Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 19th, 2009

Thuật ngữ căn bản về gốm sứ

GIỚI THIỆU VỀ ĐỒ GỐM:

Một hiện vật gốm là hiện vật được làm bằng đất nung ở nhiệt độ ít nhất là 500oC. Ở nhiệt độ này, những tác động của nhiệt độ là không thể thay đổi và cốt đất làm từ đất sét sẽ trở thành gốm. Độ thấm của sản phẩm gốm có thể được dùng như một tiêu chí cho sự phân loại đơn giản nhất về đồ đất nung (độ thấm trên 5 %) và đồ gốm cứng, Người ta có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau theo kiểu cốt đất mà người ta sử dụng và nhiệt độ nung:

+ 500 – 900oC        : đồ đất nung ở nhiệt độ thấp.

+ 900 – 1.150oC     : đồ đất nung.

+ 1.150 – 1.300oC : đồ gốm cứng.

+ 1.300 – 1.450oC : đồ sứ.

Thuật ngữ “nung bánh bích quy” (bisquit bake) để chỉ việc nung một vật bằng đất chuyển sang tình trạng như bánh bích quy. Tiếp theo, người ta tráng men và trang trí rồi nung lần thứ hai, trừ phi người ta để mộc không tráng men vật đó.

“Màu sắc dưới men” (underglazed enamel) là áp dụng cho đồ sứ mới nung lần thứ nhất và tiếp theo là tráng men rồi đem nung. Vì thế những chi tiết trang trí được men phủ lên và bảo vệ.

Màu vẽ trên men hoặc màu vẽ bằng men (overglazed enamel) được phủ trên bề mặt. Vì thế, chúng ít chịu được sự cọ xát và mài mòn, ít bền hơn màu trang trí dưới men. Tuy nhiên, người ta sử dụng nhiều loại màu sắc phong phú ở hình thức màu vẽ trên men khi nung ở nhiệt độ thấp hơn.

Những loại đồ vật làm bằng bùn phơi khô dưới nắng như gạch, những con số và các bảng chữ hình nêm (giống như chữ Ba Tư và Assyria cổ) sẽ được xem như một bộ phận hình thành nên sưu tập đồ gốm, nhưng không được nung. Nếu để trong nước một thời gian, những hiện vật này sẽ bị phân rã.

1. Đồ gốm bằng đất sét nung (Earthenware):

Thuật ngữ “đồ gốm bằng đất sét nung” chỉ loại đồ gốm thủ công được phân loại từ thô đến tinh, thường có mục đích sử dụng thiết thực, được khắc hoặc sơn để trang trí. Người ta có thể tiến hành việc hoàn thiện bề mặt bằng nhiều công đoạn khác nhau để tăng khả năng chống thấm hoặc để trang trí. Việc đánh bóng có thể được tiến hành vào giai đoạn làm áo trước khi nung để cho ra một sản phẩm tuyệt hảo và tăng khả năng chống thấm (ví dụ đối với những hiện vật thời Villanovan). Một lớp áo mỏng (bằng một loại đất sét được làm mịn) được gọi là “nước áo” được phủ lên bề mặt ở giai đoạn làm cốt trước khi nung. Kiểu làm này mỏng manh dễ vỡ hơn là tráng một lớp men (chẳng hạn đồ gốm Attic màu đỏ và đen, đồ Arrentine và đồ Samian). Nước áo màu trắng đặc biệt mỏng manh và dễ bị ố (ví dụ đồ sứ trắng Hy Lạp).

2. Đồ gốm nâu đỏ không tráng men (Terracotta):

Đồ gốm nâu đỏ không tráng men (gọi một cách văn vẻ là “đồ đất nung”) được nung ở nhiệt độ xấp xỉ 950oC. Đồ gốm nâu đỏ không tráng men có thể là những bức tượng đất nhỏ bé, nhưng cũng có khi là những vật có kích thước rất lớn như những chiếc lư, những phù điêu và chi tiết trang trí trên kiến trúc. Chúng được đổ khuôn, và thường không được tráng men nhưng có một lớp “vỏ nung” bên ngoài trong suốt quá trình tạo mẫu bằng đất sét ướt trước khi đưa vào lò nung.

Đôi khi trước lúc nung, ở giai đoạn làm áo, người ta trang trí màu trắng trơn hoặc nếu trang trí theo từng đoạn, người ta thực hiện trước và sau khi nung (ví dụ những bức tượng bằng đất nung Tanagra của Hy Lạp). Thỉnh thoảng, những đồ vật bằng gốm nâu đỏ không tráng men được bọc bằng một lớp vôi bám, rồi trang trí theo từng đoạn và/hoặc mạ vàng (chẳng hạn những chiếc lư ở Etruscan).

3. Đồ gốm đất nung có tráng men (Glazed earthenware):

Đồ gốm đất nung có tráng men được phân loại theo đặc điểm về men và trang trí. Men được làm từ thủy tinh và kết dính với gốm trong quá trình nung lần thứ hai. Đồ gốm bằng đất sét nung có tráng men gồm gốm trắng, gốm màu ngà, màu ngọc bích và tất cả loạiì gốm Staffordshire. Đồ gốm tráng men màu thiếc bao gồm gốm Delft, Faience và Maiclica.

4. Đồ gốm trơn (Lustreware):

Đồ gốm trơn có thêm sự xuất hiện của kim loại trong men, hoặc là phủ toàn bộ hoặc là theo mẫu (Đồ sứ cũng thường sử dụng cách này)

5. Đồ sành cứng (Stoneware):

Nằm giữa hai loại đồ gốm đất nung và đồ sứ, đồ sành cứng được làm bằng đất sét và một loại đá có thể nấu chảy được. Nó cứng, mạnh và trong như thủy tinh. Cả lớp cốt và men chín cùng một lúc, hình thành nên một lớp hỗn hợp cốt và men hòa vào nhau. Đôi khi, người ta dùng một lớp men có muối cho những mục đích trang trí. Màu của loại đồ sành này có thể là vàng, nâu đậm, xám hoặc xanh (chẳng hạn đồ sành cứng được tráng men muối của Anh và Rhen, đồ gốm ngọc thạch anh và đá bazan không tráng men Wedgwood, đồ gốm men ngọc của Trung Quốc).

6. Đồ sứ (Porcelain):

Có ba loại đồ sứ chính: đồ sứ cứng, đồ sứ xốp và đồ sứ làm bằng đất sét và tro xương (bone china). Đồ sứ cứng và đồ sứ xốp đều được nung ở nhiệt độ giữa 1.200oC và 1.450oC. “Cứng” tương ứng với đồ sứ nung ở nhiệt độ khoảng 1.450oC và “nhẹ xốp” ứng với nhiệt độ nung vào khoảng 1.200oC.

a. Đồ sứ cứng (Hard paste porcelain):

Đồ sứ cứng cũng được coi là đồ sứ “thật sự” hay “đồ sứ nung ở nhiệt độ cao”. Nó được làm từ đất sét trắng chịu nhiệt (kaolin) và một loại đá trường thạch được nấu thành thủy tinh và thường có màu trắng. Khi mỏng, nó trong mờ. Cốt đất và men trộn với nhau tạo ra một lớp cốt – men rất dày làm cho loại đồ sứ này rất cứng. Loại này được làm lần đầu tiên tại Trung Quốc vào năm 900 sau Công nguyên nhưng không thành công bằng loại được làm tại châu Âu sau này vào năm 1700 ở Meissen khi kỹ thuật đã trở nên hoàn thiện. Những đồ sứ loại này của Trung Quốc và Nhật Bản, đồ sứ Meissen, đồ sứ Vienna, đồ sứ Sèvre, đồ sứ Plymouth và đồ sứ Bristol là những ví dụ minh họa.

b. Đồ sứ xốp (Soft paste porcelain):

Loại đồ sứ này cũng được coi là đồ sứ “giả” hay “đồ sứ được nung ở nhiệt độ thấp”. Người ta cố gắng bắt chước đồ sứ Trung Quốc thật sự và làm bằng những cách khác nhau nhưng tất cả đều có chứa thủy tinh. Đó là những đồ sứ như đồ sứ Medici, Capodimonte, Routen, Vincennes, Bow, Chelsea, Worcester.

c. Đồ sứ đẹp làm bằng đất sét và tro xương (Bone china):

Đây là loại đồ sứ thực sự được làm thay đổi bằng cách thêm tro xương vào loại đất sét có chất lượng tốt nhất (kaolin) và đá trường thạch. Ở Anh, tro xương được thêm vào đồ sứ giả tạo và đồ sứ thứ thiệt vào khoảng năm 1800 và hiếm khi kỹ thuật này vượt ra khỏi biên giới nước Anh. Việc nung đồ sứ đẹp loại này khác với quá trình sản xuất đồ sứ. Công đoạn nung đồ sứ chưa tráng men được tiến hành ở nhiệt độ khoảng 1.300oC, rồi phủ men ở nhiệt độ thấp hơn, khoảng 1.100oC.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Phố đồ cổ vỉa hè tại Huế – 2
Khách đến xem đồ cổ
Huế có những hàng đồ cổ bình dân trên phố. Người ta có thể tìm thấy ở đây nhiều món đồ từ bình dân tới cao cấp.
Đến Huế, nếu tò mò, đành phải gạt “tâm hồn ăn uống” sang một bên, ta ghé lại đoạn vỉa hè ven phố Trần Hưng Đạo ấy xem người ta bày bán thứ gì mà lặt vặt, mà tỉ mỉ nhường kia. Hóa ra bên cạnh mấy món đồ bình, lọ bằng đất nung còn có thật nhiều chén bát, đồ đồng, đồ sứ… Giọng Huế của chàng trai bán hàng khiến ta không thể không dừng xe, tắt máy: “Vô coi đồ cổ đi mấy chú! Toàn đồ nội phủ đó!”…
Đồ cổ bình dân
Những món đồ cổ được bày bán trên vỉa hè
Đoạn vỉa hè râm mát, những món đồ cũ kỹ, nhỏ xinh nằm im lìm làm không khí chung quanh đoạn phố càng như yên tĩnh thêm. Chỉ có hai “cửa hàng” như thế trên phố Trần Hưng Đạo trên vỉa hè của thành phố Huế. Bày bán ngay trên những tấm nilon cách nhau một quãng chừng 500m, hai ông chủ trẻ dường như thèm người để nói chuyện. Vừa nhác thấy bóng người dừng xe, không kể già hay trẻ, là tiến tới thuyết minh liền: “Cách đây hơn 400 năm, tức năm 1601 đó chú, tiên chúa Nguyễn Hoàng đã không nhầm khi quyết định dừng vó ngựa bên bờ Linh Giang. Linh Giang chính là con sông Hương đằng ni kìa…” Thật kỳ lạ, lịch sử của một xứ Đàng Trong mà ngay một người dân bình thường cũng thuộc như thuộc đường chỉ trên lòng bàn tay. Chàng thanh niên khoảng 27, 28 tuổi cười hiền lành: “Giỏi giang chi mô, chú. Con làm nghề này thì phải đọc sách, phải tìm hiểu thôi, con còn có thể kể cho chú lai lịch của từng món đồ ở đây kìa…” Trên nền gạch lát vỉa hè cũ xỉn, trong thấp thoáng bóng nắng chiếu qua vòm lá, những chén, đĩa, bát, lọ, bình, ấm, âu, liễn, nậm, hũ… tỏa ra một thứ sức hút kỳ lạ, sức hấp dẫn của thời gian và những thăng trầm lịch sử. Rồi còn cả bình vôi, điếu bát bằng gốm bịt đồng tinh xảo, những thứ mà thanh niên thời nay có nhìn thấy chưa chắc đã biết gọi tên. Khiêm tốn hơn, ở một góc là “đồ cổ của Tây” bao gồm tẩu thuốc, huân chương, mặt dây chuyền, thìa đĩa, bật lửa…, hầu hết là bằng đồng.
Giá cả tùy từng loại, có mặt dây chuyền hình nữ thần mặt trời giá 40.000 đồng, có những chiếc đĩa lam vẽ hình hoa cúc, chuồn chuồn, chữ Thọ… giá từ 300.000 – 500.000 đồng. Đôi khi, chỉ thỉnh thoảng thôi, anh chủ hàng tìm được một chiếc bình quý của người Chăm, hay bình men ngọc của đời Lý, bán được tới gần chục triệu. “Đồ cổ thiệt chứ không phải là đồ giả mô chú! Món “trẻ” nhất của con ở đây cũng trên trăm tuổi rồi, con không nói giỡn chơi đâu. Giá rẻ bèo vậy là có lý do. Đây là những món đồ lâu đời, nhiều tuổi, nhưng là những vật dụng của người dân thường, những đồ dùng sinh hoạt của người dân trong cuộc sống hàng ngày, hoặc là đồ nội phủ, tức là đồ dùng trong những gia đình quan lại, chứ không phải là đồ Ngự dụng, không phải đồ trong cung cấm. Những đồ dùng của vua chúa, hoàng hậu, hoàng phi đó bày bán trong các cửa hiệu to, giá cả cũng “to” luôn đó chú…”. Bên cạnh chúng tôi,  một cụ già tóc bạc dường như không để tâm lắm đến lời giới thiệu của cậu bán hàng trẻ tuổi. Cụ đang nâng trong tay một chiếc điếu bát có viền bằng đồng chạm, soi lên trong nắng. Trước đôi mắt mờ đục đang nheo lại xa xăm, món đồ dường như lung linh, bí ấn…
Góc phố ngược thời gian
Đợi lúc vắng khách, chàng trai kể: Nhà anh có 10 chiếc ghe, thuê một đội thợ để chuyên đi mò đồ cổ. Ghe thuyền đi khắp nơi, có chiếc ngược lên tận Hải Dương,  Vân Đồn, có chiếc chuyên quanh quẩn ở vùng Cửa Đại… Người thợ lặn đeo kính, tay cầm một mảnh thiếc, lặn xuống thiệt sâu ở những nơi có nước xoáy, hy vọng mảnh thiếc chạm vào được vào một vật gì phát ra tiếng kêu thanh thanh… Bán những món đồ cổ bình dân này, lời lãi không cao, chỉ đủ chi trả cho ghe thuyền và đội thợ. Muốn bán có lời thì phải thuê được cửa hiệu, phải có đường dây chuyên giới thiệu khách ham sưu tầm. Nhiều người rất thích đồ cổ của thường dân, nhưng những nhà sưu tầm lớn, những người lắm tiền thì lại chỉ tìm mua đồ ngự dụng thôi. Với lại, khách hàng toàn là người am hiểu, hoặc là khách quen, nên anh không dám nói thách… “Nhưng cái nghề này cũng ngộ lắm đó chú. Con đọc nhiều sách, đọc cả tạp chí Cổ vật tinh hoa, riết rồi hình như… thông minh ra,” chàng trai cười và ngượng nghịu gãi đầu. “Có nhiều lúc, kiếm được chiếc bình hay lọ hoa quý mà bị bể, bị khuyết một miếng, con ngứa chân ngứa tay đem sửa lại. Con mài đi cho bớt sứt sẹo, hay mang đi bịt đồng, hoặc nhờ thợ gốm vá lại… Tưởng vậy thì ngon ăn hơn, ai dè khách mua lại chê. Họ thích những món đồ còn nguyên vết thời gian, còn chân thật kia. Chỉ “giả” một chút là cũng không ai thích đâu, chú ạ…”.
Lục lại chút kiến thức lịch sử còn sót lại trong đầu, chúng tôi nhớ rằng gốm sứ Đại Việt nổi tiếng với ba dòng gốm men chính, là: gốm men ngọc thời Lý, gốm men mầu ngà hoa nâu thời Trần và gốm men trắng hoa lam thời Lê. Tại góc vỉa hè dường như bị thế gian lãng quên này, những đại biểu bình dân của một thời quá khứ xa xưa ấy vẫn hiện diện. Có những chiếc đĩa trang trí hoa dây, hoa mẫu đơn hay hoa sen nét vẽ rất giản dị mà tinh xảo, lòng đĩa hơi rạn vết chân chim. Những chiếc bình của người Chàm, không hiểu ngày xa xưa nó có công dụng chính là gì mà kích thước nhỏ xíu xiu, bằng đất nung mầu còn nâu tươi như mới. Các kiểu bật lửa, tẩu thuốc theo những chuyến tàu viễn dương đầu tiên đến Việt Nam, giờ vẫn còn lấp lánh ánh kim loại, trông như bằng vàng. Những món đồ cũ kỹ, mờ xỉn, sứt sẹo, những chiếc bát mà hàng trăm năm trước có một người dân bình thường nào đó đã dùng sao thấy chúng đáng quý, đáng trân trọng đến thế.

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm cổ truyền Khmer – An Giang

Nghề làm gốm thủ công của người Kmer Nam Bộ

Nghề làm gốm thủ công của người Kmer Nam Bộ

Hầu như phần lớn các gia đình dân tộc Khmer ở sóc PhnomPu (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) đều tham gia chế tác gốm. Nghề gốm ở đây có quy mô nhỏ theo hộ gia đình. Nghề làm gốm thường được tiến hành vào thời điểm nông nhàn, thường là vào mùa khô và do phụ nữ đảm nhiệm các công đoạn.

Đất làm gốm thường được khai thác dưới chân núi Nam Quy, cách sóc hơn 1 km. Theo bà con Khmer thì ở Tri Tôn chỉ có đất ở ven núi Nam Quy mới làm được đồ gốm. Đó là một loại đất sét xám, pha nhiều cát mịn, đào những hố sâu xuống 1,5 m thì gặp lớp đất sét làm gốm. Đất khai thác làm gốm sau khi mang về nhà được luyện kỹ trên một tấm gỗ hoặc đá nhằm loại bỏ các hạt sạn và sỏi cũng như làm tơi mịn. Tiếp theo, người ta đem nhồi đất với nước theo một tỷ lệ nhất định để cho quánh và dẻo nhưng không được ướt quá hay khô quá vì như thế sẽ khó tạo hình cho gốm. Công việc tạo hình gốm đòi hỏi sự khéo léo của những người phụ nữ lớn tuổi và có kinh nghiệm. Sản phẩm gốm ở Tri Tôn khá đa dạng như các loại nồi, ấm, choã, bếp, lu, vại… nhưng đặc biệt nhất là cà ràng và ống khói lò nấu đường thốt nốt. Cà ràng Tri Tôn khá nổi tiếng và là một mặt hàng bán chạy. Cà Ràng vốn là tiếng Khmer, tên gọi một loại bếp lò độc đáo vừa bao gồm nơi nấu với 3 ông táo, gắn với một thân đáy chịu lửa hình số 8 dùng đun củi, cời than. Bếp nấu cà ràng khá linh hoạt, có thể để trên sàn nhà bằng tre nứa, ván gỗ; có thể để ngay trên ghe thuyền mà không sợ bị cháy mặt sàn, gọn nhẹ và dễ di chuyển. Để tạo hình cà ràng và các loại sản phẩm, người thợ gốm dùng tay nắm đất sét định hình cơ bản đồ vật. Tiếp đó người thợ dùng một cây gỗ mỏng, bề mặt rộng 3-5 cm (tiếng Khmer gọi là sđâm) kết hợp với một hòn nống hình quả cam có nút cầm, gọi là kaleng, căng sản phẩm từ phía bên trong. Nhờ vừa nóng vừa dập nhẹ từ 2 phía trong, ngoài mà sản phẩm có độ dày đồng đều, cân đối. Sau khi dùng tay ướt vuốt phẳng, người thợ gốm dùng lá nốt chuốt láng mặt ngoài hoặc bẻ miệng sản phẩm theo ý muốn. Một số loại sản phẩm như nồi, ấm, chõa… sau khi tạo dáng sản phẩm, người thợ còn dùng các bàn in hoa văn trang điểm. Điểm đáng chú ý trong kỹ thuật chế tác gốm của người Khmer ở Tri Tôn là không dùng kỹ thuật bàn xoay để tạo hình. Đây cũng là kỹ thuật làm gốm khá nguyên thuỷ còn bảo lưu ở một số ít dân cư các dân tộc ở nước ta. Quá trình định hình và hoàn thiện sản phẩm gốm được tiến hành trên một mặt bàn nhỏ trong vườn. Gốm nung có màu đỏ nhạt hoặc vàng sậm, độ nung thấp. Các thương gia sẽ đi từng nhà gom các sản phẩm gốm chở đi buôn bán các nơi. Đồ gốm của Tri Tôn không chỉ bán ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ mà còn sang tận Campuchia, cạnh tranh với đồ gốm KôngPôngChnăng (là nơi sản xuất gốm nổi tiếng), chất lượng sản phẩm gốm của người Khmer Tri Tôn được nhiều nơi ưa thích.

Hiện nay nghề làm gốm của người Khmer ở Tri Tôn có chiều hướng giảm sút và mai một, nhiều gia đình từ lâu không còn làm gốm, một số hộ làm cầm chừng. Nguyên nhân do giá thành rẻ, không “kinh tế” bằng các nghề khác và luôn bị các thương gia ép giá. Gần đây, một số nhà nghiên cứu nước ngoài như Mỹ, Nhật đã đến Tri Tôn tìm hiểu và nghiên cứu nghề gốm. Vì vậy, nghề gốm của người Khmer ở Tri Tôn cần có sự quan tâm, nghiên cứu và bảo vệ nhằm phục vụ cho mục đích văn hoá, khoa học, du lịch và xuất khẩu.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm đỏ (terracotta) Vĩnh Long

Nói đến gốm sứ, người ta thường nghĩ ngay tới hai tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, mà ít ai biết rằng nghề này cũng đang phát triển mạnh mẽ ở Vĩnh Long. điều đặc biệt và thú vị là chỉ duy nhất gốm Vĩnh Long mới có những sản phẩm gốm thô không men màu, dù đã qua “lò” vẫn ánh lên màu đỏ, nâu pha mốc trắng nguyên thủy. Gốm như nói lên tính thủy chung của người dân nơi đây.

Bên bờ bắc của dòng sông Cổ Chiên êm đềm, mang nặng phù sa của tỉnh Vĩnh Long đã tồn tại một làng nghề với truyền thống lâu đời hơn 100 năm nay. Ban đầu chỉ là làng nghề chuyên sản xuất gạch ngói, và nghề làm gốm mỹ nghệ chỉ thực sự xuất hiện trong vòng 15 năm trở lại đây.

Dòng Cửu Long trĩu nặng phù sa, đổ về hạ lưu bằng hai nhánh sông Tiền, sông Hậu và thoát ra biển với 9 cửa sông, hàng năm mang về cho bình nguyên Nam Bộ 5 triệu mét khối phù sa. Những hạt phù sa đỏ ối, nhẹ nằm ở phần trên bổ sung nguồn dinh dưỡng những cánh đồng lúa ngàn, cho những vườn cây bốn mùa hoa trái; những hạt cát rắn nằm lại giữa dòng tạo ra những cồn bãi, thành “kho” vật liệu xây dựng; có những phù sa mịn, chìm sâu vào lòng đất hình thành những mỏ đất sét. Những hạt sét mịn màng nhất, cần cù nhất đã vượt hàng ngàn cây số từ thượng nguồn về tụ lại ở nơi trung đồng bằng Nam Bộ để hình thành những mỏ đất sét quý, ban tặng cho người Vĩnh Long.

Trăm năm… gạch ngói

Hơn thế kỷ rưỡi qua người Vĩnh Long đã tận dụng đất sét để tạo ra một làng nghề lớn nhất vùng đồng bằng này: làng nghề gạch ngói, thu hút trên 2 vạn lao động. Dân gian thường gọi là “Vương quốc gạch ngói”. Từ cầu Mỹ Thuận nơi sông Tiền tách dòng Cổ Chiên, kéo dài 30 cây số đến vàm sông Mang Thít, trên 1.000 lò gạch mọc lên như một thành phố cổ.

Lò gạch xuất hiện trên thế kỷ. Theo tài liệu chép tay của một người Pháp tên Bataillel có tựa đề “Notice sur L’arrondissement de Vinh Long” (Ghi chép về Hạt Vĩnh Long) đề ngày 11-6-1887, phúc đáp cho Ngài Giám đốc Nội chính, có ghi lại như sau: “Có 1 lò gạch ở thôn Tân Hoa, tổng Bình An (nay là xã Tân Hòa, thị xã Vĩnh Long) và 2 lò ở thôn Thanh Mỹ Đông (nay là phường 5, thị xã Vĩnh Long). Lò hình vuông hay hình tổ ong, mỗi mẻ lò chỉ sản xuất khoảng 1.000 viên”.

Từ xuất phát ấy đến năm 1995, Vĩnh Long có hơn 900 lò gạch tròn năng suất 20.000 viên gạch ngói qui chuẩn cho một chu kỳ 2 tháng, với tổng sản lượng 500 triệu viên/năm. Làng gạch trải dài 30km thuộc thị xã Vĩnh Long, huyện Long Hồ và huyện Mang Thít, ven sông Cổ Chiên (một nhánh sông Tiền). Năm 1995, làng gạch ngói có thêm Nhà máy tuynen sản xuất theo dây chuyền công nghiệp hiện đại, nhiên liệu đốt bằng dầu DO. Suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, làng gạch ngói bùng phát dữ dội hình thức lò un, lò bắc, chất lượng gạch không tốt, phát triển không theo quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường. Điều này có lý do của nó: thời kỳ đổi mới diễn ra, kinh tế phát triển nhanh, nhu cầu xây dựng lớn. Chuyện chạy theo lợi nhuận, cạnh tranh không lành mạnh như kiểu lò un, lò bắc làm làng nghề gạch ngói lao đao.

Làng gốm bên bờ sông Cổ Chiên

Làng gốm bên bờ sông Cổ Chiên

Những ý tưởng đầu tiên về gốm

Năm 1978 Vĩnh Long có HTX gốm dân dụng ở Tam Bình, nhưng do chất đất không thể cạnh tranh gốm Lái Thiêu nên chỉ tồn tại vài năm. Người viết còn giữ một kỷ vật của họa sĩ Lê Triều Điển tặng, đó là tượng gốm bán thân của nhà soạn nhạc vĩ đại Môda. Lúc ấy anh sáng tác rất nhiều mẫu gốm đẹp và nung ở lò của ông Bùi Công Phiệt.

Sau đó, Long Hồ cũng có xí nghiệp gốm mỹ nghệ… nhưng cũng không tìm được thị trường, tiếp tục phá sản. Khoảng năm 1990, một công ty của Đức liên doanh với Xí nghiệp Gốm mỹ nghệ thành lập liên doanh UP (United Poterie s), sản xuất gốm đỏ theo công nghệ Đức. Công nghệ họ giữ rất kỹ, không có người Việt Nam nào có thể tiếp xúc được.

Đến năm 1997, ba người bạn Nguyễn Tấn Nghĩa, Nguyễn Phước Lộc và Tư Khiêm thử đem gốm mỹ nghệ nung trong lò gạch truyền thống và họ đã thành công. Anh Nguyễn Tấn Nghĩa kể lại: “Phải nói rằng tôi làm nghề gốm cũng có cái “duyên” với đất. Hồi ấy, tháng 5 năm 1997, làm gạch ngói lao đao vì giá quá thấp. Lò un, lò bắc cạnh tranh không thể chịu nổi. Cái thời “Vương quốc gạch ngói” chiếm lĩnh thị trường đồng bằng không còn. Các tỉnh trong khu vực có nhà máy tuynen. Ba anh em chúng tôi là những người trong Ban chấp hành Hiệp hội gạch ngói, vừa có trách nhiệm với chính bản thân mình và đồng nghiệp. Trăn trở lắm nhưng không có lối ra. Có lúc chúng tôi có ý định chuyển nghề. Chúng tôi đi miền Đông, Tây Nguyên, rồi Sóc Trăng tìm hướng làm ăn. Thế nhưng có một người bạn làm gốm ở Bình Dương khuyên chúng tôi làm gốm, ông sẽ bao tiêu cho. Nhưng đất và lò của người ta khác, đất và lò của mình khác. Thôi thì về mày mò nghiên cứu mà làm”. Mẻ đầu tiên thành công. Chỉ dùng đất làm gạch mà sản xuất gốm. Loại đất ấy chỉ ra gốm đỏ, thị trường Ôxtrâylia và châu Á tiêu thụ loại gốm này, nhưng châu Âu lại thích gốm vàng sáng màu phèn lam… đất sét vàng cho màu gốm đỏ, đất sét đen cho màu gốm vàng…

Anh Nguyễn Tấn Nghĩa kể lại một thất bại rất… dễ thương. Số là sau khi nung gốm đỏ thành công trong lò gạch truyền thống. Loại lò này có độ cao hơn 7m, dung tích trên 2.000m3, nhưng sản phẩm gốm thì nhỏ và thấp, do đó khi vô lò khoảng trống phần trên là rất lớn. Như vậy thì lãng phí nhiên liệu quá không? Nghĩ vậy anh bắt đầu phá thử một lò cũ, xây lại một lò nhỏ hơn, kết quả là thất bại thê thảm. Anh lại xây lò khác, cũng thất bại và lần thứ ba xây lại cái lò như cũ. Bây giờ nhắc lại chuyện này anh rất thấm thía, bởi lẽ những lò gạch xuất hiện đầu tiên ở làng Tân Hòa, Thanh Mỹ như ở đầu bài viết là lò nhỏ, dạng hình tổ ong. Hơn thế kỷ, người làm gạch Vĩnh Long đã cải tiến không biết bao nhiêu lần để có hình dạng như hiện nay. Bí ẩn là ở chỗ, chỉ ở kích thước này, với nhiên liệu trấu mới có thể đưa nhiệt độ lò lên 9000C, và ở nhiệt độ ấy, đất Vĩnh Long mới có thể kết khối thành gạch, ngói, gốm…

Làng gốm hình thành ấy là do người Vĩnh Long hiểu đất Vĩnh Long.

Đi dọc Tỉnh lộ 31, tôi không tìm đâu ra một chỗ khai thác đất như những năm trước đây, vì vùng khai thác đất sét đã hết, đến cánh đồng của xã Mỹ Phước (Mang Thít) mới tìm được một lô đất mà ông Đặng Văn Hai (Hai Đạo) đang khai thác. Ông mua một lớp đất sét dày 40cm với giá 3,5 triệu đồng một công. Đây là vùng đất gò, nổng rất khó lấy nước trồng lúa. Công nhân khai thác phải dùng nề gạt lớp đất mặt (tầng canh tác) dày 30cm bỏ qua một bên trả lại cho chủ (nếu có lấy thì cũng không làm gốm được) sau đó thì dùng nề xắn mỗi cục 30cm2 . Nề là cái cung hình chữ U, hai đầu chữ U có căng cọng dây thép cỡ 3mm thay cho lưỡi leng xắn đất. Những công nhân đẩy trẹt sức chứa cỡ nửa mét khối đất vào ruộng. Họ xắn những khối đất cỡ 20kg, rồi đưa ra bờ kinh. Ở đây có một cối ép gạch thành “mê” mỗi cục 6kg. Công nhân làm từ 5 giờ đến 9 giờ thì nghỉ. Chỉ tiêu mỗi người 3 trẹt. Chiều làm 3 giờ nữa. Thu nhập mỗi ngày 40.000đ. Đất sét khai thác trên đồng có 3 màu rõ rệt: đất gò, nổng sâu trong đồng có màu vàng đậm rất dẽ dặc, đây là đất làm gạch truyền thống, cho sản phẩm có màu đỏ đậm; đất mỡ gà ít vàng hơn, cho sản phẩm có màu vàng đỏ; đất sét đen cho sản phẩm có màu vàng sáng… Mấy anh công nhân khai thác nói đùa: “Hồi xưa ông bà dạy chúng tôi, ráng học hành, không thôi sau này “cạp đất mà ăn”. Bây giờ chúng tôi đang cạp đất!” Cạp đất mỗi ngày 40.000đ. Chiều còn rảnh làm việc nhà thì cũng nên quá đi chớ. Nói như ông Hai Đạo, hết thửa đất này tôi đi mua đất khác khai thác quanh năm thì hàng tháng ông cũng vô bạc triệu.

Pha đất

Nhiều ghe khai thác đất như kiểu ông Hai Đạo, bán đất mê, đậu kín bên sông của Công ty trách nhiệm hữu hạn Năm Vàng. Đất chuyển lên kho bằng thanh truyền và được một chuyên gia phân loại, ra giá và xếp thành khối riêng theo màu sắc. Lại một chuyên gia khác, chuyên pha đất có nhiệm vụ chỉ cho công nhân xếp từng chồng đất đủ màu bên cối ép để nhào đất cho thật mịn. Tùy theo sản phẩm mà người ta pha đất theo kinh nghiệm riêng. Công đoạn này rất quan trọng, theo anh Đường một chuyên gia loại này cho biết: độ nhót (co giãn giữa sản phẩm mộc và thành phẩm), độ cứng, màu sắc đều phụ thuộc vào công đoạn pha đất. Pha xong phải nhào nặn 4 lần cho thật mịn, đến nỗi sờ tay vào không dính thì mới đạt. Từ đây người ta chở từng khối lên cho công nhân in.

Tạo mẫu, làm khuôn in và xu

Công đoạn này là công việc của những họa sĩ. Các mẫu gốm của khách hàng nước ngoài thường đặt theo catơlô. Từ Catơlô họa sĩ tạo ra một mẫu bằng thạch cao y như mẫu thật. Thực ra mẫu này thường lớn hơn sản phẩm; lớn hơn bao nhiêu phải tính toán theo độ nhót của đất sau khi nung, hoặc 5%, 6% gì đó. Có mẫu rồi thì đổ khung thạch cao làm khuôn. Thợ in dùng đất pha sẵn ép vào khuôn. Khuôn có thể có nhiều mảnh ghép lại. Người thợ phải ép đất vào từng mảnh, cuối cùng ghép lại thành một tổng thể sản phẩm. Sản phẩm thường rỗng ruột, người thợ in phải dùn g nề cắt đất ra thành một miếng “bánh da lợn” dày cỡ một vài phân tùy yêu cầu, trước khi ép khuôn. Người mới vào nghề cắt “bánh” dính tay nên phải dùng một cái bao để di chuyển “bánh”, nhưng thợ lành nghề họ cắt một miếng cỡ nửa mét vuông cầm không dính tay. Ép xong để cho ráo mới dở khuôn ra cho người xu. Thợ xu làm láng sản phẩm bằng cách nhúng nước cái “bông đá” học trò lau bảng chà lên sản phẩm, chỉnh lại các họa tiết cho sắc sảo. Anh Ba Nghĩa nói: “Nếu đào tạo công nhân lành nghề ở khâu này, tức là làm cho các chi tiết sản phẩm, các họa tiết tỉ mỉ hơn, sắc sảo hơn thì giá trị có thể nâng lên gấp 3 lần. Công nhân ở làng nghề của chúng ta tay nghề chưa cao!”.

Tạo nét sắc sảo cho sản phẩm

Tạo nét sắc sảo cho sản phẩm

Thợ lửa

Ba yếu tố sống còn của sản phẩm gốm: kích cỡ lò, pha đất và kỹ thuật nung. Thợ lửa xưa nay vẫn là nghề bí truyền. Tôi cố gắng lắm cũng chỉ tìm ra được nguyên tắc của nghề ấy mà thông tin cho độc giả. Nếu biết được thì chắc tôi cũng đã làm thợ lửa. Vô lò cũng là kỹ thuật, người vô lò biết vị trí nào “lửa hỗn”, chỗ nào lửa yếu, chỗ nào nhiệt độ lò ổn định mà bố trí từng loại sản phẩm lớn nhỏ khác nhau. Chỗ “lửa hỗn” quá thì chèn thêm gạch, ngói che lại… Quy trình nung gốm diễn ra trong 7 ngày. Bốn ngày đầu đốt lò từ từ, chủ yếu là hun hơi nóng cho hơi nước chứa trong sản phẩm ra khỏi lò, nói nôm na là làm khô sản phẩm thôi, nhiệt độ từ 100 – 200 độ C là được. Thực ra nếu ta lấy trấu đốt ngoài trời thì nhiệt độ chỉ 200 độ C là cùng. Ngày thứ năm tăng tốc, ngày thứ sáu tăng tốc để ngày cuối cùng đạt 900 độ C. Đối với những sản phẩm đặc biệt cần nâng cao nhiệt độ hơn thì người ta dùng xamốt (một loại ôxuýt sắt giống như đá ong) rải trên sản phẩm trong lò. Khi đạt đến nhiệt độ cần thiết, sản phẩm gốm thường là 9000C thì sản phẩm kết khối, đất chuyển sang đá, người ta gọi đó là nhiệt độ kết khối, lúc này ngưng đốt, bít lò bằng đất sét cứ để cho lò nguội dần, rồi ra lò. Cái bí quyết của người thợ lửa là ở chỗ họ gạc lửa theo tầng suất nào, ta chỉ thấy lâu lâu họ gạc than để khêu cho lửa cháy. Họ làm theo thói quen mà chẳng cần đo nhiệt kế và có thể nhiều người trong họ chẳng hiểu gì nhiều cái nguyên tắc mà tôi viết dài dòng ra đây.

Đưa công nghệ vào gốm

Đến doanh nghiệp Nam Hưng tôi bắt gặp những sản phẩm gốm đen, gốm nâu, gốm trắng như gốm mộc. Các sản phẩm có thể pha trộn nhiều chất liệu đen, đỏ, vàng, nâu, điểm men… Sáu sản phẩm của Nam Hưng đạt danh hiệu sản phẩm tiêu biểu 30 năm theo môtuýp như vậy. Anh Nguyễn Phước Lộc nói với tôi: “Từ chất liệu gốm nâu, đen tôi có thể bắn cát cho nó “phong hóa” như đã trải qua ngàn năm tồn tại của gốm cổ Phù Nam. Người Vĩnh Long hiểu đất, làm chủ chế độ nung bằng công nghệ nung thì có thể tạo ra bất cứ sản phẩm nào mà khách hàng yêu cầu!”. Sở Công nghiệp cũng đã có công trình nghiên cứu điểm men trên nền gốm đỏ. Bản thân doanh nghiệp Nam Hưng cũng đầu tư công nghệ tạo bước đột phá cho gốm Vĩnh Long.

Gốm Đỏ ra lò

Gốm Đỏ ra lò

Họa sĩ và gốm

Họa sĩ Lê Triều Điển xuất thân từ sơn dầu, nhưng thành công nhất là gốm. Đó là nhận xét của đồng nghiệp về anh. Người mời nghệ sĩ cộng tác đầu tiên là anh Ba Nghĩa. Các nghệ sĩ Vĩnh Long như Thế Đệ, Đặng Can, Đình Vĩnh, Bửu Lộc… đã làm việc ở đây và sau đó cộng tác với nhiều doanh nghiệp khác. Anh Điển vận động nhiều trại sáng tác của các họa sĩ thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang và có rất nhiều các cuộc triển lãm ở thành phố Hồ Chí Minh trên chất liệu gốm Vĩnh Long. Hiện nay các họa sĩ Tiền Giang đang mở trại sáng tác ở lò Nam Nhiên (Thanh Đức).

Các anh cho chúng tôi biết, sáng tác để mở triển lãm tại Mỹ Tho, Tỉnh ủy Tiền Giang rất quan tâm. Ngày 12-7, một cuộc triển lãm gốm mỹ thuật Vĩnh Long qui mô lớn tại Khu du lịch Văn Thánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Làng nghề chúng ta đang phát triển theo những đơn hàng đặt từ nước ngoài. Chất xám của họa sĩ chỉ tham gia vào tạo mẫu, tạo họa tiết trên sản phẩm, cần có thêm sản phẩm gốm theo văn hóa của chúng ta, trên cái hồn đất vốn có của nó. Đó chính là phát huy sắc gốm không thể trộn lẫn. Vì thế, trong tương lai, họa sĩ, nghệ nhân, công nhân mỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng.

Sắc gốm Vĩnh Long

Có người hỏi gốm Vĩnh Long có gì đẹp hơn gốm Bình Dương, gốm Bát Tràng, gốm Giang Tây? So sánh như vậy là khiên cưỡng, vì mỗi chất liệu có vẻ đẹp riêng. Cũng không nên so sánh giữa gốm mỹ thuật với gốm dân dụng.

Anh Lê Triều Điển nói: Thiên nhiên ban tặng cho người Vĩnh Long một tài nguyên đất sét và dĩ nhiên là nó không giống ai, không vùng đất nào có nó. Người Vĩnh Long sống với đất và đẻ ra làng nghề gạch ngói. Bao thế hệ sáng tạo và đúc kết thành một kỹ thuật nung đất tuyệt vời: lò gạch. Nhiên liệu nung từ sản phẩm đặc trưng của vùng lúa nước: trấu. Người Vĩnh Long có nền văn hóa đặc thù đồng bằng. Màu đặc trưng của gốm Vĩnh Long là màu của rơm rạ. Điều thật kỳ lạ hay nói đúng hơn là một phát minh thầm lặng của bao thế hệ: lò gạch Vĩnh Long, đốt trấu quê mình, và đất Vĩnh long chỉ kết khối ở nhiệt độ 900 độ C. Kỳ lạ vì nó có vẻ ngẫu nhiên, nhưng đó là quá trình tìm tòi và khám phá. Đó là hồn gốm Vĩnh Long. Nói về gốm Vĩnh Long anh Ba Nghĩa tóm thật gọn trong câu: “Người hiểu đất!”

Ông Trần Văn Rón – Giám đốc Sở Công nghiệp trong cuộc tiếp xúc báo chí đã nói: Nhiều doanh nghiệp thu hút được đội ngũ trí thức, họa sĩ gắn bó với làng nghề là tín hiệu phát triển đúng hướng. Tài nguyên, lao động, công nghệ và chất xám, chính là những yếu tố cơ bản, bền vững để làng nghề hội nhập kinh tế thế giới trong tương lai. Nhiều làng nghề truyền thống mất đi vì không đưa được công nghệ mới vào, không tận dụng chất xám để hiện đại hóa.

Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập mà làng nghề gốm Vĩnh Long phải phấn đấu vượt qua. Chẳng hạn như vấn đề thương hiệu: gốm Vĩnh Long chưa có thương hiệu mạnh. Công nghệ nào cho đất; là vấn đề nóng hổi hiện nay cho làng gốm Vĩnh Long; vì công nghệ sản xuất “chỉ thường thường bậc trung” và không đồng đều ở các doanh nghiệp, nên khi xuất ra nước ngoài, giá bán rất thấp so với gốm Ý, trong khi nguyên liệu tương đương nhau. Vấn đề xúc tiến thương mại, thị trường gốm chủ yếu là xuất khẩu, thế nhưng các doanh nghiệp sản xuất có rất ít thông tin về thị trường, chưa có hệ thống tiếp thị tốt… Vấn đề xuất khẩu trực tiếp, hầu hết doanh nghiệp gốm Vĩnh Long chỉ xuất khẩu qua trung gian nên không biết sản phẩm của mình bán ở đâu, hiệu quả kinh tế rất thấp. Xúc tiến Thương mại và Đầu tư đã mời một công ty tư vấn nước ngoài EUROBI khảo sát và lập dự án cho 14 doanh nghiệp liên kết xuất khẩu trực tiếp. Hiện tại một số doanh nghiệp mạnh cũng đã tiếp thị nhiều nước và cũng đã xuất khẩu trực tiếp với một tỷ lệ 10 – 20%. Tỉnh cũng hết sức quan tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao cho việc hiện đại hóa làng nghề như đào tạo ngoại ngữ, đào tạo mỹ thuật…

Trong tương lai không xa, làng nghề gốm đỏ Vĩnh Long sẽ sánh vai với các làng gốm trong cả nước sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tế, mang nét tài hoa, mang tâm hồn Việt, mang nét văn hóa phương Đông đến với bạn bè trên thế giới.

Nguyên Ngọc – Tạp chí Bông Sen số 47

Cập nhật thông tin về hiện trạng hoạt động của làng nghề gốm đỏ Vĩnh Long:

Với sự giúp đỡ của một số doanh nghiệp ở Đồng Nai và Bình Dương, vào đầu thập niên 1990, một số doanh nghiệp ở Vĩnh Long đã nghiên cứu sản xuất gốm đỏ được nung trong lò gạch truyền thống và đã cho ra lò những sản phẩm gốm nung mang tính đặc trưng. Ông Hồ Văn Vàng, chủ tịch Hội nghề gốm Vĩnh Long, cho biết: “Nghề sản xuất gốm ở Vĩnh Long chính thức hình thành từ năm 1993 nhưng chỉ “nổi đình nổi đám” từ 1997 đến nay! Thấy vậy, năm 2002, địa phương đã thành lập Hội nghề gốm mỹ nghệ xuất khẩu Vĩnh Long để phát triển sản phẩm làng nghề”.

Làng nghề đã góp phần vào việc chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ ở hai huyện Măng Thít và Long Hồ từ thuần nông sang kinh tế công nghiệp. Sản phẩm gốm địa phương đã từng tham gia trưng bày tại Hội chợ triển lãm quốc tế tại Đức năm 2005, với các mẫu bình hoa in hình trống đồng Ngọc Lũ, Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận.

Ít nhất 20 doanh nghiệp gốm đã có trang web riêng và đang nhắm vào thị trường Mỹ, Pháp, Canada, Đài Loan, Hồng Kông… Năm 2005, làng gốm mỹ nghệ sản xuất trên 3 triệu sản phẩm, đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 10 triệu USD, tăng gấp ba lần so với năm 2002. Năm 2006 – 2007, Vĩnh Long có trên 120 doanh nghiệp với gần 2.000 lò, mỗi năm đạt trên 4,5 triệu sản phẩm, trị giá trên 400 tỷ đồng, chiếm hơn 20% sản lượng công nghiệp toàn tỉnh; giải quyết việc làm cho hơn 23.000 lao động.

Nhưng tính đến đầu tháng 3/2009, Vĩnh Long có 3 doanh nghiệp sản xuất gốm tạm ngưng hoạt động, 1 doanh nghiệp giải thể và 5 doanh nghiệp chuyển qua sản xuất gạch. Làng nghề hiện còn khoảng 40 cơ sở hoạt động cầm chừng.

Năm 2009, dự đoán ngành gốm tiếp tục gặp khó khăn, sản lượng xuất khẩu giảm 20 – 30%. Ông Lê Văn Hiền, chủ doanh nghiệp tư nhân Đức Hiền (Măng Thít) cho biết năm 2008 cơ sở của ông chỉ sản xuất đạt giá trị khoảng 150 triệu đồng.

Nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân cũng than gặp khó khăn do thiếu vốn, nợ chậm trả. Trong khi đó tiền chất đốt, nguyên liệu đất sét, nhân công… đều tăng. Thất vọng hơn nữa là sản phẩm làm ra chỉ bán lai rai, nhân công bỏ đi hết…

Để tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm, các cơ sở sản xuất đang tổ chức nhiều lớp dạy kỹ thuật cắt đất, in khuôn, vẽ hoa văn và tạo thế cạnh tranh sản phẩm trên thị trường.

( nguồn Khoa Học Phổ Thông tháng 03/2009)


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm thời Lý, Trần, Lê

Cùng những phát hiện quan trọng về các dấu tích kiến trúc, một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong Hoàng cung qua nhiều thời kỳ cũng được tìm thấy. Những khám phá này đã thực sự mở ra một cánh cửa mới cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong Hoàng cung Thăng Long qua các triều đại.
Chậu_gốm_men_trắng_thời_Lý
Chậu gốm men trắng thời Lý. Cao 24,3cm; ĐKM 25,2cm

Mặc dù cuộc khai quật chưa kết thúc, nhưng sự xuất hiện phong phú các loại hình đồ gốm, bao gồm đồ gốm men, đồ sành, đồ đất nung với nhiều nguồn gốc: gốm Việt Nam, gốm Trung Quốc, gốm Nhật Bản, gốm Tây Á, có niên đại từ thế kỷ VII – IX đến thế kỷ XIX đã được góp phần minh chứng sinh động và đầy sức thuyết phục trên nhiều phương diện về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của Hoàng cung qua các thời kỳ lịch sử.

Bài viết này sẽ giới thiệu đôi nét và chủ yếu về sưu tập gốm men Việt Nam thời Lý, Trần và thời Lê.

Gốm thời Lý

Những đồ gốm thời Lý tìm được trong khu vực Hoàng Thành là những bằng chứng quan trọng để có thể nói rằng: thời Lý Việt Nam cũng đã sản xuất được những đồ gốm tinh xảo không thua kém đồ gốm Tống Trung Quốc. Trước đây khi chưa có những bằng chứng này, nhiều học giả nước ngoài vẫn nghĩ rằng: ngoài gốm hoa nâu thì các loại gốm khác của thời Lý chủ yếu được du nhập từ Trung Quốc. Họ không tin thời Lý đã có thể sản xuất được những loại gốm men trắng và men ngọc tinh xảo như gốm thời Tống. Nhiều sưu tập gốm Việt Nam thời Lý do người Pháp đào được tại Thăng Long vào đầu thế kỷ XX từng được gọi là gốm Tống với hàm nghĩa đó là đồ gốm của Trung Quốc thời Tống. Một số học giả Việt Nam cũng từng đưa ra quan điểm tương tự. Họ cho rằng thời Lý công nghệ sản xuất gốm sứ chưa phát triển, do đó, những loại gốm men trắng và gốm men xanh ngọc của thời kỳ này thường được xếp vào hệ gốm Tống.

Nhưng những quan điểm đó giờ đây đã không còn đứng vững bởi những chứng cứ mới đầy sức thuyết phục được tìm thấy tại khu vực khai quật. Tại nhiều vị trí, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều đồ gốm sứ cao cấp men trắng, men xanh lục, men ngọc, men nâu và men vàng thời Lý.

Men trắng Lý có độ trắng mịn và óng mượt như gốm Tống và phần nhiều về chất lượng đã đạt tới trình độ sứ như sứ Tống. Nhiều tiêu bản cho thấy thời Lý cũng sản xuất loại gốm men trắng xanh và có hoa văn như gốm Nam Tống lò Cảnh Đức Trấn. Sự khác nhau giữa gốm trắng Tống và gốm trắng Lý chủ yếu được nhìn nhận qua sắc độ đậm nhạt của màu men hay xương gốm và kỹ thuật tạo dáng. Đây cũng là đặc điểm khó phân biệt giữa gốm trắng Lý với gốm trắng Tống. Nhưng nếu có được cái nhìn hệ thống từ những đồ gốm trắng Lý đích thực, thuần Việt qua đồ án trang trí hình rồng và hoa lá mà phong cách của nó giống hệt như những hình chạm khắc trên đá trong kiến trúc chùa, tháp thời Lý (tháp Chương Sơn, chùa Phật Tích), chắc chắn ta sẽ cảm nhận được đầy đủ và rõ ràng hơn về gốm men trắng Lý.

Mảnh bệ tháp sứ trắng trang trí hình rồng (Hố Bia) và mảnh bệ tháp sứ trang trí hình tiên nữ (Apsara) (Hố B16) là minh chứng sinh động, cho thấy trình độ phát triển rất cao của công nghệ sản xuất đồ sứ trắng thời Lý. Bằng chứng thuyết phục khác là trong số đồ sứ trắng Lý tìm được trong Hoàng thành có những loại bát, đĩa, nắp hộp, đài sen… bị méo hoặc cháy do quá lửa cho thấy nó được sản xuất tại chỗ. Suy đoán này được khẳng định rõ khi tại các hố ở Khu D đã phát hiện được hàng nghìn mảnh bao nung gốm cùng nhiều loại con kê, dụng cụ thử men, đặc biệt là những đồ gốm lớn bị sống men, như chiếc đĩa có đường kính miệng 39,5cm ở hố D5, cho thấy khả năng có những lò sản xuất gốm thời Lý ở đâu đó quanh khu vực này.

ly

Bằng chứng quan trọng về gốm men ngọc Lý là nhóm bát, đĩa trang trí văn in hoa cúc dây như kiểu gốm Tống và nhóm bát, đĩa khắc chìm hoa sen mang phong cách Việt đặc trưng. Đây là loại gốm có chất lượng cao, men phổ biến có màu xanh ngọc sắc đậm, xương gốm trắng, mịn và có nhiều điểm khác biệt so với gốm thời Trần về kỹ thuật tạo chân đế. Bằng chứng sản xuất tại chỗ của loại gốm này cũng được khẳng định rõ qua những đồ gốm phế thải, đặc biệt là qua những mảnh khuôn in hoa cúc dây phát hiện được ở hố D6. Hoa văn trên khuôn in này có phong cách như hoa văn trên đá men ngọc tìm thấy trong lòng giếng thời Lý ở hố A10 và cả hai đều phản ánh sự ảnh hưởng khá đậm phong cách trang trí hoa cúc dây của gốm Tống. Theo nhiều tư liệu thì hoa cúc dây kiểu này là loại hoa văn kinh điển của gốm Tống Trung Quốc, có niên đại từ 1090 đến 1096. Dựa vào bằng chứng tin cậy này ta có thể nhận diện chân xác về gốm men ngọc Lý. Phát hiện có ý nghĩa lớn về gốm thời Lý trong Hoàng thành Thăng Long là nhóm đồ gốm men xanh lục (vert glazed). Đây là dòng gốm có màu men quyến rũ, hoa văn trang trí đẹp với các đề tài hoa lá, trong đó có những đồ tinh xảo trang trí hình rồng. Chiếc nắp hộp tìm thấy ở hố A9MR là một trong những tiêu bản đặc sắc, cho thấy sự phát triển cao của gốm men xanh lục Lý. Nắp có đường kính 18,5cm, ở giữa trang trí nổi hình một con rồng uốn 18 khúc nằm trong vòng tròn, xung quanh là dải văn mây hình khánh hay văn như ý, diềm ngoài cùng là dải văn chấm tròn nhỏ như kiểu nhũ đinh. Do được tạo nổi và đan xen là các lỗ tròn trổ thủng, nên men dồn đọng không đều và tạo nên những mảng màu đậm nhạt khác nhau trông rất sinh động. Sự tinh mỹ và phong cách thể hiện hình rồng trên nắp hộp này giống như hình rồng chạm trên đố đá tròn trang trí trên tháp Chương Sơn (Nam Định) có niên đại Lý (1007).

Lướt qua sưu tập gốm thời Lý tìm thấy trong Hoàng thành, tôi nhận thấy về kỹ thuật tạo hoa văn thời kỳ này chủ yếu có 3 loại cơ bản là đắp nổi, khắc chìm và in khuôn trong, nhưng cũng có nhiều loại không trang trí hoa văn nhưng vẻ đẹp của hình dáng, màu men lại rất được chú ý. Gốm thời Lý thường thanh thoát, trang nhã trong hình khối nhưng lại rất cầu kỳ, tinh mỹ trong từng đường nét hoa văn trang trí. Đồ án trang trí phổ biến là hoa sen, hoa cúc hay hình rồng, tiên nữ và văn như ý… Các đề tài này mang đậm yếu tố Phật giáo và một số bộc lộ ảnh hưởng khá nhuần nhuyễn đến mức tinh tế nghệ thuật gốm thời Tống, làm cho sự phân biệt nhiều khi khó khăn. Nhưng bên cạnh đó, nhiều mẫu hình, nhiều kiểu dáng, đặc biệt là cách trang trí diềm văn cánh sen đắp nổi hay diềm văn vòng tròn nhỏ mà ta gặp phổ biến trên rất nhiều đồ gốm Lý lại cho thấy rõ thêm truyền thống rất riêng biệt của gốm Việt Nam. Truyền thống riêng biệt ấy được kết tinh và thể hiện rõ qua đồ gốm hoa nâu vốn từng được coi là sản phẩm độc đáo và đặc sắc nhất của gốm Việt Nam. Có ý kiến cho rằng những sản phẩm gốm này được sản xuất nhằm phục vụ cho tầng lớp trên của xã hội đương thời, do vậy nó thường có kiểu dáng đẹp, hoa văn trang trí cầu kỳ và mang tính nghệ thuật cao. Suy nghĩ này không phải không có cơ sở bởi đã có quá nhiều đồ gốm hoa nâu quí được tìm thấy phần lớn và chủ yếu trong mộ của các quan lang Mường. Nhưng nếu so sánh với những đồ gốm hoa nâu tìm được trong Hoàng thành thì giữa chúng có sự khác nhau rất cơ bản về chất lượng. Gốm hoa nâu trong Hoàng thành thường có chất lượng cao, đặc biệt là ngoài các loại vò, chậu, thạp trang trí hoa sen, dây lá, ở đây còn tìm thấy nhiều loại thạp lớn trang trí hình rồng. Bên cạnh đó còn có nhiều loại nắp hộp hay bát, đĩa trang trí rồng, hoa sen dây theo lối “nền tô men nâu, hoa văn men trắng” với đường nét chạm khắc uốn lượn mềm mại, tinh xảo, bộc lộ vẻ đẹp sang trọng, quí phái.


Dựa vào yếu tố này và so sánh với những sưu tập gốm phát hiện được bên ngoài khu vực Thăng Long tôi nghĩ rằng, đây có thể là những đồ ngự dụng trong Hoàng cung.

Phát hiện giá trị này sẽ rất hữu ích cho việc nghiên cứu về gốm thời Lý, đặc biệt là những đồ gốm dùng trong Hoàng cung do lò Thăng Long sản xuất. Điều này rất quan trọng bởi từ trước đến nay vấn đề gốm thời Lý và nguồn gốc lò sản xuất thời kỳ này vẫn là những câu hỏi lớn đối với các nhà khoa học trong và ngoài nước.

Trước đây cũng đã từng có những ý kiến quả đoán về lò gốm thời Lý ở Thăng Long và Thanh Hóa, nhưng do không có bằng chứng chắc chắn, nên không chỉ ra được những loại hình gốm thời Lý sản xuất tại những lò này. Mặc dù chưa tìm thấy dấu vết lò nung gốm, nhưng dựa vào những gốm phế thải và những dụng cụ sản xuất gốm (bao nung, con kê, khuôn in hoa văn…) có thể tin rằng quanh khu vực Kinh đô Thăng Long có những lò chuyên sản xuất gốm phục vụ cho Hoàng cung.

Cũng từ phát hiện mới này hiện nay chúng ta đã có thể biết rằng ngoài đồ gốm hoa nâu, thời Lý còn sản xuất nhiều loại gốm cao cấp khác như gốm men trắng, gốm men xanh lục, gốm men xanh ngọc, đặc biệt là loại gốm men vàng. Gốm men vàng là phát hiện rất mới mẻ và dường như chỉ mới được tìm thấy trong khu vực Hoàng Thành Thăng Long. Nhiều nhà khoa học nghĩ gốm men vàng chỉ có ở thời Lê, sau là thời Nguyễn. Loại men đó thường thấy trên các vật liệu kiến trúc như ngói hoàng lưu ly (ngói men màu vàng) lợp trên mái các cung điện. Nhưng cuộc khai quật này lại tìm thấy gốm men vàng là đồ gia dụng được tạo dáng đẹp, hoa văn trang trí cực kỳ tinh xảo và nhiều khả năng đây cũng là đồ ngự dụng.

Đồ gồm thời Trần


Gốm thời Trần tìm được khá nhiều trong các hố khai quật và thường được tìm thấy cùng với những đồ gốm trang trí kiến trúc cùng thời. Gốm thời kỳ này có rất nhiều loại, gồm các dòng gốm: men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam.

Do phát triển kế thừa trực tiếp từ gốm thời Lý, nên các loại gốm thời Trần cơ bản có phong cách giống với gốm thời Lý cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí. Cũng chính vì đặc thù này nên việc phân tách giữa gốm thời Lý và gốm thời Trần là điều không phải dễ dàng. Tuy nhiên, dựa vào một số kết quả nghiên cứu kỹ thuật tạo chân đế, hiện nay chúng tôi bước đầu đã có thể phân biệt được sự khác nhau giữa gốm Lý và gốm Trần. Nhìn chung, kỹ thuật tạo chân đế của gốm thời Trần thường không được làm kỹ như gốm thời Lý. Về hoa văn trang trí cũng vậy, mặc dù có cách bố cục hoa văn như thời Lý, nhưng về chi tiết gốm thời Trần không tinh xảo và cầu kỳ như gốm thời Lý. Đặc biệt đối với gốm men độc sắc, bên cạnh loại gốm trang trí hoa văn khắc chìm, thời Trần còn phổ biến loại gốm có hoa văn in khuôn trong. Dường như đây là loại hoa văn rất phát triển ở thời Trần và nó có sự phong phú, đa dạng hơn nhiều về hình mẫu so với gốm thời Lý. Tại hố đào ở khu D cũng đã tìm thấy mảnh khuôn in gốm thời kỳ này cùng nhiều mảnh bao nung, con kê và đồ gốm phế thải.

Bên cạnh sự phong phú các loại hình đồ gốm độc sắc (men trắng, men ngọc, men nâu) tại khu vực khai quật đã tìm được khá nhiều đồ gốm hoa nâu có chất lượng cao. Trong đó, đáng chú ý nhất là chiếc thạp lớn có nắp trang trí hoa sen và những chiếc vò, chậu trang trí hoa văn dây lá. Đặc biệt, tại hố D5 còn tìm thấy một chiếc chậu trang trí hình bốn con chim đang đi kiếm mồi trong bốn tư thế khác nhau, xen giữa là cành lá sen và hoa sen nhỏ. Theo tư liệu hiện vật có trong tay thì đây là một trong những tiêu bản gốm hoa nâu thời Trần đặc sắc ở Việt Nam.

Nét mới riêng biệt và rất đáng lưu ý về gốm thời Trần là sự xuất hiện dòng gốm hoa lam. Loại gốm này được tìm thấy khá nhièu trong các hố khai quật và phổ biến là bát, đĩa vẽ cành hoa cúc màu nâu sắt và xanh cobalt giống như những đồ gốm đã được xuất khẩu sang Đông Nam Á, Trung Đông và Nhật Bản vào khoảng giữa thế kỷ XIV. Đáng lưu ý là tại các hố ở khu D đã tìm thấy chồng đĩa lớn vẽ cành hoa cúc cùng nhiều chồng dính của loại gốm men độc sắc trang trí văn mây hình khánh, chim phượng và hoa lá. Tư liệu này góp phần khẳng định thêm rằng, ngoài những dấu hiệu vè lò gốm thời Lý nói trên khả năng ở đây còn có những lò gốm thời Trần.

Đồ gốm thời Lê

Đồ gốm sứ thời Lê tìm được tại các hố khai quật có số lượng lớn, nhưng tập trung nhiều nhất là ở khu vực ven triền sông cổ nằm giữa Khu A và B.

le-2

Để nhận diện về chất lượng gốm dùng trong Hoàng thành, tôi phân định gốm thời Lê theo ba thời kỳ: Gốm thời Lê Sơ (thế kỷ XV), Gốm thời Lê-Mạc (thế kỷ XVI) và Gốm thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII – XVIII). Nhìn chung, gốm thời Lê – Mạc và Lê Trung Hưng có chất lượng thấp, hoa văn trang trí đơn giản và phát triển mạnh theo xu hướng dân gian. Những sưu tập đồ gốm tìm được từ các hố khai quật phần nhiều là sản phẩm của các lò gốm vùng Hải Dương và Bát Tràng. Tình hình này có sự khác biệt lớn so với gốm thời Lê Sơ.

Gốm thời Lê Sơ có bước phát triển đột biến với sự bùng nổ các trung tâm sản xuất gốm lớn, nhất là vùng Hải Dương. Thời kỳ này gốm hoa lam, gốm men trắng và gốm vẽ nhiều màu đạt đến đỉnh cao của sự tinh mỹ. Bằng chứng từ những phát hiện trên các con tàu đắm ở Hội An (Quảng Nam), Pandanan (Philippin)… cho thấy những đồ gốm này đã từng là mặt hàng chủ đạo trong việc xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Trong công trình nghiên cứu trước, khi bàn về gốm ngoại thương Việt Nam, tôi đã đưa ra nhận xét rằng: nhiều đồ gốm cao cấp trong lô hàng trên con tàu đắm Hội An có những sản phẩm của lò gốm Thăng Long. Nhận xét này nay đã có đủ cơ sở khi tại dải gốm ven sông Khu A chúng tôi tìm thấy nhiều loại gốm hoa lam cao cấp, có hình dáng và hoa văn tương tự như những đồ gốm trên tàu đắm Hội An, ví dụ như loại bát vẽ rồng 4 móng, dưới đáy khắc chữ Trù (bếp), giữa lòng viết chữ Kính hay loại đĩa lớn vẽ rồng có bút pháp tinh tế như trên bản đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Phát hiện có ý nghĩa này cho phép một lần nữa khẳng định về sự góp mặt quan trọng của gốm Thăng Long trong mối giao lưu kinh tế, văn hoá với quốc tế trong lịch sử.

le

Một phát hiện khác đem lại sự cảm phục của giới chuyên môn và những người say mê cổ ngoạn là loại gốm trắng mỏng trang trí in nổi hình rồng có chân 5 móng (cũng có loại rồng có 4 móng), giữa lòng ghi chữ Quan hay chữ Kính. Nghiên cứu so sánh với gốm Hải Dương, tôi cho rằng đây là những sản phẩm của lò quan Thăng Long.

Cách đây vài năm trước, tại di chỉ gốm Ngói, Chu Đậu (Hải Dương) và Kim Lan (Gia Lâm) tôi đã tìm thấy bằng chứng sản xuất gốm của lò quan ở đây. Sản phẩm chính của những lò quan này được khẳng định rõ qua những đồ gốm sứ men trắng, trang trí in khuôn văn sóng nước hình vảy cá, giữa lòng in nổi chữ Quan như gốm Thăng Long. Nhưng so với gốm Thăng Long thì gốm lò quan Hải Dương có xương gốm dày, nặng và độ trắng của xương và men kém hơn gốm Thăng Long. Gốm Thăng Long cũng có loại xương gốm mỏng và loại xương gốm dày, nhưng về cơ bản xương gốm Thăng Long có chất lượng tốt hơn gốm Hải Dương. Gốm trắng mỏng Thăng Long chủ yếu là các loại bát, đĩa cỡ nhỏ, có xương mỏng như vỏ trứng (dạng sứ thấu quang), thành trong in nổi hình hai con rồng chân có 5 móng, giữa lòng in chữ Quan. Loại gốm trắng mỏng này chưa từng tìm được ở đâu ngoài khu lăng mộ vua nhà Lê ở Lam Kinh (Thanh Hoá). Đặc điểm đáng lưu ý về loại gốm mỏng này là được nung đơn chiếc và men thường phủ kín đáy và mép vành chân đế. Chân đế được tạo rất mỏng và mép vành chân vê tròn chứ không cắt vát và cạo men ở mép vành chân như gốm Hải Dương. Đây là đặc điểm kỹ thuật rất khác biệt giữa gốm Thăng Long và gốm Hải Dương hay gốm Kim Lan. Bên cạnh loại gốm trang trí rồng, ở Thăng Long còn có loại gốm trắng trang trí văn in hoa cúc dây, giữa lòng cũng in nổi hay viết chữ Quan, nhưng phổ biến hơn là in hình một bông hoa nhỏ có 5 hoặc 6 cánh. Tại hố A10 cũng tìm được một khuôn in loại hoa văn này với đường nét tinh xảo.


Ngoài ra, loại gốm men trắng vẽ chỉ lam cũng tìm được khá nhiều, nhưng ở loại cao cấp giữa lòng thường viết chữ Quan bằng màu xanh cobalt. Trong số lượng phong phú các loại bình, vò men trắng tìm thấy trong dải gốm ven sông Khu A cũng có khá nhiều tiêu bản dưới đáy viết chữ Quan bằng màu son nâu. Chữ Quan ở đây được hiểu theo hai nghĩa: quan diêu (sản phẩm của lò quan) và quan dụng (đồ dùng dành cho vua quan).

Cùng với chữ Quan, sự tinh mỹ đến mức ngạc nhiên của loại sứ trắng mỏng và gốm hoa lam cao cấp được trang trí các đồ án mang tính biểu trưng của vương quyền (rồng có chân 5 móng và hình chim phượng) cho thấy rõ đây là những đồ ngự dụng trong Hoàng cung.

Nhận định trên được củng cố thêm khi ở đây chúng tôi tìm thấy nhiều đồ gốm sứ có ghi chữ Hán Trường Lạc hay Trường Lạc khó. Theo ghi chép của sử cũ thì Trường Lạc là cung của bà Trường Lạc Thánh Từ Hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng vợ của vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Như vậy những đồ sứ này được hiểu đó là những vật dụng của cung Trường Lạc.

Bên cạnh số lượng lớn và đa dạng các loại hình đồ gốm nói trên, tại khu vực khai quật còn tìm được một sưu tập phong phú các loại đĩa đèn dầu lạc nhỏ men trắng và các loại bình vôi còn khá nguyên vẹn. Trong sưu tập bình vôi có khá nhiều tiêu bản đẹp, phần quai tạo hình tua cau và những quả cau nhỏ đã được dùng đựng vôi để ăn trầu.

Cùng với loại hình bình vôi, ở dải gốm ven sông còn tìm thấy những chiếc bình đựng bã trầu bằng gốm men (hay còn gọi là ống nhổ) và một số chuôi dao cau làm bằng nanh, vuốt thú hay bằng loại gỗ quý. Xung quanh một số chuôi dao còn được bọc kim loại màu vàng và bên trên được chạm khắc hoa văn rất đẹp. Nhóm di vật này có niên đại vào khoảng thời Trần và thời Lê. Những tư liệu này là bằng chứng thuyết phục cho ta biết rằng, trong Hoàng cung xưa, tục ăn trầu cũng rất phổ biến.

Rõ ràng, những khám phá của khảo cổ học về Hoàng thành Thăng Long đã mở ra một chương mới rất quan trọng cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long. Những đồ gốm tìm được ở đây phần lớn là những vật dụng dùng trong Hoàng cung.

Bên cạnh những loại hình đồ gốm ngoại nhập, bằng chứng về việc sản xuất tại chỗ của những đồ gốm sứ cao cấp thời Lý, Trần, Lê cũng đã có nhiều cơ sở khẳng định. Dựa vào những đồ gốm phế thải và các công cụ sản xuất, tôi nghĩ rằng ngay từ thời Lý, Thăng Long đã có lò quan chuyên sản xuất gốm sứ cung đình. Những lò gốm ấy tiếp tục hoạt động kéo dài cho đến thời Lê và sản xuất nhiều loại hình đồ gốm sứ cao cấp.

Bằng chứng giúp tôi vững tin vào điều này là những đồ gốm sứ thời Lê Sơ trang trí rồng 5 móng, lòng ghi chữ Quan hay chữ Kính. Như vậy có thể tạm kết luận rằng: việc tìm thấy những đồ ngự dụng trong khu vực khai quật không những cung cấp nguồn tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong Hoàng cung Thăng Long, mà còn góp thêm bằng chứng tin cậy để củng cố ý kiến cho rằng: các dấu tích kiến trúc lớn ở đây là những cung, điện của trung tâm Hoàng thành Thăng Long thời Lý – Trần – Lê.

Nguồn: Bùi Minh Trí, Tạp chí Quê hương

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Nhà cổ trên lưng đồi vùng Tiên Phước, Quảng Nam

Nhà cổ…

Cơn lốc thị trường với những cám dỗ tiền bạc, thú chơi nhà cổ và cả nhu cầu cuộc sống “hiện đại hoá” dẫu có nhiều lần tràn qua vùng trung du này vẫn không lay chuyển được chủ nhân “khó hiểu” của những ngôi nhà cổ ở Tiên Phước. Hàng trăm ngôi nhà vẫn tự tại, trường tồn với thời gian dù gia chủ không phải là người giàu có.

Tất cả nhà cổ ở Tiên Phước đều “chìm” trong khu vườn đầy hoa trái quanh năm

Hầu hết những gia đình ở đây cố công giữ lại nhà cổ đều có tâm niệm, giữ nhà đồng nghĩa với giữ nếp gia phong, giữ văn hoá làng quê thuộc dạng “độc nhất vô nhị” này. Đó là những giá trị nội tại từng khiến giới nghiên cứu trong và ngoài nước say mê, thán phục trước những “làng nhà cổ sinh thái” ở Tiên Phước.

Ngôi nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng toạ lạc ngay ngã ba Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước mà nhiều người vẫn nhầm tưởng rằng được công nhận di tích cấp quốc gia chỉ nhờ vào “ăn theo” danh tiếng cụ Huỳnh. Nhưng sự thật không hẳn chỉ có vậy.

Trong hồ sơ “xếp hạng” di tích lịch sử – văn hoá, ngôi nhà cổ này còn là một di tích kiến trúc loại đặc biệt có tuổi đến mấy trăm năm, và tiêu biểu cho phong cách kiến trúc nhà cổ dân gian truyền thống miền trung du và phía nam tỉnh Quảng Nam. Đấy là phong cách kiến trúc nhà rường bằng gỗ, 2 gian 3 chái, kiểu thức “tam đoạn kẻ chuyền”, đặc trưng là nhà mái lá. Ngôi nhà bằng gỗ này hiện còn tương đối nguyên vẹn.

Ngôi nhà cổ của cụ Nguyễn Huỳnh Anh, xã Tiên Cảnh, Tiên Phước

Tuy nhiên, tiêu biểu nhất cho phong cách kiến trúc độc đáo này là ngôi nhà cụ Nguyễn Huỳnh Anh, ở làng Lộc Yên, xã Tiên Cảnh. Cả ngôi nhà gần như vẫn nguyên trạng thuở ban đầu, chỉ có phần mái lợp chuyển từ tranh sang ngói vào năm 1941.

Cụ Anh năm nay đã 96 tuổi và ngôi nhà có niên đại ngót 200 năm, với 6 thế hệ đã lớn lên từ đây. Cụ Anh cho biết, ngôi nhà do phường thợ mộc Vân Hà dựng nên. Mỗi một cây kèo trong ngôi nhà chạm khắc xong tốn chí ít một tháng công phu. Những ngôi nhà cổ có phong cách kiến trúc tương tự hiện còn ở Tiên Phước cũng như vùng trung du và địa bàn phía nam tỉnh Quảng Nam đều do phường thợ mộc Vân Hà ở xã Tam Thành, TP Tam Kỳ tạo tác.

Một “đoạn” trong kết cấu “tam đoạn” của nhà cổ vùng nam Quảng Nam

Phường thợ Vân Hà vốn một thời nổi tiếng “ngang ngửa” với phường thợ mộc Kim Bồng (với phong cách kiến trúc nhà cổ ở đô thị cổ Hội An) và dấu ấn tài hoa của họ đã để lại, tạo nên cả một phong cách nhà cổ tiêu biểu.

Cụ Anh kể, nguyên mái nhà gồm hai lớp: Lớp mái dưới làm bằng sườn tre đan đắp đất sét, lên khoảng 2 tấc tay là lớp mái trên, lợp tranh, để chống nắng nóng, nhất là sét đánh, hoả hoạn, lỡ cháy lớp tranh thì thay. Ngôi nhà của cụ Huỳnh Anh đã bao phen cháy hụt, nhưng nhờ có mái đất bảo vệ nên nguyên vẹn.

Năm 1939, ông Ngô Đình Diệm đến đòi mua ngôi nhà này. Lúc ấy, ông Diệm từ quan Thượng thư ở triều đình Huế vào sống nhờ nhà anh trai là Ngô Đình Khôi, Tổng đốc Quảng Nam.

Chạm trổ tinh vi trên từ vày kèo, đầu cột

Cụ Huỳnh Anh kể lại: “Đoàn quan gia gồm ông Ngô Đình Diệm, quan tri huyện Tiên Phước – Phạm Xuân Chánh và hàng chục quân binh rầm rộ, đi đến đâu dân vái lạy đến đó. Sau khi tham quan toàn bộ khuôn viên nhà và tấm tắc khen, ông Diệm ngã giá 1.500 đồng tiền Đông Dương (lúc đó 1 ang lúa – 4,5kg – giá 2 hào. 1.500 đồng vị chi 337,5 tấn lúa) nhưng gia đình kiên quyết không bán với lý do đơn giản: Để ở theo tâm nguyện của ông bà.

Ngay hôm sau, tri huyện Tiên Phước có trát hạch sách vì sao không nể mặt quan huyện. Tiếp sau đó, anh em họ và chú tôi cũng bị trát huyện đòi xuống để tra vấn, quy cho họ tội xúi giục tôi không bán nhà. Nhưng riết một thời gian, thấy gia đình “cứng đầu” nên quan tri huyện cũng thua”.

Rồi chiến tranh ập đến, ở vùng “xôi đậu” Tiên Phước lại càng ác liệt hơn. Nhà rường phát hoả khắp nơi. Mái đất không ngăn được đạn bom oanh tạc. Nhà ngang và nhà trù (nhà bếp) của gia đình cụ Huỳnh Anh cũng bị trúng bom, tan tành. Rất may, ngôi nhà lớn không hề hấn gì.

Nhưng tai ương thì vẫn chưa qua. Năm 1959, khi đất nước bị chia cắt hai miền. Ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, nhưng mộng mua ngôi nhà cổ này vẫn còn ấp ủ. Lần này ông Diệm không đích thân đi mà lệnh cho tỉnh trưởng, tỉnh Quảng Tín (bấy giờ Quảng Nam chia làm 2 tỉnh, Quảng Nam và Quảng Tín) là thiếu tá Thân Ninh cùng vài tiểu đội, súng ống xênh xang hộ tống đến đòi mua ngôi nhà.

Ông Thân Ninh bảo, Tổng thống lệnh phải bán ngôi nhà để làm Khổng miếu cho quốc gia. Khiếp vía trước uy phong quân đội, nhưng cụ Huỳnh Anh một lần nữa kiên quyết không bán. Câu chuyện ấy khiến con cháu không bao giờ dám nghĩ đến chuyện đổi bán nhà cổ nữa. Hàng chục nhà cổ tương tự như vậy ở Tiên Phước hiện vẫn ẩn mình trong những khu vườn đầy hoa trái, trên các triền đồi mà kế tục từ đời này sang đời khác.

…và xứ sở của những ngõ đá

Tiên Phước được mệnh danh là xứ sở của những ngõ đá độc đáo. Những lối ngõ đặc biệt được xếp từ những viên đá chẻ nhỏ có rất nhiều ở vùng trung du này. Được bó vỉa 2 bên bằng những viên đá, ngõ nhà nào cũng xinh xắn, chạy giữa vườn cây xanh um, nhiều tầng bậc và khúc quanh, dài dằng dặc.

Cuối ngõ, trên vùng bình địa cao nhất, là nơi toạ lạc những ngôi nhà cổ. Không chỉ ở riêng những ngôi nhà cổ “mang tính đặc trưng” ở làng Lộc Yên, hay những ngôi nhà cổ nổi tiếng như nhà ông Nguyễn Bút, 85 tuổi, ở làng Hội An, xã Tiên Châu, nhà ông Nguyễn Hoành ở thị trấn Tiên Kỳ, bà Nguyễn Thị Tuần, ở xã Tiên Châu… mà hầu hết ngôi nhà ở Tiên Phước dù cổ hay tân đều có những con ngõ thanh bình.

Với hoa chăm cỏ xén, đá xếp kỳ công, nằm ẩn khuất giữa bóng râm vườn đồi, ngõ trở thành phần quan trọng tôn thêm giá trị của nhà cổ. Nhà ở Tiên Phước hầu hết đều nằm giữa những triền đồi. Các quả đồi thoai thoải nối tiếp nhau, phía trước nhà là ruộng lúa bậc thang. Nhìn từ xa, những xóm nhà cổ vùng quê này… như ẩn hiện thấp thoáng giữa lưng đồi, tựa tranh vẽ.

Những ngõ đá đầy kỳ thú, sẵn sàng cuốn hút ấy là một phần quan trọng trong không gian nhà cổ. Từ ruộng đồng xanh mướt đến ngõ đá quanh co, hun hút uốn lượn lên những sườn đồi, ngập trong rừng quế, cây ăn trái rồi mới đến nhà cổ.

Một yếu tố không kém phần quan trọng nữa, đó là tính kế thừa, phát huy giữa các thế hệ trong việc giữ gìn, bảo tồn gia sản – nhà vườn của tổ tiên để lại. Qua nhiều đời, nếp sống ấy trở thành nét văn hoá độc đáo của riêng miền trung du Tiên Phước.

Và điều đáng trân trọng là người dân Tiên Phước rất yêu thiên nhiên, cây trái, hoa lá như một thứ tôn giáo không lễ nghi. Nhà nào không may mắn thụ hưởng tài sản ông bà để lại, không phải là nhà cổ thì cũng nên thơ bởi những ngõ đá cầu kỳ, công phu, những vườn trái sum suê.

Ở đâu có người, ở đó có hoa trái. Một nét văn hoá đáng trân trọng. Tiếc là do cách trở giao thông, nằm khuất lấp ở vùng núi xa nên hiện khó thành điểm du lịch thu hút du khách đến chiêm ngưỡng vùng di sản này.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nhà vườn cổ ở Huế

Những nhà vườn xanh mướt màu cây cỏ, Chùa Từ Hiếu, lăng Tự Đức đẫm hơi sương, còn lặng im ngái ngủ, cái rét ngọt dễ chịu. Đến với nhà vườn Huế, du khách dường như lạc bước vào vào thiên đường của chốn bình yên.

 

Hoa mộc thoảng đưa hương, nhẹ nhàng. Huế – những ngày đẹp hiếm hoi mùa đông. Sau lưng những khu nhà như tranh vẽ ấy, khói bếp đâu đó len lên thủng thẳng, nửa như muốn sưởi ấm không gian, nửa như muốn làm tan sương trên cây cỏ, chợt dậy lên trong lòng cái mùi ấm áp của vườn quê.

Khách xa đến thường chỉ thăm thú đền đài, lăng tẩm, chùa chiền… mấy ai được lắng sâu trong cảm giác thi vị của các nhà vườn Huế, cổ kính, u tịch, nơi ẩn chứa tâm hồn, cốt cách của con người Huế… “Đơn sơ mà văn vẻ, mộc mạc mà ý vị”…
Nhà vườn, một không gian sống thường ngày dân dã, gắn kết con người với thiên nhiên. Cái rộng lớn của không gian, cái vô hạn của thời gian, tất cả hòa quyện và được sắp xếp vén khéo, tài tình trong một nếp vườn.

 

Một không gian sống thường ngày dân dã.         Ảnh: Internet

 

Huế – một thành phố vườn, đâu đâu cũng thấy một màu xanh êm đềm của sông, hồ, đồi núi, cỏ cây. Không ở đâu mà con người quấn quýt với thiên nhiên đến vậy, như thể không có cây, hoa cỏ thì người ta sẽ chết.
Chẳng thế mà từ thành phố đến thôn làng, nhà nào cũng kiến tạo cho mình một màu xanh với đủ kiểu vườn: vườn đồng bằng, vườn đồi, vườn dốc, vườn chùa, vườn lăng, vườn rừng, vườn treo, vườn chậu, vườn lầu, vườn di động… Mỗi vườn có một vẻ đẹp riêng, nhưng cuốn hút hơn cả, làm mê đắm lòng người là những nhà vườn rộng do tổ tiên để lại như một thứ hương hỏa muôn đời.

Gắn kết con người với thiên nhiên…                  Ảnh: Internet

Vườn Huế không như vườn Nam bộ hay đồng bằng Bắc bộ. Vườn Huế để thư giãn là chính, và cây trái cốt để cúng tế, cung cấp thực phẩm nuôi sống người dân một cuộc sống không quá bon chen, đủ cho con cái ăn học nên người. Qua cốt cách đó, cái vườn và cái nhà cậy nhờ nhau, lan tỏa trong nhau tạo nên nét hài hòa đến kỳ diệu.
Nhà vườn Huế là một sự phối hợp có dụng ý giữa kiến trúc nhà và vườn, nhìn vào thấy được quan niệm, tính cách sống. Người khá giả thì nhà rường bằng gỗ quý, chạm khắc cầu kỳ. Người bình dân thì căn nhà gỗ tuềnh toàng hơn, có khi là mái tranh đơn sơ, nhưng cấu trúc vẫn vậy, chí ít cũng có hàng cây bờ rào, căn nhà chính thường nằm ở giữa vườn.
Có thể nói rằng, mỗi chủ nhân là một nghệ nhân, một nghệ sĩ vẽ nên vô vàn những bức tranh lên nơi trú ngụ của mình, để rồi qua năm tháng nó dày lên nét rong rêu mà lúc nào nhìn vào vẫn thấy tinh khôi.

Có thể nói nhà vườn Huế đạt đến sự tinh tế giữa kiến trúc nhà và vườn.                                                          Ảnh: Internet

Sự phối hợp giữa kiến trúc chính, phụ, vườn cây khóm hoa, vạt cỏ, hòn non bộ, cổng ngõ, bình phong, bể cạn… đều có ý tưởng của chủ nhân dựa trên thuyết phong thủy – một thuyết chủ đạo trong thiết kế, xây dựng nhà của người Huế.
Hầu hết những ngôi nhà cổ (nhà để ở) của Huế đều quay mặt về hướng Nam, không chịu ánh nắng trực tiếp nên mát mẻ về mùa hè và ấm áp vào mùa đông. Những ngôi nhà quay về hướng Tây thường để thờ phụng (mặt trời lặn đằng Tây là thế giới bên kia).

Nhà Huế thường kiến trúc một, ba hoặc năm gian hai chái, mái lợp ngói liệt. Gian giữa là bàn thờ gia tiên. Các gian hai bên là nơi ở của vợ chồng chủ nhân, con cháu của họ và là nơi tiếp khách. Nhà chính và nhà phụ nối liền nhau bởi một hành lang có mái che thuận tiện trong sinh hoạt, mỗi khi kỵ giỗ đưa các món cúng lên bàn thờ không bị ướt. Trước nhà bao giờ cũng có một chiếc cổng nhỏ.

Nhà quý tộc cổng gạch bờ rào cao, nhà thường thường bậc trung cũng có hàng chè tàu. Người khá giả thì cổng ngõ có mái, hoặc những loại dây leo, chè tàu được cắt tỉa gọn gàng nối hai trụ thành hình vòm thay mái.
Có nhà còn xây trụ gạch và bên trên làm mái dạng cổ lầu tạo sự bề thế cho khu nhà vườn, cũng là nơi cho người qua đường dừng chân tránh nắng hay những cơn mưa bất chợt. Lối đi không bao giờ trực diện vào nhà chính, vì đây nhà gian nhà thiêng liêng dành để thờ phụng tổ tiên, tạo một cảm giác nề nếp gia phong.

Che cho lối đi là tấm bình phong, người vào nhà phải rẽ hướng khác để vào sân nhà. Sau bình phong bằng vôi, gạch, hay hàng chè tàu, bông cẩn là hòn non bộ và bể cạn – yếu tố thủy (minh đường). Cả một vũ trụ thu nhỏ với sơn thủy hữu tình ấy là một cấu trúc hoang dã theo quan niệm triết lý hướng nội.

Nhà vườn Huế là một loại vườn tạp, chủ nhân trồng những cây, hoa phục vụ đời sống thanh đạm và thư giãn tinh thần, chỉ để tri túc, tiện túc, cây trái dùng phục vụ cúng bái, cây hương liệu như rau thơm, hành ngò, dược liệu như gừng, nghệ, đinh lăng…

Phía trước thì trồng những cây cho hoa có hương, sắc, quý và thân thiện, tiện chăm sóc, bảo vệ như hoàng mai, bạch mai, hải đường, ngọc lan, vạn thọ, tường vy, mẫu đơn, phong lan… Hai bên và phía sau trồng cây lưu niên cần sự chăm sóc hoặc dễ trồng như chuối, chè xanh, trầu, cau, thanh trà… bốn mùa đều cho hoa trái.
Tầng dưới cùng là đất của hàng chục loài rau dại làm nên món canh “tạp tàng” dân dã, ngon lành, bổ dưỡng như lá lốt, rau sam, rau khoai, rau má, rau dền, mồng tơi… và còn thêm những dàn bầu, bí, mướp, các luống cải, ngò…

Những vườn đẹp của Huế được hình thành ven bờ sông Hương như Long Hồ, Ngọc Hồ, Hương Long, Kim Long, Nguyệt Biều, Lương Quán, Dương Xuân, Vỹ Dạ, Bao Vinh…, Phước Tích (xuôi ven sông Ô Lâu). Một số nhà vườn đẹp nổi tiếng là An Hiên, Ngọc Sơn Công Chúa Từ, Lạc Tịnh Viên…

May mắn thay, dù đang trong cơn lốc đô thị hóa, thành phố Huế hầu như nhà nào cũng có vườn cũng như cố gắng giữ vườn. Mỗi khi có việc đi đâu xa, lúc trở về ngôi nhà vườn bình yên, thấy lòng nhẹ thênh. Đi để nhớ, ở để thương, có phải?

 

Read Full Post »

Older Posts »