Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 16th, 2009

Catalogue sứ men lam Khanh Hy trang 1

Trong catalogue này hầu hết các món đồ sứ đều trên 800 Bảng Anh ( giá tham khảo quốc tế) chỉ dùng để minh họa thêm cho bài post Đồ sứ men lam đời Khang Hy và giúp các nhà sưu tập nhận biết dáng , sắc men và motif trang trí thường dùng cho loại sản phẩm này. Bao gồm 4 trang. Mổi file hình khá lớn, download về xem rất rỏ.

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

 

Nghề làm đồ sứ tại Cảnh Đức Trấn – Hình ảnh

Sử sách ghi lại, vào đời vua Càn Long, tại Cảnh Đức trấn có 3000 lò chuyên về đồ gốm và đồ sứ. Thợ thầy trên mấy trăn ngàn người, mỗi người mỗi nghề riêng, không ai xâm phạm nghề ai, người lo vận tải đất và vật liệu, người chuyên nắn đúc, người thì trang trí vẽ vời, người khác coi về lò lửa…

I – Chọn và nhồi đất


Cao lanh và Bạch Đôn tử trong bảo tàng gốm sứ Cảnh Đức trấn

Việc chọn đất và nhồi đất là một khâu quan trọng trong nghề gốm sứ. Trung Quốc vốn hơn thiên hạ về đồ sứ là nhờ có sẵn hai nguyên liệu không thay thế được, đó là chất Bạch đôn tử (chinastone) và Cao lanh (đất sét trắng).

Cao lanh là đất sét trắng riêng biệt của vùng Giang Tây, các nước khác tuy có nhưng không tốt bằng và không thay thế được. Ngày nay, vùng Giang Tây vẫn lấy đất tại đây để làm đồ sành sứ nhưng không thể đẹp bằng đồ sứ cổ năm xưa. Bạch đôn tử cũng là đất nhưng rắn vô cùng. Khi lấy trong mỏ ra là một khối đá, có bọc một lớp đất đỏ ngoài da. Đem về, cho vào cối đá giã thành bột, xong phải dùng nước để lọc bỏ sạn và tạp chất. Đãi thêm vài lần rồi vớt phần mịn nhất, trộn cùng cao lanh, nhồi kỹ rồi dùng để nắn đồ.

Bạch đôn tử có bán sẵn đúc thành khuôn như viên gạch có đóng dấu nhà và nơi sản xuất. Nhưng loại này có trộn nhiều tạp chất, mua về phải ngâm nước và đãi cho thật kỹ để lấy ra những chất độn, phần tinh vi lọc được sẽ nhồi chung với cao lanh, tuỳ theo số lượng, tốt thì nửa phần thứ này, nửa phần thứ kia, hoặc nhồi theo “tứ lục”, tức 4/10 hoặc 6/10. Sành rẻ tiền thì ít bạch đôn tử hơn sứ ngự dụng.

Vật liệu đầy đủ rồi, còn một việc quan trọng là nhồi bã đất. Cần phải nhồi kỹ và đúng phương pháp. Trước, đảo bằng lưỡi cuốc lưỡi mai, vừa đảo vừa lắng nghe tiếng dội qua lưỡi thép của khí cụ quen tay từ nhiều năm. Khi thấy được thì chuyển sang nhồi bằng chân để dò lại một lần nữa những vật lạ có thể sót lại. Công việc này tuy xem tầm thường nhưng sự thành công sau này tuỳ thuộc vào khâu này rất nhiều. Sau khi nhồi đất công việc chuyển sang cho “e kíp” nắn đồ.

Ngày nay, hầu hết các lò gốm đều trộn đất bằng máy móc, tuy tiết kiệm được nhiều công sức của con người nhưng vì thế mà cũng làm giảm đi vẻ đẹp tinh tế của món đồ.

II – Tạo hình


Đào công Cảnh Đức trấn say mê tạo hình

Ngày nay, khi đến thăm các lò gốm như Lái Thiêu hay Biên Hoà…nơi các lò gốm người Tàu làm chủ, ít nhiều vẫn còn giữ cổ truyền, như lò đốt bằng củi, cách nhồi đất và nắn đồ vẫn còn na ná như xưa…Muốn làm một ống tròn, một cái hũ, hay một cái bình…trước tiên người thợ móc một cục đất đã nhồi kỹ, đặt lên bàn quây. Cái bàn này có từ xưa, gồm hai tầng, tầng dưới vừa với chân thợ, đạp vào thì bàn chạy vòng tròn và lôi theo cái mặt trên, làm vừa với hai tay người thợ, mặc tình uốn nắn cục đất tuỳ sở thích. Cục đất lướn bằng cái gối, mềm dẻo, khi bàn quây di chuyển từ cục đất vô hình đã biến thành món vật tuỳ ý người nặn. Khi tạo xong, muốn lấy ra phơi, người thợ dùng dao cắt – đó là chiếc dao làm riêng để cắt đất, gọi là dao cung, cần bằng tre và căng một sợi chỉ thép hoặc thép dùng cắt đất rất tài tình.

Thời Minh, khi món đồ phơi khô se se, tiếp tục đặt lên bàn quây để o bế lại và cạo gọt giồi mài cho thêm láng. Vì vậy ngày nay thường nhìn thấy nơi đáy món đồ khi gặp món nào đáy không tráng men, có dấu vòng cùng một trung tâm, thì đó là khu khoanh măng. Và nếu xung quanh chân bình có dấu nhu lằn dao thì ta có thể nói món đồ có triệu chứng thuộc về thời Minh. Vả lại, đáy vật cổ nào cũng giữ lại dấu vết khi nó ở trên bàn quây hay khi nó vào lò hầm, những dấu vết đó có khi còn quý hơn chữ ký hay chữ hiệu vì chữ ký còn giả được chứ những dấu ấy là dấu tự nhiên mỗi món, người nào có kinh nghiệm thấy một lần là biết liền.

Vào buổi sơ khai, những khuôn làm gốm đều được tạo từ tre trúc (khuôn giỏ tre), sau này chế ra khuôn bằng đá đất, bằng thạch cao hay gốm. Những bình nào có hình thù lạ, khi vuông, khi không đều góc thì làm bằng khúc rời rồi ráp lại, gắn bằng đất sét pha lỏng. Những chỗ ráp này cong thô sơ dễ nhìn thấy, đến thế kỷ XVII thì đã khéo léo hơn, ít người nhận biết được. Những choé thật lớn thì làm thành hai khúc rồi ráp lại, thoa men mất dấu. Những hình tượng nhân vật, cầm thú, các vật nhái trái cây, các quai bình, vòi ấm hay các hình đắp nổi thì được nắn rời bằng tay , cho vào khuôn dọn sẵn theo kiểu thức nhất định.

Khi làm xong xuôi, các món đồ đất sét đều để phơi se ngoài gió dịu cho đến khô thật khô. Các món quý như đồ ngự chế dâng vua, đồ đặt làm riêng cho sứ thần các nước chư hầu mang về đều để cho khô ngót một năm tròn. Sau khi phơi khô đúng thời gian quy định, các món ấy đều được sửa lại, vì bị cứng nên phải ra vóc  bằng cây đục sắt, dao thép. Các chỗ như miệng, hông của cái bình thì dồi lại cho trơn tru, cái chân phải khoét lại cho thật vững, thật sát mặt bàn, những chỗ nào đắp nổi thì đều o bế cho dễ coi.

Hoàn tất các việc ấy thì món đồ đã sẵn sàng cho vào lò nung. Nung lần một, hoặc được lót một nước men làm áo hoặc món ấy là một sứ trắng men lam hay sứ trắng men hồng thì để vậy chưa tráng men, để các hoạ công vẽ lên cốt thai những đồ án sơn thuỷ hay hoa điểu…

III – Lò nung


Mô hình lò gốm cổ – Bảo tàng cổ diêu Cảnh Đức trấn

Người Trung Hoa đã chế tạo ra nhiều loại lò nung, tuy nhiên có hai loại lò thông dụng: Kiểu lò miền Bắc Trung Hoa, là loại lò chỉ có một gian phòng và có mui nóc khum khum, chỉ có một lỗ thông hơi sau lò (Lò Màn thầu – NT). Còn có loại lò miền Nam gọn và tiện lợi hơn kiểu trên: Lò xây nằm dài theo chiều dốc và chia thành nhiều ngăn, vừa hẹp bề ngang vừa dài, một nửa nổi lên trên, một nửa lò chôn ngập phía dưới mặt đất, nhờ vậy khói theo chiều gió dễ thông (Lò Giai cấp – NT). Kiểu lò này sau được các nước Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam học theo.

Tại Cảnh Đức trấn, thủ đô ngành gốm sứ Trung Hoa, tạo lập từ đời Tống, người ta quen dùng loại lò một gian độc nhất, rộng lớn, giống hình chai rượu vang đặt nằm dài, nơi sau chót cái chai là lỗ thông khói. Củi thông dụng đốt lò cổ là củi tùng lấy ở các khu rừng lân cận. Trong lò, những món không quý lắm thì đặt nơi miệng lò và gần lỗ thông khói. Hai khoảng này có cái bất lợi là khi lửa quá già làm khét món đồ, khi lại không đủ sức nóng làm sống sượng món đồ cũng không tốt. Nơi trung tâm lò là nơi thuận lợi nhất dành cho những đồ vật quý, ngự dụng hoặc đồ do sứ thần chư hầu đặt làm. Tuỳ theo món lớn nhỏ để nung lâu hay ngày hay ít ngày.

Dưới triều Minh, những chiếc thống dùng nuôi cá lia thia hay chậu to để trồng cây cảnh thường nung trong lò liên tiếp 19 ngày ròng rã: bảy ngày lửa dịu dịu, hai ngày lửa hoả hào, mười ngày lửa đốt liên tiếp và giảm độ lần lần. Nếu nung chén trà và các vật nhỏ thì khoảng năm ngày là đủ.

Người thợ có kinh nghiệm là người biết sắp đặt các món đồ nung trong lò: vật nào chịu được hoả độ cao (gốm da đá, đồ sành, đồ nung hai lần; nơi kím lửa hơn thì đặt các món yếu chịu đựng, còn các loại sử dụng men (é mail é maux), men thường thì nung ở lò nhỏ hơn…

IV – Cách nung


Diêu thần

1 – Cách nung thu bớt thoáng khí (cuisson en réduction): Với phương pháp này thoáng khí (gió) lọt vào lò rất ít và làm cho củi cháy chậm đi. Hễ cháy chậm thì có nhiều khói, theo khoa học cắt nghĩa, chất hoá vật đơn chất (monoxyde de carbone) của thán khí sẽ hoà hợp với dưỡng khí (oxygene) do các dưỡng hoá vật (oxdes) tiết ra của đất sét và của chất màu vẽ. Tự nhiên, các da sành trắng “bạch chảng” vào lửa và gặp khói sẽ trở nên đậm đà và đổi màu duyên dáng hơn; chất bạch kim (cobalt) khắc lửa sẽ trở nên màu xanh biếc trong suốt tinh ba hơn (blue de Hue, blue de China); chất đồng, biến thể hoá màu đỏ (những biến thể này khó tốt tươi và rất tuỳ vào sự khéo léo và may rủi), vì dưỡng khí gặp đồng ưa biến chứng bất thường; chất sắt vào lò sẽ làm ra các loại gốm xanh nước biển celadon…

2 – Cách nung thứ hai là “nung thả cửa”, cứ để thoáng khí tha hồ chung vào lò (cuisson en oxydation) và tha hồ cho các chất đụng chạm nhau mặc tình biến hoá; biến hoá lúc còn trong lò lửa đỏ; biến hoá lúc “khai môn” là khi thợ lấy trong lò ra để các món đồ mau nguội, khi ấy mới là biến hoá một cách tự nhiên. Kết quả của phương pháp này hơi đột ngột: những da men trắng có thể biến ra ngà ngà, da kem, chất bạch kim có thể đổi ra sắc đen hơn (do đó có nhiều khi ta thấy trên đồ sứ Khánh Xuân, Nội Phủ, men xanh mịn màng bỗng có đôi chỗ lốm đốm thâm thâm). Đồng biến ra màu xanh lục. Sắt đổi sắc và biến màu khi vàng, khi vàng sậm, khi lại đen.

(Lược thuật theo “Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa” của Vương Hồng Sển)

Quang cảnh làm việc tại một xưởng gốm sứ phỏng cổ ngày nay ở Cảnh Đức Trấn – Giang Tây

click trên hình để xem full size


 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Đồ sứ “tân” ký kiểu – Bleu de Hue: Cẩn trọng khi sưu tầm cổ vật

Cuối cùng tôi cũng đến Cảnh Đức Trấn, địa danh thân thuộc khi tôi bắt đầu tìm hiểu một loại hình cổ vật đặc biệt, mà người ta vẫn quen gọi là đồ sứ men lam Huế hay đồ sứ ký kiểu. Đó là những món đồ sứ làm theo các yêu cầu về kiểu dáng, màu sắc, hoa văn trang trí, thơ văn minh hoạ và hiệu đề, do các sứ bộ và thương nhân từ Việt Nam sang Trung Hoa đặt làm.

Việc ký kiểu đồ sứ được khởi xướng bởi vương triều Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII, được tiếp nối bởi các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, qua triều Tây Sơn và trở nên thịnh hành dưới triều Nguyễn. Trong 13 đời vua của nhà Nguyễn, chỉ có 5 đời vua có ký kiểu đồ sứ là: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Khải Định. Trước khi đi ký kiểu đồ sứ, các hoạ sĩ vâng theo thánh ý của vua và nhu cầu của triều đình để thực hiện các bản vẽ mẫu về kiểu dáng, hoạ tiết và thơ văn trên giấy. Sau đó, các bản vẽ này được trình lên để nhà vua xem xét và phê duyệt trước khi giao cho sứ bộ mang sang Trung Quốc đặt làm đồ sứ. Chuyến đi ký kiểu đồ sứ cuối cùng dưới thời Nguyễn là vào năm 1925, nhưng các sứ thần chỉ đi đến Quảng Đông đặt làm các món đồ sứ mang hiệu đề Khải Định Ất Sửu.

Sau hai năm khảo sát, xác định chủng loại, số lượng, kiểu thức của những món đồ sứ, hoạ sĩ còn đo vẽ tất cả các hoạ tiết trang trí trước khi đặt làm hơn 500 món đồ sứ, trong đó có gần 100 chiếc thống lớn. Vậy mà, ông Hào Hải Thịnh, chủ một lò sứ ở Cảnh Đức Trấn, nơi chúng tôi đặt quan hệ để ký kiểu đồ sứ, vẫn đích thân đến Huế để hướng dẫn các hoạ sĩ trong cách thức sao chép các hoa văn trên đồ sứ cổ sang giấy lụa để giúp cho việc phục chế đồ sứ ký kiểu được chân xác hơn.

Cảnh Đức Trấn đúng như những gì tôi đã hình dung qua các trang biên dịch của cố học giả Vương Hồng Sển trong cuốn Cảnh Đức Trấn đào lục: khắp nơi đều có sự hiện diện của gốm sứ, như lời của ông chủ lò gốm Hải Thanh khi đón chúng tôi ở bến xe Cảnh Đức Trấn: “Xứ này, trên là trời, dưới là đồ sứ”.

Sáng hôm sau, Hào Hải Thịnh đưa chúng tôi ra ngoại ô để thăm Trấn Diêu, vốn là quan xưởng của trấn Cảnh Đức, chuyên làm đồ sứ cao cấp phục vụ cho triều đình và hoàng gia các triều: Nguyên, Minh và Thanh, được thành lập vào cuối thời Tống. Gần 10 thế kỷ trôi qua, Trấn Diêu trải bao cơn thăng trầm và đã trở thành di tích. Năm 1990, chính quyền thành phố đã cho mời chủ nhân hai lò sứ danh tiếng nhất trấn vào lập xưởng chế tác đồ sứ ngay trong khuôn viên Trấn Diêu cũ, vừa để giới thiệu kỹ nghệ gốm sứ truyền thống của Cảnh Đức Trấn, vừa tạo ra sản phẩm phỏng cổ (đồ sứ làm theo kiểu mẫu đồ sứ cổ) làm quà lưu niệm bán cho du khách. Lò của Lỗ Quốc Siêu chuyên về dòng đồ tam thái, ngũ thái, đấu thái (sứ màu) toạ lạc ở phía tây. Lò của Hào Hải Thịnh chuyên về dòng đồ thanh hoạ (sứ trắng vẽ lam) toạ lạc ở phía đông. Xuất thân từ một gia đình 5 đời chuyên cung cấp men màu cho phần lớn các lò gốm sứ trong trấn, Hào Hải Thịnh chuyên tâm nghiên cứu và chế tạo men lam Hồi (oxide cobalt) và trở thành một chuyên gia hàng đầu về dòng đồ thanh hoạ ở Cảnh Đức Trấn.

Khi chúng tôi đến lò của Hào Hải Thịnh, có khoảng 20 thợ gốm đang làm việc, ở nhiều công đoạn khác nhau: nhào trộn cao lanh trong bể ngâm; tạo cốt; trang trí hoạ tiết; vào màu; tả tự (viết chữ), nung đốt sản phẩm… Ông Hào giải thích: “Công việc ở đây rất chuyên biệt. Có người chuyên làm cốt, có người chuyên vẽ rồng, có người chuyên vẽ hoa thụ, phong cảnh, người khác chuyên trách việc nung đốt”.

Sau khi nhận được các thông số về kích thước và hình dáng sản phẩm từ Việt Nam, thợ trong lò bắt tay làm đất và tạo cốt trước, với tỷ lệ khoảng 120% so với thành phẩm, để sau khi nung sản phẩm co rút lại là vừa. Các hoạ tiết trang trí can trên giấy nến, sẽ được copy với tỷ lệ 120%, đồ lại bằng mực đỏ trên giấy lụa rồi đem in lên cốt đất còn ướt để lấy mẫu. Sau đó hoạ sĩ của lò mới vẽ lại bằng màu lam, đóng dấu hiệu đề, phủ men trong, rồi mới đem nung.

Trong những ngày làm việc ở lò sứ của Hào Hải Thịnh, tranh thủ những lúc rảnh rỗi, chúng tôi đi thăm khu lò cổ của hai triều Minh, Thanh. Trấn Diêu xưa, nay đã trở thành một khu bảo tàng sống, giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm ở Cảnh Đức Trấn. Tất cả mọi thứ dường như y nguyên, chỉ khác ở chỗ thay vì nung bằng củi sài như trước thì người ta nung bằng lò ga mà thôi. Tuy nhiên, người ta vẫn bày nhiều đống củi sài trước khu lò cũ, cùng nhiều dụng cụ làm gốm sứ xưa và các mô hình diễn giải cho du khách về kỹ nghệ gốm sứ truyền thống của Cảnh Đức Trấn.

Một ngày trước khi chúng tôi về nước, Hào Hải Thịnh đưa chúng tôi đi thăm trung tâm mua bán đồ sứ của Cảnh Đức Trấn. Đó là một khu vừa phố vừa lò, nằm trên bãi đất rộng ven sông Lệ Giang và là nơi mua bán đồ sứ nhộn nhịp nhất Cảnh Đức Trấn. Đồ sứ bày la liệt, từ trong chân lò ra đến cửa hiệu, tràn cả hè phố và ngập kín các bãi đất trống sát chân cầu. Có rất nhiều lò chuyên làm đồ gốm sứ phỏng cổ, từ đồ đời Hán đến đồ Trung Hoa dân quốc, họ đều làm tất. Khách hàng chỉ cần đưa yêu cầu kèm các thông tin chi tiết của món đồ mẫu rồi về. Tuỳ theo kích thước và tính chất của món đồ đặt làm, hai hoặc ba tháng sau, khách hàng sẽ nhận được món đồ như ý muốn.

Có rất nhiều người bày bán những mảnh gốm sứ vỡ trên những tấm ni lông trải ở vệ đường. Ông Hào giải thích với tôi: “Đó là những tiêu bản gốm cổ do người dân đào được ở các phế tích lò xưa trên địa bàn Cảnh Đức Trấn. Người ta mua những mảnh vỡ này về để phân tích thành phần men màu, kỹ thuật nung, rồi bắt chước mà làm các đồ sứ phỏng cổ”. Tôi sục sạo trong nhiều đống mảnh sứ đang bày bán, tìm thấy nhiều mảnh có hiệu đề: Vạn Lịch, Tuyên Đức, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long… nhưng không hề thấy mảnh nào mang hiệu đề của các vua Việt Nam.

Giữa tháng 11.2005, lô đồ sứ tân ký kiểu từ Cảnh Đức Trấn về đến Hữu Nghị Quan. Hào Hải Thịnh xuất hiện bên kia cửa khẩu, tươi cười chào chúng tôi. Thủ tục thông quan được tiến hành nhanh chóng. 500 món đồ sứ ký kiểu vượt biên giới về đến Huế an toàn, kết thúc tân hành trình ký kiểu đồ sứ.

Nguồn: Báo Tuổi trẻ  điện tử

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Đồ sứ men lam TQ thời Khang Hy

Trung Quốc được xem là cái nôi của ngành mỹ nghệ gốm sứ thế giới. Ngành này phát triển liên tục qua các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh rồi đạt đến đỉnh cao vào thời Thanh (1644-1911).

Đặc biệt, đồ sứ men xanh trắng (Thanh Bạch Từ Khí) triều Thanh Khang Hy (1662-1722) được giới sưu tầm thưởng ngoạn cổ vật trên thế giới công nhận là tốt đẹp nhất. Tại Việt Nam do điều kiện địa lý gần gũi, tương quan văn hóa mật thiết nên từ xưa qua con đường ngoại giao, thương mại, một số lớn gốm sứ Trung Quốc đã tồn tại khá nhiều, trong đó loại đồ sứ xanh trắng Khang Hy rất được quý chuộng. Để giúp cho giới sưu tập có cơ sở giám định về đồ sứ Khang Hy, chúng tôi xin cung cấp một số tiêu chí sau.

Khang Hy là vị vua giỏi nhất của triều Thanh, trị vì suốt 60 năm. Chính ông đã thống nhất đất nước, thiết lập một chính quyền vững mạnh, ổn định xã hội để phát triển kinh tế. Nhờ sự đặc biệt quan tâm của chính nhà vua nên ngành mỹ nghệ gốm sứ truyền thống Trung Quốc sau thời gian bị ngưng trệ lúc giao thời Minh-Thanh đã bật dậy mạnh mẽ. Cảnh Đức Trấn trở thành trung tâm sản xuất đồ gốm sứ lớn nhất thế giới. Chúng ta có thể chia ra ba thời kỳ:

Đầu Triều Khang Hy (1662-1682)

kangxi-1

Đầu thời Khang Hy

Đầu thời Khang Hy

Lúc đầu các lò quan  ở Cảnh Đức Trấn chỉ chuyên chế tạo, cung cấp cho triều đình vật dụng cúng tế. Hình dáng, hoa văn, thai cốt vẫn còn theo phong cách thời cuối Minh, men xanh nổi dày có chấm đen, màu sắc tối xám không được tươi đẹp. Cốt đất có nhiều tạp chất nên sau khi nung dưới đáy sản phẩm lộ ra màu đỏ gạch, có dính cát nhỏ. Thai thể dày nặng thô vụng, kiểu cách đơn giản. Đầu thời Khang Hy triều đình có lệnh cấm ghi niên hiệu vào đồ sứ dân dụng.

Giữa Triều Khang Hy (1683-1705)

kangxi-2

Giửa thời Khang Hy

Giửa thời Khang Hy

Bước vào thời thịnh vượng nhất của mỹ nghệ đồ sứ. Từ hình thức trang trí kiểu cách tạo hình, men màu đều phong phú mới lạ. Họa sĩ áp dụng họa pháp “tuyển nhiễm” bằng cách dùng bút lông thấm đẫm men màu xanh cobalt tô nhiều lần cho đậm hoa văn trên thai cốt trắng, sau đó phủ men trong. Đồ sứ xanh trắng chỉ nung một lần là thành phẩm vì oxide cobalt chịu được nhiệt độ rất cao (1.3500C).

Đặc biệt đồ sứ cao cấp do các lò quan chế tạo dùng loại men màu của tỉnh Vân Nam gọi là “Châu Minh Liệu” nên sau khi nung đồ sứ có hoa văn màu xanh tươi đẹp sáng bóng như ngọc, không có chấm đen (Hắc Thung Nhãn). Các màu xanh đậm nhạt nổi bật được gọi là “năm màu hoa văn xanh” (Thanh Hoa Ngũ Thái).

Nhìn chung đặc điểm của đồ sứ giữa thời Khang Hy là:

– Thai thổ: đất làm cốt được tinh luyện rất sạch không lẫn tạp chất, không có thiếc nên đáy không lộ màu đỏ như đồ sứ thời Minh.

– Thai thể: nhờ kỹ thuật cao nên rất mỏng, cứng chắc tinh xảo.

– Màu men xanh cobalt: có thể làm đậm nhạt trở thành nhiều màu rất tươi đẹp. Nên họa sĩ thể hiện được âm dương sáng tối dễ dàng, vẽ nhân vật có thần thái linh động tự nhiên, cảnh sắc núi sông bao la trùng điệp, hùng vĩ.

– Men bọc ngoài: trong suốt làm nổi bật hoa văn màu xanh trang trí dưới men nhưng không làm chói mắt như đồ sứ mới.

– Các sản phẩm lớn như lu, chóe, bình hoa, ống tranh, ống bút… thời này thường vẽ cảnh rồi viết kèm các bài danh văn như: Tiền Xích Bích Phú, Hậu Xích Bích Phú, Xuất Sư Biểu, Tứ Cảnh Độc Lạc, Thánh Chúa Đắc Hiền Thần Tụng… Cuối bài văn thường có khuôn dấu vuông bằng men xanh hoặc đỏ ghi “Hy triều phụ cổ, Hy triều bát cổ…”. Ngoài ra còn có loại hoa văn chìm rất đặc biệt.

– Về hiệu đề: ghi “Đại Thanh Khang Hy niên chế” hoặc phỏng theo “Đại Minh Tuyên Đức niên chế”, “Đại Minh Thành Hóa niên chế” viết theo kiểu chữ khải thành hai hoặc ba hàng (cũng có khi chỉ ghi bốn chữ thành hai hàng Khang Hy niên chế, Thành Hóa niên chế…), đồ dân dụng thì vẽ nhiều loại ký hiệu như một hoặc hai vòng tròn, khung vuông hoặc để men trắng.

Cuối thời Khang Hy (1705-1722)

kangxi-3

Cuối thời Khang Hy

Cuối thời Khang Hy

Nhờ triều đại thịnh trị kéo dài, đời sống xã hội liên tục phát triển mọi mặt khiến nhu cầu đồ sứ tăng lên rất nhiều. Kết quả thúc đẩy công nghệ chế tạo càng ngày càng tinh xảo. Đồ sứ xanh trắng cuối thời Khang Hy đạt đến đỉnh cao mỹ thuật, được đánh giá quý đẹp như ngọc thạch.

Hiệu đề dưới đáy sản phẩm (khoản thức, niên hiệu) của đồ sứ thời cuối Khang Hy rất đa dạng. Đồ ngự dụng, niên hiệu được ghi bằng lối chữ triện rất hiếm gặp. Đồ sứ cao cấp thường ghi tên các tòa nhà, hiên, trai: Càn dịch trai, Trung Hòa Đường, Ứng Đức Hiên, Nhã Ngoạn, Thanh Ngoạn…

Đồ sứ dân dụng thì vẽ các biểu tượng như: Hoa Mộc Diệp, Nấm Linh Chi, Cuốn Thư, Đỉnh Quý, Lá Lật… Đặc biệt thời này đồ án trang trí đề tài phong cảnh nhân vật nhỏ dần ảnh hưởng theo họa pháp của Triệu Bỉnh Trinh vẽ “Canh Chức Đồ (những đề tài mô tả việc cày ruộng, dệt vải)”.

Sản phẩm sứ xanh trắng từ giữa đến cuối thời Khang Hy được xuất khẩu đến thị trường các nước trong khu vực, tận vùng Tây Á, châu Âu.

Rất tiếc sau 300 năm với bao nhiêu biến động khắp nơi trên thế giới, đồ sứ Khang Hy cũng bị mai một dần. Do đó giới sưu tầm cổ vật thường ao ước làm chủ một vài món sứ Khang Hy tuyệt phẩm, nguyên lành để được xếp vào hàng sành điệu trong làng chơi cổ ngoạn.

Kangxi 1662-1722.  Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Kangxi 1662-1722. Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Kangxi 1662-1722.  Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.

Kangxi 1662-1722. Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.

non-imperial mark, leaf

non-imperial mark, leaf

Qing, kangxi - lingqi fungus mark (linh chi)

Qing, kangxi - lingqi fungus mark (linh chi)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Tranh vẽ rồng – dragon topic brush paintings

Dưới đây là  hình chụp 33 tranh thủy mặc vẽ rồng, những bức tranh của họa sĩ thành danh được bán với giá giao động từ 300 cho đến 600 USD chưa tính khung. 19 bức tranh copy hoặc của họa sĩ không nổi tiếng được bán với giá từ dưới 200 cho đến 300 USD ( file names bắt đầu bằng br…) – Giá tham khảo trên Internet.

Click trên hình để xem bigger size hoặc click trên ” Tranh vẽ rồng ” để download và xem slideshow

“Tranh vẽ rồng”

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »