Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba 30th, 2009

ALBUM HÌNH TOÀN TẬP GỐM SỨ CỔ TQ –

Thời kỳ từ triều đại nhà Nguyên, nhà Minh cho đến đầu nhà Thanh

Đây là Album hình mô tả theo trình tự thời gian từ thời kỳ đồ đá mới đến hết triều đại nhà Thanh của các hiện vật gốm sứ  cổ Trung Hoa tiêu biểu nhất được trưng bày tại gallery gốm sứ – Viện bảo tàng Thượng Hải từ ngày 23 -24 tháng 8 năm 2008. Đây là bộ sưu tập xuyên suốt nhất của lịch sử nghệ thuật  gốm sứ Trung Hoa mà tác giả từng biết. (Được chụp bởi Gary L. Todd, tiến sĩ, giáo sư Sử Học tại trường đại học Sias International, Xinzheng, Henan, China.)

Nhà Minh:

Hongwu

AD 1368 – 1398

Jianwen

1399 – 1402

Yongle

1403 – 1424

Hongxi

1425

Xuande

1426 – 1435

Zhengtong

1436 – 1449

Jingtai

1450 – 1456

Tianshun

1457 – 1464

Chenghua

1465 – 1487

Hongzhi

1488 – 1505

Zhengde

1506 – 1521

Jiajing

1522 – 1566

Longqing

1567 – 1572

Wanli

1573 – 1619

Taichang

1620

Tianqi

1621 – 1627

Chongzhen

1628 – 1644

Bấm trên hình để xem full-size và rỏ chú thích

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Chơi “đồ xưa” và “đồ cổ” “cổ đồ”

malcolm_magruder

MỘT BỘ SƯU TẬP

(KTNN) Chơi đồ xưa (ngoạn cổ) là một thú chơi của những người sưu tập (collectionneur) tìm chơi những thứ đồ hiện còn lưu giữ lại từ xa xưa như đồ đồng, đồ ngọc, gốm sứ, bàn ghế, tủ xưa, sách xưa, tranh thư pháp, tem thư…

Người chơi đương nhiên là người sưu tập, có học thức, học vị hay thiếu học, giàu hoặc nghèo, miễn là chịu sưu tầm, gom góp, giữ gìn quí trọng đồ xưa cũ. Thú chơi rất đa dạng, “bá bụng bá bao tử”, người chơi đồ đồng cổ, người chơi cổ ngọc, sách xưa (sách tây, quốc ngữ, Hán Nôm), gốm sứ (đất nung, gốm độc sắc (Tống) – men ngọc (thanh từ), Quân, Ca, Nhữ, Bạch Định – gốm chu sa (Nghi Hưng), gốm cây Mai, Lái Thiêu, Biên Hoà, Chu Đậu, Bát Tràng… và sứ thì sứ Minh, sứ Thanh, ngũ thái (màu), men hoa lam (sứ trắng vẽ men “cô ban” (cobalt) còn gọi là xanh trắng, T.Q. gọi là thanh hoa từ).

Cũng từ màu lam “cô ban” này mà giới chơi đồ xưa V.N. gần đây do đọc thấy cái từ “men lam Huế” của bác Vương Hồng Sển dịch chữ “bleu de Huế” của ông Tây nào đó mà dấy động sóng gió làm dòng nước sông Hương cố đô Huế từ màu lam “Hồi” ra xanh lam “Huế”, suýt nữa thành lam (chàm) “An Nam”? Rồi đến cái từ “sứ” (từ khí) tên gọi loại đồ vật mà có người lại giải thích cho người ta hiểu “sứ” (về vật) là từ chữ đi sứ (thuộc về sự) mà ra, như vậy món đồ (khi chưa có sự đi sứ) bằng chất liệu kaolin trắng tốt không phải là đồ do “đi sứ” mang về thì gọi là gì? Trở lại cái từ “men lam Huế” nói đi, rồi nói lại là đồ “ngự dụng”, “quan dụng” Lê, Nguyễn, cuối cùng thì đồ “ký kiểu”, “đặc chế”… Đến hai từ cuối cùng này chúng ta nên hiểu thế nào cho đúng? Theo chúng tôi, “ký” (      ) ghi chép, “kiểu” là từ Nôm biến từ từ “cảo” (      ): thảo ra, bản cảo bản “kiểu”, chép theo bản kiểu, đến từ “đặc chế” (thấy viết “đặc” với chữ “c” thành món đồ “chế” tạo “đặc” biệt): như vậy từ “đặc chế” không được đúng nghĩa lắm, mà “đặt” nên viết với chữ “t” tức đặt làm (chế), Trung Quốc gọi là “Đính hoá từ” (sứ đặt hàng).

janice_paull2 Trên đây mới chỉ là một số thú chơi và loại đồ cổ chơi trong đa dạng thú chơi cổ ngoạn. Giờ chúng ta trở lại cùng tìm hiểu hai từ “đồ cổ” và “cổ đồ”. Đồ cổ hay đồ xưa, Trung Quốc xưa gọi là “cốt đổng”, sách Cốt Đổng Thập Tham Thuyết của Đổng Kỳ Xương đời Minh viết: “Các công nghệ phẩm có từ nhiều đời trước linh tinh không phân biệt chủng loại còn tồn tại đến ngày nay đều gọi là đồ “cốt đổng” (“cốt” là xương dù cho thịt da tiêu hoại (hư mất) hết chỉ còn lại xương, “đổng” có nghĩa là “minh hiểu” tức hiểu rõ cái tinh hoa do người xưa tạo tác còn lưu lại). Lại có ý kiến cho rằng từ “cốt đổng” là chuyển âm của từ “cổ đồng”, nhưng “cốt đổng” đâu phải đều là đồ “đồng cổ” (cổ đồng).

Tóm lại, từ “cốt đổng” với nghĩa “hiểu rõ những thứ đồ xưa còn sót lại, đáng quí trọng” là chấp nhận được. Từ “cốt đổng” này mãi đến thời mạt Minh, trong văn học thành văn thấy có từ “cổ đổng” thay cho “cốt đổng” (Xét ra từ “cổ đổng” có ý nghĩa bao quát hơn, ít nhiều mất đi ý nghĩa “đồ linh tạp ngày xưa còn giữ lại” của từ “cốt”, và nó vẫn được thông dụng đến nay với nội dung ý nghĩa mới: “cổ đổng” là khí vật quí hiếm của các thời đại xa xưa để lại, “cổ đồ” là từ rút ngắn của từ “bác cổ đồ” hay “cổ đồ bác cổ”, là một loại “tranh” vẽ truyền thống của Trung Quốc. Nội dung chuyên vẽ (mô tả) lại một số cổ vật chủ yếu như: đồ đồng, ngọc, gốm sứ, đá chạm… và có điểm xuyết thêm bên cổ vật các loại hoa, cỏ, củ, quả, bố cục hài hoà đem lại hiệu quả thẩm mỹ sống động cho bức vẽ. Loại “cổ đồ” này có từ đời Tống, vua Tống Huy Tông Triệu Kiết (C.N.1101) từng chiếu lệnh Viện Hàn lâm đồ hoạ vẽ lại hết tất cả cổ vật bảo tàng trong nội cung thành 30 quyển gọi là “Tuyên Hoà bác cổ đồ” nên từ “cổ đồ bác cổ” có từ đó. Sau này chúng ta thấy trên một số khí vật tiểu thủ công nghiệp người ta theo đề tài (cổ đồ) này vẽ hình những cổ vật trang trí trên các mỹ thuật phẩm như đồ sứ, đồ gỗ, đồ đồng, sơn mài… Những mỹ thuật phẩm này đều gọi là “bác cổ thức” hay “cổ đồ”, và cũng từ đề tài “bác cổ thức” có nghệ nhân còn đưa bộ “bát bửu” (tám bửu bối) của Phật gia vào trang trí, gọi là đồ “cổ đồ bát bửu” (tám món báu gồm có: 1) Pháp loa (Óc), 2) Bàn trường hoặc triền (dây vải dài đan thắt quanh co thành “hồi văn” hình thoi để kết tua tụi), 3) Bửu cái (nắp đậy), 4) Pháp luân (bánh xe), 5) Song ngư (đôi cá), 6) Liên hoa (hoa sen), 7) Bửu bình (bình báu), 8) Bửu tán (dù lọng).

Áp dụng đề tài “Cổ đồ bác cổ” trang sức trên khí vật, mỹ thuật, nhất là trên đồ sứ vào thời Càn Long rất thịnh hành. Họ thiêu chế những tấm tranh sứ (từ bản) khảm vào cửa tủ kệ cất chứa đồ cổ của vua quan thời đó gọi là tủ kệ “đa bửu các” (hay “cách”), hoặc trên những tấm bình phong (án gió), giường sạp, ghế tựa… Ngày nay thảng hoặc chúng ta còn có thể thấy lại loại đồ cổ trang trí loại hình “cổ đồ bác cổ” này, thậm chí còn thấy có những món đồ sứ men hoa lam ký hiệu “bác cổ”, xem ra người xưa khá ưa chuộng lối trang trí đề tài “cổ đồ bác cổ”.

Tóm lại, “cổ đồ” là những “đồ hình vẽ, các khí vật cổ (lư đồng cổ, đỉnh cổ, bình cổ, ngọc như ý cổ,…) như trên chúng tôi đã viết theo những gì mình đọc thấy qua sách vở, cũng chỉ mong quí bạn đọc ngày nay cùng chúng tôi nhận định đúng nghĩa những từ ngữ Hán Việt mà mình gặp phải. Như có chú nhỏ hỏi tôi: “Trong giới chơi đồ cổ phải chăng có thể chia thành hai “trường phái” chính: trường phái “cổ đồ” và trường phái “sưu tập”? Chú nhỏ nói tiếp: trường phái “sưu tập” thì biết rồi, người chơi đồ xưa nào mà không đi tìm kiếm góp nhặt, nói sưu tập chỉ là nói chữ thôi. Nhưng còn trường phái “cổ đồ” thì phải hiểu thế nào, “cổ đồ” có phải là đồ cổ chăng?”. Có điều chắc là trường phái “cổ đồ” không phải là phái chuyên sưu tập “cổ đồ” (bác cổ)!

Vẫn biết thói chơi nào mà không gặp chuyện bất như ý, mong sao bài viết thiển cận này đến với quí bạn đọc như lời thì thầm, cùng cười khì xí xoá hết mọi nỗi bất bình bởi mấy từ ngữ bất ý

Hơi đồ xưa (ngoạn cổ) là một thú chơi của những người sưu tập (collectionneur) tìm chơi những thứ đồ hiện còn lưu giữ lại từ xa xưa như đồ đồng, đồ ngọc, gốm sứ, bàn ghế, tủ xưa, sách xưa, tranh thư pháp, tem thư… Người chơi đương nhiên là người sưu tập, có học thức, học vị hay thiếu học, giàu hoặc nghèo, miễn là chịu sưu tầm, gom góp, giữ gìn quí trọng đồ xưa cũ. Thú chơi rất đa dạng, “bá bụng bá bao tử”, người chơi đồ đồng cổ, người chơi cổ ngọc, sách xưa (sách tây, quốc ngữ, Hán Nôm), gốm sứ (đất nung, gốm độc sắc (Tống) – men ngọc (thanh từ), Quân, Ca, Nhữ, Bạch Định – gốm chu sa (Nghi Hưng), gốm cây Mai, Lái Thiêu, Biên Hoà, Chu Đậu, Bát Tràng… và sứ thì sứ Minh, sứ Thanh, ngũ thái (màu), men hoa lam (sứ trắng vẽ men “cô ban” (cobalt) còn gọi là xanh trắng, T.Q. gọi là thanh hoa từ).

Cũng từ màu lam “cô ban” này mà giới chơi đồ xưa V.N. gần đây do đọc thấy cái từ “men lam Huế” của bác Vương Hồng Sển dịch chữ “bleu de Huế” của ông Tây nào đó mà dấy động sóng gió làm dòng nước sông Hương cố đô Huế từ màu lam “Hồi” ra xanh lam “Huế”, suýt nữa thành lam (chàm) “An Nam”? Rồi đến cái từ “sứ” (từ khí) tên gọi loại đồ vật mà có người lại giải thích cho người ta hiểu “sứ” (về vật) là từ chữ đi sứ (thuộc về sự) mà ra, như vậy món đồ (khi chưa có sự đi sứ) bằng chất liệu kaolin trắng tốt không phải là đồ do “đi sứ” mang về thì gọi là gì? Trở lại cái từ “men lam Huế” nói đi, rồi nói lại là đồ “ngự dụng”, “quan dụng” Lê, Nguyễn, cuối cùng thì đồ “ký kiểu”, “đặc chế”… Đến hai từ cuối cùng này chúng ta nên hiểu thế nào cho đúng? Theo chúng tôi, “ký” (      ) ghi chép, “kiểu” là từ Nôm biến từ từ “cảo” (      ): thảo ra, bản cảo bản “kiểu”, chép theo bản kiểu, đến từ “đặc chế” (thấy viết “đặc” với chữ “c” thành món đồ “chế” tạo “đặc” biệt): như vậy từ “đặc chế” không được đúng nghĩa lắm, mà “đặt” nên viết với chữ “t” tức đặt làm (chế), Trung Quốc gọi là “Đính hoá từ” (sứ đặt hàng).

Trên đây mới chỉ là một số thú chơi và loại đồ cổ chơi trong đa dạng thú chơi cổ ngoạn. Giờ chúng ta trở lại cùng tìm hiểu hai từ “đồ cổ” và “cổ đồ”. Đồ cổ hay đồ xưa, Trung Quốc xưa gọi là “cốt đổng”, sách Cốt Đổng Thập Tham Thuyết của Đổng Kỳ Xương đời Minh viết: “Các công nghệ phẩm có từ nhiều đời trước linh tinh không phân biệt chủng loại còn tồn tại đến ngày nay đều gọi là đồ “cốt đổng” (“cốt” là xương dù cho thịt da tiêu hoại (hư mất) hết chỉ còn lại xương, “đổng” có nghĩa là “minh hiểu” tức hiểu rõ cái tinh hoa do người xưa tạo tác còn lưu lại). Lại có ý kiến cho rằng từ “cốt đổng” là chuyển âm của từ “cổ đồng”, nhưng “cốt đổng” đâu phải đều là đồ “đồng cổ” (cổ đồng).

Tóm lại, từ “cốt đổng” với nghĩa “hiểu rõ những thứ đồ xưa còn sót lại, đáng quí trọng” là chấp nhận được. Từ “cốt đổng” này mãi đến thời mạt Minh, trong văn học thành văn thấy có từ “cổ đổng” thay cho “cốt đổng” (Xét ra từ “cổ đổng” có ý nghĩa bao quát hơn, ít nhiều mất đi ý nghĩa “đồ linh tạp ngày xưa còn giữ lại” của từ “cốt”, và nó vẫn được thông dụng đến nay với nội dung ý nghĩa mới: “cổ đổng” là khí vật quí hiếm của các thời đại xa xưa để lại, “cổ đồ” là từ rút ngắn của từ “bác cổ đồ” hay “cổ đồ bác cổ”, là một loại “tranh” vẽ truyền thống của Trung Quốc. Nội dung chuyên vẽ (mô tả) lại một số cổ vật chủ yếu như: đồ đồng, ngọc, gốm sứ, đá chạm… và có điểm xuyết thêm bên cổ vật các loại hoa, cỏ, củ, quả, bố cục hài hoà đem lại hiệu quả thẩm mỹ sống động cho bức vẽ. Loại “cổ đồ” này có từ đời Tống, vua Tống Huy Tông Triệu Kiết (C.N.1101) từng chiếu lệnh Viện Hàn lâm đồ hoạ vẽ lại hết tất cả cổ vật bảo tàng trong nội cung thành 30 quyển gọi là “Tuyên Hoà bác cổ đồ” nên từ “cổ đồ bác cổ” có từ đó. Sau này chúng ta thấy trên một số khí vật tiểu thủ công nghiệp người ta theo đề tài (cổ đồ) này vẽ hình những cổ vật trang trí trên các mỹ thuật phẩm như đồ sứ, đồ gỗ, đồ đồng, sơn mài… Những mỹ thuật phẩm này đều gọi là “bác cổ thức” hay “cổ đồ”, và cũng từ đề tài “bác cổ thức” có nghệ nhân còn đưa bộ “bát bửu” (tám bửu bối) của Phật gia vào trang trí, gọi là đồ “cổ đồ bát bửu” (tám món báu gồm có: 1) Pháp loa (Óc), 2) Bàn trường hoặc triền (dây vải dài đan thắt quanh co thành “hồi văn” hình thoi để kết tua tụi), 3) Bửu cái (nắp đậy), 4) Pháp luân (bánh xe), 5) Song ngư (đôi cá), 6) Liên hoa (hoa sen), 7) Bửu bình (bình báu),  Bửu tán (dù lọng).

Áp dụng đề tài “Cổ đồ bác cổ” trang sức trên khí vật, mỹ thuật, nhất là trên đồ sứ vào thời Càn Long rất thịnh hành. Họ thiêu chế những tấm tranh sứ (từ bản) khảm vào cửa tủ kệ cất chứa đồ cổ của vua quan thời đó gọi là tủ kệ “đa bửu các” (hay “cách”), hoặc trên những tấm bình phong (án gió), giường sạp, ghế tựa… Ngày nay thảng hoặc chúng ta còn có thể thấy lại loại đồ cổ trang trí loại hình “cổ đồ bác cổ” này, thậm chí còn thấy có những món đồ sứ men hoa lam ký hiệu “bác cổ”, xem ra người xưa khá ưa chuộng lối trang trí đề tài “cổ đồ bác cổ”.

Tóm lại, “cổ đồ” là những “đồ hình vẽ, các khí vật cổ (lư đồng cổ, đỉnh cổ, bình cổ, ngọc như ý cổ,…) như trên chúng tôi đã viết theo những gì mình đọc thấy qua sách vở, cũng chỉ mong quí bạn đọc ngày nay cùng chúng tôi nhận định đúng nghĩa những từ ngữ Hán Việt mà mình gặp phải. Như có chú nhỏ hỏi tôi: “Trong giới chơi đồ cổ phải chăng có thể chia thành hai “trường phái” chính: trường phái “cổ đồ” và trường phái “sưu tập”? Chú nhỏ nói tiếp: trường phái “sưu tập” thì biết rồi, người chơi đồ xưa nào mà không đi tìm kiếm góp nhặt, nói sưu tập chỉ là nói chữ thôi. Nhưng còn trường phái “cổ đồ” thì phải hiểu thế nào, “cổ đồ” có phải là đồ cổ chăng?”. Có điều chắc là trường phái “cổ đồ” không phải là phái chuyên sưu tập “cổ đồ” (bác cổ)!

Vẫn biết thói chơi nào mà không gặp chuyện bất như ý, mong sao bài viết thiển cận này đến với quí bạn đọc như lời thì thầm, cùng cười khì xí xoá hết mọi nỗi bất bình bởi mấy từ ngữ bất ý

(Theo Kiến Thức Ngày Nay 572)

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »