Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 12th, 2009

Gốm Biên Hòa – Đồng Nai xưa và nay

Nghề gốm là làng nghề truyền thống của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Ra đời khoảng đầu thế kỷ XX, gốm Biên Hòa ngoài kỹ thuật chế tác bắt nguồn từ gốm bản địa, còn tiếp thu kỹ thuật tạo tác từ gốm Cây Mai (Sài Gòn) và kỹ thuật làm gốm của người Hoa từ sau năm 1679, tạo nên một dòng đặc sắc với nhiều làng gốm nổi tiếng.
Giai đoạn phát triển rực rỡ của gốm mỹ nghệ Biên Hòa từ năm 1923 đến đầu những năm 1960. Nhiều lần sản phẩm gốm Biên Hòa tham dự Hội chợ triển lãm quốc tế về mỹ thuật trang trí vào những năm 1925, 1932, 1934, 1938, 1942 tại Paris (Pháp), Nhật Bản, Indonesia, Hà Nội và Sài Gòn, các lần tham dự hội chợ triển lãm đều được ban tổ chức trao huy chương vàng, bằng khen…

Năm 1903, trường Mỹ nghệ Biên Hòa được thành lập (ngày nay là trường Cao đẳng trang trí mỹ thuật Đồng Nai) gốm Biên Hòa bước vào giai đoạn phát triển mới với việc tiếp thu kỹ thuật tạo gốm của phương Tây. Ban đầu gốm Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng men phương Tây tráng lên gốm phương Đông không phù hợp nên bà Marie Balick (tốt nghiệp trường gốm Limoges, phụ trách ban gốm trường Mỹ nghệ Biên Hòa) đã lập nhóm nghiên cứu men mới, chỉ dùng nguyên liệu trong nước như: đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rôm, tro củi, tro trấu và thủy tinh, mạt đồng, đá đỏ (đá ông Biên Hòa) và bột màu cobalt để tạo màu lên men; làm nên màu men độc nhất của gốm Biên Hòa: men xanh đồng của Biên Hòa (vert de Bien Hoa). Gốm Biên Hòa còn sử dụng màu đá đỏ, màu trắng rất được ưa chuộng. Đất làm gốm được lấy từ Sông Bé (Bình Phước) đem làm nhão hay hóa lỏng rồi in lên khuôn thạch cao. Đến năm 1960, kỹ thuật rót khuôn mới được phổ biến khi các chuyên gia Nhật Bản đến làm tư vấn cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Sản phẩm gốm Biên Hòa được nung ở nhiệt độ khoảng 1.3000C. Đặc trưng chính của gốm Biên Hòa là trang trí theo kiểu chạm khắc chìm phối hợp men màu, tráng men dày kể cả phông nền. Đây là ưu thế để gốm Biên Hòa nhanh chóng khẳng định phong cách độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt. Các sản phẩm gốm Biên Hòa cũng rất phong phú về kiểu dáng, đa dạng về chủng loại. Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới chân – thiện – mỹ. Ngoài những mẫu tượng Phật, Bồ tát do nghệ nhân bản xứ sáng tác còn có các mẫu tượng mang phong cách văn hóa các dân tộc khác nhau, hoặc theo cùng dòng chảy tín ngưỡng dân gian như tượng Lão Tử, Khổng Tử. Đối với các sản phẩm dùng trong sinh hoạt như: bình hoa, chậu kiểng, chóe… cũng rất đẹp mắt.

click trên hình để xem full size:

 

Năm 1933, nhận thấy gốm Biên Hòa của trường Mỹ nghệ Biên Hòa được người tiêu dùng ưa chuộng, trường đã thành lập hợp tác xã (HTX) Mỹ nghệ, thâu nhận các học sinh tốt nghiệp làm thợ gốm. Chính từ HTX này gốm Biên Hòa đã được phổ biến rộng rãi và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới. Đến năm 1950, sau khi ông bà Balick về Pháp, HTX Mỹ nghệ tách ra khỏi trường, trở thành các đơn vị sản xuất gốm tự lập, một số thợ của HTX trước kia về sinh sống ở Tân Vạn, Tân Thuận, Hòa An (Đồng Nai)… và thành lập các xưởng sản xuất gốm tại nhà, kể từ đó gốm Biên Hòa bước sang một giai đoạn mới và phát triển nhanh cho đến ngày nay. Hiện nay, làng gốm Biên Hòa có khoảng 70% cơ sở mang tính gia đình.

Cùng với gốm Cây Mai (Sài Gòn) và gốm Lái Thiêu (Bình Dương), gốm Biên Hòa đã tạo thành dòng gốm mang phong cách Nam bộ, đánh dấu một giai đoạn phát triển lịch sử của nghệ thuật làm gốm tại miền Nam trong thời cận và hiện đại. Ngày nay, gốm Biên Hòa với nghĩa hẹp là sản phẩm của trường Mỹ nghệ Biên Hòa trở nên hiếm hoi. Mấy chục năm trở lại đây, sản phẩm gốm Biên Hòa đã trở thành “của hiếm” trên thị trường và được giới sưu tập gốm ở Việt Nam và trên thế giới ưa chuộng.

Chào mừng kỷ niệm 310 năm Biên Hòa – Đồng Nai, ngày 28-10-2008, Bảo tàng Đồng Nai (số 1 Nguyễn Ái Quốc, TP. Biên Hòa) đã tổ chức trưng bày triển lãm Gốm Biên Hòa bao gồm 160 sản phẩm gốm được chế tác từ năm 1903 – 1975. Bộ sưu tập quý giá này thể hiện sức sống văn hóa, sáng tạo và sự tài hoa của những nghệ nhân Biên Hòa, đặc biệt là những nghệ nhân xuất thân từ trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa – ngôi trường vừa tròn 105 tuổi; nơi đào tạo nhiều thế hệ tài năng cho nghề gốm truyền thống của Biên Hòa – Đồng Nai.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Hình tượng rồng trong các triều đại Lý,Trần, Lê, Nguyễn

Là biểu tượng của sự cao quý, của sức sống vĩnh hằng và sức mạnh vũ trụ nên hình tượng rồng được sử dụng nhiều trong kiến trúc cung đình, đình chùa, trang phục vua chúa. Hình tượng con rồng cũng thay đổi theo dòng lịch sử qua các triều đại. Việc xác định phong cách thể hiện con rồng qua các thời kỳ sẽ là một căn cứ để xác định niên đại công trình kiến trúc nào đó.
Hình tượng rồng thời Lý

rong-thoily

Trên các hiện vật điêu khắc đá và gốm còn truyền cho đến nay, các nhà khoa họcchỉ thấy rồng tạc dưới dạng phù điêu, không thấy chạm chìm và chạm tròn. Đó là nhưng con rồng thân tròn lẳng, khá dài và không có vẩy, uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, rất nhẹ nhàng và thanh thoát. Các nhà nghiên cứu gọi đây là rồng hình giun hay hình dây và điều đập vào mắt mọi người là nó mang hình dạng của một con rắn.
Rồng thời Lý thường ngẩng đầu lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối. Một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên, có trường hợp răng nanh rất dài, uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc với vòi lên bao lấy viên ngọc.
Thân rồng dài, dọc sống lưng có một hàng vảy thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Bụng là đốt ngắn như bụng rắn, có bốn chân, mỗi chân có ba ngón phiá trước, không có ngón chân sau. Vị trí của chân bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau bao giờ cũng ở gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân đều có khủy phía sau và có móng giống chân loài chim.

Hình tượng rồng thời Trần

rongthoitran

Từ nửa cuối thế kỷ XIV, con rồng đã rời khỏi kiến trúc cung đình để có mặt trong các kiến trúc dân dã, không những chỉ có trên điêu khắc đá và gốm, mà còn xuất hiện trên điêu khắc gỗ ở chùa. Rồng cũng không chỉ có ở các vị trí trang nghiêm mà rồng còn có mặt ở các bậc thềm (như ở chùa Phổ Minh).

Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý, với các đường cong tròn nối nhau, các khúc trước lớn, các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đuôi rắn. Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau như rồng thời Lý. Có khi vảy lưng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi khi từng chiếc vẩy được chia thành hai tầng. Chân rồng thường ngắn hơn, những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng trống trên bức phù điêu. Và có sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay

Đầu rồng không có nhiều phức tạp như rồng thời Lý. Rồng vẫn có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng không uốn nhiều khúc. Chiếc răng nanh phía trước khá lớn, vắt qua sóng vòi. Miệng rồng há to nhưng nhiều khi không đớp quả cầu.

Rồng thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát, mạnh mẽ. Thân rồng thường mập chắc, tư thế vươn về phía trước. Cách thể hiện rồng không chịu những quy định khắc khe như thời Lý.

Hình ảnh rồng chầu mặt trời sớm nhất là trong lòng tháp Phổ Minh ( Nam Định) có niên đại khoảng 1305 -1310. Đôi rồng ở đây được bố trí trong một ô tròn, chạy ngược chiều kim đồng hồ, đầu ngoái lại chầu một vòng tròn nhỏ ở giữa. Thể hiện mặt trời dưới dạng một vòng tròn đơn giản.


Hình tượng rồng thời Lê

rongthoile1

Đến thời Lê, rồng có sự thay đổi hẳn, rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Mép trên của miệng rồng vẫn kéo dài nhưng được vuốt gần như thẳng ra, bao quanh có một hàng vải răng cưa kết lại như hình chiếc lá. Răng nanh cũng được kéo dài lên phía trên và uốn xoăn thừng ở gốc. Lông mày vẫn giữ hình dáng biểu tượng ômêga, nhưng được kéo dài ra và đuôi vuốt chếch lên phía sau. Trên lông mày và chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại. Rồng có râu ngắn và một chân trước thường đưa lên đỡ râu, tư thế thướng thấy ở các con rồng đời sau. Cổ rồng thường nhỏ hơn thân, một hiện tượng ít thấy ở những con rồng trước đó. Như vậy rồng mang dạng thú xuất hiện cuối đời Trần đã thấy phổ biến ở đời Lê Sơ nhưng vẫn còn mang dáng dấp truyền thống của loài rắn.
Hình tượng rồng thời Nguyễn
rongthoinguyen

Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
Ngày nay, hình tượng rồng tuy không còn mang tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật… Dù ở bất cứ thời điểm nào, rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.

Theo Non nước Việt Nam

Các bài đã đăng :

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Dưới đây là một số hình ảnh muôn thú trên tranh thủy mặc

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Thưởng lãm tranh Thủy mặc rực rỡ sắc hoa xuân

Tranh thuỷ mặc là một dòng tranh xuất xứ từ bên Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, dòng tranh này rất được người yêu hội hoạ ưa thích, nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tranh thuỷ mặc rất thích hợp với đề tài mùa xuân. Bởi với mực tàu đen, bút lông mềm mại, giấy dó giấy lụa, những nguyên liệu thiên nhiên này khi kết hợp với tay bút uyển chuyển tài hoa của các hoạ sĩ sẽ làm nên những phong cảnh mùa xuân quê hương hết sức độc đáo, tạo nên một cảnh tượng mơ màng nên thơ trữ tình phù hợp với tính cách và tình cảm của người dân Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng.
Mùa xuân là mùa đẹp nhất của đất trời, bởi mùa xuân có muôn cây đâm chồi nẩy lộc, hoa cỏ tốt tươi, vầng dương chan hoà ánh sáng.

Trong cái tươi tắn của đất trời con người như hoà tâm hồn thể chất vào hương xuân, tận hưởng không khí trong lành dịu mát. Đồng thời trong tiết xuân, đất trời tạo điều kiện để cây lương thực đơm bông kết trái cho con người có cơm ăn áo mặc.

Đưa con trỏ chuột vào hình, phần lớn phần đầu tên file là tên tác giả sáng tác

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 

Read Full Post »

108 anh hùng Lương Sơn – Tượng nặn, tranh vẽ

Tháng 7 năm 2006, tại tỉnh Jiangsu 5 đầu bếp địa phương đã triển lãm công trình nặn tượng bằng bột nhão hình tượng 108 anh hùng Lương Sơn Bạc của họ hoàn thành trong 25 ngày:

xin_1810030216420573042915

xin_1810030216425281858616

xin_1910030216421583075817

xin_1910030216426593159518

Thủy hử truyệnlà một tác phẩm trong bốn tác phẩm lớn của văn học cổ điển Trung Hoa (Tứ đại danh tác). Tác giả Thủy hử thường ghi là Thi Nại Am, cũng có người cho là của La Quán Trung. Truyện được viết dựa theo sách Đại Tống Tuyên Hòa di sự.
Cốt truyện chính là sự hình thành và những thành tích của một nhóm người chống triều đình mà trở thành giặc cướp, thường gọi là 108 anh hùng Lương Sơn Bạc.

ds06

Các anh hùng Lương Sơn Bạc thường được nhắc tới gồm có 108 người, tuy nhiên trên thực tế phải là 109 người, nếu tính cả Tiều Cái. Xa hơn nữa, chủ trại đầu tiên là Vương Luân, song Vương Luân nhanh chóng bị trừ khử không đóng vai trò gì đối với sự phát triển của Lương Sơn Bạc và do đó không được nhắc tới và không được tính vào hàng ngũ các anh hùng Lương Sơn.

ds22

Mặc dù Tiều Cái không chính thức thuộc về 108 anh hùng Lương Sơn Bạc vì trúng tên chết sớm ở trại Tăng Đầu, nhưng xét ra Tiều Cái là người lãnh tụ đầu tiên từ lúc Lương Sơn mới mở. Đối với các anh hùng Lương Sơn Bạc, từ Tống Giang trở đi, Tiều Cái là thủ lĩnh tối cao và nếu không vì cái chết của Tiều Cái, Tống Giang có thể không trở thành thủ lĩnh của Lương Sơn.

ds54

108 thủ lĩnh Lương Sơn gồm có 36 vị sao Thiên Cương và 72 vị Địa sát, đứng đầu là Tống Giang và cuối cùng là Đoàn Cảnh Trụ.

tg12

Với tinh thần thượng võ, trọng nghĩa khinh tài, vì lê dân bá tánh mà chống đối lại các thế lực cường hào. Nội dung truyện có thể có nhiều cách hiểu và nhiều lời bàn luận, nhưng từ rất lâu luôn là đề tài để cho bao tác phẩm nghệ thuật ra đời, trong đó có hội họa. Đã rất nhiều họa gia Trung Quốc các đời vẽ về 108 nhân vật anh hùng trong cón mắt của người dân lao động khốn cùng bị áp bức. Bộ sưu tập dưới đây là 1 trong số đó, xin được giới thiệu cùng quý vị và các bạn cùng thưởng thức, tham khảo.

Có hai phiên bản kết thúc Thủy Hử truyện. Theo phiên bản thứ nhất cuối cùng thủ lỉnh và toàn bộ các anh hùng gia nhập triều đình và chống lại các băng đảng thổ phỉ khác nhân danh pháp luật và trật tự. Phiên bản thứ hai là kết thúc bằng cái chết của toàn bộ họ. Có giả thuyết cho kiểm duyệt của nhà cầm quyền là lý do cho hai cách thức kết truyện khác nhau này.

Suikoden là Thủy hử truyện được văn sĩ Nhật Takizawa Bakin nhận dịch và biến thể vào năm 1805 và cuốn sách được họa sỉ bậc thầy thời ấy là Hokusai Katsushika vẽ minh họa. Suikoden ngay lập tức nhận được sự ưa chuộng ở các giai cấp thấp của chế độ cai trị Shogun (Tướng quân) lúc bấy giờ và chính là mồi lửa  cho phong trào xâm hình vẽ lên thân thể người (tatooing) của người Nhật.

vài hình minh họa cho các ấn bản Suikoden lần đầu:

heroes_suikoden5

heroes_suikoden2heroes_suikoden3heroes_suikoden4

Đề tài Suikoden vẫn còn rất phổ thông tại Nhật. Nó còn được chuyển thể vào kỷ nguyên hiện đại vi tính và Video. trên Internet nếu bạn search từ  suikoden bạn sẽ bắt gặp rất nhiều site liên quan đến Video và game.

Thĩnh thoảng bạn cũng có thể bắt gặp nhiều tác phẩm gốm sứ với hình vẽ nhân vật là một hay nhiều vị anh hùng trong Thủy Hử truyện.

Danh sách 108 vị anh hùng nơi Lương Sơn:

36 vị sao Thiên Cương.
1. Thiên Khôi Tinh – Hô Bảo Nghĩa Tống Giang
2. Thiên Cương Tinh – Ngọc Kỳ Lân Lư Tuấn Nghĩa
3. Thiên Cơ Tinh – Trí Đa Tinh Ngô Dụng
4. Thiên Nhân Tinh – Nhập Vân Long Công Tôn Thắng
5. Thiên Dũng Tinh – Đại Đao Quan Thắng
6. Thiên Hùng Tinh – Báo Tử Đầu Lâm Xung
7. Thiên Mãnh Tinh – Tích Lịch Hỏa Tần Minh
8. Thiên Uy Tinh – Song Chiên Hô Duyên Chước
9. Thiên Anh Tinh – Tiểu Lý Quảng Hoa Vinh
10. Thiên Quý Tinh – Tiểu Toàn Phong Sài Tiến
11. Thiên Phú Tinh – Phác Thiên Bằng Lý Ứng
12. Thiên Mãn Tinh – Mỹ Nhiệm Công Chu Đồng
13. Thiên Cô Tinh – Hoa Hòa Thượng Lỗ Trí Thâm
14. Thiên Thương Tinh – Hành Giả Võ Tòng
15. Thiên Lập Tinh – Song Thương Tướng Đổng Bình
16. Thiên Tiệp Tinh – Một Vũ Tiễn Trương Thanh
17. Thiên Âm Tinh – Thanh Diện Thú Dương Chí
18. Thiên Hữu Tinh – Kim Sang Thủ Từ Ninh
19. Thiên Không Tinh – Cấp Tiên Phong Sách Siêu
20. Thiên Dị Tinh – Xích Phát Quỷ Lưu Đường
21. Thiên Sát Tinh – Hắc Toàn Phong Lý Quỳ
22. Thiên Tốc Tinh – Thần Hành Thái Bảo Đới Tung
23. Thiên Vị Tinh – Cửu Văn Long Sử Tiến
24. Thiên Cứu Tinh – Mộc Già Lạn Mục Hoằng
25. Thiên Thoái Tinh – Sáp Sí Hổ Lôi Hoành
26. Thiên Thọ Tinh – Hỗn Giang Long Lý Tuấn
27. Thiên Kiếm Tinh – Lập Địa Thái Tuế Nguyễn Tiểu Nhị
28. Thiên Bình Tinh – Thuyền Đẩu Hoả Trương Hoành
29. Thiên Tội Tinh – Đoản Mệnh Tam Lang Nguyễn Tiểu Ngũ
30. Thiên Tổn Tinh – Lãng Lý Bạch Điều Trương Thuận
31. Thiên Đại Tinh – Hoạt Diêm La Nguyễn Tiểu Thất
32. Thiên Lao Tinh – Bệnh Quan Sách Dương Hùng
33. Thiên Tuệ Tinh – Biển Mệnh Tam Lang Thạch Tú
34. Thiên Bảo Tinh – Lưỡng Đầu Xà Giải Trân
35. Thiên Khốc Tinh – Song Vi Hạt Giải Bảo
36. Thiên Xảo Tinh – Lãng Tử Yến Thanh
72 vị sao Địa Sát
37. Địa Khôi Tinh – Thần Cơ Quân Sư Chu Vũ
38. Địa Sát Tinh – Trấn Tam Sơn Hoàng Tín
39. Địa Dũng Tinh – Bệnh Uý Trì Tôn Lập
40. Địa Kiệt Tinh – Xú Quân Mã Tuyên Tán
41. Địa Hùng Tinh – Mộc Tỉnh Can Hắc Tư Văn
42. Địa Uy Tinh – Bách Thắng Tướng Hàn Thao
43. Địa Anh Tinh – Thiên Mục Tướng Bành Dĩ
44. Địa Kỳ Tinh – Thánh Thuỷ Tướng Quân Đan Đình Khuê
45. Địa Mãnh Tinh – Thần Hoả Tướng Quân Nguỵ Định Quốc
46. Địa Văn Tinh – Thánh Thủ Thư Sinh Tiêu Nhượng
47. Địa Chính Tinh – Thiết Diện Khổng Mục Bùi Tuyên
48. Địa Tịch Tinh – Ma Vân Kim Sí Âu Bằng
49. Địa hạp Tinh – Hoả Nhỡ Toan Nghê Đặng Phi
50. Địa Cường Tinh – Cẩm Mao Hổ Yến Thuận
51. Địa Âm Tinh – Cẩm Báo Tử Dương Lâm
52. Địa Phụ Tinh – Oanh Thiên Lôi Lăng Chấn
53. Địa Hội Tinh – Thần Toán Tử Tưởng Kính
54. Địa Tá Tinh – Tiểu Ôn Hầu Lã Phương
55. Địa Hựu Tinh – Kiển Nhân Quý Quách Thịnh
56. Đị Linh Tinh – Thần Y An Đạo Toàn
57. Địa Thú Tinh – Tử Nhiêm Bá Hoàng Phủ Đoan
58. Địa Vi Tinh – Nuỵ Cước Hổ Vương Anh
59. Địa Tuệ Tinh – Nhất Trượng Thanh Hộ Tam Nương
60. Địa Hao Tinh – Táng Môn Thần Đào Húc
61. Địa Mặc Tinh – Hỗn Thế Ma Vương Phàn Thuỵ
62. Địa Xương Tinh – Mao Đẩu Tinh Khổng Minh
63. Địa Cường Tinh – Độc Hoả Tinh Khổng Lượng
64. Địa Phi Tinh – Bát Tý Na Tra Hạng Sung
65. Địa Tẩu Tinh – Phi Thiên Đại Thánh Lý Cổn
66. Địa Xảo Tinh – Ngọc Tý Tượng Kim Đại Kiện
67. Địa Minh Tinh – Thiết Dịch Tiên Mã Lân
68. Địa Tiến Tinh – Xuất Động Giao Đồng Uy
69. Địa Thoái Tinh – Phan Giang Thần Đồng Mãnh
70. Địa Mãn Tinh – Ngọc Phạn Cang Mạnh Khang
71. Địa Toại Tinh – Thông Tý Viện Hầu Kiện
72. Địa Chu Tinh – Khiến Giản Hổ Trần Đạt
73. Địa Ẩn Tinh – Bạch Hoa Xà Dương Xuân
74. Địa Di Tinh – Bạch Diện Lang Quân Trịnh Thiên Thọ
75. Địa Lý Tinh – Cửu Vy Quy Đào Tôn Vượng
76. Địa Tuấn Tinh – Thiết Phiến Tử Tống Thanh
77. Địa Nhạc Tinh – Thiết Khiếu Tử Nhạc Hoà
78. Địa Tiệp Tinh – Hoa Hạng Hổ Cung Vượng
79. Địa Tốc Tinh – Tùng Tiến Hổ Đinh Đắc Tôn
80. Địa Trấn Tinh – Tiểu Già Lạn Mục Xuân
81. Địa cơ Tinh – Thao Đạo Quỷ Tào Chính
82. Địa Ma Tinh – Vạn Lý Kim Cương Tống Vạn
83. Địa Yêu Tinh – Mô Tước Thiên Đỗ Thiên
84. Địa U Tinh – Bệnh Đại Trùng Tiết Vĩnh
85. Địa Phục Tinh – Kim Nhỡn Bưu Thi Ân
86. Địa Tịch Tinh – Đả Hổ Tướng Lý Trung
87. Địa Không Tinh – Tiểu Bá Vương Chu Thông
88. Địa Cô Tinh – Kim Tiền Báo Tử Thang Long
89. Địa Toàn Tinh – Quỷ Kiểm Nhi Đỗ Hưng
90. Địa Đoản Tinh – Xuất Lâm Long Trâu Uyên
91. Địa Giốc Tinh – Độc Giác Long Trâu Nhuận
92. Địa Tú Tinh – Hãn Địa Hốt Luật Chu Quý
93. Địa Tàng Tinh – Tiểu Diện Hổ Chu Phú
94. Địa Binh Tinh – Thiết Tý Phụ Xái Phúc
95. Địa Tổn Tinh – Nhất Chí Xoa Xái Khánh
96. Địa Nô Tinh – Thôi Mệnh Phán Quan Lý Lập
97. Địa Sát Tinh – Thanh Nhỡn Hổ Lý Vân
98. Địa Ác Tinh – Một Diện Mục Tiêu Đỉnh
99. Địa Xú Tinh – Thạch Tướng Quân Thạch Dũng
100. Địa Số Tinh – Tiểu Uý Trì Tôn Tân
101. Địa Âm Tinh – Mẫu Đại Trùng Cố Đại Tẩu
102. Địa Hình Tinh – Thái Viên Tử Trương Thanh
103. Địa Tráng Tinh – Mẫu Dạ Xoa Tôn Nhị Nương
104. Địa Liệt Tinh – Hoạt Diêm La Vương Đình Lục
105. Địa Kiện Tinh – Hiểm Đạo Thần Úc Bảo Tứ
106. Địa Hao Tinh – Bạch Nhật Thử Bạch Thắng
107. Địa Tặc Tinh – Cổ Nhượng Tao Thời Thiên
108. Địa Cẩu Tinh – Kim Mao Khuyển Đoàn Cảnh Trụ

Read Full Post »