Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư 2nd, 2009

Chợ trời PanJia Juan

pjynew3

Nếu bạn chỉ có cơ hội đi chợ một lần duy nhất tại Bắc Kinh, hãy du hành đến khu bazaar ngoài trời đầy màu sắc nơi bán mọi loại hàng hóa: cổ vật, thủ công, mỹ nghệ phẩm này – chợ PanJia Juan. Tọa lạc tại mạn đông – nam Bắc Kinh, ngay phía đông công viên LongTan. Mặc dầu được mở cửa buôn bán mỗi ngày, chợ vẫn luôn sống động hơn vào những ngày cuối tuần, khi có nhiều cửa hàng mở cửa hơn.

pj176

Gần như toàn bộ những món bạn mong muốn mua đều có thể kiếm thấy tại đây: ngọc, các loại đá Tây Tạng và các sản phẩm thủ công dân tộc khác, sách các loại, tác phẩm mỹ nghệ, đồ lưu niệm thời cộng sản, tiền xưa, dây đeo – chuỗi hạt, các loại tượng, hạt bẹt, lụa, đồ sứ, nhạc cụ, đồ nội thất…không phải tất cả các món cổ vật đều là đồ thật do vậy tốt nhất nếu bạn cần thì nên đi mua tại nơi khác. Tuy nhiên khi bạn thấy thích thú trong việc săn tìm bằng cách trả giá hay chỉ thích thú tìm kiếm một món nào đó mà mình ưng ý thì đây chính là nơi bạn cần đến. Đối với những người quan tâm đặc biệt đến đồ nội thất, hảy thử đi đến khu chợ hàng nội thất cổ ChaoWai kế cận, chỉ tốn năm phút đi bộ về hướng bắc.

pjynew1

Ban sơ chợ chỉ là một chợ trời họp ở vỉa hè , dần dần tụ hội khắp nơi xa gần những người đến bán những thứ họ có thể bán ngày một đông và đến khoảng 1990 thì những con đường hẻm nhỏ phố hutong vào những ngày cuối tuần đông ngịt đến nỗi những người buôn bán phải dạt vào công viên kế cận và bày hàng bán ở giữa những cái cây. Chợ trở nên nổi tiếng và phổ biến nên cuối cùng chính quyền phải hợp pháp hóa bằng cách xây khung chợ và cho thuê chỗ mua bán.

pjy046

Để có thể lựa chọn thoải mái, hãy đi chợ sớm vào những ngày cuối tuần. Vào mùa hè chợ thường bắt đầu họp vào lúc 4 giờ sáng và đừng quên trả giá.

pjy207

pjy189

pjy022

pjy004

pjynew4

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

 


Advertisements

Read Full Post »

TRANH THỦY MẶC

Thủy mặc (là nước hòa với mực), chất liệu chính của các tác phẩm hội họa cổ đại. Được vẽ bằng bút lông, dùng thuốc nước hoặc mực nho trên giấy xuyến chỉ (loại giấy làm thủ công nhưng rất cao cấp, trắng, mịn, chứ không phải hơi vàng ngà và sần như giấy dó của tranh Đông Hồ), họa sĩ vẽ thủy mặc phải hơn cả một võ sư: tích đủ nội công lại đầy cảm xúc, ý tưởng rồi mới hạ bút, vì đặc điểm của giấy xuyến chỉ là rất thấm mực, bút vẽ nét nào ăn nét ấy, không thể sửa chữa. Sắc màu của mực đậm hay nhạt tùy vào nét bút đưa đường nét và tạo hình thế nào, tạo ra thay đổi bất ngờ. Cây bút lông và nghiên mực nho có sức biểu hiện to lớn, đưa người xem vào góc độ thẩm mỹ tao nhã. Vì vậy mà hai chữ bút mực không chỉ là những công cụ và phương tiện trong thư pháp và hội họa mà cũng chính là từ gọi thay cho nghệ thuật thư pháp hội họa.

Hội họa dùng màu nước đã có tại Trung Hoa cách đây hơn 2000 năm. Các họa sĩ đã sử dụng chất liệu tuyệt hảo của màu sắc với các đặc điểm tươi tắn, dễ dùng và sống động để diễn đạt triết lý của họ về cuộc sống. Cùng với cây bút làm bằng lông thú, họ đã tạo được những góc cạnh đầy ấn tượng về phong cảnh có cây cối sung mãn và động vật đa dạng. Tất cả đã tạo nên được những nét hài hòa trong thiên nhiên và sự hòa điệu của thế giới tự nhiên với con người.

Muốn hội nhập vào thế giới tranh thủy mặc, chúng ta cần phải gạt sang một bên các khái niệm về nghệ thuật của phương Tây. Lý thuyết tranh thủy mặc gắn liền với một nền triết học mà trong đó người ta tư duy về sự đồng nhất của sự vật. Tính cá thể nội tại được thể hiện bàng bạc trong tính đại đồng của sự vật.
Người xưa thường nói: Văn là người, nhưng có lẽ Họa cũng là người, xem tranh để biết người. Hội họa thủy mặc không nhằm trình bày – bởi chủ đề của bức họa là phần thực tế sâu thẳm nằm trong đề tài, nghĩa là cái hồn sống động nằm sâu sau cái nhìn bên ngoài hiển hiện.

Tranh thủy mặc có ba đề tài chủ yếu: sơn thủy, hoa điểu và nhân vật . Thông thường tranh thủy mặc truyền thống có hai cách cấu trúc không gian tạo hình là “Thấu thị tẩu mã” và “Thấu thị phi điểu”.

“Thấu thị tẩu mã” là lối cấu trúc không gian như nhìn từ trên mình ngựa đang chạy, hình ảnh trong tranh được thể hiện theo lối chạy dài, di chuyển theo hàng ngang. Không phải gần vẽ to, xa vẽ nhỏ như lối nhìn không gian khách quan theo luật viễn cận của nghệ thuật Tây phương, mà trái lại những điểm gần vẽ nhỏ, điểm xa vẽ to.

“Thấu thị phi điểu” là lối cấu trúc không gian như nhìn từ trên lưng một con vật đang bay nhìn xuống. Vì thế hình ảnh trong tranh từ gần đến xa đều bằng nhau và như chồng lên nhau theo hàng dọc hoặc sắp xếp thành nhiều tầng nhiều lớp. Tiêu biểu cho lối cấu trúc này là thể loại tranh đứng miêu tả sự hùng vĩ của thiên nhiên.

Để có thể diễn đạt được hai cách cấu trúc không gian tạo hình này, đòi hỏi người họa sĩ tranh Thủy mặc phải phát huy trí tưởng tượng của mình để tạo nên những bức tranh rung động người xem.

Những bức họa về núi và thiên nhiên của các họa sĩ Trung Quốc


Tranh của họa sĩ Chuen Yue


chuen_yue_-425_172


Tranh của họa sĩ Chang Shao Bei


chang_shao_bei-395_191


Tranh của họa sĩ Bi Yue


bi_yue545_975


Tranh của họa sĩ Bei Cheng Ling


bei_cheng_ling-645_124


Tranh của họa sĩ Artist song yen


artist_song_yen695_6351



Họa sĩ Guo Shou Hua


guo_shou_hua395_956


Họa sĩ Gau Cheng Le


gau_cheng_le-725_194


Họa sĩ Gau Cheng Le


gau_cheng_le-595_206


Họa sĩ Fu Kang


fu_kang_595_749


Họa sĩ Da Si


da_si-395_952




Những bức họa về Trúc


Họa sĩ Jing Jie


jing_jie-495_7791


Họa sĩ Jin Lin


jin_lin-525_2901


Họa sĩ Hang Zhou


hang_zhou-395_120


Họa sĩ Chuei Yu


chuei_yu-495_175


Họa sĩ Bi Yue


bi_yue_-425_186




Tranh TQ


Qi Yue


qi_yue-475_501


Mei You


mei_you_-475-2_126


Mei You


mei_you_-475_149


Luo Shuan Xian


luo_shuan_xian_-345_125


Luo Shuan Xian


luo_shuan_xian_-275_214





Sun Hua


sun_hua_-395_201


Shi Quan


shi_quan_-445_622


Shen Yi Fei


shen_yi_fei-345_893


Shao Zhong


shao_zhong-375_157


Qian Wen Yi


qian_wen_yi-475_536

http://www.avsnonline.net/forum/templates/subSilver/images/spacer.gif

Hoa Sen


Jing Ling


jing_ling_325_551


Ji Gao


ji_gao545_856


Huang Ren Tao


huang_ren_tao395_136


Gu Qi


gu_qi_345_361


Chen Xi Nan


chen_xi_nan395_138

Hoa sen


Họa sĩ Mar Yong Chao


mar_yong_chao_395_159


Họa sĩ Lu Ji


lu_ji475_435


Họa sĩ Leo Tzu


leo_tzu_445_885


Họa sĩ Jing Ling


jing_ling_395-1_119


Họa sĩ Jing Ling


jing_ling_395_189


Tranh về cá


Lu Yu Nien


lu_yu_nien495_904


Long Tz Chan


long_tz_chan_475-1_784


Long Tz Chan


long_tz_chan_475_116


Li Yun


li_yun445_168


Chen Xi Nan


chen_xi_nan_395_155

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Tản Mạn về Gốm Cổ Hội An

Cổ Vật và Nghệ Thuật

Những năm gần đây, sau cuộc khai quật một chiếc tàu buôn đồ gốm được thực hiện gần Cù Lao Chàm ngoài khơi của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam thuộc miền trung nước Việt Nam bị chìm vào khoảng giữa thế kỷ 15,ngoài một số được bảo tồn và trưng bày tại những bảo tàn viện trong nội địa, người ta bắt đầu thấy nhan nhản những cổ vật được mời mọc, rao bán từ những tiệm buôn bán đồ cổ ở các địa phương như Hà Nội, Hội An, Sài Gòn… hoặc trên những trang mạng internet với danh hiệu là đồ gốm Hội An.  Kết quả của những cuộc nghiên cứu về sau cho thấy những cổ vật này không phải được làm tại Hội An mà được sản xuất tại những lò gốm khác nhau, đa số được thành hình từ những lò ở phạm vi tỉnh Hải Dương mà lúc bấy giờ là một trong những nơi sản xuất đồ gốm rất mạnh mẽ.  Ở một nơi quá thuận lợi cho việc giao dịch với những xứ đàng ngoài.  Hội An, một thị trấn miền duyên hải miền Trung nước Việt vào thế kỷ thứ 15 đã là một thương cảng sầm uất nhất trong thời gian này, là một nơi tiếp nhận và trao đổi những hàng hoá qua các thương thuyền từ khắp nơi trong vùng Châu Á: Trung Hoa, Nhật Bổn đến từ miền Bắc,  cũng như các thương thuyền từ Âu Châu như Anh, Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha dde^’n từ vùng biển miền Nam.

Bối cảnh lịch sử

Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 15, nhà Minh bên Trung Quốc thời bấy giờ vì phải một mặt đối đầu với quân Mông Cổ từ phương Bắc, một mặt với nỗi đau còn ray rức về thất bại trong mộng chinh phục phương Nam trước đó bị đánh bại bỡi vua Lê Thái Tổ cộng với nội bộ lũng củng nên đã ra lệnh tuyệt đối cấm giao thương với những nước lân bang và ngoại quốc, nhất là theo hệ thống đường biển.  Thị trường đồ gốm vì lý do đó mà trở nên khan hiếm và không đủ số lượng để cung cấp cho đồ dụng trong nước và để trao đổi hàng hóa giữa các nước ngoại quốc.  Các lò gốm Việt Nam lúc bấy giờ đã lợi dụng cơ hội để tăng gia sản xuất hầu đáp ứng nhu cầu càng ngày càng tăng.  Những cuộc đào xới của giới khảo cỗ ở miền Bắc gần đây cho thấy trong thời gian từ thế kỷ thứ 15 và 16 những lò gốm xuất hiện rãi rác trải dài từ Hải Dương cho đến Hà Nội và đó cũng là thời gian cực thịnh nhất của ngành gốm của người Việt trong lịch sữ cận đại về phương diện số lượng xuất khẩu, phẩm chất và nhất là nghệ thuật.

Trong chuyến hải hành của một thương thuyền từ bến Vân Đồn (gần Hải Phòng) trực chỉ về phương Nam để giao hàng đến các nước vùng Đông Nam Á, sức nặng của những kiện hàng đã vượt qua khả Năng chịu đựng của chiếc tàu cho nên khi vừa qua vùng Cù Lao Chàm thì bị thêm ảnh hưởng sóng to gió lớn của một cơn bão. Chiếc thương thuyền với toàn bộ thuỷ thủ, thương gia và những kiện hàng bị chìm xuống lòng biển sâu mang theo sự bí ẩn của ngành đồ gốm Việt Nam trong khoảng thời gian hơn 5 thế kỷ.  Điều làm cho giới khảo cổ phấn khởi về khám phá ra chiếc tàu chìm là trong lòng tàu sau hơn 500 năm dưới lòng đại dương nay lại đươc khơi ra đã trả lời phần nào những nỗi suy tư mà họ đã có từ bao lâu naỵ  Trong số những cổ vật gốm được vớt lên vào năm 1997 gồm có những bình, dĩa, chén, tô, lọ mực, hoặc những chum rượu có tượng hình được gợi ý từ những dạng của thú vật (chim, két, gà, vịt..) hoặc hoa quả (bầu, bí..) với nhiều tranh ảnh dân gian và những hoa văn đầy Việt tính được bao bộc dưới lớp men qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.


Hình 1: Những Cổ Vật Hội An / Butterfields Auction, 2000

Cổ Vật và Nghệ Thuật Hội Họa

Nhưng quan trọng nhất lại là phẩm chất của nhiều cổ vật sau khi được hoàn chỉnh với những phương tiện tối tân của công ty trúng thầu Saga (Mã Lai) liên hợp với công ty Visal của nhà nước Việt Nam cho việc khai quật đã được phục hồi đến mức gần như tuyệt hão.  Căn cứ theo hợp đồng thì nhà nước cộng sản giữ lại một phần những cổ vật được đánh giá cao cấp nhất để dùng vào việc trưng bày tại các cơ quan văn hoá (tủ kính của mấy ông lớn cũng có thể được gọi là cơ quan văn hoá?) và những bảo tàng viện rải rác trong nước.  Phần còn lại, công ty Saga được quyền xữ dụng vào việc thương mại rao bán trong giới tư nhân qua những cuộc đấu gía tại nhiều nơi trên thế giới.  Trong số gần 150,000 cổ vật được kiểm tra, ngoài một số bị hao mòn bởi sự phô trương quá lâu dưới độ sâu của nươc mặn, có một số gần như ở trạng thái nguyên vẹn như lúc mới đươc tạo hình. Sự khám phá chiếc tàu này đã làm đảo lộn sự suy nghĩ về nghệ thuật đồ gốm trải qua nhiều thế hệ và là một nguồn hào hứng vô tận của các nhà khảo cổ chuyên môn cũng như các nhà sưu tập đồ gốm từ mọi nơi trên thế giới.


Hình 2:  Con chim sẽ / Hội An (giữa t.k.15)  private collection


Hinh 3: Long Phụng / (Nhà Minh, t.k.15) private collection

(ảnh minh họa bị thất lạc)

Trong số những cổ vật được đem ra ánh sáng, đa số là đồ gốm loại men lam, men trắng, men nâu và một số ít là loại không men như đồ sành để làm những vật gia dụng hằng  ngày như lu, tô, chén, dĩa.  Nhưng điểm son của những kiện hàng này là những đồ dùng cao cấp về hình dạng, cách tráng men và hội họa mà tính đặc thù của chúng đã xác đinh rõ ràng vị trí độc lập về cách phát họa, ý tưởng và trình bày của những nghệ nhận Việt thời bấy giờ; cho thấy sự vượt thoát khỏi khuôn khổ, nề nếp mà đã từng bao nhiêu năm có nhiều quan niệm cho rằng trong thời gian này các sản phẫm của nước Việt chúng ta đều thuần túy chịu ảnh hưởng bỡi ông láng giềng to xác từ phương Bắc.  Hình 2 và 3 đưa ra thí dụ điển hình về sự khác biệt rõ rệt giữa nghệ thuật của người Việt và Hán tộc về khía cạnh hội họa trên những tác phẩm được sản xuất ở một thời điểm rất gần nhau. Qua nét bút lông của một nghệ nhân Việt, con chim sẻ bay lượn trên cánh đồng cỏ (hinh 2). Những nét vẽ đượm tính dân gian đơn sơ, mộc mạc nhưng lại biểu lộ được sự bay bướm đầy năng động chấm phá của từng nét cọ. Những đường nét đó đã tạo nên một sự rung động nơi người thưởng lãm cũng giống như sự rung động khi đối diện với những đường nét từ các hoạ sĩ thời danh như Bé Ký, Nguyễn thị Hợp.. ở thời điểm sau hơn 5 thế kỹ. Trong đó người ta không thấy sự gò bó, khuôn khổ, đồng đều, cầu kỳ, khách sáo, vương giả như được phát họa trên cái lọ được sản xuất từ phương Bắc (hình 3). Đối với giới thưởng ngoạn, thưởng thức nghệ thuật đồ gốm của Tàu thì mát con mắt; nhìn nét vẽ trên gốm của người Việt thì lại thấy mát con tim.


Hình 4: Những Con Nghê trên Cổ Vật / Butterfields Auction, 2000

Hình ảnh con nghê, một linh vật nhân gian thuần túy của người Việt được xữ dụng một cách quen thuộc trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc qua những triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần… ở đây được trình bày một cách trang trọng trên những dĩa gốm trắng men lam (hinh 4). Những chi tiết cho thấy sự sáng tạo của người họa sĩ với nguồn cảm hứng vô tận. Mỗi cỗ vật được vuốt ve, chăm sóc với một kiểu cách khác nhau. Người họa sĩ đã xữ dụng thiên khiếu của mình vào mỗi tác phẩm với một đam mê, hòa nhập tâm hồn của mình vào những đường nét lã lướt nhưng không quên chấm phá vài nét trào phúng cho đời thêm vui.  Ở một thời mà khái niệm về năng động (motion), ấn tượng (impression), trừu tượng (abstract), không gian 3 chiều với định nghĩa về chiều sâu được thễ hiện qua bóng nổi (shades and shadows) chưa có một thế đứng rõ rệt trong nghệ thuật cỗ điển trên thế giới mà tại một nơi nào đó ở vùng đất Việt nhỏ bé, những nghệ nhân bằng một cách khiêm nhường đã biết gạt bỏ những lề lối, truyền thống mà đưa ra những mô thức mà người đời mấy trăm năm sau phải suy gẫm và thán phục.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

 

Read Full Post »