Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 3rd, 2009

ĐỒ GỐM CỔ TÌM THẤY Ở SÔNG ĐỒNG NAI

Nói đến miền đất Gia Định không thể không chú ý đến vai trò của con sông Đồng Nai, nhất là trong giai đoạn từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Cho đến trước lúc này, Gia Định vẫn là một vùng đất hoang sơ hầu như chưa được khai phá, là nơi cư trú lâu đời của một số tộc người như Mạ, Stiêng, Kơho, Mnông… nhưng dân cư thưa thớt, chủ yếu ở vùng thượng lưu sông Đồng Nai với phương thức canh tác nương rẫy và kỹ thuật sản xuất thô sơ. Cuộc sống ở đây chỉ thực sự sôi động với sự xuất hiện của những nhóm cư dân mới, đó là người Việt từ vùng Thuận – Quảng và sau đó là người Hoa “bài Thanh phục Minh”, đến cư trú và bắt đầu khai thác vùng đất màu mỡ dọc đôi bờ trung và hạ lưu sông Đồng Nai. Phần đông lưu dân di cư một cách tự phát, họ tổ chức thành từng nhóm một vài gia đình hoặc cử những người khỏe mạnh đi trước đến vùng đất mới, tạo dựng cơ sở rồi đón gia đình vào sau. Phương tiện lưu chuyển chính là ghe – thuyền bởi lúc bấy giờ, việc đi lại giữa các phủ miền Trung với vùng Gia Định chủ yếu bằng đường biển. Tất nhiên cũng có những người không đi bằng ghe thuyền, chấp nhận mạo hiểm trèo đèo lội suối đi bằng đường bộ, có khi ở lại một địa phương nào đó một thời gian rồi lại tiếp tục tìm đến vùng đất mới Đồng Nai. Số này có lẽ ít hơn bởi đường đi quá gian nan và mất nhiều thời gian. Tiến trình Nam tiến này ngày càng trở nên mạnh mẽ, qui mô hơn, nhất là sau khi các chúa Nguyễn thiết lập nền hành chính ở đất Gia Định. Câu ca dao: “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định – Đồng Nai thì về” đã cho chúng ta hình dung về con đường đi đến vùng đất mới là từ cửa Cần Giờ ngược sông Đồng Nai đến ngã ba Nhà Bè, từ đó hoặc theo sông Sài Gòn, hoặc theo sông Đồng Nai, các thế hệ lưu dân định cư trên các giồng đất cao ven sông, cù lao giữa sông rồi tiến dần khai phá vùng bán sơn địa. Không chỉ phát triển nông nghiệp, lưu dân còn phát triển các nghề thủ công và thương nghiệp. Chứng tích của cuộc sống sôi động này phần nào đã được phản ánh qua hàng ngàn đồ gốm cổ được người dân tìm thấy ở sông Đồng Nai. Phần lớn những đồ gốm này ngư dân vớt được khi đánh bắt cá, tập trung ở các khúc sông gần Cù Lao Rùa (Bình Dương), Cù Lao Phố (Biên Hòa), ven các cù lao nhỏ thuộc quận 9 thành phố Hồ Chí Minh… Lúc đầu họ chỉ nhặt những chiếc bình, khạp còn nguyên, mang về trồng cây kiểng hay dùng đựng đồ, còn các loại đồ gốm nhỏ thì liệng lại xuống sông hoặc bỏ lăn lóc trong góc vườn nhà. Sau này, khi nhận biết giá trị kinh tế của những cổ vật này thì nó đã trở thành đối tượng “săn tìm” của nhiều ngư dân, họ dùng lưới rà sát đáy sông nên vớt được khá nhiều đồ gốm còn nguyên vẹn và khá phong phú về loại hình. Phần lớn những cổ vật này l¨¤ các chất liệu đất nung, sành, gốm có men nâu, men ngọc… Dựa vào chức năng và loại hình có thể phân ra ba nhóm chính:

Nhóm I: Dụng cụ đun nấu ăn uống

Đồ vật thuộc nhóm này có nhiều kiểu dáng nhất, chất liệu đều là đất nung, gốm có các màu nâu đỏ, xám, xám đen, từ loại mỏng mịn đến thô dày. Gồm các loại hình nồi, ơ, trách, âu liễn, bát, tô, đĩa, cốc, ấm, siêu nấu nước… Đặc biệt có nhiều nồi đất nhưng hình dáng giống kiểu nồi bằng đồng mà trước những năm 1960 ở vùng nông thôn Bắc bộ vẫn còn phổ biến.

Nhóm II: Đồ dùng sinh hoạt

Số lượng nhóm này tuy không nhiều lắm nhưng là đồ khá “cao cấp” vì thường là đồ gốm có phủ men nâu, men ngọc, trắng ngà vẽ men lam. Gồm các loại đèn gốm, bình vôi, ống nhổ, ấm trà, bát nhang, các kiểu bình, lọ, chai, chậu (vịm), bình hình ống, cối… Dễ dàng nhận thấy nhiều đồ dùng là của người Hoa, như loại đèn gốm có men trắng hay xanh ngọc, bầu đèn có 1, 2 hay 3 tim đèn, đèn gốm tráng men là để dùng đựng dầu thực vật không bị thấm. Có nhiều kiểu như đèn có quai treo dùng trên ghe xuồng, đèn có chân đế cao thấp khác nhau, đèn có đĩa hứng tàn… Khác với một loại đèn cổ có từ thời văn hóa Óc Eo ở Nam bộ làm bằng đất nung, rất dày và thô nặng, đốt cháy bằng mỡ động vật hay chất dầu nhựa cây.

Nhóm III: Các loại đồ đựng

Loại này vô cùng đa dạng và kích cỡ lớn. Đồ gốm dùng để chứa đựng chất liệu rất chắc, thường là đồ sành (mà người Nam bộ hay gọi đồ da đá da lu), hầu hết có men nâu đen nhưng do ngâm nước lâu ngày nên bị tróc men. Nhiều đồ vật được trang trí hoa văn đơn giản như sóng nước, đường viền, hay những núm nhỏ hình hoa, hình bướm… Có các kiểu đồ đựng như: bình, vò, hũ, chóe, khạp… Niên đại và nguồn gốc những đồ vật này khá phức tạp. Đây cũng là nhóm có số lượng lớn nhất.
Tác giả đã khảo sát nhiều sưu tập đồ gốm cổ vớt từ sông Đồng Nai hiện đang lưu giữ tại một số bảo tàng và nhiều sưu tập tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương… từ đó nhận biết một vài đặc điểm sau đây.

1. Gốm cổ sông Đồng Nai rất phong phú và đa dạng về loại hình.

Hầu hết các vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của người dân đều được tìm thấy ở đây. Trừ một số ít đã có dấu vết sử dụng (như ám khói đun nấu, bị sứt mẻ) còn lại hầu hết là đồ còn mới, chứng tỏ đây còn là những sản phẩm hàng hóa trên đường lưu chuyển. Nghiên cứu loại hình, kiểu dáng đồ dùng sẽ cho biết nhiều thông tin về cuộc sống, sinh hoạt vật chất và tinh thần của cư dân thời kỳ này.
Đồ gốm cổ sông Đồng Nai đã thể hiện kỹ thuật làm gốm cổ truyền của Đông Nam Á và Nam Trung Quốc qua một số phương pháp sau:

– Nặn tay bằng dải cuộn: dùng một dải đất nhỏ cuộn chồng lên nhau là phương pháp chủ yếu để chế tạo các đồ dùng ở nhóm I (dụng cụ đun nấu ăn uống) và một số loại hình ở nhóm II (đèn 2 đĩa bằng đất nung, ấm nấu nước, 1 số kiểu nắp nồi…). Các loại hũ, ghè, bình (kích thước nhỏ đến lớn) ở nhóm III cũng được chế tạo bằng cách này. Dấu vết dải cuộn còn để lại mặt trong của hiện vật, mặt ngoài được gắn miết khá kỹ và có một lớp áo gốm láng, mịn. Tuy nhiên đồ vật dày nặng vì phụ thuộc vào độ dày của dải đất (còn gọi là con chạch đất).

– Nặn tay bằng khối đất: Đặt một khối đất vừa đủ trên bàn kê và dùng tay nhồi nắn thành hình đồ vật, để lại mặt trong đồ vật dấu hòn kê hoặc ngón tay, bên ngoài cũng được miết khá láng. Phương pháp này làm được những đồ gốm tương đối mỏng, đáy và thân tròn đều.

– Phương pháp in khuôn: sử dụng khuôn tạo hình đồ vật, đất cắt thành từng miếng mỏng theo yêu cầu, áp sát vào mặt trong của khuôn kết hợp với tay ấn: khuôn thường là một phần của sản phẩm (như phần dưới đáy của nồi gốm – phần trên với cổ và miệng được nặn tay rồi gắn chắp vào phần dưới) hoặc khuôn 2 mảnh, dấu ghép khuôn để lại khá rõ ở dọc thân đồ gốm (nồi gốm hình nồi đồng) hoặc ghép ngang thân (siêu nấu nước).

Sau khi dùng hai phương pháp trên để tạo dáng, đồ gốm được đặt lên bàn xoay để chỉnh sửa cho mịn láng, mỏng, tròn đều, để gắn chắp một vài bộ phận khác như núm cầm, quai treo, và trang trí hoa văn… Cách tạo hoa văn cũng rất đơn giản: dùng dụng cụ như răng lược tạo hoa văn sóng nước hay đường vạch kiểu “khuôn nhạc”, một vài đồ vật có hoa văn in sẵn ở khuôn. Những đồ gốm có men xanh trắng hoa văn thường vẽ dưới men, một số đồ gốm hoa văn men màu vẽ trên men nền trắng ngà.
Đặc biệt có một số đồ đựng có lỗ khoan nhỏ ở giữa đáy hoặc bên thân gần sát đáy. Dấu khoan tạo ra trước khi đồ gốm được nung, chưa rõ chức năng những đồ gốm có lỗ khoan này.

2. Nguồn gốc và niên đại:

Nghiên cứu loại hình, kiểu dáng và kỹ thuật chế tạo những đồ gốm này, có thể nhận biết phần lớn những dụng cụ đun nấu ăn uống, sinh hoạt… có nguồn gốc gốm Việt, như nồi đất, nồi kiểu nồi đồng, ấm nấu nước, bình vôi, bát đĩa… gốm Nam Trung Quốc như siêu nấu nước, nồi có tay cầm, đèn gốm, nhiều kiểu hũ, bình; gốm Chăm như nồi, trách, trã, ghè ống, bình vôi có núm cầm…. Hầu hết có niên đại khoảng thế kỷ 17 – 18, số ít có niên đại sớm hơn (thế kỷ 15 – 16) như loại bình vôi men ngọc, muộn hơn như đèn gốm men trắng có quai treo phổ biến vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20.
Kết quả các đợt điền dã của chúng tôi ở khu vực Cù Lao Phố – Đồng Nai cho biết, hầu hết các loại hình đồ gốm trên là sản phẩm của các lò gốm dọc Rạch Lò Gốm trên Cù Lao Phố. Khoảng cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18, nơi đây đã là một cảng thị sầm uất, vừa phát triển hoạt động thương mại, đồng thời vừa là trung tâm các làng nghề thủ công: làm gốm, dệt chiếu, rèn đồ sắt… Kỹ thuật sản xuất gốm ở đây là sự phối hợp và phát triển kỹ thuật làm gốm của người Chăm, người Việt với truyền thống kỹ thuật làm gốm Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Phước Kiến) mà lưu dân người Hoa mang vào từ khoảng nửa sau thế kỷ 17. “Các lò gốm của người Chăm, người Việt, người Hoa ra đời trước năm 1698 (thời điểm thành lập phủ Gia Định) đều tập trung ở quanh một con rạch thuộc xã Hiệp Hòa hiện nay nên có tên là Rạch Lò Gốm. Giai đoạn 1698 – 1776, dinh Trấn Biên được thành lập, gốm sản xuất ở địa phương còn được gọi là gốm Trấn Biên chánh yếu là gốm Cù Lao Phố” (1). Ngoài ra còn có nhiều đồ dùng mà người Việt, người Hoa mang theo từ quê hương vào vùng đất mới trong buổi đầu khai phá. Một số hình bình vôi sành, hũ sành tìm thấy ở đây đã được xác định là sản phẩm khu lò sản xuất đồ sành ở Mỹ Xuyên (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế, khai quật 1993 (2). Đây là di tích lò gốm chuyên sản xuất nhiều loại đồ sành như hũ, ghè, bình vôi. Dựa vào kỹ thuật, những người khai quật cho rằng có nhiều khả năng chủ nhân khu lò gốm sành Mỹ Xuyên là người Việt, những sản phẩm có nhiều loại hình gốm Việt, gốm Chăm, niên đại khoảng thế kỷ 17 – 18. Một phần những sản phẩm ấy đã theo chân những đoàn lưu dân Ngũ Quảng vào đến vùng đất mới Gia Định – Đồng Nai.
Ngoài những cổ vật trên, đáng lưu ý còn có những cổ vật mà nguồn gốc từ xa hơn. Các loại hình đồ đựng như bình con tiện, bình củ tỏi, vò gốm men nâu… là gốm Khmer, niên đại thế kỷ 11 – 12, gốm Thái Lan thế kỷ 14 – 15 có hộp men ngọc nắp hình tháp (stupa), các kiểu hũ cổ thắt có quai nhỏ trên vai… Vào thế kỷ 12 – 13 khi vương triều Angkor hưng thịnh và giai đoạn Thái Lan phát triển vào thế kỷ 14 – 15, gốm Khmer và gốm Thái Lan được xuất cảng rộng rãi đến vùng hạ lưu sông Đồng Nai, lưu vực sông Mêkông, bán đảo Malaixia và đến tận quần đảo Indonexia… (3). Sông Đồng Nai đã là con đường giao thương của nội địa bán đảo Đông Dương với khu vực Đông Nam Á hải đảo.

3. Cổ vật tìm thấy trong lòng sông Đồng Nai không chỉ có đồ gốm (chiếm số lượng nhiều nhất) mà còn có đồ đá (bàn nghiền, chày nghiền, tượng thần, phù điêu, rìu cuốc đá mài…), đồ đồng (rìu, giáo, “qua” đồng – một loại vũ khí cổ của Trung Quốc, nồi đồng)… Số lượng cổ vật có nguồn gốc từ sông Đồng Nai mà một số bảo tàng thu mua được chắc chắn chỉ chiếm một phần nhỏ so với số lượng hiện vật hiện đang còn được lưu giữ trong nhân dân. Tuy vậy, bước đầu nghiên cứu sưu tập hiện vật này đã giúp chúng ta phần nào hình dung được cuộc sống của cư dân cổ nơi đây, nhất là về vai trò quan trọng của sông Đồng Nai trong các giai đoạn lịch sử.

Từ thời tiền sử, đôi bờ Đồng Nai từ Cù Lao Rùa (Bình Dương), Cù Lao Phố (Biên Hòa) xuống đến vùng cận biển Bà Rịa – Vũng Tàu và cửa biển Cần Giờ (TP.HCM) dày đặc các di tích khảo cổ học. Sau thời kỳ của văn hóa Óc Eo (thế kỷ I – thế kỷ 7), lưu vực Đồng Nai (từ Đồng Nai thượng xuống cửa biển) được coi là địa bàn của một “tiểu quốc” trải dọc theo đôi bờ Đồng Nai. Trong tiểu quốc này có trung tâm Tôn giáo là khu di tích Cát Tiên, có trung tâm chính trị là Thành cổ (khu vực Biên Hòa) và một trung tâm kinh tế là Cảng thị Cần Giờ. Mô hình của tiểu quốc này tương tự các tiểu quốc – tiểu vùng – của vương quốc Champa (như tiểu vùng Amavarati Quảng Nam Đà Nẵng: Sông Thu Bồn với Thánh địa Mỹ Sơn, thành cổ Trà Kiệu và cảng thị Đại Chiêm hải khẩu – Hội An). Vì là một tiểu quốc nằm giữa nên khi thì chịu ảnh hưởng của Chân Lạp, khi thì chịu sức ép của Champa song vẫn có sắc thái riêng của mình. Sắc thái ấy thể hiện ở khu di tích Cát Tiên (Đồng Nai Thượng) có niên đại thế kỷ 8 đến thế kỷ 10 (4).Những di tích di vật tìm thấy tại vùng hạ lưu sông Đồng Nai có niên đại thế kỷ 10 đến thế kỷ 14 “mang đặc điểm vùng đệm, ít chịu ảnh hưởng của Angkor cũng như của Champa, truyền thống văn hóa hậu Óc Eo tiếp tục tồn tại”(5). Từ khoảng thế kỷ 14 miền Đông Nam Bộ trở nên hoang vu cho đến thế kỷ 16 – 17 lưu dân người Việt, người Hoa vào khai khẩn, lập nên Cù Lao Phố sầm uất. Thực chất, Cù Lao Phố là cảng sông sâu trong nội địa, là trung tâm của vùng đất mới được khai phá. Do cuộc chiến liên tục giữa Tây Sơn và Nguyễn Anh, từ năm 1776 trở về sau Cù Lao Phố lụi tàn. Đồng thời công cuộc khẩn hoang được mở rộng về miền Tây đã đẩy nhanh sự phát triển của Bến Nghé – Sài Gòn. Cảng Bến Nghé – cũng là cảng sông trong nội địa – với hệ thống kênh rạch chằng chịt ngày càng tỏ rõ vai trò trung tâm thông thương giữa các miền Đồng Nai – Vàm Cỏ – Cửu Long với nhau và với bên ngoài qua cửa biển Cần Giờ. Các cuộc khảo sát, thám sát khảo cổ tại khu vực đường Tôn Đức Thắng, rạch Thị Nghè (cảng Bến Nghé xưa), trên các giồng đất đỏ ven các sông, rạch ở Cần Giờ… đã tìm thấy rất nhiều hiện vật có cùng loại hình, cùng niên đại với đồ gốm gia dụng tìm thấy trong lòng sông Đồng Nai.
Nghiên cứu lịch sử – văn hóa – xã hội vùng đất Nam Bộ, không thể không nhìn nhận vị trí địa – lịch sử và bản chất địa – văn hóa quan trọng của sông Đồng Nai. “Khảo cổ học lòng sông Đồng Nai” đã là yêu cầu được đặt ra trước mắt. Nếu chương trình được thực hiện sẽ mang lại nhiều tư liệu quý giá cho nhiều lãnh vực và những nhận thức sâu rộng mà một vài nhận xét trên đây chỉ là những ý kiến sơ bộ .

_________________________________________________________________

THAM KHẢO

1. Trần Hiếu Thuận: Có một “đời sống văn hóa gốm” ở Biên Hòa. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 5/97.

2. Trần Anh Dũng: Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra và khai quật khu sản xuất đồ sành thôn Mỹ Xuyên, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Tư liệu Thư viện Viện Khảo cổ học – Hà Nội.

3. Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển. Nhà xuất bản Đồng Nai, 1998.

4. Trần Quốc Vượng: Về nền tảng văn hóa Dân gian ở vùng Đông Nam Bộ. Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 1998.

5. Lê Xuân Diệm: Biên Hòa – Đồng Nai trước thời khai phá của cộng đồng người Việt. T/c Văn hóa nghệ thuật, số 11/98.

Tiến Sĩ NGUYỄN THỊ HẬU

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phố đồ giả cổ Nghi Tàm: Lập lờ đánh lận con đen
Phóng sự – Ký Sự

Từ bia đá, rùa đá, hoành phi, câu đối, hoặc các loại đồ gốm sứ men lam, men ngọc, hoa nâu…, cho đến cả những đồ đồng, đồ đá từ thời Đông Sơn, bất kỳ cái gì được coi là “đồ cổ” đều có mặt trên con phố Nghi Tàm (quận Tây Hồ – Hà Nội).  Không ít cửa hàng  ở đây trục lợi bằng cách “mập mờ” thật thật, giả giả…Kĩ nghệ dắt “mòng”Sau một vòng thăm dò, tôi dừng lại ở một cửa hàng lớn giữa phố. Hai bên là hai pho tượng phỗng quỳ bằng đá, giữa nhà được đặt một bộ bát bửu cỡ lớn thường thấy ở các đình chùa, phía sau là một bộ hương án mà lớp sơn son thiếp vàng đã bong tróc non nửa, rồi la liệt chó đá, nghê đất nung và ăm ắp các loại bình, đĩa gốm, trống đồng, chuông đồng…
Thấy tôi đặt vài câu hỏi tỏ vẻ có chút kiến thức về đồ cổ, ông chủ to béo trông khá dữ tợn vỗ vai đầy vẻ xuề xoà: “Anh hỏi thật chú, chú muốn mua đồ phục chế hay đồ nguyên bản?”. “Chẳng giấu gì bác, xưa nhà em có mấy thứ đồ gia bảo, chiến tranh loạn lạc rồi mất cả, ông cụ em cứ thở vắn than dài. Chả mấy ông cụ hai năm mươi, chiều ý cụ em muốn tìm bộ đỉnh đồng, đôi câu đối và đôi lọ lộc bình để làm đồ thờ cho ngôi nhà cổ dưới quê. Nhưng cửa hàng bác bán đồ giả cổ, đồ phục chế cơ mà?”, tôi làm vẻ thực thà bày tỏ với ông chủ nọ.

Ông chủ chậm rãi gật gù cười tinh quái: “Việc của các cụ, vả lại là đồ thờ nên anh khuyên chú phải kén đồ “xịn”. Hàng thì có sẵn, riêng đôi câu đối, anh sẽ cho chú một đôi vế đối cực chỉnh. Nhưng anh không để đây đâu, chú mà đi hàng khác thế nào cũng oan gia vạ vịt, mua phải hàng giả mà cứ tưởng đồ cổ thì có tội với các cụ đấy. Chú cầm lấy “các” của anh, 2 giờ chiều nay, hẹn chú ở chỗ này nhé”, trái với vẻ mặt đầy dữ tợn, những lời ông chủ nọ nghe giống như lời khuyên chân thành của bậc đi trước với một người bạn vong niên.

Gốm Chu Đậu.

Cầm “các” của gã to béo tên M. tôi cũng hơi lo, dân chơi đồ cổ luôn gắn với máu giang hồ…

“Cơ sở 2” của ông chủ M. nằm trong một ngách tít sâu ngoài bãi sông Hồng. Sau mấy hồi chuông đến sốt ruột, khuôn mặt ông chủ ló ra sau chiếc lỗ bé tẹo trên cánh cửa xếp, ông chủ mở cửa cười xoà và kéo tuột tôi lên gác…

“Bộ đỉnh này là của một gia tộc thuộc hàng trâm anh thế phiệt ở Bắc Giang. “quân” của tôi phải “phục” mất mấy năm, họ bảo đấy là đồ “truyền tử lưu tôn”, không phải để bán, mãi đến cái dạo gia đình ấy xin việc cho con, quẫn quá nên mới chịu bán”. Căn gác rộng nhưng trở nên quá chật hẹp bới tả pí lù các loại tượng đá, đỉnh đồng, bát đĩa… Ông chủ M. giải thích cho tôi về lai lịch của mấy món đồ. “Làm đồ thờ mà biết được lai lịch thì nhất đấy chú em ạ. Còn hoành phi, tôi có hai bộ chắc hợp với nguyện vọng làm đồ thờ tại gia, tuỳ chú chọn. Mà quên, anh chưa dặn chú đo kích thước nhà, nếu chưa chuẩn thì anh điều “quân” đi tìm bộ khác…”.

Những pho tượng trầm mặc, những chiếc đỉnh đồng có vẻ cũ kỹ… trong căn gác hơi thiếu ánh sáng dễ đánh lừa con người cảm giác về không – thời gian. Chuông điện thoại của ông chủ M. bất chợt reo lên, tôi mừng thầm: “Cơ hội đã đến…”. Theo kinh nghiệm kiểm tra đồ cổ, tôi lựa gỡ một cánh tay của bức tượng Phật bà Quan âm nghìn tay nghìn mắt ra. Ngược lại cái vẻ bề ngoài cũ kỹ, những vết sơn bị bong tróc giống như đã từng chịu sự bào mòn của thời gian hàng mấy thế kỷ, đúng như tôi dự đoán, phần cánh tay nằm phía trong thân tượng vẫn còn mới. Thế mà trước đó mấy phút, gã khoe bức tượng này có từ thế kỉ XVIII! Tôi cười thầm: “Kĩ nghệ của gã này đã cao, nhưng chưa phải là đỉnh”.

“Chú không quyết nhanh dân chuyên nghiệp đến đánh hàng đi Tây hết đấy”, ông chủ M. tỏ ra không mấy vui vẻ khi tôi nói rằng mình muốn khảo giá cho chắc. Tất nhiên, đó là lí do hợp lý nhất để tôi đánh bài chuồn khỏi cái “hang cọp”…

Lừa bịp và chảy máu

Cách đây dăm năm, mới chỉ có khoảng vài cửa hàng kinh doanh đồ giả cổ trên phố Nghi Tàm. Nhưng rồi từ khi thú chơi “trọng cổ, khinh kim” nở rộ, thoắt một cái, đã có khoảng ba chục cửa hàng trương biển đồ cổ, đồ giả cổ. Nếu để ý, chắc hẳn ai cũng thắc mắc rằng, các ông chủ sẽ sống ra sao khi các cửa hàng luôn vắng tanh, vắng ngắt!

Tôi đi thêm vài cửa hàng nữa, lần này với mục đích là tìm một chiếc đĩa hoa lam Trung Quốc làm quà mừng nhà mới cho sếp. Vẫn là những cái vỗ vai, những lời thì thầm như những kẻ đi buôn thuốc phiện. Mặc cho những tấm biển “giả cổ”, “phục chế”, từ những ông chủ quái dị cho đến mấy cậu thanh niên bụi bặm đều khăng khăng khẳng định mình có những đồ cổ độc nhất vô nhị. Nếu tỏ ra có kiến thức về cổ vật, các ông chủ tốt bụng lại cười xoà, “nói thật với chú” hay “chẳng giấu gì anh”, rằng những thứ này chủ yếu bày cho vui mắt, còn thứ hàng “độc” phải cất giữ ở “cơ sở 2″…

Điều lý thú nữa là sự khác biệt về giá cả, một chiếc đĩa hoa lam “tiềm long” (rồng ẩn) đề “Khang Hy chi chế” (làm dưới triều vua Khang Hy nhà Thanh), một cửa hàng đòi 18 triệu, trong khi cùng loại đó, một bà chủ cửa hàng khác kết thúc cuộc mặc cả: “Nể chú em là người trọng cổ, chị lấy chú đúng 5 triệu không bớt một xu”.

Hàng giả cổ trên phố Nghi Tàm có hai loại: giả cổ cấp thấp và giả cổ cao cấp. Đồ giả cổ cấp thấp được bán đúng với nghĩa “giả cổ” của nó, hoạ hoằn lắm mới “bịp” được “gà”. Đồ giả cổ cao cấp được làm đặc biệt tinh vi: Những phương pháp “chăm sóc” đặc biệt như ngâm bùn, bôi a xít… đã “biến” những đồ gốm sứ không mấy giá trị trở thành những lọ hoa Chu Đậu, những lư hương đời Mạc, những đĩa, bát men ngọc thời Lý… với đồ đồng, kĩ nghệ còn tinh vi hơn, sau khi ngâm axít, chôn xuống đất, nó còn được phủ thêm lớp bột đồng cổ… Giới buôn bán cũng không tiếc công “phủ” lên những món đồ này những giai thoại huyền hoặc để tăng giá trị. Sau những qui trình tinh vi ấy, các ông chủ giăng bẫy đợi “mòng”…

Chẳng nói đâu xa, ông Trịnh T., một tay sành chơi trong làng cổ vật bỏ ra tám triệu đồng để mua một chiếc bình bằng đồng thời Đông Sơn. Ông T. trang trọng bày trên giá như một bảo vật. Bất ngờ một hôm, có bậc cao thủ đến chơi nhìn thấy chiếc bình đó đã cười nhạt và lắc đầu. Muốn chứng minh mình không phải là “gà”, ông T. nghiến răng cạo lớp đồng rỉ xanh trước mặt cao thủ kia. Nhưng rồi ông té ngửa: lõi của chiếc bình được làm bằng… vỏ lon Coca cola! Khi đem tâm sự tỏ bày với mấy người đồng đạo thì mới biết kẻ mắc lỡm như vậy không phải là hiếm.

Đồ gốm bày bán la liệt.

Tôi hơi băn khoăn khi thấy trong những thứ đồ ở “cơ sở 2” của ông chủ M., không phải mọi thứ đều là đồ giả. Bằng chứng dễ thấy là những chiếc bát đĩa Chu Đậu vẫn còn nguyên vết hàu bám, mấy chiếc trống đồng biến dạng với những vết thủng lớn (thứ đồ hỏng nặng chỉ có giá trị nghiên cứu, không có giá trị sưu tập, nhưng dân buôn đồ cổ sẽ dùng công nghệ đặc biệt để “mông má” hệt như đồ xịn)…
Đem thông tin này hỏi một tay lão luyện trong làng cổ vật, tôi nhận được một câu cười khẩy: “Thế chú không biết thế nào là “trong thực có hư, trong hư có thực” à, chú chưa nghe dân đồ cổ nói câu “cổ vật thì đi, xú-vơ-nia thì ở” à?”. Dù thấy hơi “lố” khi hỏi vậy, song tôi lại yên tâm hơn với giả định của mình, liên tưởng đến những cổ vật Việt Nam được rao bán đầy trên mạng (điển hình là mạng: http://www.trocadero.com), tôi thấy tay chơi này không hẳn không có lý… Dĩ nhiên, những gì thấy được chỉ là phần nổi của “tảng băng trôi”.

Những tấm biển “phục chế”, “giả cổ” là cái áo an toàn che đậy một thế giới ngầm bên trong mà sự bày biện của những cửa hàng trên con phố Nghi Tàm không phản ánh hết sự sôi động của thế giới đó. “Trong thực có hư, trong hư có thực”, cái lập lờ đó khiến không ít người bị rơi vào những cú lừa bạc triệu, còn những cổ vật thực sự của Việt Nam thì theo những con đường riêng, vẫn “chạy” ra nước ngoài…

Nguyễn Chí Dũng (VTC news)

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phố đồ cổ vỉa hè tại Huế

Những năm gần đây, du khách đến Huế không khỏi tò mò và ngạc nhiên khi trên đường Trần Hưng Đạo đoạn dọc bờ sông Hương bày bán la liệt… đồ cổ. 100m vỉa hè bỗng nhiên trở thành địa điểm giới thiệu sản phẩm cổ xưa của đất Cố Đô.

untitled-11

Vắng khách, buồn vì không có người tán chuyện! Ảnh: Phương Trang.

Tại đây, đồ cổ – vốn tưởng chỉ hợp với không gian viện bảo tàng hay tủ kính nhà những tay chơi chuyên nghiệp – được bày bán rất đa dạng và phong phú về chủng loại, từ “thượng vàng” đến “hạ cám”. Từ đồ cổ xịn đến đồ cũ, đồ giả cổ…; từ những vật dụng cá nhân như lược chải đầu, đèn dầu, đèn pin, mũ, ba lô… đến những đồ cổ có giá trị như: đồ gốm thời Chu Đậu, Chăm, Minh, Thanh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn…

Các loại tiền đồng cổ có khắc tên bằng chữ Hán như: Ba loại tiền Tự Đức Thông Bảo; Hàm Nghi Thông Bảo (mặt lưng có hai chữ “Lục Văn”) hay tiền Tự Đức Bảo Sao (mặt  lưng có  bốn chữ “Chuẩn Tứ Thập Văn”)… bày ra trước mắt khiến du khách không khỏi ngạc nhiên về sự đa dạng.

Các mặt hàng cổ được sắp đặt khiêm tốn, có phần lọt thỏm giữa không khí náo nhiệt của thành phố, nhưng lại có sức cuốn hút kỳ lạ với những du khách, tạo nên một nét nhỏ nhưng hấp dẫn của văn hóa Huế.

Đồ bày bán ở đây đa số là do những người dân vạn đò phát hiện và trục vớt ở sông Hương. Nhà nghiên cứu văn hóa Huế Hồ Tấn Phan gọi đó là sự kiện “vô tiền khoáng hậu”, bởi chính những người dân vạn đò chất phác ấy đã đánh thức đồ cổ sau một thời gian dài ngủ quên dưới lòng sông. Vốn là những người chuyên lấy nghề lặn vớt phế liệu làm kế sinh nhai, họ vô tình vớt được những vật quí. Có cái họ bán ngay, có cái trông đẹp thì đem cất làm kỷ niệm đến khi có người hỏi mua giá cao lại bán. Cứ thế, dần dà họ trở thành những người lặn tìm đồ cổ dưới đáy sông chuyên nghiệp.

untitled-21

Tiền cổ cả nắm! Ảnh: Phương Trang.

Trên một đoạn đường ngắn có tới 6 hàng bày bán đồ cổ gần nhau, chủ hàng lại là con cháu những tay chơi đồ cổ có tiếng ở Huế. Họ thu mua đồ cổ từ dân vạn đò, đồ quý hiếm sẽ giữ lại chơi hoặc đem chào bán cho những tay chơi chuyên nghiệp, còn lại thì bán vỉa hè cho phần lớn người mua là dân du lịch…

Người bán dường như ngồi đây không chỉ để bán, bởi họ sẵn sàng bỏ ra cả giờ đồng hồ hầu chuyện một du khách thừa thời gian lẫn sự tò mò về đồ cổ. Khách gật gù, chủ cứ thế thao thao, chẳng giấu giếm gì, cứ như thể được tâm sự về nghề với du khách cũng là niềm vui.

Vãn chuyện, khách mua được thì mua, không chọn được món đồ nào cũng chẳng sao. Anh Thanh – chủ một quầy đồ cổ vỉa hè, đưa một tập card visit khoe với tôi: “Khách cả đấy, nhưng chẳng ai mua! Họ say đồ cổ, không mua mình cũng sướng!”

Có lẽ, du khách tìm đến đồ cổ vỉa hè để tìm về với văn hóa Việt cổ, để mục thị, để chất vấn, để thẩm định, để đối thoại với những giá trị văn hóa tưởng chừng như đã ngủ quên.

Còn khách du lịch nước ngoài tìm đến đồ cổ vỉa hè cũng là cơ hội để các chủ hàng đồ cổ quảng bá văn hóa Việt ra bạn bè quốc tế. Từ những câu chuyện nhỏ thôi, du khách sẽ biết đến Việt Nam, biết đến Huế nhiều hơn.

Chỉ tiếc, đồ cổ bày bán ở vỉa hè Trần Hưng Đạo phần lớn do dân vạn đò trục vớt nên đa phần không được vẹn toàn như xưa. Công cụ trục vớt quá thô sơ dẫn đến tình trạng cổ vật hư hỏng ít nhiều.

Huế đã có những con phố có “tên”: phố “cà phê”, phố “cơm hến”, thậm chí cả phố “nhậu”, nhưng phố đồ cổ thì chưa thấy. Có ý kiến cho rằng, nên chăng đưa những quầy “đồ cổ vỉa hè” tự phát kia về phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu!?

Làm được điều ấy, con đường đẹp nhất Huế sẽ có thêm một nét chấm phá thú vị. Và “nhân đạo” hơn khi mỗi dịp lễ tết, những tay chơi đồ cổ vỉa hè phải nghỉ bán, nghỉ chơi vài ngày vì lý do giữ cảnh quan thành phố!

Read Full Post »