Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 7th, 2009

Một số mỹ nhân trong lịch sử và văn học Trung Hoa thường được vẽ trên gốm sứ mỹ thuật TQ

the_four_beauties_image0

Tứ đại mỹ nhân, trái qua phải: Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương quý phi

Trên gốm sứ

gom1

gom2

Trên bình phong sơn mài

szcg8333-20090303071556

chinese_ancient_four_beauties

Trên tranh cuộn

 

Tây Thi

Tây Thi

Chiêu Quân

Chiêu Quân

Điêu Thuyền

Điêu Thuyền

Dương quý phi

Dương quý phi

 

Và với sự tái tạo táo bạo của nghệ sĩ vi tính

image

Võ Tắc Thiên
Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đại đế (624 – 705), cổ vãng kim lai duy chỉ có 1 người này. Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cũng có các tiểu nữ hoàng khác từng ngồi trên bảo tọa của hoàng đế, nhưng các quan điểm hiện nay chỉ xem Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất, bởi vì bà lên ngôi hoàng đế bằng chính thực lực của bản thân, không phải là tượng gỗ nghe theo sự điều khiển của kẻ khác.

votacthien

Lạc nhạn Vương Chiêu Quân
Thời Hán Nguyên Đế tại vị, nam bắc giao binh, vùng biên giới không được yên ổn. Hán Nguyên Đến vì an phủ Hung Nô phía bắc, tuyển Chiêu Quân kết duyên với thiền vu Hô Hàn Tà để lưỡng quốc bảo trì hoà hảo vĩnh viễn. Trong một ngày thu cao khí sảng, Chiêu Quân cáo biệt cố thổ, đăng trình về phương bắc. Trên đường đi, tiếng ngựa hí chim hót như xé nát tâm can của nàng; cảm giác bi thương thảm thiết khiến tim nàng thổn thức. Nàng ngồi trên xe ngựa gảy đàn, tấu lên khúc biệt ly bi tráng. Nhạn bay về phương nam nghe thấy tiếng đàn, nhìn thấy thiếu nữ mỹ lệ trên xe ngựa, quên cả vỗ cánh và rơi xuống đất. Từ đó, Chiêu Quân được gọi là “Lạc Nhạn”.
vuongchieuquan

Trầm ngư Tây Thi
Thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, Việt quốc có 1 cô gái giặt áo, ngũ quan đoan chính, phấn diện đào hoa, tướng mạo hơn người. Khi cô giặt áo bên bờ sông, bóng cô soi trên mặt nước sông trong suốt làm cô thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy ảnh cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó,người trong vùng xưng tụng cô là “Trầm Ngư”.

taythix
Trác Văn Quân
của Tư Mã Tương Như thời Hán

tracvanquan

Tiết Đào
Nữ thi nhân thời Đường, người gọi là Nữ Hiệu Thư, từng xướng họa cùng thi nhân nổi tiếng đương thời Nguyên Trẩn, thực lực không thua kém. Tác phẩm tiêu biểu : Ngô Đồng Thi (làm khi mới 8 tuổi)

tietdao

Thượng Quan Uyển Nhi
Cháu gái Thượng Quan Nghị, hiệu xưng là Cân Quốc Thủ Tướng đầu tiên. Thời Đường Cao Tông, cháu gái tể tướng Thượng Quan Nghị là Thượng Quan Uyển Nhi, thông thuộc thi thư, không những biết ngâm thơ viết văn mà còn hiểu biết chuyện xưa nay, thông minh mẫn tiệp dị thường.

thuongquanuyennhi
Thái Diễm
Tức Thái Văn Cơ, con gái của quan Nghị Lang Thái Ung thời Đông Hán
thaidiem1
Tạ Đạo Uẩn
Cháu gái Tạ An, người xuất hiện trong điển “Vịnh Nhứ Tài”.

tadaouan
Hoa Nhị Phu Nhân
Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn từng ngưỡng mộ tài danh của Hoa Nhị Phu Nhân. Hoa Nhị Phu Nhân là Phí Quý Phi của Hậu Thục Hậu Chủ – Mạnh Xưởng, xuất thân là 1 ca kỹ ở Thanh Thành (nay ở phía Đông Nam thành phố Giang Yển). Tương truyền “Hoa Nhị Phu Nhân Cung Từ” có hơn 100 biến, trong đó thật ra chỉ có hơn 90 biến. Khi Tống diệt Hậu Thục, chỉ dùng có 1 vạn quân, 14 vạn quân Hậu Thục không chiến mà hàng, Hoa Nhị Phu Nhân theo Mạnh Xưởng lưu vong về phương bắc, đêm nghỉ ở Gia Minh dịch trạm, cảm hoài nỗi buồn nước mất nhà tan, đề lên vách quán bài “Thái Tang Tử”. Nhưng vì quân kỵ thôi thúc nên bị mất hết một nửa, cứ viết được 1 chữ lại rơi lệ.

hoanhiphunhan
Hầu Phu Nhân
Tùy Dương Đế Dương Quảng tại vị, quảng cáo cao lâu, bắt hàng ngàn thiên hạ mỹ nữ nhốt vào trong đó, Hầu Phu Nhân chính là 1 trong số hàng ngàn cung nữ đó mà suốt cả cuộc đời cũng chưa hề gặp được Tùy Dương Đế, cuối cùng tự ải mà chết.

hauphunhan
Hoa nhượng Dương Quý Phi
Đường Triều Khai Nguyên niên, có một thiếu nữ tên gọi Dương Ngọc Hoàn được tuyển vào cung. Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kềm được, buông lời than thở : “Hoa a, hoa a ! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy ?”. Lời chưa dứt lệ đã tuông rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại Hàm Xú Thảo (cây mắc cỡ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là “Hoa Nhượng”.

duongquiphi
Chân Hoàng Hậu
Sau khi Tào Phi xưng đế, sủng hạnh Quách hoàng hậu, Quách hậu cậy đắc sủng nên gièm pha Chân hoàng hậu, từ đó Chân hoàn hậu thất sủng. Sau khi bị vua bỏ lơ không nói đến, từ “Đường Thượng Hành” có thể đọc thấy được lòng tương tư cực chí của một người vợ đối với trượng phu, một lòng thâm tình vô hối. Sự chờ đợi của Chân hoàng hậu đáng thương cuối cùng chỉ là một tờ giấy chết của Tào Phi. Thậm chí sau khi chết, thi thể phải lấy tóc che mặt, lấy trấu lấp miệng, chịu nỗi khổ vũ nhục và lăng ngược.
chanhoanghau
Bế nguyệt Điêu Thuyền
Điêu Thuyền bái nguyệt ở hậu hoa viên của Tư Đồ Vương Doãn, đại thần của Hán Hiến Đế thời Tam Quốc, đột nhiên có một cơn gió nhẹ thổi đến, một vầng mây trôi che khuất mặt trăng. Đúng lúc đó, Vương Doãn bước ra nhìn thấy. Để khen con gái nuôi mình xinh đẹp như thế nào, Vương Doãn thường nói với mọi người rằng con gái mình đẹp đến nổi trăng sáng nhìn thấy cũng phải trốn vào sau lưng mây. Vì vậy, Điêu Thuyền được mọi người xưng tụng là “Bế Nguyệt”.

dieuthuyen
Ban Tiệp Dư
Ban Tiệp Dư là con nhà danh môn, còn trẻ đã học thành tài, thời Hán Thành Đế được lập làm Tiệp Dư. Chị em Triệu Phi Yến sau khi đắc sủng, ganh ghét tài năng phẩm hạnh của Ban Tiệp Dư, Ban Tiệp Dư ngày đêm lo sợ nên xin theo hầu thái hậu ở cung Trường Tín. Có thể bài “Đoàn Phiến Thi” được sáng tác tại cung Trường Tín, bài thơ nhỏ này dùng từ thái mới mẻ, tình như ai oán, biểu hiện thật ủy uyển hàm súc, có một loại khí độ oán mà không giận.

bantiepdu1

Ban Chiêu
Em gái của Ban Cố, Ban Siêu. Ban Cố soạn Hán Thư, bộ sử nối tiếp Sử Ký của Tư Mã Thiên, Hán Thư chưa kịp hoàn thành thì Ban Cố bị Lạc Dương Lệnh hãm hại mà chết, Ban Chiêu giúp anh hoàn tất phần “Thiên Văn Chí” trong Hán Thư.
banchieu

Trần viên Viên

Cuối đời nhà Minh, thời Sùng Trinh hoàng đế.

tranvienvien

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC


Advertisements

Read Full Post »

Sắc hoa của tranh thủy mặc
Tranh thủy mặc khi mới ra đời là thoát thai từ nghệ thuật thư pháp (nghệ thuật viết chữ) của Trung Quốc. Hội họa cổ điển của Trung Quốc không mang tính chất miêu tả ngoại vật như bên phương Tây là truyền thần cảnh vật, mà chủ yếu là mang một ý nghĩa để cho người xem tự mình tìm hiểu lấy. Không những đường nét nói lên ý nghĩa mà chính những khoảng trống cũng quan trọng không kém. Họa gia vẽ một bức tranh thủy mặc trước hết phải là một thư gia và đường nét bút mực quan trọng hơn việc ghi hình ảnh trước mắt lên giấy vải.

Một bức tranh thủy mặc bao giờ cũng phải có thêm những dòng chữ lạc khoản của chính tác giả hay một người khác, và nét nào là nét vẽ, nét nào là nét chữ không phải dễ dàng phân biệt.

Trường phái vẽ tranh thủy mặc được công nhận bắt đầu từ thời Bắc Tống (950-1120). Lúc đó trong giới họa gia vốn vẫn dùng màu sắc theo đường lối từ xưa, và nặng về hình thức, màu sắc, lấy kỹ thuật làm chủ. Nhưng có một người vốn luôn luôn thích tìm tòi cái mới, đó là Tô Đông Pha. Ông ta ngoài nổi tiếng về thơ văn, còn là người viết chữ rất đẹp, và ông đã đưa thư pháp của mình vào làm họa pháp, không cầu kỳ màu sắc. Và từ đó đường lối vẽ tranh thủy mặc ra đời. (Tất nhiên người ta vì trọng Tô Đông Pha nên mới gán cho ông làm thủy tổ của tranh thủy mặc, mặc dù đường lối dùng mực đen, giấy trắng để vẽ vốn đã có từ lâu). Trường phái vẽ tranh thủy mặc là vẽ theo hứng, dùng một màu nhưng đậm nhạt, khác nhau để nhấn mạnh chủ ý. Vẽ kiểu này ít câu thúc, nhiều sáng tạo và không chú trọng đến kỹ thuật như trường phái cổ điển.
Hội họa Trung Quốc cổ thường được chia làm năm loại chính là bình, sách, quyển, trục và phiến. Lố chia này dựa trên cơ sở bức họa được vẽ ra sẽ có mục đích treo như thế nào. Đây chính là điểm khác biệt trong cách chia so với hội họa của phương Tây.

– Bình là bốn, sáu hay tám bức tranh treo dọc cùng khuôn thước (nhưng đôi khi bức đầu và bức cuối nhỏ hơn một chút) đuợc vẽ cùng một đề tài hoặc liên tục, hoặc tương phản như mai, lan cúc, trúc hay xuân hạ thu đông. Tranh loại này có thể treo trên tường hay dùng để ngăn phòng gọi là bình phong (chắn gió).

– Sách là nhiều bức tranh đóng thành một tập cùng một đề tài nhưng khác chi tiết, hoặc nhiều đề tài.

– Quyển là loại tranh cuộn theo chiều ngang vốn do gốc tích từ những thanh tre nối với nhau. Quyển được vẽ từ phải sang trái và do vậy cũng được mở từ phải sang trái vì người Tàu đọc từ trên xuống dưới, phải sang trái nên khi xem một họa quyển, người ta cũng đi theo thứ tự đó. Chiều dài quyển không giới hạn có khi chỉ một mảnh nhưng lại rất dài hàng mét.

– Trục được vẽ theo chiều dọc từ trên xuống dưới và do vậy các bức tranh cũng được treo theo chiều dọc từ trên xuống dưới.

– Phiến tức là hình vẽ trên quạt. Trước đây Trung Quốc chỉ có loại quạt phẳng hình tròn, hoặc dưới vuông trên tròn. Sau đó quạt xếp được du nhập từ bên ngoài vào (Tây Vực, Ba Tư) khoảng đời Tống. Phiến nguyên thủy là những hình vẽ trang điểm cho các quạt dùng trong triều đình, vua chúa, phi tần và các quan. Người ta thường vẽ hoặc viết một bài thơ trên đó.

Sắc hoa của tranh thủy mặc (click trên hình để xem full size)

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

 

ALBUM HÌNH TOÀN TẬP GỐM SỨ CỔ TQ –

Thời kỳ từ triều đại Hoàng Đế Shunzhi đến đời Hoàng Đế QianLong

Đây là Album hình mô tả theo trình tự thời gian từ thời kỳ đồ đá mới đến hết triều đại nhà Thanh của các hiện vật gốm sứ  cổ Trung Hoa tiêu biểu nhất được trưng bày tại gallery gốm sứ – Viện bảo tàng Thượng Hải từ ngày 23 -24 tháng 8 năm 2008. Đây là bộ sưu tập xuyên suốt nhất của lịch sử nghệ thuật  gốm sứ Trung Hoa mà tác giả từng biết. (Được chụp bởi Gary L. Todd, tiến sĩ, giáo sư Sử Học tại trường đại học Sias International, Xinzheng, Henan, China.)

Các triều đại nhà Thanh:

Shunzhi

1644 – 1661

Kangxi

1662 – 1722

Yongzheng

1723 – 1735

Qianlong

1736 – 1795

Jiaqing

1796 – 1820

Daoguang

1821 – 1850

Xianfeng

1851 – 1861

Tongzhi

1862 – 1874

Guangxu

1875 – 1908

Xuantong

1908 – 1911

Shunzhi

1644 – 1661

Kangxi

1662 – 1722

Yongzheng

1723 – 1735

Qianlong

1736 – 1795

Jiaqing

1796 – 1820

Daoguang

1821 – 1850

Xianfeng

1851 – 1861

Tongzhi

1862 – 1874

Guangxu

1875 – 190

Xuantong

1908 – 1911

 

 

 

 

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »