình Dương cũng nổi tiếng trong và ngoài nước. Bình Dương hiện có gần 200 cơ sở làm nghề gốm sứ ở xã Thuận Giao, huyện Thuận An, huyện Tân Uyên… Tuy nhiên, gốm sứ Bình Dương đang tồn tại 2 thái cực trái ngược nhau. Một bên là hàng trăm cơ sổ gốm sứ truyền thống với các lò nung bằng củi, than đá, sản xuất theo phương pháp thủ công. Một bên, đại diện là gốm sứ Minh Long, với những ứng dụng máy móc,  dây chuyền sản xuất hiện đại.

Việc bảo tồn một ngành nghề truyền thống và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tân thời để đưa gốm sứ Bình Dương vươn ra thị trường quốc tế cũng là một bài toán nan giải.

Nhằm tôn vinh giới thiệu một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời và nổi tiếng đặc sắc của tỉnh Bình Dương; đồng thời khẳng định vị trí, tiềm năng của nghề gốm sứ trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương hiện tại và tương lai, UBND tỉnh đang lên kế hoạch tổ chức Festival Gốm sứ 2010 vào tháng 9/2010.

Đây cũng là cơ sở, điều kiện hình thành Trung tâm bảo tồn gốm sứ Việt Nam sau này.

Cuối tuần qua, đi cùng với Sở Thông tin truyền thông khảo sát một số địa điểm để làm đề án cho “Festival gốm sứ Việt Nam – Bình Dương 2010”, PV Dân trí đã kịp ghi lại một số hình ảnh đẹp về nghề làm gốm sứ độc đáo tại địa phương này.

Về làng gốm sứ Bình Dương
Cổng của một lò gốm thủ công được trang trí bằng những sản phẩm bằng gốm sứ lỗi, hỏng.
Về làng gốm sứ Bình Dương
Quy trình làm gốm bắt đầu từ việc chọn mẫu đất.
Đất lên khuông
Mang bán thành phẩm đi phơi nắng
Lựa chọn, kiểm tra rất kỹ trước khi đưa nung.
Đưa vào lò nung
Lò nung kiểu cũ vẫn đun bằng củi, than đá.
Ra lò…
Những công nhân đang tô điểm cho những sản phẩm đã ra lò. Các làng nghề gốm sứ đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động trong và ngoài địa phương.
Thành quả cuối cùng là những sản phẩm đẹp mê hồn…

… sẵn sàng cho những cơ hội xuất ngoại.
(Theo Dân Trí)


Read Full Post »

Gốm truyền thống Hòn Đất, Kiên Giang

Nghề gốm ở Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang đã phát triển thành nghề truyền thống của một bộ phận cư dân xứ Hòn gần 100 năm qua góp phần ổ định cuộc sống của nhiều gia đình nơi đây.

Tuy nhiên, mấy chục năm qua nghề gốm ở Hòn Đất chủ yếu là sản xuất các mặt hàng truyền thống như lò ràng, lị than, nồi đất, khuôn bánh khọt , các loại am, chum đựng nước, diệm dùng đặc rượu, v.v…

Mấy năm gần đây, đời sống của nhân dân được nâng lên cùng với thị trường đa dạng hoá các mặt hàng gia dụng như bếp ga, đồ điện, các mặt hàng được sản xuất từ nhuôm, sành, sứ cao cấp vừa tiện lợi, giá cả phù hợp với điều kiện kinh tế của đại bộ phận nhân dân đã làm ảnh hưởng đến giá thành và đầu ra của sản phẩm gốm Hòn Đất.

Do đó, để nghề gốm ở Hòn Đất tồn tại và phát triển đòi hỏi cấp thiết đối với những người sống bằng nghề gốm là phải thay đổi hình thức sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển của xã hội.

Để giải bài toán về làng nghề gốm ở Hòn Đất, đầu năm 2007 với sự tài trợ của Trung tâm khuyến công tỉnh Kiên Giang một mô hình sản xuất gốm mới theo hình thức sản xuất hàng mỹ nghệ, do Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đồng Thịnh ở xã Bình Sơn đang triển khai thực hiện.

Đây là một hình thức sản xuất mới với những mặt hàng gốm được sản xuất đảm bảo cả ba tiêu chí: kỹ thuật, mỹ thuật và giá thành sản phẩm. Qua bước đầu thực nghiệm cho thấy đây là một triển vọng mới đối với nghề làm gốm ở Hòn Đất.

Theo sự hướng dẫn của anh Đào Hùng Phương, Trưởng phòng Công Thương Khoa học Công nghệ Hòn Đất chúng tôi đến thăm làng nghề gốm thủ công thuộc ấp Đầu Doi, Thị Trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất.

Hiện nay trong ấp có trên 500 hộ dân, đã có gần một nửa với trên 500 lao động làm nghề sản xuất mặt hàng gốm.

Đất sét của xứ Hòn có độ mịm và dẻo rất cao nên khi nắn, nung ít hư, sản phẩm lại có độ bền nên được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Vào những năm 1980 là giai đoạn sung túc nhất của làng gốm Đầu Doi.

Các mặt hàng gia dụng làm bằng gốm ở thời điểm đó bán rất chạy nên hầu người dân địa phương sống nhờ vào nghề gốm. Nhà nào cũng có từ hai đến ba lò gốm và sản phẩm được ủ nung thường xuyên.

Nhiều gia đình có điều kiện còn tranh thủ mùa nắng sản xuất, tích luỹ để có hàng bán vào những tháng mùa mưa.

Giá mỗi cái lò ràng ở thời điểm đó có lúc tính bằng một giạ lúa. Có lẻ đây là giai đoạn ăn nên, làm ra nhất đối với những người dân ấp Đầu Doi.

Mấy năm gần đây các mặt hàng gia dụng được sản xuất từ gốm đã ít được người tiêu dùng quan tâm sử dụng hơn.

Hầu hết những gia đình thuộc diện trung bình trở lên đã dùng bếp ga, nồi cơm điện hoặc xây lò chụm bằng củi, trấu bằng gạch thay cho việc nấu củi bằng lò ràng, nồi đất.

Các mặt hàng gia dụng khác cũng dần được thay thế bằng đồ sành, sứ, nhuôm, nhựa, Inox nên các mặt hàng bằng gốm bán ít chạy và giá thành lại thấp. Giá sản phẩm thấp nên công thợ cũng rẻ. Một người thợ làm suốt ngày chỉ kiếm được 20.000 đồng tiền công.

Đến thăm gia đình chú Trần Văn Tuồng, gia đình chú cũng đã có trên 30 năm sống nhờ vào nghề gốm. Thế nhưng theo chú Tuồng cho biết hiện nay làm nghề gốm rất khó sống.

Một cái cà ràng loại lớn chỉ bán được 7.000 đồng. Lò than được rạng bằng thiết, trét xi măng thật kỉ loại lớn bán được hơn 40.000 đồng. Còn lại những loại nồi đất, lò nhỏ chỉ bán vài ba ngàn đđồng.

Nếu như so sánh với giá lúa ở thời điểm như hiện nay, gần hai chục cái cà ràng mới mua được một gịa lúa. Mặc dù giá thành thấp như vậy nhưng số lượng tiêu thụ cũng rất ít. Mội tháng chỉ bán hơn ngàn sản phẩm các loại đã là nhiều.

Chú Tuồng tâm sự:” Mấy mười năm chỉ làm quen với nghề này nên việc đổi nghề là rất khó. Còn con Trai chú Tuồng, em Trần Thanh Nam cho biết:” Nhiều khi cũng muốn tìm cách làm mới để duy trì và phát triển để cải thiện nghề gốm của gia đình nhưng chưa biết làm cách nào ?”

Đó cũng là những trăn trở và suy nghĩ của anh Huỳnh Như Sanh, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh. Là hoạ sĩ lại kiếm sống bằng công việc kế toán cho một công ty ở Kiên Lương.

Cứ mỗi lần có dịp đi ngang qua làng nghề gốm ở ấp Đầu Doi, anh Sanh lại thấy thương cho người dân làng nghề.

Lao động cật lực nhưng thu nhập lại thấp. Nhìn thấy màu gốm tươi gói, anh tiết cho những sản phẩm làm ra quá thô sơ, giá thành không cao. Với anh Sanh việc thay đổi cách sản xuất gốm để vừa có giá trị kinh tế cao hơn đã thôi thúc anh bắt tay vào nghiên cứu cách làm mới.

Anh Sanh đã bỏ công tìm hiểu xây dựng dự án sản xuất mặt hàng gốm mỹ nghệ chất lượng cao.Với dự án này anh Sanh đã thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh.

Để có kinh phí đầu tư đi vào sản xuất anh Sanh đã vận động bạn bè, gia đình ủng hộ trên với số vốn đầu tư ban đầu là 500 triệu đồng, trong đó trung tâm khuyến công tài trợ 150 triệu đồng.

Với một người mới vào nghề, mà là nghề làm gốm mỹ nghệ quả là quá nhiều trở ngại. Tất cả điều bắt đầu từ con số không.

Để làm được việc, anh Sanh đã vận động một số thợ trẻ, say mê nghề cùng anh làm việc, Trung tâm Khuyến công Tỉnh Kiên Giang giúp anh rất nhiều trong việc chuyển giao kỹ thuật xây lò nung, tìm hiểu về độ mịn, độ nềm dẻo của đất, v.v… Riêng anh Sanh đã tự thiết kế ra hơn chục mẫu sản phẩm để đưa vào sản xuất thử.

Chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất của anh Sanh trong những ngày giáp tết. Nói là cơ sở sản xuất nhưng qui mô cũng còn rất nhỏ hẹp. Khuôn viên làm việc với diện tích gần 200m2 vừa là nhà kho, nhà trưng bày sản phẩm, khu làm việc cho gần chục công nhân, lò nung, khu chế tác tượng của hoạ sĩ.

Theo sự giới thiệu của anh Sanh sau hơn gần một năm vừa nghiên cứu, vừa sản xuất thí điểm cơ sở của anh đã cho ra trên 1.000 sản phẩm với khoản 30 mẫu sản phẩm.

Đặc biệt là sản phẩm bình hoa loại lớn có gần 100 chiếc, nhưng là mẫu sãn phẩm độc bình . Mỗi kích cỡ , mỗi mẫu chỉ sản xuất một chiếc duy nhất như Bình Hồ Lơ cao gần một mét, bình cấm hoa lại lớn và loại trung bình với nhiều kiểu dáng và hoa văn khác nhau.

Tất cả các loại bình này được nung từ đất gốm của xứ Hòn với màu rất sắc. Những chiếc bình hoa này khi trang trí trưng bày trên những chiếc đế làm chân bình được chế tác từ gốc cây tràm.

Cây sắn đã tạo thêm vẻ đẹp tự nhiên hài hoà giữa: Màu đỏ đất gốm, của cây lá và hoa nhưng lại rất sang trọng và điệu nghệ khi được bày trí trong phòng khách hàng ngày hay trong phịng khách.

Bên cạnh việc sản xuất sản phẩm độc bình, Công ty Đồng Thịnh cũng sản xuất một số mặt hàng mỹ nghệ bằng gốm màu như: Những loại tranh nỗi bằng gốm, các loại sản phẩm dùng để trang trí.

Do mới sản xuất thử nghiệm nên sản phẩm chưa thật sự sắc sảo nhưng từ thành công bước đầu đã mở ra một triển vọng mới, một hình thức sản xuất để có sản phẩm mới hơn và có giá trị hơn đối với việc sản xuất gốm ở Hòn Đất


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Festival làng nghề Huế 2009
Ông Nguyễn Duy Hiền – Giám đốc Trung tâm Festival Huế nói: “Việc thành phố Huế tổ chức festival (liên hoan) nghề vào các năm lẻ như lâu nay không phải là những cuộc trình diễn nghề. Cái mà chúng tôi đang hướng đến là tham vọng làm những cuộc tái trưng tập các nghệ nhân về Huế…”.
Gốm, sơn mài và pháp lam
Những ngày này, thành phố Huế đang hối hả chuẩn bị cho festival Nghề truyền thống lần thứ 3 năm 2009 (từ ngày 12 đến 14. 6.2009) với chủ đề “Nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, gồm 3 nghề: Gốm sứ, sơn mài, pháp lam.
Theo thông tin từ Ban tổ chức đến nay đã  khẳng định được các nghệ nhân và làng nghề gốm sứ, sơn mài, pháp lam ở Huế và trên cả nước đăng ký tham dự, gồm: (Chu Đậu – Hải Dương; Bát Tràng, Nhung – Hà Nội; Phù Lãng – Bắc Ninh; Hạ Thái – Hà Nội; Thổ Hà – Bắc Giang; Biên Hoà, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh; Bàu Trúc -Ninh Thuận; Gọ – Bình Thuận; Gò Sành – Bình Định; Thanh Hà – Hội An; Châu Ổ – Quảng Ngãi…).
Festival còn có mặt các nhà sưu tầm cổ vật trong cả nước từ Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh, Tuy Hoà, Đà Nẵng, Bình Định, Huế…với các cổ vật gốm sứ, sơn mài, pháp lam độc đáo từ nhiều niên đại, trong đó có nhiều cổ vật quí hiếm được xem là bảo vật.
Lần đầu tiên các cổ vật quý hiếm sẽ được trưng bày và phô diễn bằng các triển lãm “Bộ sưu tập đồ sứ ký kiểu và bộ sưu tập pháp lam”; “Bộ sưu tập các cổ vật Cung đình”; “Chuyện kể từ kho báu dưới lòng sông”; “Dặm dài đất nước qua những cổ vật”. Triển lãm tranh sơn mài của cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng, các cuộc triển lãm sơn mài của các nghệ sĩ Huế, Hà Nội; Ảnh tư liệu và nghệ thuật “Cây cầu, dòng sông” của các tác giả Pháp và Huế.
Gốm trục vớt dưới dòng sông Hương.
Lễ hội còn có nhiều chương trình nghệ thuật và chương trình hỗ trợ với sự tham gia của các nghệ sĩ Huế, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Chương trình khai mạc đầy sắc màu và ấn tượng trong không gian lãng mạn của cầu Trường Tiền, Sông Hương. Chương trình bế mạc là đêm hội lung linh với lễ rước tôn vinh nghệ nhân và các làng nghề diễn ra trên đường phố Huế…
Đặc biệt năm nay, không gian tôn vinh nghệ nhân và làng nghề không tổ chức trong khuôn viên trường Hai Bà Trưng như mọi năm mà được trải dài dọc bờ sông Hương với những hoạt động nghề sống động, các nghệ nhân sẽ giới thiệu sản phẩm, giao lưu với khách tham quan và thao diễn sản xuất, sáng tạo.
Không phải chỉ là trình diễn nghề…
Festival nghề 2009 còn có hội thảo “Nghề và làng nghề truyền thống Huế, tiềm năng và những trở lực phát triển” với sự tham gia tâm huyết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các nghệ nhân nhằm đánh giá sâu tiềm năng, thực trạng, những trở lực và triển vọng cho sự phát triển của nghề và làng nghề truyền thống của một vùng đất vốn là xứ kinh kỳ.
Đặc biệt, lần đầu tiên Hội chợ Triển lãm Làng nghề Việt Nam được tổ chức tại Huế với các hoạt động trưng bày và bán sản phẩm làng nghề, trưng bày chuyên đề “Không gian văn hoá Tre Việt”, hội thảo xúc tiến thương mại và các hoạt động nghệ thuật dân gian 3 miền ở công viên Thương Bạc từ 10 đến 14-6-2009.
Festival nghề truyền thống Huế đã được tổ chức đến lần thứ 3, và đã xuất hiện không ít ý kiến nghi ngờ về tính hiệu quả của lễ hội, nhất là khía cạnh khôi phục các làng nghề đang mai một và thu hút khách du lịch đến Huế.
Theo ông Nguyễn Duy Hiền – Giám đốc Trung tâm festival Huế, đơn vị phối hợp với thành phố Huế tổ chức festival nghề năm 2009, quan điểm cho rằng việc tổ chức các festival nghề “không có tác động tích cực tới các làng nghề trên địa bàn tỉnh TT-Huế” là không chính xác. Bằng chứng là sau khi tổ chức festival nghề nón, thêu vào năm 2005, sau đó hai nghề này đã có những chuyển biến đáng kinh ngạc. Mới đây, Sở KHCN tỉnh TT-Huế đã làm một đề tài khoa học về nón Huế, cũng như lập dự án trồng lá nón để phát triển nghề nón và làm tour phục vụ du lịch.
Hay như trước đây, Huế chỉ còn tồn tại nghề bán vàng, còn nghề làm kim hoàn mỹ nghệ gần như biến mất, tuy nhiên, sau festival nghề kim hoàn và đúc đồng vào năm 2007, nghề kim hoàn ở Huế đã phát triển trở lại, tiêu biểu là nghề đậu của gia đình ông Nguyễn Hữu Nhơn, hay, khu “Tịnh Tâm Kim Cổ” của Duy Mong với các hoạt động du lịch trình diễn nghề.
Rồi nghề mộc Mỹ Xuyên ở xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, cũng nhờ festival nghề 2007 mà từ chỗ suy tàn, ngắc ngoải đã hồi sinh, trở thành một trong những địa chỉ mộc nổi tiếng không chỉ ở trong nước như hiện nay…
Festival làng nghề truyền thống Huế được tổ chức vào các năm lẻ, bắt đầu từ năm 2005 với các nghề: Thêu, nón lá; năm 2007 với: Chạm khắc, đúc đồng, kim hoàn.
Festival nghề năm nay với các nghề: Gốm sứ, pháp lam, sớn mài, còn gắn với sự kiện 110 năm cầu Trường Tiền và Chợ Đông Ba được xây dựng ở địa điểm hiện nay.
Ông Nguyễn Duy Hiền khẳng định: “Chúng tôi tổ chức festival nghề không phải để trình diễn, mà nhằm tôn vinh và thúc đẩy nghề phát triển. Trước đây trong lịch sử, triều Nguyễn đã không ít lần trưng tập tất cả những nghệ nhân giỏi nhất của toàn quốc về Huế để xây dựng làng nghề và phục vụ cho vương triều. Bây giờ, chúng tôi lại có tham vọng làm những cuộc tái trưng tập các nghệ nhân về Huế thông qua việc tổ chức festival nghề vào các năm lẻ để góp phần, làm nên sức sống mới cho quần thể di tích Huế đồng thời thu hút khách du lịch”.
Theo ông Hiền, đó mới là mục tiêu sâu xa nhất của việc tổ chức festival nghề. Trên thực tế, việc “tái trưng tập nghệ nhân” về Huế đã được thực hiện trong nhiều năm qua, và đã thu được những kết quả rất khả quan. Điển hình là việc nghệ nhân Trịnh Bách phục dựng trang phục vua chúa thời Nguyễn; Trung tâm BTDTCĐ Huế phục chế, sản xuất thành công ngói lưu ly và pháp lam…
Theo Nhân dân

Read Full Post »