Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 14th, 2009

Tranh Thủy Mặc vẽ tre, trúc

Dưới đây là 33 hình chụp tranh thủy mặc với chủ đề tre, trúc với các khổ vẽ khác nhau:

Bạn click vào hình để xem fullsize trong wordpress, hoặc click vào “Tranh thủy mặc vẽ tre, trúc” và download để xem slide show

“Tranh thủy mặc vẽ tre, trúc” – slide show

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Nét đẹp chạm khắc Nhà Trăm Cột

netdepnhatramcot_11

Đi về phía đông thị trấn Cần Đước, vượt qua kênh Nước Mặn, đến xã Long Hựu Đông, tỉnh Long An, một vùng quê hiền hòa ven biển. Tại đây có một di tích kiến trúc khá độc đáo, được công nhận là di tích quốc gia về lịch sử văn hóa, đó là Nhà Trăm Cột. Cái “độc” của di tích không chỉ vì tên gọi xuất xứ theo theo đặc trưng kiến trúc (nhà có trên một trăm cây cột), mà còn vì đây là ngôi nhà “rường” miền Trung điển hình nằm lọt giữa vùng quê Nam Bộ. Vào thời Minh Mạng, vùng đất này thuộc tổng Lộc Thành Hạ, huyện Phước Lộc, phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Dưới thời Pháp thuộc (thời điểm xây dựng ngôi nhà), đổi thành tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn. Ngôi nhà cổ này được khởi công vào năm 1901, xây dựng ròng rã ba năm liền, đến năm 1903 thì hoàn thành và năm 1904 thì xong phần chạm khắc trang trí. Chủ nhân đầu tiên là hương sư của làng Long Hựu, sau đó làm hội viên Hội đồng quản hạt Chợ Lớn, vì thế mà tên gọi thủa ban đầu của nó là Nhà ông hội đồng, Nhà ông cả (Hình 1).

IUTQMT101547

Hình 2

Quy mô kiến trúc ngôi nhà có chiều ngang 21m, chiều dọc 42m, được xây dựng giữa một miếng đất có diện tích 4040m2. Nhà xây theo hình chữ quốc, gồm hai phần: phần chính là ngôi nhà 3 gian, 2 chái đôi, phần sau là hai dãy nhà bếp với một sân trong của ngôi nhà. Nhà Trăm Cột có kết cấu theo theo kiểu xuyên trính, còn gọi là đâm trính hay kiểu nhà rường, một loại nhà điển hình từ miền Trung trở vào. Với kết cấu này, nhà có bộ khung vững chắc, “rộng lòng căn” rất tiện lợi cho việc sinh hoạt bên trong, nhất là gian thờ. Tuổi của ngôi nhà đã cao nhưng vẫn còn bền vững, vì nhà được làm bằng các loại gỗ quí như cẩm lai, mật, gõ đỏ… Tốp thợ làm ngôi nhà này là người làng Mỹ Xuyên, một làng nghề nổi tiếng ở Huế. Vì lẽ đó, các cây chính được uốn cong hai đầu, chạy chỉ theo kiểu miền Trung khác với lối cây thẳng của phía Nam.

Với 104 cột gỗ còn lại cho đến ngày nay, nhà Trăm Cột không chỉ nổi tiếng vì nhiều cột, giá trị của nó là sự công phu trong chạm khắc của người thợ chạm xưa, biến ngôi nhà ở thành một tác phẩm nghệ thuật. Theo lời kể của con cháu chủ nhân ngôi nhà thì ngôi nhà được xây dựng xong thợ chạm mới tiến hành chạm khắc, số thợ chạm là 15 người và chạm trong 3 năm. Hình trang trí được chạm khắc khắp nơi từ vì kèo, vách ngăn đến bao lam… Bên cạnh đó, muốn làm đầy hơn không gian chạm khắc này là các vật dụng đồ gỗ, nó cũng được đóng cùng lúc và cho riêng căn nhà với sự chạm khắc tỉ mỉ, cầu kì như bàn, ghế, trường kỷ, bàn thờ…

IUTQMT101547

Chạm khắc trang trí của ngôi nhà được chia làm ba mảng chính:

Trang trí phần kết cấu khung xương.

Phần trang trí này nằm ở nhiều bộ phận kiến trúc như các vì kèo, đầu kèo, lá dung, bao hộc, cây xuyên cột… Từ ngoài hàng ba, 8 đầu kèo chạm trổ “Văn hóa long” một kiểu thức mang phong cách Huế rõ nét. Các hình “Văn hóa long” này có tính cách điệu cao, chỉ là họa tiết lá, mây tạo nên hình ảnh một cái đầu rồng. Tiếp theo các đầu kèo là vì kèo hàng ba được chạm lộng (Hình 2), Các họa tiết hoa lá được chạm lộng một cách duyên dáng làm thanh thoát cho các vì kèo. Mặt dưới của 4 cây kèo trung tâm chia phòng khách thành 3 gian, chạm hình “Tứ thời” với phong cách đặc biệt Huế gồm: Sen hóa quy (hình 3), Phật thủ hóa long, Mai hóa lân, Cúc hóa phượng… Sau khi đã dựng kèo, người ta mới tiến hành chạm khắc, giăng võng chạm từ trên xuống. Mỗi mặt kèo đều chạm khung chỉ hai đầu chạm hoa lá, ở giữa là hình đặc trưng cho bốn mùa. Hình chạm có khối cao, nhiều lớp, tách bạch khỏi mặt kèo. Ở hai kèo trên tường nhà chạm đồ án Lưỡng long hồi thủ và Tùng lộc. Hàng cột thứ 2 nằm chính giữa phòng khách, được chia làm 5 gian. Trong cây xuyên ngang hàng cột, chia làm năm khung chạm khắc. Các khung có chạm các đồ án hoa, trái ở giữa, hai bên là khung dây chạm hoa cúc cách điệu. Đặc biệt là đồ án chạm hoa, trái có nhiều loại trái cây mang tính địa phương như: mãng cầu, dưa gang cùng với loại trái cây truyền thống như đào, lựu thành đồ án Bát quả.

Trang trí bao lam và các vách ngăn

IUTQMT101547

Hình 3

Bao lam được trang trí mặt trước của 3 gian thờ, giữa 4 hàng cột. Các bao lam được chạm lộng công phu tạo thành khung trang trí cho gian thờ. Bao lam chính giữa (Hình 4) chạm đồ án hoa sen ở phía dưới, hình dáng hoa sen thiên về tả thực rất sinh động, khác nhiều lối trang trí hoa sen cách điệu. Phía trên của bao lam chạm cây tùng với chim trĩ, hoa cúc và chim hoàng anh. Khối trang trí này bao lấy quấn thư trung tâm khắc chữ phước, lộc, thọ. Hai bộ bao lam của hai gian thờ bên đều chạm chung một đồ án. Phía trên, chính giữa bao lam chạm hình con dơi cách điệu, hàm nghĩa là phúc, các hình khác là hoa hồng và chim sẻ, tùng với công. Nét chạm của bộ bao lam này rất điêu luyện, khối của các môtíp rất cao như tượng tròn, nét khắc chau chuốt, uyển chuyển trong sự thay đổi về khối từ những khối dày dặn đến những nét chạm mảnh mai như cây tăm. Hai bên bao lam có khung dọc cột chạm đồ án Tứ thời với các hình ảnh như tùng lộc, mai hạc ở giữa, trong khung chỉ viền và hoa lá.

IUTQMT101547

Hình 4

Phía trên các bao lam, giáp với mái nhà là các khung “ô hộc” chia làm nhiều lớp gồm chấn song gió (chấn song con tiện), chấn song bản là các tấm chạm hình chữ nhật đan xen. Các tấm chấn song bản chạm hình hoa lá, đồ án cách điệu văn hóa phượng hai bên, tấm giữa chạm hình lân. Phía dưới, sát trên bao lam, các tấm bản chạm các loại trái cây mang tính địa phương như măng cụt, khế, điều chen giữa các bản chạm hoa hồng (hình 5). Phần chạm khắc không chỉ có ở ba gian thờ chính mà còn được thể hiện khắp nơi kể cả các gian phụ. Hai vách bên gian thờ, từ bộ cửa vòng cung đến các bao hộp, khung vách đều chạm trổ cầu kì các đồ án như văn hóa phúc, tứ thời, tứ quí, bát quả… Sự kết nối các hình chữ nhật đứng, nằm ngang, hình tam giác giữa các khung chỉ soi tạo nên sự hài hòa, vui tươi cho mặt vách. Xen kẽ giữa các tấm chạm lộng cầu kỳ là các tấm song tiện đều đặn to, nhỏ, thưa, dày khác nhau tạo sự thay đổi dễ chịu về thị giác (Hình 6). Các vách gió ngăn phòng khách với hai chái, phòng thờ với phòng ngủ đều có chạm các khung ô hộc (chấn song gió, chấn song bản) với các đồ án trên cùng các loại văn hóa long, dây lá hóa long, mai điểu. …

IUTQMT101547

Hình 5

Trang trí đồ gỗ

Đồ gỗ đi theo ngôi nhà rất phong phú và được làm cùng với ngôi nhà. Nó gồm đồ gỗ cho phòng khách và đồ gỗ cho gian thờ. Tại phòng khách có 6 bộ bàn ghế được chạm trỗ công phu. Các bộ bàn ghế được đóng theo cặp và được tính sẵn nơi để. Các bộ bàn, ghế đều có khung chạm lộng với nhiều đề tài khác nhau như trái cây là đào, lựu, phật thủ, bầu,… hoặc các đồ án có đề tài theo cặp như mai điểu, tùng lộc, trúc hạc, bí đào, nho sóc…

Phần trang trí, chạm khắc của Nhà Trăm Cột là một giá trị mỹ thuật đã được khẳng định, đánh dấu một giai đoạn mỹ thuật trong đầu thế kỷ XX. Về mặt tạo hình, ngoài các lối chạm mang tính cách điệu cao, những nghệ nhân này còn thể hiện những bức chạm mang xu hướng tả thực với sự quan sát, diễn tả rất sống động; sự đan xen giữa các phong cách không hề làm mất tính thống nhất, chặt chẽ về bố cục mà còn giúp cho các tấm chạm ấm áp hơn, hợp với tư gia hơn (khác với không khí đình, chùa). Đề tài được sử dụng cũng rất phong phú, mang tính xã hội, phản ánh được đời sống Nam Bộ thời đó – một thuộc địa của Pháp. Ngoài các đề tài truyền thống mang tính cổ điển như “Tứ linh”, “Tứ thời”, “Bát quả”, “Mai điểu”… đã xuất hiện những môtíp mới như trái cây vùng Nam Bộ như mãng cầu, mãng cầu dai, điều, khế, bình bát… Các môtíp phương Tây cũng đã xuất hiện một cách nhuần nhuyễn như hoahồng, nho, sóc, dây lá lối châu Au, chuỗi ngọc.

IUTQMT101547

Hình 6

Với sự tồn tại của mình qua 100 năm, Nhà Trăm Cột là hiện thân văn hóa của một vùng đất mới, một ngôi nhà rường miền Trung nhưng mang tình cảm của người phương Nam. Đây là một di tích kiến trúc có nhiều yếu tố mỹ thuật quý giá, đánh dấu một giai đoạn trong lịch sử trang trí của mỹ thuật truyền thống Việt Nam. N.T.TẢnh trong bài: Bùi Hải Châutài liệu tham khảo: bảo tàng long an: Hồ sơ di tích kiến trúc nghệ thuật nhà trăm cột, 1997.

Nguyễn Trung Tín
Ảnh trong bài: Bùi Hải Châu

click trên hình để xem full size:

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 


Read Full Post »

Nhà rường cổ Huỳnh Phủ – Bến Tre

Chủ nhân xưa và lịch sử xây dựng ngôi nhà

Làng Đại Điền xưa nổi tiếng là vùng đất trù phú có nhiều người giàu có, trong số đó có những người mà đến nay vẫn được người dân trong làng nhắc đến như Đốc Phủ Kiểng, Phó Hoài, ông Hương Liêm… Qua một thời gian dài với biến động của thời cuộc, cơ ngơi của các nhân vật trên không còn lại gì, chỉ duy nhất ngôi nhà của ông Hương Liêm là vẫn tồn tại như một bằng chứng về thời kỳ vàng son của chủ nhân nó khi xưa.

Ông Hương Liêm có 6 ngôi nhà gồm một ngôi nhà chính là nơi thờ cúng và nghỉ ngơi của ông bà, 5 ngôi nhà phụ được bố trí hai bên và phía sau để làm nơi sinh hoạt, nhà kho, nhà xay lúa, nhà cầu. Cổng và các ngôi nhà phụ đã bị hư hỏng hoàn toàn, dấu tích còn lại chỉ là những thềm đá. Ngôi nhà hiện còn mà người dân trong vùng thường gọi là nhà ông Hương Liêm hay Huỳnh Phủ, là ngôi nhà chính cũng là ngôi nhà lớn và đẹp nhất bấy giờ. Căn cứ vào bức hoành phi mừng tân gia cho họ Huỳnh do tri huyện Bảo An họ Võ tặng vào năm Giáp Thìn và các dòng chữ ghi trên khán thờ ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm thì ngôi nhà được hoàn thành trước năm 1904 (Giáp Thìn), vì năm 1904 là năm tổ chức tân gia và hai năm sau đó 1906 (Bính Ngọ) phần nội thất thờ tự mới thực hiện. Như vậy, ngôi nhà được xây dựng khoảng cuối thập niên 80 hoặc đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX.

Bộ cửa chính

Thợ làm nhà là những người thợ ở Miền Trung vào, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. Các thợ mộc được tính tiền công mỗi ngày bằng hình thức đong dăm bào bằng chén ăn cơm. Ông vốn là người tỉ mỉ nên dù giá công cao nhưng thợ không được làm quá 1 chén dăm bào một ngày vì như vậy cho là làm dối. Theo lời kể phải hơn 13 năm ngôi nhà mới xây dựng xong. Nhìn các công trình chạm khắc gỗ dày đặc và tỉ mỉ ở nội thất, chúng ta thấy thời gian xây dựng kéo dài là hoàn toàn hợp lý. Khi mà ở thời điểm bấy giờ toàn bộ từ các chi tiết nhỏ như tiện, đục, bào, chạm đều được làm bằng thủ công.

Nét đẹp chạm khắc của ngôi nhà

Bao lam hàng cột trước khám thờ

Huỳnh Phủ là một trong những công trình kiến trúc nhà ở bằng gỗ đẹp mang phong cách nghệ thuật nhà Nguyễn và được xếp vào loại di tích kiến trúc nghệ thuật. Qui mô xây dựng khá lớn nhưng phần chạm khắc trang trí cho ngôi nhà mới là phần có giá trị nhất.

1. Qui mô kiến trúc ngôi nhà:

Qui mô kiến trúc ngôi nhà hiện còn gồm ngôi nhà chính có diện tích 244,77m2 với một căn phụ bằng gạch nối liền ở góc phải. Nhìn từ bên ngoài và theo các hàng cột phía trước của ngôi nhà ta thấy có chín gian, nhưng thực ra đây là ngôi nhà ba gian được mở rộng ra bốn phía mà thợ mộc xưa ở Nam Bộ gọi là “Nhà tám đấm, tám khuyết” – một kiểu nhà rất to ngày xưa và chỉ có những người thật sự giàu có mới có khả năng xây dựng. Nhà xây dựng trên nền cao 0,7m chung quanh được kè đá xanh, thềm cũng được viền bằng những thanh đá xanh. Vách và hàng cột ngoài cùng làm bằng vôi gạch, nhưng nội thất và sườn nhà làm bằng các loại gỗ có giá trị cao như: gỗ lim, thau lau. Nhà có 80 cây cột (48 cột gỗ và 32 cột gạch ở hàng thứ tư) làm theo kiểu nhà xuyên trính (nhà rường ở Huế) với hai hàng cột cái gồm 8 cây – còn gọi là đại trụ – đứng song song nhau. Các cây cột cái cao trên 5,5m có chu vi 1,2m được gắn kết với nhau từng cặp theo chiều ngang bởi các cây trính và theo chiều dọc mỗi hàng có một thanh gỗ dài xuyên qua 4 cây cột. Mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói có hoa văn. Hai đầu song được xây kín và trang trí hình một bông hoa 4 cánh rất sắc xảo.

2. Trang trí chạm khắc của ngôi nhà:

Hình trang trí được chạm khắc khắp nơi trong nhà, từ vì kèo, khung cửa, bao lam tới vách ngăn. Các tấm chạm đã đạt tới trình độ cao của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Bên cạnh các đề tài truyền thống thể hiện ước vọng về sự trường tồn, thanh tao, quyền quí là các hoa văn chạm khắc theo xu hướng tả thực với sự quan sát diễn tả rất sinh động các đối tượng miêu tả. Đầy hơn trong không gian chạm khắc này là các vật dụng đồ gỗ, nó cũng được đóng cùng lúc và cho riêng căn nhà với sự chạm khắc tỉ mỉ, cầu kì, cẩn ốc xà cừ như bàn, ghế, trường kỷ, bàn thờ…

Vách tường được tạo bởi ô hộc và chấn song Chi tiết cánh cửa Quấn thư trên đầu cột

Phần chạm khắc trang trí đầu tiên là các bộ phận kiến trúc như vì kèo, đầu kèo, cuối đuôi kèo, đuôi kèo đòn tay, cột, xuyên, trính rất công phu và sắc xảo… và trên cả những cái đố sát nền nhà cũng được chạm trổ, điều thật khó tìm thấy ở các ngôi nhà rường cổ khác trên nhiều địa phương trong  cả nước.

Gần như các kèo của ngôi nhà đều được chạm trổ. Kèo chạm ít thì chạm ở đầu kèo như chạm nổi hình đầu rồng theo lối hoa lá hóa long, hoặc một chùm trái lựu. Kèo chạm nhiều thì chạm kín hai mặt kèo, hoa văn được chạm sinh động  như các loại trái cây Nam Bộ, với các con vật gần gũi như chuột, chim… các loại hoa lá như  dây leo, dưa hấu, hoa mẫu đơn, cúc cùng các vật dụng như cuốn thư, đàn tỳ bà. Từ hàng cột thứ ba ra hàng cột thứ tư là những thanh gỗ nhỏ, mỏng hơn làm dạng đầu rồng đuôi phụng; phần cạnh trên có hình cong gợn sóng, phần lõm xuống là nơi các cây đòn tay đi qua, tạo vẻ đẹp thanh thoát mà chắc chắn cho các cây đòn tay. Đặc biệt, gần cuối đầu kèo nơi giao với đầu cột hàng tư, mỗi cây được chạm hình một trong các tứ linh với phong cách đặc trưng của Huế gồm sen hóa quy, Phật thủ hóa long, mai hóa lân, cúc hóa phượng. Cùng sự xuất hiện họa tiết hoa văn ngũ phúc (5 con dơi) hay các vật trong bát bửu : bút, cuốn thư, bầu rượu, đoản đao… được cách điệu. Đây là những đề tài dân gian truyền thống, thể hiện sự mong muốn của người xưa về hạnh phúc. Các hoa văn chạm nổi theo kiểu đối xứng hai mặt của từng cây kèo, đối xứng kèo mái nhà trước và kèo mái nhà sau, đối xứng góc.

Khám thờ

Nhà có hai lớp vách gọi là vách đôi, lớp ngoài là tường, bên trong là vách gỗ. Phần trang trí nội thất chạm khắc tập trung ở lớp vách gỗ bên trong bao quanh năm gian nhà: 3 gian chính ở giữa và 2 gian phụ hai bên. Hoa văn ở các cửa, vách được đục chạm trong các ô lớn nhỏ hình vuông hoặc hình chữ nhật có khung viền gọi là trám hay ô hộc. Các trám hình chữ nhật được đặt nằm hoặc đứng xen với các trám suông tạo nên sự hài hòa, vui tươi cho mặt vách. Các ô hộc được trang trí hoa văn chìm nằm sâu trong khung viền, chạm lộng trang trí hoa văn lồi lên bằng mặt khung viền được sử dụng cho chạm nổi. Hoa văn chạm trên vách khá phong phú như hoa sen, khế, đào lộn hột, lựu, mãng cầu… cùng các con vật như lân, sóc cùng các đồ án dây hóa long, mai hóa long, bách điểu, cá hóa long, dưa hấu hóa phụng. Trong các trám còn sử dụng hình chạm lộng chữ Hỷ, Phúc và chữ Thọ.

Các trám ở phần khuôn sáo được chạm lộng để thông gió và lấy ánh sáng từ bên ngoài. Trám chữ nhật được lộng chữ rất tinh xảo hoặc chấn song to nhỏ đều đặn, thưa, dày khác nhau tạo sự thay đổi dễ chịu về thị giác. Còn các trám vuông lộng chữ hoặc hình các loại trái cây có bố cục đẹp mang tính địa phương như mãng cầu, bưởi, khế, măng cụt, điều chen giữa các bản chạm hoa hồng, hoa cúc…

Bốn cây cột cái phía ngoài và các cột ở năm cửa trước đều có liễn áp cột. Các liễn được viết bằng chữ Hán với hình thức đa dạng  chữ lồng trong hoa lá, tranh và chữ “nhất họa nhất thi”, hoa lá nằm trong chữ và được bố trí đối xứng theo từng gian, chữ và hoa văn được cẩn xà cừ tỉ mỉ, công phu và khéo léo. Phần vách từ xuyên trở xuống có các hoa văn đa dạng nhất. Tùy theo mỗi cửa hoặc mỗi vách mà hoa văn được thể hiện khác nhau theo khung bao với các đố ngang, đố dọc. Hoa văn trang trí trên khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Cửa giữa là cửa lớn nhất có hình cánh cung, khung cửa và kỷ đều có chạm trổ cầu kỳ văn hoa dây,  tổ ong, cuốn thư. Trên cao là tấm biển “HUỲNH PHỦ” viết bằng chữ Hán theo lối đại tự được sơn son thếp vàng. Phần khung được chạm nổi kiểu truyền thống hoa dây, cuốn thư và tổ ong. Phần giữa đố dọc trang trí hoa văn chạm nổi xen kẽ với hoa văn cẩn xà cừ rất tinh tế. Dọc hai bên là mô típ hoa lựu, tùng lộc, mai điểu, bướm, phía trên là hoa dây leo, lựu, dơi, đàn tì bà được chạm khắc theo lối cách điệu. Các hình ảnh quen thuộc của mẫu đơn, sen, hạc, bách điểu, dơi, cá, lựu hóa cá, lựu hóa rồng hoặc phụng và các hoa văn hoa lá có cẩn xà xừ làm tăng thêm vẻ đẹp của cửa. Phần hai góc phía ngoài cánh cung chạm trổ mai trĩ, mai lan duyên dáng, uyển chuyển rất đẹp mắt. Đố ngang chia phần trên của khung bao lam làm 3 tầng; giữa phần này có một trám vuông lớn được chạm 3 con lân đang nhảy múa dáng rất động. Hoa văn các trám chữ nhật nhỏ được lộng chữ Thọ (kiểu Hán tự). Các trám còn lại được chạm trổ rất điêu luyện, khối của các mô típ rất cao, nét khắc trau chuốt,  gần như tả thật các con vật gần gũi như tôm, cua, cá, xen cây cỏ. Còn cửa gồm 4 cánh rất dày, làm tbeo kiểu chuỗi dưới là trám chạm nổi sen – vịt – ếch và sen – chim – cá – lúa đối xứng ở hai bên, cảm nhận về thiên nhiên trù phú.

Giống như phần cửa giữa, cửa hai gian hai bên đều chạm trổ phức tạp. Phần giữa của các đố trong có các hoa văn chạm nổi như dây dưa hấu, sóc, chim, nho, bướm… các dây nho và dưa hấu được chạm nối quấn nhau và đều được hóa rồng, hóa phụng. Các ô hộc xen kẽ nhau bằng những hình vuông, chữ nhật đứng, nằm chạm nổi các mô típ hoa văn như lân, phụng, dây leo xen kẽ với các hoa văn cẩn xà cừ. Ở chân là bình hoa mẫu đơn, hai bên là mai – lan – trúc – điểu với thân mai được chạm hình rồng (mai hóa long) duyên dáng, tỉ mỉ. Hai góc ngoài chữ U chạm một chùm quả lựu cách điệu. Cửa vào hai gian phụ làm theo kiểu “thượng song hạ bản” có khung bao bên ngoài được trang trí các hoa văn chạm nổi dày đặc, sinh động như: hoa lan, lựu, dưa hấu,… xen kẽ với các hoa văn cẩn ốc xà xừ, khoảng giữa là các song tiện hình chuỗi. Riêng khu hình vòng nguyệt được trang trí các mô típ hoa văn dây hóa long, hoa mẫu đơn – chim trĩ, dưa hấu hóa long, sóc… Các ô hộc được chạm nổi hai lớp rất công phu với hình loan, phượng vờn mây.

Vách và gian cửa bên, sự kết hợp giữa các ô hộc và chấn song. Các đồ án được chạm trổ và cẩn ốc

Các cửa đầu song có hình cánh cung kích thước giống như cửa hai gian chính thức phía trước nhưng hoa văn trang trí khác nhau. Các trám vuông to nhất ở đố ngang phía trên chạm hình lân (cửa trái), hình long, phụng (của phải) các trám chạm nổi rất sắc xảo, các loại cây trái xen với chạm lộng các chữ Vạn và chữ Phúc. Phần khung cửa ở các đố dọc, đố ngang được chạm đục hoa văn đủ loại. Ba gian thờ chính là nơi trang trọng nhất của ngôi nhà nên tất cả hoa văn câu chữ trang trí đều được sơn son thiếp vàng hoặc cẩn xà cừ. Bốn cột cái có bao lam cột bao quanh với thủ quyển ở đầu và liễn áp cột, trên khuôn sáo ở ba gian thờ chính treo ba bức hoành: Gian giữa “HIẾU ĐỆ TRUNG TÍN”, bên phải “THỌ NAM SƠN”, bên trái “LAN QUẾ PHƯƠNG”. Bao lam cột có khung bao bên ngoài, phía trên là các trám, dọc hai bên khung bao lam các hoa văn được chạm nổi theo từng cụm dạng tứ quý: Mai – Lan – Cúc – Trúc, chân khung bao lam có kỷ gỗ kê chân áp cột hình nửa chiếc độc bình, miệng bình là đĩa ngũ quả: lựu, điều, khế hoặc đào tiên, xoài; thân bình chạm nổi hình hoa mai, cúc, trúc.

Hoa văn ở khám thờ của mỗi gian mang tính chất khác nhau nhưng đều trang trí phức tạp. Bao lam cột chạm nổi cầu kỳ, hình lưỡng long chầu nhật, hai bên lan – bách điểu (gian giữa); chạm hình mai hóa long, chuột – quả – lựu, sóc – hoa lan (gian bên phải); bao lam giữa là cuốn thư mở, hai bên bao lam là đơn trĩ cùng với chuột – hoa lan (gian bên trái). Liễn áp cột ở hai cột gian giữa là 24 bức tranh minh họa được chạm và cẩn ốc xà cừ về truyện Thập Nhị Tứ Hiếu. Mỗi bức tranh có 3 câu thơ gồm 20 chữ trích trong sách “Nhị Thập Tứ Hiếu”. Khám thờ làm hai lớp kiểu long trụ chạm hình tứ linh, chân long trụ chạm hình lân, trên đỉnh là hình lưỡng long chầu nhật, dọc theo bao lam hình quy, phụng và hoa lan. Hoặc chạm hình loan phượng chầu nguyệt ở trên đỉnh, hai bên chạm long giáng, hoa mẫu đơn – trĩ; cúc – trúc; tùng lộc; mai – lan…

Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau, hoa văn chạm lộng, ngoài lọng hình còn có lọng chữ (Hán tự) hoặc  song; chạm lưới với hoa văn hình tổ ong. Đặc sắc và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp, lớp bên trong có hình chữ thập, hình mắt lưới, hình tròn, hình cánh hoa… lớp này làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề: sen – vịt – ếch, chim – sen, chim – gà – hoa cỏ; mai – đào… Điều làm cho các hoa văn trang trí hấp dẫn sinh động là dù cùng một chủ đề nhưng các nghệ nhân đã thể hiện chúng ở các tư thế khác nhau, không có sự trùng lắp ngay cả trong cùng mảng trang trí. Hai con cùng loại trong một trám được làm ở tư thế ẩn hiện hoặc đối nghịch nhau như cua một con nằm úp, một con ngửa; chim, chuồn chuồn, bươm bướm: con bay, con đậu. Có nơi các con thú được thể hiện ẩn trong cây lá, chim chóc treo lơ lửng trên cành, luồn lách qua những cây trái thật sinh động.

Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã là các loài động thực vật quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của cư dân địa phương như chuồn chuồn, lựu cá, chim, mãng cầu… xen với các đề tài theo khuôn mẫu đã có tứ linh; tứ quý, tứ thời. Các mô típ phương Tây cũng xuất hiện một cách nhuần nhuyễn như hoa hồng, nho, sóc, chuỗi ngọc. Đây là một di tích kiến trúc có nhiều yếu tố mỹ thuật quý giá, đánh dấu một giai đoạn trong lịch sử trang trí của mỹ thuật truyền thống Việt Nam tại Nam Bộ.

Phạm Thanh phương

Ảnh trong bài: Nguyễn Thành Công

Tài liệu tham khảo:

[1]- Bảo tàng Bến Tre : Lí lịch di tích.
[2]- Tạp chí “Kiến trúc nhà đẹp” số tháng 7 năm 2002.
[3]- Qua lời kể của ông Huỳnh Ngọc Chất, 74 tuổi cháu đời thứ 5 của ông Huỳnh Ngọc Khiêm và ông Tô Quang Minh 80 tuổi – cháu rể đời thứ 5 của ông Huỳnh Ngọc Khiêm.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Tranh thủy mặc vẽ chim – bird topic brush painting

Dưới đây là 45 hình chụp tranh thủy mặc chủ đề chim:

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Hai căn nhà cổ ở Sa Đéc

nhaco4

Sa đéc là một thị xã lâu đời ở đất miền Tây Nam Bộ  với chiều dài lịch sử trên 300 năm. Từ một địa danh chợ Vĩnh Phước  thuộc phủ Tân Thành, huyện Vĩnh An vào thời Minh Mạng (1832), Sa Đéc trở thành một địa hạt do người Pháp lập ra khi chia tách từ tỉnh An Giang và trở thành tỉnh lỵ từ năm 1889.

Với địa thế nằm bên bờ sông Tiền, trên con đường thủy giao thương đi Phnôm Pênh, là trung tâm của một miệt vườn trù phú, Sa Đéc từ xưa đã là một nơi thị tứ  và cảng sông quan trọng. Nơi đây đã sớm hình thành phố thị, nhà cửa, phố xá đông đúc và được xây dựng công phu mà hiện nay vẫn còn tồn giữ được rất nhiều ngôi nhà cổ.  Người Pháp đã sớm xây dựng các công trình công thự ở cồn Tân Quy Đông biến Sa Đéc trở thành một thị xã có quy hoạch kiến trúc kiểu Châu Âu. Điều này làm cho Sa Đéc hiện tồn tại hai dạng nhà cổ có tuổi đời trên trăm năm, một dạng nhà cổ truyền thống thuần Việt thường bằng gỗ và một dạng nhà cổ ảnh hưởng kiến trúc Phương Tây xây bằng gạch, hay nhà xây kết hợp nhà gỗ.

Các ngôi nhà gỗ xưa của Sa Đéc thường có tầm vóc khá lớn, nó thể hiện sự giàu có của chủ nhân, (thường là các doanh thương buôn bán theo đường sông nước) và tiện ích của con sông Tiền khi dễ dàng vận chuyển gỗ quý từ Cămpuchia về. Trong số các ngôi nhà cổ trên, nổi bật nhất là hai ngôi nhà cổ truyền thống theo kiểu nhà rường Huế, được làm hoàn toàn bằng gỗ tốt, chúng có tuổi đời lâu nhất và phần chạm trổ tinh vi có giá trị mỹ thuật cao.

Mặt dựng với các ô học cửa chính

Mặt dựng với các ô học cửa chính

Khám thờ

Khám thờ




Đồ án cá hóa rồng

Đồ án cá hóa rồng

Ngôi nhà thứ nhất là của ông Nguyễn Văn Thường, ấp Phú Hòa, xã Tân Phú Đông, thị xã Sa Đéc. Ong là đời thứ 3 của chủ nhân đầu tiên, ông Nguyễn Văn Mao. Vốn là một người buôn bán mặt hàng nổi tiếng của Sa Đéc thời đó là cau khô nên rất giàu có, ông Mao đã mua lại căn nhà này từ một người thợ kim hoàn, dựng lại vào năm 1910. Ngôi nhà có cấu trúc 3 gian, 2 chái theo lối nhà rường Huế có phần cải biên theo nhà cổ Nam Bộ, mái lợp ngói âm dương, nền nhà lót gạch tàu hình lục giác. Điều đặc biệt của ngôi nhà là từ các bộ phận kiến trúc như cột, kèo, thanh xà đến các phần trang trí như bao lam, thành vọng và các bức hoành phi, liễn đều bằng gỗ mun, để lâu đời lên nước càng lau càng bóng.

Các phần trang trí của ngôi nhà như bao lam, khám thờ, thành vọng được chạm trổ tinh xảo với nhiều đồ án hoa văn truyền thống kết hợp với cẩn ốc xà cừ. Ngay từ các cây cột cũng được tạo dáng khá cầu kỳ, chân cột được đẽo thành hình chiếc đôn có chân loe, bụng thắt. Nằm ở dưới các đầu cột của thanh kèo là các hình chạm với đồ án cá hóa rồng. Mặt dưới thanh kèo được chạm viền theo khung chữ nhật, phía trong chạm các đồ án mang phong cách Huế với các đề tài Tứ thời như:  mai hóa lân, sen hóa quy, cúc hóa phượng, phật thủ hóa long. Các mặt vách của ngôi nhà cũng theo kiểu thức của nhà cổ phía Nam, các phần chạm khắc được bố trí trong các ô hộc xen kẽ nhau cùng với chấn song tạo nên các mảng vách dày đặc về họa tiết nhưng lại dễ dàng thông gió. Hình chạm trong các ô hộc là đồ án hoa lá quen thuộc như mai điểu,  tứ linh, cúc, lan … cách chạm lộng cao khối làm cho họa tiết rất sắc sảo. Bao lam là một khối mỏng thếp vàng viền theo cấu trúc trang nghiêm, vuông vắn với các ô hộc đan xen nhau của khám thờ.

Nhà ông Lê Văn Võ, được cất vào năm 1860

Ngôi nhà cổ thứ hai là của ông Lê Văn Võ, nằm gần ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Thường. Ngôi nhà này được xây dựng vào đời vua Tự Đức năm thứ 13 (1860), đã tồn tại đến nay qua 3 thế kỷ và trở thành ngôi nhà cổ lâu đời nhất tại Sa Đéc. Ngôi nhà này được làm bằng gỗ căm xe với cấu trúc 3 gian 2 chái. Không gian kiến trúc của nhà căn nhà này cũng giống căn nhà trước, nhiều mảng chạm trổ tinh xảo gắn với các mảng cẩn ốc xà cừ. Sau hàng cột thứ nhất là hàng cột thứ 2 cùng bộ khung cửa. Khung cửa và vách được chạm trổ rất phức tạp, theo các đường viền, uốn cong hình bán nguyệt như cửa chính hay cắt chéo góc như hai cửa bên. Trên khung cửa là các ô hộc chạm đề tài tứ linh, hoa lá. Để tôn thêm các họa tiết được chạm, các nghệ nhân còn chạm thêm một lớp hoa văn hình chữ vạn, hình tổ ong lót phía sau. Cùng với các ô hộc hình hoa lá, vách nhà được xếp xen kẽ hình hoa văn đơn giản như chữ vạn, quả trám, tổ ong  hay song tiện để tránh sự đơn điệu. Đầu kèo chạm hình hoa lá, trái cây như mai, đào, cúc, lựu. Mặt dưới thân kèo cũng chạm trổ đồ án hoa lá với nét chạm sâu làm nổi rõ họa tiết. Khác với căn nhà trước, căn nhà này có bộ bao lam lớn và chạm trổ cầu kỳ hơn, chiếm vị trí chính trong các gian thờ. Chính giữa bao lam là hình con dơi ngậm vòng (tượng trưng cho phúc), hai bên là hình hoa hồng, chim trĩ  ở tấm giữa, chim và hoa mai ở hai tấm hai bên.

Để hòa hợp với kiến trúc ngôi nhà là các vật dụng nội thất cũng cổ xưa không kém như trường kỷ, bàn ghế, tủ thờ, các cây đèn dầu cổ… Trong ngôi nhà này còn treo rất nhiều hoành phi, câu đối được sơn son, thếp vàng hoặc khảm xà cừ bằng chữ Hán và chữ Nôm, góp phần làm tăng thêm vẻ đẹp cho không gian nội thất, thể hiện một phần nào suy nghĩ của người Sa Đéc, coi mình như một vùng đất hiếu học của miền Tây.

N.T.T

Tài liệu tham khảo:
_________________________

Bảo tàng Đồng Tháp
Nguyễn Đình Đầu. 300 năm Sa Đéc. Tạp chí Xưa và Nay số 448
tháng 10/97
Điện ảnh Đồng Tháp.
Phim tài liệu Sa Đéc xưa và nay,

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nhà cổ ở Nam bộ – tư liệu tổng hợp

“Du khảo” một vòng quanh các ngôi nhà cổ nổi tiếng ở nam bộ mà xưa nay đã được ­nhắc đến ít nhiều qua việc lược ghi một số tư liệu

OVROUQ103638
Nhà Hội đồng Liêu (Đồng Nai). Ảnh: Huỳnh Nghĩa
OVROUQ103638

ĐỒNG NAI

Ngôi nhà mang tên Đạt Đức đường nhưng nhân dân địa phương quen gọi là nhà Hội đồng Liêu, tọa lạc ở xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch. Nhà được xây dựng cách nay khoảng một trăm năm. Do nhà có tới 114 cột, nên một tốp thợ thi công gồm 10 người đã phải mất hai năm mới hoàn tất ngôi nhà.

Nhà có dạng chữ đinh, nằm khuất sau hàng rào quýt dại và sau những tán lá xanh tươi của vườn sầu riêng, hài hoà trong cảnh vật của làng quê thanh bình. Bước vào hiên nhà là những mảng điêu khắc hoa, lá, trái cây sống động trên khung cửa, trên các khuôn bông và trước những kèo hiên chạm khắc những cành lá được cách điệu khéo léo thành những con rồng như đang vươn ra đỡ mái hiên nhà. Nội thất, cách bài trí cho đến các vật dụng đều được duy trì từ ngày đầu xây dựng ngôi nhà cho đến nay. Ba gian thờ đều nằm sát vách và còn đầy đủ những tự khí như đỉnh đồng, bát nhang, chân đèn và bình hoa, chò tử quả được bài trí đúng cách: đông bình tây quả.

Nhiều chi tiết được chạm trổ rất tinh xảo như các thành kèo, khuôn bông, các mảng cánh én hay những khung cửa buồng. Đặc biệt ba bức bao lam của những gian thờ là những tuyệt tác chạm lộng với những đoá hoa sen nở xòe trong dáng điệu gợi cảm thanh cao, những dải hoa lá xen nhau mềm mại, uyển chuyển, sinh động. Một đôi chim thiêng, dáng như chim phượng với cánh và đuôi xoè ra như múa. Các bức đại tự, bức liễn sơn son thếp vàng hay cẩn xà cừ chứa đựng những ước nguyện của người xưa càng làm cho không gian ngôi nhà có thêm một vẻ đẹp sâu xa.

BÌNH DƯƠNG .

Cụm nhà cổ gồm 3 ngôi nhà nằm cách nhau trên một khu đất giữa một bên là đường Đinh Bộ Lĩnh, một bên là chợ Phú Cường (thị xã Thủ Dầu Một). Nếu tính từ sông Sài Gòn trở lên, lần lượt là nhà các ông Trần Văn Hồ, Trần Văn Tề và Trần Công Vàng, chủ nhân của ba ngôi nhà này đều có quan hệ huyết thống với nhau.  Nhà ông Trần Văn Hồ xây vào năm 1890, nhà ông Trần Văn Tề là năm 1895 và nhà ông Trần Công Vàng dựng vào năm 1835.  Về kiểu thức kiến trúc, ngoại trừ nhà ông Hồ, hai ngôi nhà kia đều theo lối chữ đinh, có sân con và cầu nổi. Nhà ông Tề theo kiểu chữ đinh thuận, còn nhà ông Vàng theo lối chữ đinh nghịch. Nhà ông Vàng thiết kế theo hình chữ nhật, gồm 8 căn 2 chái (8 cột, 8 dầm, 8 khuyết), dài 24m, ngang 22m, diện tích sử dụng khoảng 500m2. Mái khá thấp so với kiến trúc hiện nay nhưng bên trong lúc nào cũng thoáng mát nhờ bốn phía đều có cửa sổ. Nền nhà lát gạch tàu. Vật liệu xây dựng chủ yếu là các loại danh mộc như sao, cẩm lai, mun, huỳnh đường… Có cả thảy 6 hàng cột với 48 cây. Giàn kèo đều được chạm trổ hình đầu rồng có những con dơi bám vào rất tinh vi. Nhưng đặc biệt hơn cả là giàn kèo cột đều được vào mộng, toàn bộ ngôi nhà không sử dụng một cây đinh!

Phần nhà trên của cả ba ngôi nhà đều cất theo kiểu xuyên trính với hai mái hai chái. Riêng nhà ông Hồ không có phần hành lang nội bao bọc quanh phần nhà thờ như hai ngôi nhà kia. Về những môtip chạm trổ thì cả ba ngôi nhà có những nét giống nhau, nhưng nhà ông Vàng nét chạm trổ tinh vi, sống động hơn, nhất là ở các bao lam, khám thờ và đầu vách ngăn. Các liễn đối, hoành phi, bao lam, bức thờ thì ở mỗi ngôi nhà có nét độc đáo riêng, tinh xảo và đa dạng.   Nhà ông Hồ có cái thủ quyển treo giữa nhà trông hoành tráng, nét chạm hình tứ linh thật sinh động. Hai bức thờ khảm xà cừ mà mỗi chữ Hán lại là sự kết hợp hình những con chim, con bướm, cành lá, đoá hoa… tạo thành một bức tranh sinh động.

Ở nhà ông Tề có những câu đối viết lối chân đỉnh, những chữ triện cách điệu, những bức tranh hoạt cảnh có kèm theo những bài thơ bát cú minh hoạ, tất cả đều khảm xà cừ công phu.

Nhà ông Vàng còn lưu một cặp liễn đối vẽ cách điệu bằng hình ảnh hoa trái treo hai bên bàn thờ giữa và cũng được cẩn xà cừ.

LONG AN

Nhà Hội đồng Trần Văn Hoa ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước được xây dựng vào năm 1898.   Ban đầu khi xây dựng có đến 160 cột. Đến nay ngôi nhà còn 120 cột: 68 cột tròn bằng gỗ, 52 cột vuông xây bằng gạch. Các cột tròn được phân bố thành 6 hàng, các cột vuông chủ yếu ở các vách tường và hai chái phía sau. Cột cao nhất cũng gần 5m, làm bằng các loại gỗ tốt như cẩm lai, gõ đỏ, thao lao, giáng hương… Tường làm bằng vôi trộn mật đường. Mái ngói dày đến 3 lớp: ngói thí tạo nguồn sáng cho nhà, lớp âm dương ở giữa và lớp ngói ống bên cho mát mẻ. Diện tích nhà trên 460m2, được xây theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, hai cửa ra vào theo hướng đông và đông nam. Phần trước để tiếp khách và thờ tự, phần sau để sinh hoạt.

OVROUQ103638
Nhà trăm cột (Long An). Ảnh: B.H.C

Nền nhà lót gạch tàu hình lục giác, nền cao nhất vùng (92cm) được cẩn đá hộc và xi măng kiên cố nhằm chống lại những con nước lớn từ sông Rạch Cát tràn vào. Các bao lam được chạm trổ tinh xảo theo kiểu cung đình Huế càng tôn thêm vẻ đẹp cho ngôi nhà. Ngôi nhà được xây dựng chỉ trong hai năm nhưng công đoạn chạm trổ, trang trí thì mất đến ba năm ròng qua bàn tay của 15 nghệ nhân từ miền Trung vào. Các đề tài tứ linh, tứ thời, “phúc – lộc – thọ” được chạm trổ rất điêu luyện. Mỗi đầu kèo đều được chạm khắc hình rồng, phần giữa kèo, nơi tiếp giáp với đầu cột được chạm một bông hoa nổi lớn, trên các thanh xà đều trang trí hoa văn. Những công đoạn khó ở trên cao, nghệ nhân phải mắc võng trên trần để thực hiện. Ba kiến trúc sư thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã phải mất hơn nửa tháng mới vẽ xong toàn bộ căn nhà để góp phần vào việc phục chế, sửa chữa lại căn nhà quý giá này.  Bộ lư đồng thờ cúng, các tấm liễn sơn son thếp vàng, khảm xà cừ, bộ bàn ghế, trường kỷ có chạm khắc, bộ xalông thúng, bàn quay tròn, đèn lồng, tủ, giường trong ngôi nhà cổ này đến nay vẫn còn được gìn giữ cẩn thận.

OVROUQ103638
Nhà cổ xóm nhà giàu. Ảnh: Trọng Nhân

Năm 1997, ngôi nhà cổ “trăm cột” này được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Ong Trần Văn Ngộ, cháu nội Hội đồng Trần Văn Hoa hiện là vị chủ nhà kiêm luôn thuyết minh lẫn nhân viên bảo vệ di tích.

“Xóm nhà giàu” ở xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành để chỉ 4 căn nhà nằm liền nhau do 4 anh em nhà họ Nguyễn xây dựng khoảng từ năm 1900 – 1908.    Bốn ngôi nhà đều có chung kiểu kiến trúc chữ công, ba gian hai chái, lợp ngói đại ống và được bao quanh bằng hàng rào với những thanh sắt được tạo dáng một cách công phu và tao nhã. Điều gây ấn tượng đầu tiên là 4 hàng cột, mỗi hàng 6 cột, đường kính một vòng tay người ôm, làm bằng gỗ căm xe lên nước đen bóng.

Giữa các hàng cột là 3 bao lam với những mảng chạm khắc hình muông thú, hoa trái vô cùng tinh xảo. Chỉ riêng việc trang trí nội thất cho ngôi nhà đã mất 3 năm trời. Các bao lam trung tâm phía dưới chạm hoa sen lá xòe, lá cụp, gương sen mãn khai lẫn búp sen; bên trên chạm cây tùng, chim trĩ, hoa cúc và chim hoàng anh, trông thật sinh động. Giữa bao lam chạm cuốn thư khắc ba chữ “phúc – lộc – thọ” theo kiểu chữ triện chân lư, dưới cùng là môtip bướm và hai bao lam tả hữu giống nhau, chạm hoa hồng và chim sẻ, cây tùng và chim công, chim hoàng anh và hoa cúc, ở giữa chạm dơi tả thực và dơi cách điệu. Kỹ thuật chạm lộng đặc sắc, tinh xảo, nét đục sắc gọn, đường vuốt công phu.  Ngoài ra, còn có những hoành phi, liễn, câu đối mang đậm nét văn hoá phương Đông; tất cả được bảo quản rất tốt. Nhiều đoàn làm phim đã mượn bối cảnh ở đây làm trường quay, cũng như  đã có nhiều thợ chạm khắc đến tham quan, học hỏi tay nghề bậc thầy của người xưa.

BẾN TRE.

Nhà của Hương Liêm (tức Huỳnh Ngọc Khiêm, sinh 1842) ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng trước năm 1900. Một điền chủ có trên 2.000 mẫu ruộng.

OVROUQ103638

Nhà cổ Đại Điền. Ảnh: Nguyễn Thành Công

Ngôi nhà trông rất đồ sộ, kiến trúc như một ngôi đình. Nhà cất theo hình chữ nhật, chu vi khoảng 100m với 48 cột bằng gỗ lim và căm xe quý. Cột hàng ba cao 3,5m, mỗi cột chu vi khoảng 80cm. Cột chính cao 4,5m, mỗi cột chu vi hơn 1,2m. Nhiều cột có chạm khắc, cẩn chữ Hán, hoa văn bằng ốc xà cừ. Xuyên, trính, kèo đều được chạm trổ. Hoành phi sơn son thếp vàng với 4 chữ: Hiếu, Để, Trung, Tín. Thành vọng chạm, lọng, với những họa tiết phong cảnh hay tứ linh trông thật sống động. Tủ, bàn, trường kỷ và hàng chục bức chạm khắc gỗ theo các điển tích xưa được cẩn xà cừ.  Mái lợp ngói âm dương, trên từng miếng ngói có in cảnh sinh hoạt dân gian với các chủ đề quen thuộc như mục đồng cưỡi trâu, con gà, con cua, bó lúa…Nền cao trên 1m, viền bọc nền là những thớt đá hoa cương dài 2 – 3m, được đục và gắn kết liền mặt, bao quanh nền nhà. Ngày trước thợ chạm, lọng thành vọng, cửa nhà, vách nhà được tính tiền công theo số dăm bào trong ngày, bao nhiêu chén dăm bào thì trả bấy nhiêu tiền. Việc vận chuyển gỗ, đá để làm nhà theo đường sông Hàm Luông. Ngôi nhà do những người thợ tài hoa của Thủ Dầu Một (Bình Dương) và Cần Giuộc (Long An) đến xây dựng. Người ta kể rằng, khi làm lễ khởi công, kéo gỗ từ ngoài bến vào, thợ làm nhà ăn bưởi cúng lễ khởi công rồi vứt hạt ra xung quanh. Những hạt bưởi đó mọc thành cây, lớn lên ra lứa quả đầu tiên (trong khoảng 5 năm) mà ngôi nhà vẫn chưa làm xong!

CẦN THƠ

Ngôi nhà cổ năm gian hai chái nằm trên đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ được xây dựng từ năm 1870. Nhà kiến trúc theo kiểu Pháp với nền nhà được nâng cao 1m so với mặt sân, có bốn bậc thang hình cánh cung tao nhã nối kết nhà với khoảng sân rộng, trần cao trang trí hoa văn, mở nhiều cửa lớn nhỏ với khung sắt uốn khá đơn giản trông ngôi nhà có vẻ thông thoáng, mặt tiền trang trí phù điêu đắp nổi. Toàn bộ gạch bông hoa hồng đỏ, đen lót nền nhà cùng hàng rào sắt đúc bảo vệ khuôn viên đều được đặt và chở từ Pháp sang. Đây là mẫu nhà cổ hiếm hoi còn sót lại khá nguyên vẹn ở đồng bằng sông Cửu Long, thể hiện khá đầy đủ những đặc trưng về nhà ở nông thôn khu vực này ở thế kỷ trước. Đó là nhà luôn gắn với vườn với hơn 6.000m/8.000m2 toàn khuôn viên; rộng 22m; chiều dài 16m. Tiền sảnh dùng để tiếp khách mà không chia thành các phòng nhỏ, hai cửa hậu thông ra khu nhà ở phía sau, sân rộng có lát gạch tàu có đủ hòn non bộ, chậu kiểng, cổng tam quan, khu nuôi thú…

Các đồ vật trong nhà được bố trí hài hoà: hai bộ bàn ghế Vân Nam (Trung Quốc), xalông kiểu Pháp đời Louis XV, chùm đèn bạch đăng thế kỷ 18, cặp đèn treo thế kỷ 19, lavabô cùng bốn cây đèn đường đốt bằng dầu cao hơn 3m được chế tác tại Pháp vào thế kỷ 18, tách nậm trà – rượu đời Minh –  Thanh…Trước đây, để xử lý chống mối mọt và giữ độ lạnh trong nhà, người ta rải đều dưới nền nhà một lớp muối hột dày 10cm. Nhà không dùng ximăng để xây mà dùng ô dước. Hệ thống vì kèo, bao lam cùng 16 cây cột lớn đường kính 180cm, cao 4 – 6m được nối kết bằng mộng – ngàm.

Giữa tiền sảnh, nơi trang trọng nhất đặt bàn thờ, khánh thờ tổ tiên, phía sau là giường thờ luôn trải chiếu, tủ chè, sập gụ, trường kỷ, cặp thành vọng cao hơn 3m…do những bàn tay tài hoa của nghệ nhân ba miền tạo tác bằng gỗ quý được phủ sơn son thếp vàng hoặc cẩn xà cừ, nét chạm khắc rất tinh tế.  Ngôi nhà này từng là phim trường của hàng chục bộ phim trong đó có bộ phim nổi tiếng Người tình của đạo diễn Pháp J.J. Annaud vào tháng 3 – 1990.

ĐỒNG THÁP

Nhà của Hương chủ Dược ở làng Tân Phú Đông (nay thuộc thị xã Sa Đéc) được xây dựng vào năm 1860, nằm trên hương lộ 5 nối liền Sa Đéc với Hà Tiên. Ngôi nhà có bề ngang 18,7m, dài 16m, cao 7m, trên lợp ngói, cấu trúc theo kiểu ba căn hai chái bát dần (gọi là kiểu nhà tám đấm, tám khuyết), làm toàn bằng gỗ căm xe. Nhà có mái hiên với hàng cột vuông tám cây, cây nào cũng đục, khắc chữ Hán. Sau hàng cột vuông là hàng cột tròn, to, cao, uy nghi đường bệ. Ngay giữa bao lơn rộng lớn là một bộ trường kỷ dùng để tiếp khách. Ngăn giữa bao lơn và gian trong là vọng cửa với ba cửa lớn có hoa văn được chạm trổ rất công phu, đường nét sắc sảo, tinh tế.    Ngay gian giữa nhà là nơi thờ tổ tiên với tủ thờ, giường thờ, đồ thờ, lư đồng, bên trên có một tấm bảng sơn son thếp vàng ghi dòng chữ Nguyễn phủ đường. Hai bên là tủ thờ của người trong thân tộc. Gian trong là nơi nghỉ ngơi của gia đình, hai bên chái dùng làm chỗ sinh hoạt thường ngày.

OVROUQ103638 OVROUQ103638
Nhà cổ Rạch Giá. Ảnh: Hoàng Nam

Ngôi nhà quy tụ những thợ giỏi của miền Bắc, miền Trung và cả Nam Vang (Campuchia), công việc kéo dài đúng một năm ròng. Giá trị ngôi nhà là 950 đồng bạc lớn vào lúc bấy giờ. Hiện ngôi nhà do ông Lê Văn Võ (81 tuổi), cháu năm đời của Hương chủ Dược trông nom.

KIÊN GIANG

Nhà của ông Trần Chánh (người Hoa), toạ lạc tại số 27, thị xã Rạch Giá được xây trong 9 năm từ 1911 đến 1920, thuộc loại đồ sộ nhất Rạch Giá lúc bấy giờ. Ngôi từ đường của Trần phủ rộng 2000m2, kiến trúc ba gian hai chái, theo dạng “nội công ngoại quốc”, chất liệu gỗ truyền thống, riêng phần nền cao 7 tấc ở cái xứ biển hồi đầu thế kỷ trước quả là kỳ công. Nhà cao 9m, móng nền xây đá, tường nhà xây bằng gạch thẻ, mái lợp ngói âm dương. Mỗi gian rộng 3m, mỗi chái rộng 4m, chiều sâu 16,2m, hàng hiên chạy bốn mặt.

Thiết kế bên ngoài chịu ảnh hưởng theo lối kiến trúc Pháp thời bấy giờ, chỉ có khác là phần trong làm toàn bằng gõ đỏ theo kiểu kẻ chuyển, tiền kẻ hậu bẩy có soi chạm, hoành tháo xẻ (hoành vuông). Kết cấu chịu lực cả ngôi nhà theo sáu vì kèo, gồm 30 cột chia ra làm 8 cột cái, 16 cột quân và 6 cột hiên, đều làm bằng căm xe. Cột kê tảng bằng đá giáp hộc (cao 0,45m).

Nếu như nơi tiền sảnh, mặt trước, mặt sau và hai bên hông của ngôi nhà được xây dựng theo kiểu Pháp (Vila Daniel) thì nơi chính điện để thờ ông bà lại theo phong cách kiến trúc phương Đông. Thần vọng, khám thờ, hoa văn trên các khung cửa và cột kèo bằng danh mộc được sơn son thếp vàng, chạm khắc rất công phu. Ba gian giữa nhà ngăn với tây phòng, đông phòng là hai bức thuận cao 3,60m. Các hình trên giàn chạm trổ mai, tùng, trúc, sen, lan, đào, mẫu đơn và dây nho cách điệu; chim muông gồm phượng hoàng, khổng tước, anh vũ xen lẫn bầu rượu, ống thơ, sách bên cạnh nét mềm mại của dải lụa.   Trên trăm tay thợ trứ danh ở Gia Định, miền Bắc đảm nhận việc xây dựng ngôi nhà trong suốt 9 năm. Tiếc là phần mái nhà do phải trùng tu (vẫn mái ngói âm dương) nên ít nhiều mất đi vẻ trầm mặc vốn có.  Thời Pháp, ngôi nhà bị trưng dụng làm toà án. Đến thời Mỹ dùng làm câu lạc bộ tổ chức các cuộc giao lưu của các quan chức cỡ lớn. Sau năm 1975, ngôi nhà cổ được sử dụng làm nhà triển lãm của Sở Văn hoá Thông tin Kiên Giang. Từ năm 1981 trở thành Nhà bảo tàng Kiên Giang. Năm 1993, ngôi nhà đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »