Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba, 2009

Đồ sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa:

Nội phủ thị trung

Đó là một trong số các hiệu đề bằng chữ Hán trên đồ sứ do vua chúa Việt Nam đặt làm từ Trung Quốc dưới thời Lê Trung Hưng (1533 – 1788). Kiểu dáng cùng hình thức trang trí trên dòng đồ này khá phong phú. Nhưng chúng có một điểm chung dễ nhận ra là sự thuần khiết của một gam xanh biến ảo trên nền sứ trắng.

Trong khoảng 200 năm tồn tại của thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh – đặc biệt kể từ khi Bình An Vương Trịnh Tùng nối nghiệp cha là Trịnh Kiểm hoàn thành cuộc Trung Hưng – đánh bại sự tiếm ngôi của nhà Mạc – đưa vua Lê Thế Tông trở lại kinh thành Thăng Long vào năm 1595 và lập “Phủ liêu” điều hành chính sự – việc đặt làm và nhập khẩu đồ sứ Trung Quốc cung ứng cho nhu cầu sử dụng của Phủ Chúa đã diễn ra như một tất yếu và liên tục. Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập tới “Nội Phủ Thị Trung” – một hiệu đề thuộc loại sứ đặt làm phục vụ cho nhu cầu của Phủ Chúa. Có mối bang giao gốm sứ Việt – Trung này ngoài nguyên do thời đó, gốm Đại Việt dù đã nổi tiếng song vẫn sút kém sứ Trung Quốc về độ bóng đẹp cũng như về độ bền chắc; còn bởi lẽ với việc đặt làm đồ sứ, các Chúa Trịnh cũng như vương triều Lê Trung Hưng qua đó khẳng định chủ quyền đất nước với người bạn láng giềng phương Bắc là Trung Quốc. Theo sử sách, nhà Minh niên hiệu Vạn Lịch đã cử sứ sang chúc mừng nhà Lê khi cuộc Trung Hưng vừa thành công.

Ngay sau đó, vào niên hiệu Sùng Trinh, nhà Minh đã công nhận vua Lê Thần Tông(1619 – 1643) là Quốc vương của Đại Việt và Chúa Trịnh Tráng lúc đó – được vua Lê trao quyền điều hành chính sự – là Phó quốc vương.

Định chế “song trùng quyền lực” này tồn tại trong suốt thời kỳ Lê – Trịnh đã cắt nghĩa tính không đồng nhất trong đồ sứ đặt làm trong thời kỳ này. Sự pha trộn giữa chuẩn mực của phong cách sứ Hoàng thất với tính phóng khoáng trong lối vẽ thiên về dân gian đã tạo nên sự tìm hiểu thú vị đối với dòng sứ này trong nhiều năm qua.

Chiếc bát “Nội Phủ Thị Trung” này (trong ảnh số trước) thể hiện rồng và long mã coi rất cổ kính; niên đại được xác định vào khoảng đầu thế kỷ thứ XVIII. Con rồng bốn móng – theo các định chế xưa thì chỉ có vua mới được dùng đồ vẽ rồng năm móng – như đang ẩn hiện trong những đám mây hướng về con long mã trên lưng chở sách và kiếm (còn gọi là Long mã đeo thư) đang đạp mây bước tới ở chiều ngược lại. Trong lòng bát vẽ một chữ “Thọ” lớn theo thể triện tròn. Tính thẩm mỹ cao tạo nên giá trị nghệ thuật của một cổ vật hội đủ ở loại bát “Nội Phủ Thị Trung” này. Hình tượng rồng ở dòng hiệu đề này như chiếc bát chẳng hạn, thể hiện rồng bốn móng; trong khi đó, ở một vài hiện vật khác cùng hiệu đề, con rồng lại chỉ thấy vẽ có ba thậm chí đôi khi chỉ có hai móng. Đây chính là đặc điểm vượt ra ngoài tính chính tắc, niêm luật mà các lò sứ chuyên sản xuất đồ dùng cho Hoàng thất của Trung Quốc không bao giờ mắc phải, trừ khi họ nhận được “thượng dụ” được phép chế tác các sản phẩm như thế.

Tương tự như vậy, cách thể hiện mây, rồng, long mã trên cùng một loại nậm rượu hiệu “Nội Phủ Thị Trung” (trong ảnh) đã cho thấy những nét khác biệt; đôi khi làm thay đổi cả bố cục trang trí. Điều này không bao giờ thấy xuất hiện trên những đồ “ngự dụng” luôn phải tuân theo tính quy phạm nghiêm ngặt. Một đặc điểm dễ nhận thấy là tuy “Nội Phủ Thị Trung” có những điểm khác biệt trong hình thức thể hiện nhưng bố cục chung – cho dù trong hình tròn như đĩa hoặc theo chiều đứng như trên các nậm rượu, ống bút và theo dải như trên các loại bát… – đều có xu hướng kéo dãn các hình thể. Đây là đặc điểm dễ nhận ra trong các bức tiểu họa trên sứ của các nghệ nhân dân gian Trung Quốc suốt thời Minh mạt Thanh sơ vào nửa cuối thế kỷ thứ XVII. Tính thiếu đồng nhất trong bố cục cùng những chi tiết quan trọng thể hiện chung một đề tài cho thấy dòng đồ này muốn khẳng định tính quan dụng, đôi khi là dân dụng nhiều hơn là “ngự dụng” – của nhà vua – thường mang tính đồng nhất, chính tắc cao.

Dẫu vậy, dòng sứ này đến nay đã được giới sưu tập thừa nhận là “thượng phẩm” bởi tính trội về giá trị nghệ thuật cũng như lịch sử của chúng so với các loại sứ “nhập khẩu” do nhu cầu dân dụng cùng thời.  Bằng vào sự thuần nhất của cốt sứ, sắc lam vẽ trên món đồ cùng lớp men phủ cũng như kỹ thuật cắt gọt công phu, các sản phẩm mang hiệu đề này tự khẳng định chúng được một trong số các xưởng Hoàng Thất ở Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây – Trung Quốc chế tạo. Cũng cần nêu thêm rằng, cùng thời với buổi đầu Trung Hưng của triều Lê ở Việt Nam, các phủ đệ nổi tiếng bên Trung Quốc dưới triều Minh như: Trường Phủ, Chu Phủ (niên hiệu Gia Tĩnh), Tấn phủ (niên hiệu Long Khánh), Thẩm Phủ (niên hiệu Vạn Lịch)… và đầu triều Thanh có Cư Phủ (niên hiệu Khang Hy)… đều đặt đồ sứ riêng và  đề hiệu theo tên phủ của họ như: Trường Phủ, Tấn Phủ, Cư Phủ… để dùng.

Như vậy, các chúa Trịnh với việc hoàn thành cuộc Trung hưng, lập ra “Phủ liêu” để điều hành chính sự đã cho đặt làm đồ sứ “Nội Phủ Thị Trung” bên Trung Quốc, một mặt nhằm đáp ứng cho nhu cầu sử dụng nơi phủ Chúa; mặt khác xem ra quan trọng hơn là qua “ngoại giao gốm sứ”, các chúa Trịnh muốn khẳng định mối bang giao chính thống giữa Đại Việt với nước láng giềng lớn ở phương Bắc. Hiển nhiên đường lối đối ngoại này đã góp phần tạo thế hơn hẳn của các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài so với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào thời điểm đó.

Tuy nhiên không rõ nguyên cớ, hiệu đề này vẫn còn được đặt làm cho đến tận cuối triều Nguyễn. Ngày nay “Nội Phủ Thị Trung” giả xuất hiện khá nhiều. Không ít các “sưu tập gia” ở cả trong nước và nước ngoài chỉ qua sách vở đã mua nhầm phải đồ giả hay còn gọi là đồ “phỏng” cổ chủ yếu là bát, đĩa. Do đó khi gặp “Nội Phủ Thị Trung” vẽ rồng năm móng hoặc nhân vật phải hết sức cẩn trọng.

Nhật Nam

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Advertisements

Read Full Post »

ALBUM HÌNH TOÀN TẬP GỐM SỨ CỔ TQ –

Thời kỳ từ triều đại nhà Nguyên, nhà Minh cho đến đầu nhà Thanh

Đây là Album hình mô tả theo trình tự thời gian từ thời kỳ đồ đá mới đến hết triều đại nhà Thanh của các hiện vật gốm sứ  cổ Trung Hoa tiêu biểu nhất được trưng bày tại gallery gốm sứ – Viện bảo tàng Thượng Hải từ ngày 23 -24 tháng 8 năm 2008. Đây là bộ sưu tập xuyên suốt nhất của lịch sử nghệ thuật  gốm sứ Trung Hoa mà tác giả từng biết. (Được chụp bởi Gary L. Todd, tiến sĩ, giáo sư Sử Học tại trường đại học Sias International, Xinzheng, Henan, China.)

Nhà Minh:

Hongwu

AD 1368 – 1398

Jianwen

1399 – 1402

Yongle

1403 – 1424

Hongxi

1425

Xuande

1426 – 1435

Zhengtong

1436 – 1449

Jingtai

1450 – 1456

Tianshun

1457 – 1464

Chenghua

1465 – 1487

Hongzhi

1488 – 1505

Zhengde

1506 – 1521

Jiajing

1522 – 1566

Longqing

1567 – 1572

Wanli

1573 – 1619

Taichang

1620

Tianqi

1621 – 1627

Chongzhen

1628 – 1644

Bấm trên hình để xem full-size và rỏ chú thích

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Chơi “đồ xưa” và “đồ cổ” “cổ đồ”

malcolm_magruder

MỘT BỘ SƯU TẬP

(KTNN) Chơi đồ xưa (ngoạn cổ) là một thú chơi của những người sưu tập (collectionneur) tìm chơi những thứ đồ hiện còn lưu giữ lại từ xa xưa như đồ đồng, đồ ngọc, gốm sứ, bàn ghế, tủ xưa, sách xưa, tranh thư pháp, tem thư…

Người chơi đương nhiên là người sưu tập, có học thức, học vị hay thiếu học, giàu hoặc nghèo, miễn là chịu sưu tầm, gom góp, giữ gìn quí trọng đồ xưa cũ. Thú chơi rất đa dạng, “bá bụng bá bao tử”, người chơi đồ đồng cổ, người chơi cổ ngọc, sách xưa (sách tây, quốc ngữ, Hán Nôm), gốm sứ (đất nung, gốm độc sắc (Tống) – men ngọc (thanh từ), Quân, Ca, Nhữ, Bạch Định – gốm chu sa (Nghi Hưng), gốm cây Mai, Lái Thiêu, Biên Hoà, Chu Đậu, Bát Tràng… và sứ thì sứ Minh, sứ Thanh, ngũ thái (màu), men hoa lam (sứ trắng vẽ men “cô ban” (cobalt) còn gọi là xanh trắng, T.Q. gọi là thanh hoa từ).

Cũng từ màu lam “cô ban” này mà giới chơi đồ xưa V.N. gần đây do đọc thấy cái từ “men lam Huế” của bác Vương Hồng Sển dịch chữ “bleu de Huế” của ông Tây nào đó mà dấy động sóng gió làm dòng nước sông Hương cố đô Huế từ màu lam “Hồi” ra xanh lam “Huế”, suýt nữa thành lam (chàm) “An Nam”? Rồi đến cái từ “sứ” (từ khí) tên gọi loại đồ vật mà có người lại giải thích cho người ta hiểu “sứ” (về vật) là từ chữ đi sứ (thuộc về sự) mà ra, như vậy món đồ (khi chưa có sự đi sứ) bằng chất liệu kaolin trắng tốt không phải là đồ do “đi sứ” mang về thì gọi là gì? Trở lại cái từ “men lam Huế” nói đi, rồi nói lại là đồ “ngự dụng”, “quan dụng” Lê, Nguyễn, cuối cùng thì đồ “ký kiểu”, “đặc chế”… Đến hai từ cuối cùng này chúng ta nên hiểu thế nào cho đúng? Theo chúng tôi, “ký” (      ) ghi chép, “kiểu” là từ Nôm biến từ từ “cảo” (      ): thảo ra, bản cảo bản “kiểu”, chép theo bản kiểu, đến từ “đặc chế” (thấy viết “đặc” với chữ “c” thành món đồ “chế” tạo “đặc” biệt): như vậy từ “đặc chế” không được đúng nghĩa lắm, mà “đặt” nên viết với chữ “t” tức đặt làm (chế), Trung Quốc gọi là “Đính hoá từ” (sứ đặt hàng).

janice_paull2 Trên đây mới chỉ là một số thú chơi và loại đồ cổ chơi trong đa dạng thú chơi cổ ngoạn. Giờ chúng ta trở lại cùng tìm hiểu hai từ “đồ cổ” và “cổ đồ”. Đồ cổ hay đồ xưa, Trung Quốc xưa gọi là “cốt đổng”, sách Cốt Đổng Thập Tham Thuyết của Đổng Kỳ Xương đời Minh viết: “Các công nghệ phẩm có từ nhiều đời trước linh tinh không phân biệt chủng loại còn tồn tại đến ngày nay đều gọi là đồ “cốt đổng” (“cốt” là xương dù cho thịt da tiêu hoại (hư mất) hết chỉ còn lại xương, “đổng” có nghĩa là “minh hiểu” tức hiểu rõ cái tinh hoa do người xưa tạo tác còn lưu lại). Lại có ý kiến cho rằng từ “cốt đổng” là chuyển âm của từ “cổ đồng”, nhưng “cốt đổng” đâu phải đều là đồ “đồng cổ” (cổ đồng).

Tóm lại, từ “cốt đổng” với nghĩa “hiểu rõ những thứ đồ xưa còn sót lại, đáng quí trọng” là chấp nhận được. Từ “cốt đổng” này mãi đến thời mạt Minh, trong văn học thành văn thấy có từ “cổ đổng” thay cho “cốt đổng” (Xét ra từ “cổ đổng” có ý nghĩa bao quát hơn, ít nhiều mất đi ý nghĩa “đồ linh tạp ngày xưa còn giữ lại” của từ “cốt”, và nó vẫn được thông dụng đến nay với nội dung ý nghĩa mới: “cổ đổng” là khí vật quí hiếm của các thời đại xa xưa để lại, “cổ đồ” là từ rút ngắn của từ “bác cổ đồ” hay “cổ đồ bác cổ”, là một loại “tranh” vẽ truyền thống của Trung Quốc. Nội dung chuyên vẽ (mô tả) lại một số cổ vật chủ yếu như: đồ đồng, ngọc, gốm sứ, đá chạm… và có điểm xuyết thêm bên cổ vật các loại hoa, cỏ, củ, quả, bố cục hài hoà đem lại hiệu quả thẩm mỹ sống động cho bức vẽ. Loại “cổ đồ” này có từ đời Tống, vua Tống Huy Tông Triệu Kiết (C.N.1101) từng chiếu lệnh Viện Hàn lâm đồ hoạ vẽ lại hết tất cả cổ vật bảo tàng trong nội cung thành 30 quyển gọi là “Tuyên Hoà bác cổ đồ” nên từ “cổ đồ bác cổ” có từ đó. Sau này chúng ta thấy trên một số khí vật tiểu thủ công nghiệp người ta theo đề tài (cổ đồ) này vẽ hình những cổ vật trang trí trên các mỹ thuật phẩm như đồ sứ, đồ gỗ, đồ đồng, sơn mài… Những mỹ thuật phẩm này đều gọi là “bác cổ thức” hay “cổ đồ”, và cũng từ đề tài “bác cổ thức” có nghệ nhân còn đưa bộ “bát bửu” (tám bửu bối) của Phật gia vào trang trí, gọi là đồ “cổ đồ bát bửu” (tám món báu gồm có: 1) Pháp loa (Óc), 2) Bàn trường hoặc triền (dây vải dài đan thắt quanh co thành “hồi văn” hình thoi để kết tua tụi), 3) Bửu cái (nắp đậy), 4) Pháp luân (bánh xe), 5) Song ngư (đôi cá), 6) Liên hoa (hoa sen), 7) Bửu bình (bình báu), 8) Bửu tán (dù lọng).

Áp dụng đề tài “Cổ đồ bác cổ” trang sức trên khí vật, mỹ thuật, nhất là trên đồ sứ vào thời Càn Long rất thịnh hành. Họ thiêu chế những tấm tranh sứ (từ bản) khảm vào cửa tủ kệ cất chứa đồ cổ của vua quan thời đó gọi là tủ kệ “đa bửu các” (hay “cách”), hoặc trên những tấm bình phong (án gió), giường sạp, ghế tựa… Ngày nay thảng hoặc chúng ta còn có thể thấy lại loại đồ cổ trang trí loại hình “cổ đồ bác cổ” này, thậm chí còn thấy có những món đồ sứ men hoa lam ký hiệu “bác cổ”, xem ra người xưa khá ưa chuộng lối trang trí đề tài “cổ đồ bác cổ”.

Tóm lại, “cổ đồ” là những “đồ hình vẽ, các khí vật cổ (lư đồng cổ, đỉnh cổ, bình cổ, ngọc như ý cổ,…) như trên chúng tôi đã viết theo những gì mình đọc thấy qua sách vở, cũng chỉ mong quí bạn đọc ngày nay cùng chúng tôi nhận định đúng nghĩa những từ ngữ Hán Việt mà mình gặp phải. Như có chú nhỏ hỏi tôi: “Trong giới chơi đồ cổ phải chăng có thể chia thành hai “trường phái” chính: trường phái “cổ đồ” và trường phái “sưu tập”? Chú nhỏ nói tiếp: trường phái “sưu tập” thì biết rồi, người chơi đồ xưa nào mà không đi tìm kiếm góp nhặt, nói sưu tập chỉ là nói chữ thôi. Nhưng còn trường phái “cổ đồ” thì phải hiểu thế nào, “cổ đồ” có phải là đồ cổ chăng?”. Có điều chắc là trường phái “cổ đồ” không phải là phái chuyên sưu tập “cổ đồ” (bác cổ)!

Vẫn biết thói chơi nào mà không gặp chuyện bất như ý, mong sao bài viết thiển cận này đến với quí bạn đọc như lời thì thầm, cùng cười khì xí xoá hết mọi nỗi bất bình bởi mấy từ ngữ bất ý

Hơi đồ xưa (ngoạn cổ) là một thú chơi của những người sưu tập (collectionneur) tìm chơi những thứ đồ hiện còn lưu giữ lại từ xa xưa như đồ đồng, đồ ngọc, gốm sứ, bàn ghế, tủ xưa, sách xưa, tranh thư pháp, tem thư… Người chơi đương nhiên là người sưu tập, có học thức, học vị hay thiếu học, giàu hoặc nghèo, miễn là chịu sưu tầm, gom góp, giữ gìn quí trọng đồ xưa cũ. Thú chơi rất đa dạng, “bá bụng bá bao tử”, người chơi đồ đồng cổ, người chơi cổ ngọc, sách xưa (sách tây, quốc ngữ, Hán Nôm), gốm sứ (đất nung, gốm độc sắc (Tống) – men ngọc (thanh từ), Quân, Ca, Nhữ, Bạch Định – gốm chu sa (Nghi Hưng), gốm cây Mai, Lái Thiêu, Biên Hoà, Chu Đậu, Bát Tràng… và sứ thì sứ Minh, sứ Thanh, ngũ thái (màu), men hoa lam (sứ trắng vẽ men “cô ban” (cobalt) còn gọi là xanh trắng, T.Q. gọi là thanh hoa từ).

Cũng từ màu lam “cô ban” này mà giới chơi đồ xưa V.N. gần đây do đọc thấy cái từ “men lam Huế” của bác Vương Hồng Sển dịch chữ “bleu de Huế” của ông Tây nào đó mà dấy động sóng gió làm dòng nước sông Hương cố đô Huế từ màu lam “Hồi” ra xanh lam “Huế”, suýt nữa thành lam (chàm) “An Nam”? Rồi đến cái từ “sứ” (từ khí) tên gọi loại đồ vật mà có người lại giải thích cho người ta hiểu “sứ” (về vật) là từ chữ đi sứ (thuộc về sự) mà ra, như vậy món đồ (khi chưa có sự đi sứ) bằng chất liệu kaolin trắng tốt không phải là đồ do “đi sứ” mang về thì gọi là gì? Trở lại cái từ “men lam Huế” nói đi, rồi nói lại là đồ “ngự dụng”, “quan dụng” Lê, Nguyễn, cuối cùng thì đồ “ký kiểu”, “đặc chế”… Đến hai từ cuối cùng này chúng ta nên hiểu thế nào cho đúng? Theo chúng tôi, “ký” (      ) ghi chép, “kiểu” là từ Nôm biến từ từ “cảo” (      ): thảo ra, bản cảo bản “kiểu”, chép theo bản kiểu, đến từ “đặc chế” (thấy viết “đặc” với chữ “c” thành món đồ “chế” tạo “đặc” biệt): như vậy từ “đặc chế” không được đúng nghĩa lắm, mà “đặt” nên viết với chữ “t” tức đặt làm (chế), Trung Quốc gọi là “Đính hoá từ” (sứ đặt hàng).

Trên đây mới chỉ là một số thú chơi và loại đồ cổ chơi trong đa dạng thú chơi cổ ngoạn. Giờ chúng ta trở lại cùng tìm hiểu hai từ “đồ cổ” và “cổ đồ”. Đồ cổ hay đồ xưa, Trung Quốc xưa gọi là “cốt đổng”, sách Cốt Đổng Thập Tham Thuyết của Đổng Kỳ Xương đời Minh viết: “Các công nghệ phẩm có từ nhiều đời trước linh tinh không phân biệt chủng loại còn tồn tại đến ngày nay đều gọi là đồ “cốt đổng” (“cốt” là xương dù cho thịt da tiêu hoại (hư mất) hết chỉ còn lại xương, “đổng” có nghĩa là “minh hiểu” tức hiểu rõ cái tinh hoa do người xưa tạo tác còn lưu lại). Lại có ý kiến cho rằng từ “cốt đổng” là chuyển âm của từ “cổ đồng”, nhưng “cốt đổng” đâu phải đều là đồ “đồng cổ” (cổ đồng).

Tóm lại, từ “cốt đổng” với nghĩa “hiểu rõ những thứ đồ xưa còn sót lại, đáng quí trọng” là chấp nhận được. Từ “cốt đổng” này mãi đến thời mạt Minh, trong văn học thành văn thấy có từ “cổ đổng” thay cho “cốt đổng” (Xét ra từ “cổ đổng” có ý nghĩa bao quát hơn, ít nhiều mất đi ý nghĩa “đồ linh tạp ngày xưa còn giữ lại” của từ “cốt”, và nó vẫn được thông dụng đến nay với nội dung ý nghĩa mới: “cổ đổng” là khí vật quí hiếm của các thời đại xa xưa để lại, “cổ đồ” là từ rút ngắn của từ “bác cổ đồ” hay “cổ đồ bác cổ”, là một loại “tranh” vẽ truyền thống của Trung Quốc. Nội dung chuyên vẽ (mô tả) lại một số cổ vật chủ yếu như: đồ đồng, ngọc, gốm sứ, đá chạm… và có điểm xuyết thêm bên cổ vật các loại hoa, cỏ, củ, quả, bố cục hài hoà đem lại hiệu quả thẩm mỹ sống động cho bức vẽ. Loại “cổ đồ” này có từ đời Tống, vua Tống Huy Tông Triệu Kiết (C.N.1101) từng chiếu lệnh Viện Hàn lâm đồ hoạ vẽ lại hết tất cả cổ vật bảo tàng trong nội cung thành 30 quyển gọi là “Tuyên Hoà bác cổ đồ” nên từ “cổ đồ bác cổ” có từ đó. Sau này chúng ta thấy trên một số khí vật tiểu thủ công nghiệp người ta theo đề tài (cổ đồ) này vẽ hình những cổ vật trang trí trên các mỹ thuật phẩm như đồ sứ, đồ gỗ, đồ đồng, sơn mài… Những mỹ thuật phẩm này đều gọi là “bác cổ thức” hay “cổ đồ”, và cũng từ đề tài “bác cổ thức” có nghệ nhân còn đưa bộ “bát bửu” (tám bửu bối) của Phật gia vào trang trí, gọi là đồ “cổ đồ bát bửu” (tám món báu gồm có: 1) Pháp loa (Óc), 2) Bàn trường hoặc triền (dây vải dài đan thắt quanh co thành “hồi văn” hình thoi để kết tua tụi), 3) Bửu cái (nắp đậy), 4) Pháp luân (bánh xe), 5) Song ngư (đôi cá), 6) Liên hoa (hoa sen), 7) Bửu bình (bình báu),  Bửu tán (dù lọng).

Áp dụng đề tài “Cổ đồ bác cổ” trang sức trên khí vật, mỹ thuật, nhất là trên đồ sứ vào thời Càn Long rất thịnh hành. Họ thiêu chế những tấm tranh sứ (từ bản) khảm vào cửa tủ kệ cất chứa đồ cổ của vua quan thời đó gọi là tủ kệ “đa bửu các” (hay “cách”), hoặc trên những tấm bình phong (án gió), giường sạp, ghế tựa… Ngày nay thảng hoặc chúng ta còn có thể thấy lại loại đồ cổ trang trí loại hình “cổ đồ bác cổ” này, thậm chí còn thấy có những món đồ sứ men hoa lam ký hiệu “bác cổ”, xem ra người xưa khá ưa chuộng lối trang trí đề tài “cổ đồ bác cổ”.

Tóm lại, “cổ đồ” là những “đồ hình vẽ, các khí vật cổ (lư đồng cổ, đỉnh cổ, bình cổ, ngọc như ý cổ,…) như trên chúng tôi đã viết theo những gì mình đọc thấy qua sách vở, cũng chỉ mong quí bạn đọc ngày nay cùng chúng tôi nhận định đúng nghĩa những từ ngữ Hán Việt mà mình gặp phải. Như có chú nhỏ hỏi tôi: “Trong giới chơi đồ cổ phải chăng có thể chia thành hai “trường phái” chính: trường phái “cổ đồ” và trường phái “sưu tập”? Chú nhỏ nói tiếp: trường phái “sưu tập” thì biết rồi, người chơi đồ xưa nào mà không đi tìm kiếm góp nhặt, nói sưu tập chỉ là nói chữ thôi. Nhưng còn trường phái “cổ đồ” thì phải hiểu thế nào, “cổ đồ” có phải là đồ cổ chăng?”. Có điều chắc là trường phái “cổ đồ” không phải là phái chuyên sưu tập “cổ đồ” (bác cổ)!

Vẫn biết thói chơi nào mà không gặp chuyện bất như ý, mong sao bài viết thiển cận này đến với quí bạn đọc như lời thì thầm, cùng cười khì xí xoá hết mọi nỗi bất bình bởi mấy từ ngữ bất ý

(Theo Kiến Thức Ngày Nay 572)

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Bộ sưu tầm gốm sứ và cổ vật khác tại 1 căn nhà ở Tp HCM

Bộ sưu tập này được gọi tên là bộ sưu tập Dương – Hà theo họ của vợ chồng nhà sưu tập và chủ nhân của nó. (Hình chụp vào năm 2006)

Click để xem full size

hình đầu : M. Duong Minh Thoi et soun épouse, née Hà Thi Ngoc.

 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Bộ sưu tập Bleu de Hue trưng bày tai VBT mỹ thuật Huế do nhiều nhà sưu tập góp lại

28523562_m

Plate,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 2,50 cm, D. 10,20 cm,
Huê, Museum of Fine Arts, inv. BTH.293.S-01.GM.2515
pattern : ngu tao (“five fishes”)

28523563_m

Base of the plate with the inscripion “Tu Duc Mau Thin trung thu Dang quy tu duong te khi ngu tao”,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 2,50 cm, D. 10,20 cm,
Huê, Museum of Fine Arts, inv. BTH.293.S-01.GM.2515

28523564_m

China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 2,50 cm, D. 13,50 cm,
Huê, Museum of Fine Arts, inv. BTH.294.S-01.GM.2516
pattern : “ngu thuy” (nine fishes)

28523566_m

Base of the plate with the inscripion “Tu Duc Mau Thin trung thu Dang quy tu duong te khi ngu thuy”,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 2,50 cm, D. 13,50 cm,
Huê, Museum of Fine Arts, inv.

28523567_m

Covered rice bowl (lid missing ),
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 7,50 cm, D. 10,50 cm,
Ho Chi Minh city, collection Dang Mau Son
pattern : “phuc ly tuy truong”

28523737_m

Bowl,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain in underglaze cobalt-blue,
H. 8 cm, D. 21 cm,
Ho Chi Minh city, Museum of Vietnamese History, gift of Vuong Hong Sen
pattern : “Dong mach co tung” (deer and pine)

28523738_m

Plate,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain in underglaze cobalt-blue,
H. 2,50 cm, D. 16,50 cm,
Ho Chi Minh city, collection Tran Dinh Son,
pattern : “mai tuyet” (prunus flowers and snow)

28523741_m

Bowl,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 4 cm, D. 12 cm,
Ho Chi Minh city, collection Tran Dinh Son
pattern : “lân chi trinh tuong” (two qilin)

28523742_m

Base of the bowl with the inscription “Tu Duc Mau Thin trung thu Dang quy tu duong te khi lan chi trinh tuong”
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 4 cm, D. 12 cm,
Ho Chi Minh city, collection Tran Dinh Son

28523743_m

Plate,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 2,50 cm, D. 13,50 cm,
Huê, Museum of Fine Arts.
Pattern : “phung mao tê my” (phoenix and poenies)

28523844_m

Base of the plate with the inscription “Tu Duc Mau Thin trung thu Dang quy tu duong te khi phung mao te my”
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain with underglaze cobalt-blue decoration,
H. 2,50 cm, D. 13,50 cm,
Huê, Museum of Fine Arts.

28523850_m

Plate,
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain decorated with cinnamon-tree et orchid in underglaze cobalt-blue,
D. 13,50 cm,
Hue, private collection
pattern : “lan quê dang phuong” ( orchid and cinnamon)

28523856_m

Base of the plate with inscription : “Tu Duc Mau Thin trung thu Dang quy tu duong te khi lan quê dang phuong”
China, Guangdong,
Qing dynasty, 1868,
porcelain decorated with cinnamon-tree et orchid in underglaze cobalt-blue,
D. 13,50 cm,
Hue, private collection

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Một số hiện vật men lam trong bộ sưu tập của cụ Vương Hồng Sển

Bấm trên hình để xem full size

Vương Hồng Sển

Vương Hồng Sển (1902-1996), bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam. Khi chết ông đã hiến tặng ngôi nhà (Vân đường phủ) và toàn bộ bộ sưu tập đồ cổ của mình cho Nhà nước với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông. Năm 2003, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố ngôi nhà này (địa chỉ: số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, Quận Bình Thạnh).

Tiểu sử

Ông sinh ngày 27 tháng 9, 1902[1], tại Sóc Trăng , mang ba dòng máu Việt, Hoa, Miên. Nguyên tên thật ông là Vương Hồng Thạnh hay Thịnh, khi làm giấy khai sinh người giữ sổ lục bộ nghi nhầm là Sển (theo cách phát âm tiếng Hoa).

Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là trường Phổ thông trung học Lê Quý Đôn). Từ năm 1923 đến năm 1943 ông làm thư ký tại Dinh Thống đốc Sài Gòn. Từ năm 1947, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964

Sau khi về hưu, ông chuyên sưu tập các loại sứ gốm cổ, khảo cổ về hát bội, cải lương và cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn với các bút hiệu: Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai. Ngoài ra, ông còn khảo cứu về các trò chơi cổ truyền: đá dế, chọi gà, chọi cá, chơi chim, trồng kiểng, nghệ thuật chơi cổ ngoạn, nghiên cứu về chuyện tiếu lâm xưa và nay, rất sành về đồ cổ. Có thể nói ông là kho tàng sống về các lãnh vực kể trên.

Trong suốt cuộc đời, ông sưu tầm được hơn 800 cổ vật, trong đó nhiều nhất, độc đáo nhất là đồ gốm men xanh trắng thế kỷ XVII-XIX. Ông đã góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại một số loại hình đồ gốm và hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho những người thích sưu tầm đồ cổ. Các công trình nghiên cứu của ông được giới chuyên môn đánh giá cao.

Ông mất ngày 9 tháng 12, 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 94 tuổi.

Chú thích

▲ Theo giấy khai sinh thì ông sinh ngày 4 tháng 1 năm 1904.

 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Chu Đậu, đồ gốm cổ truyền Việt Nam

m-4_vitrine_bleu___blanc_l_


Sau nền mỹ thuật đồ gốm rực rỡ thời Lý Trần, từ cuối thế kỷ 14 ở Việt Nam ta thấy phát triển loại men, loại hoa văn vô cùng độc đáo, rất cao cả về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Đó là thời kỳ tột đỉnh của đồ gốm Việt Nam, loại đồ gốm mà ngày nay được biết dưới tên “Đồ Gốm Chu Đậu”.

Đồ gốm Chu Đậu chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy biển suốt mấy trăm năm. Những món còn được lưu giữ ở các viện bảo tàng bên Châu Âu thì đã từng bị xếp lộn vào đồ gốm Trung Hoa.

Gốm Chu Đậu chỉ được biết đến và tìm hiểu từ khi ông Makato Anabuki (thuộc tòa đại sứ Nhật Bản ở Hà Nội) nhìn thấy ở viện bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Turkey) một bình cao cổ men trắng xanh, hoa văn cánh sen và hoa mẫu đơn, với câu “Thái Hoà bát niên. Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút” – nghĩa là: Ở phủ Nam Sách, năm Thái Hòa thứ tám, bà họa sĩ họ Bùi vẽ chơi. Địa danh Nam Sách Châu cho ta biết nơi chế tạo (châu Nam Sách tỉnh Hải Dương), và chữ Thái Hòa bát niên cho ta biết năm chế tạo (1450 năm Thái Hòa thứ tám, đời vua Lê Nhân Tông).

Từ đây những nhà khảo cổ mới hướng về phủ Nam Sách, rồi năm 1983 ở làng Chu Đậu, dưới vườn nhà một nông dân là ông Vang, người ta đào được các di tích lò gốm. Rồi việc tìm kiếm, khai quật bắt đầu, và tìm thấy cả một nền đồ gốm rực rỡ, thịnh vượng kéo dài 3, 4 thế kỷ. Những khai quật này đưa đến trung tâm của nền nghệ thuật này: Phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Ở đây ngoài làng Chu Đậu còn có các lò gốm khác ở làng Vạn Yên, làng Gốm, làng Ngói, làng Phú Điền, làng Phúc Lão, làng Cậy…. Đồ gốm Chu Đậu được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ, đình chùa, từ đường và nhiều nhất là dưới các tầu buôn chìm ngoài khơi Hội An, Đà Nẵng…

Từ đây người ta ít gọi các món đồ này là đồ gốm Chu Đậu.

Gọi là đồ gốm Chu Đậu, bởi vì đây là nơi di tích các lò gốm cổ sản xuất loại đồ gốm này được khám phá ra trước nhất. Những khai quật trong năm 1986, 1987, 1989, 1991, 1992 và 1993, cho thấy đồ gốm Chu Đậu được sản xuất ở rất nhiều nơi gần bờ sông trong tỉnh Hải Dương mà tập trung nhiều nhất ở phủ Nam Sách.

Đồ gốm Chu Đậu hình dáng thanh tao, nước men trong mà mỏng, hoa văn đầy hình ảnh đời sống thôn làng Việt Nam. Đồ gốm Chu Đậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ 14, rực rỡ nhất vào thế kỷ 15, 16 rồi tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, trong khi các lò gốm khác ở Hải Dương còn sản xuất những món đồ không men (nồi đất, chum, vại…) cho đến thế kỷ 18, hay cho mãi đến bây giờ như làng Cậy, làng Lâm Xuyên (chuyên làm nồi đất không men).

Làng Chu Đậu từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu, họ không biết làm đồ gốm nữa và cũng không ngờ rằng ông cha họ đã từng làm những món đồ gốm tinh xảo, tuyệt mỹ. Các lò gốm ngày xưa nay đã nằm sâu dưới ruộng nương, vườn tược. Một địa danh trong làng là “Đống Lò” nhưng chính dân làng vẫn không biết là lò gì.

Bao quanh bởi nhiều con sông lớn, người dân làng Chu Đậu có những phương tiện giao thông tiện lợi. Họ có thể chuyển đồ lên Thăng Long, ra Phố Hiến, Vân Đồn để bán trong nước, để xuất cảng ra nước ngoài. Họ có thể chuyên chở đất sét mịn mua từ Hố Lao (Đông Triều, Quảng Yên) chỉ cách đó 30km một cách nhanh chóng, dễ dàng. Thành công về thương mãi, họ có cơ hội, có phương tiện, có động cơ phát huy nghệ thuật và kỹ thuật rất cao. Những dòng họ tài danh nhất về đồ gốm ở làng Chu Đậu là họ Đặng, họ Vương. họ Bùi, họ Đỗ. Với những kỳ tài như Vợ chồng Đặng Huyền Thông – Nguyễn Thị Đỉnh, Đặng Hữu, Đặng Tính Không…

Đồ gốm Chu Đậu cũng có nhiều thứ như men ngọc (celadon), men nâu, men trắng, men lục. Tuy nhiên tiêu biểu nhất là men trắng trong với hoa văn mầu xanh (men trắng chàm) và men trắng trong với hoa văn ba mầu vàng, đỏ nâu và xanh lục (men tam thái)

Men ngọc, men trắng, men nâu và men nâu đen thường bị lẫn với đồ gốm đời Lý Trần, tuy nhiên, hoa văn trên men Lý nhiều ảnh hưởng Phật Giáo, hoa văn Chu Đậu phản ảnh đời sống nông thôn Việt Nam, hoa văn trên men Lý thường được vẽ bằng cách khắc chìm hay khắc nổi, hoa văn Chu Đậu được vẽ bằng men mầu. Men ngọc thời Chu Đậu cầm thấy nặng tay, chất đất thô hơn và tiếng gõ không thanh như men ngọc của người Tầu. Bình ấm thời Lý thường có vòi hình đầu rồng, hình vòi voi, hình đầu chim… Các bát đĩa đời Lý thường còn xót lại dấu con kê rõ ràng, đồ gốm Chu Đậu khéo hơn dấu con kê không còn nữa. Đáy các chén đĩa thời Lý thường để trơ đất mộc, đáy của đồ gốm Chu Đậu thường được quét một lớp son nâu, mầu đậm, thường khi vẫn còn nguyên dấu bút. Lớp son nâu này không phải là men, mà chỉ là một lớp son pha bằng mầu nâu rất mỏng để bảo vệ đáy chén đĩa.

Men trắng Chàm và men tam thái nổi danh và được ưa chuộng hơn cả. Men trắng chàm chiếm số lượng cao nhất. Các món đồ vớt được ở ngoài khơi Đà Nẵng – Hội An cũng đều là men trắng chàm. Do đó, khi nói về đồ gốm Chu Đậu, người ta chỉ thường biết về loại này mà ít để ý đến các loại men khác. Đồ gốm Chu Đậu men trắng chàm thường thấy bây giờ là những món Chu Đậu chúng tôi coi là thuộc hạng kém hơn về phẩm chất. Những món có phẩm chất cao, tuyệt đẹp đã nằm trong tay các nhà sưu tập chuyên nghiệp ở Au Châu, ở Úc Châu, ở Singapore, ở Hong Kong, ở các viện bảo tàng Au Châu và Ả Rập… Từ đầu thập niên 1980 cho đến cuối thập niên 1990, những nhà sưu tập này đã vào Việt Nam vào mua hết tất cả, với những giá rất rẻ. Loại đồ gốm Chu Đậu hạng nhất này nhiều món đẹp tuyệt vời, bứt xa đồ nhà Minh, và đẹp không kém gì đồ gốm men lam của nhà Thanh bên Tầu.

Tuyệt vời nhất là hoa văn trên men trắng chàm và men tam thái. Hình ảnh thuần túy Việt Nam. Họ vẽ tàu lá chuối, nhánh rong, chim sẻ, chim chích chòe, con tôm, con cá bống, con cóc, con rùa, cọng rau muống, bông hoa cúc, hoa sen. Cũng như các bình ấm Việt Nam đời trước, thảng hoặc lắm ta mới thấy một vài bình, ấm thời Chu Đậu có quai cầm, còn ngoài ra, nơi quai cầm chỉ là một vật trang trí như con rùa, con cá, bông sen… theo đúng truyền thống đồ gốm Việt Nam từ các thời trước.

Về thứ loại, về hình dạng thì đồ gốm Chu Đậu thật phong phú: Bát chân cao, Bát chân thấp, Tô, Đĩa, Chén, Tước, Bình, Ấm, Au, Chậu, Lu, Hũ, Chậu, Bát Hương, Bát Trầm, Chân Đèn, Hộp, Lọ, Bình Vôi, nghiên mực thì lại cũng dùng hình ảnh nông thôn như nghiên mực hình con trâu, con cua, rồi lại còn đồ chơi của trẻ em như các hình tượng con gà, con cóc, con lợn, người cưỡi ngựa… thôi thì đủ cả, từ các món đồ dùng trong nhà người dân, trong đình chùa, trong nhà giới trưởng giả, cho đến đồ xuất cảng… Nhưng xem đồ gốm Chu Đậu mà bỏ qua bình tỳ bà thì thật là uổng. Món này xa lạ với sinh hoạt dân gian Việt Nam. Ngoài các cuộc khai quật ở các lò gốm cũ ở làng Chu Đậu, loại bình này thường được tìm thấy từ các tầu buôn đắm ngoài khơi Hội An – Đà Nẵng. Phải chăng nó chỉ được làm để xuất cảng sang Ả Rập? Người Ả Rập dùng làm gì?

Như tên gọi bình tỳ bà có hình dáng giống cây đàn tỳ bà để dựng đứng. Mình thuôn tròn, cổ nhỏ, miệng loe, thân tròn phình to. Thường có bốn tầng hoa văn, trong lòng miệng bình cũng có h ình vẽ hoa lá. Tầng thứ nhất ở chung quanh cổ bình hoặc vẽ những tầu lá chuối hay hình cây lúa, tầng thứ hai thì khi hình hoa cúc, hoa mẫu đơn, khi thì những chuỗi hình xoắn ốc đứng, tầng thứ ba lớn nhất là hình chim chích choè, chim sẻ hay là những ô vẽ đợt sóng biển bên cạnh những ô vẽ hình hoa lá, tầng dưới cùng là các ô với những vòng tròn hình bầu dục chồng lên nhau.

Tước (hay bôi), tức là ly uống rượu chân cao, thì ngoài những tước men ngọc, mầu xanh trong, còn có những sáng kiến kỳ diệu như tước thần kim quy. Ẩn trong chân tước này là một quả nổi để lộ hình rùa thần kim quy ngồi dưới đáy, khi rượu được rót vào, thì hình thần kim quy từ từ nổi lên theo mực rượu trong lòng tước.

Đĩa Chu Đậu rất đẹp, men trắng trong với hoa văn mầu chàm. Có những đĩa tam thái rất lớn (đường kính đến khoả ng 50cm), nhưng thường thường thì vào khoảng hơn 25cm đường kính. Vành đĩa là một vành rộng 5cm vẽ cành rau, nhánh lá, tâm đĩa vẽ nhiều hình rất đẹp: Hình con công, con vạc, con nghê, cá chép vượt vũ môn, hươu chạy trên đồng cỏ, bên khóm trúc, bờ lúa, đôi chích chòe, đàn vịt bơi trên hồ sen, trận thủy chiến, cành mai, đóa cúc, đóa mẫu đơn… đường kính độ 15cm. Vành ngoài thành đĩa cũng vẽ những hình hoa lá rất chi tiết. Hoa văn mầu xanh chàm, đĩa lớn thì thường là men ba mầu (Tam Thái).

Bát Chu Đậu cũng thường là men trắng chàm, đường kính ở miệng bát từ 14 đến 16cm, cao từ 8 đến 10cm. Nhiều loại hoa văn khác nhau. Khi thì chim sẻ đậu trên cành mai, khi thì đóa cúc, đóa mẫu đơn, khi thì lại là khóm phong lan… trong lòng bát.

Một món đồ kỳ thú, có hình dáng nửa đĩa nửa bát. Đường kính miệng độ 11cm, đường kính đáy độ 7cm, cái thấp thì cao gần 4cm, cái cao vào khoảng hơn 6cm. Những món này không thấy có trong đồ gốm đời Lý Trần, mà cũng không thấy trong đời sống người Việt. Tới chừng thấy người Ả Rập bây giờ dùng một thứ tương tự để uống trà, ta mới hay đây là đồ dùng để chỉ xuất cảng sang vùng đó.

Cũng làm để xuất cảng sang Ả Rập là các hộp phấn và lọ nước hoa. Hộp phấn tròn, lọ nhỏ Vành miệng thường là hoa sen, thân lọ thì là cành hoa, nhành lá rất mỹ thuật. Thảng hoặc ta lạI thấy một loại đĩa nhỏ độ 4, 5cm, có chân, trong lòng không tráng men, nhưng lại có hoa văn rất dầy chạm bằng mũi nhọn làm cho lòng đĩa nhám. Loại này hay bị tưởng lầm là một thứ đế kê các chén nhỏ, nhưng thật ra, đây là đĩa của phụ nữ thời xưa dùng để dồi phấn bôi mặt.

Ngoài ra còn có rất nhiều hồ rượu hoa văn trắng chàm và hoa văn tam thái. Lại có các hồ rượu hình chim vẹt hình con gà, các chén uống trà có quai cầm là chim vẹt. Lư hương và chân đèn thời Chu Đậu lớn và đẹp vô cùng. Có những chân đèn cao 70, 80cm, lư hương cao 35, 40cm. Một số lớn có ký tên người làm và đề rõ năm tháng, như vợ chồng Đặng Huyền Thông – Nguyễn Thị Đỉnh, vợ chồng Đỗ Xuân Vi, Lê Thị Ngọc, vợ chồng Bùi Duệ, Lê Thị Cận, Đặng Hữu, Đặng Tính Không, Bà họ Đỗ ở Phủ Quốc Oai, Bà họ Bùi ở Phủ Nam Sách… Chân đèn gồm hai phần chồng lên nhau, chỗ cắm nến rất lớn, đắp nổi hình rồng bốn móng. chứng tỏ đây là đồ dùng trong chùa. Năm tháng đề trên các món này tỏ rõ một giai đoạn lịch sử. Hải Dương là quê hương giòng họ Mạc. Những món đã làm khi nhà Mạc chưa lên (1527) thì đề niên hiệu vua Lê. Khi nước ta chia hai thành Bắc Triều (nhà Mạc) và Nam Triều (nhà Lê) thì các niên hiệu trên những món đồ gốm này là niên h ệu của nhà Mạc Mậu Hợp (Diên Thành, Đoan Thái, Hưng Trị) chứ không phải là niên hiệu nhà Lê nữa. Chân đèn cũng vẫn là men trắng hoa văn mầu chàm, thường gồm năm tần, dưói cùng là vành hoa sen, có khi đắp nổi hình những bông cúc, rồi đến thân của chân đèn là hai tầng lớn, tầng dưới là những hoa cúc, tầng trên là hình rồng uốn quanh, đắp nổi bằng đất mộc. Đây vẫn là con rồng Việt Nam: mình nhỏ dài, uyển chuyển, vẩy láng, râu dài, mặt hiền chứ không phải con rồng Tầu của đời Nguyễn sau này (mà buồn thay ta vẫn thấy người Việt bây giờ vẽ). Lư hương rất đẹp, nhiều cái hình tròn, nhưng nhiều cái lại hình chữ nhật, rất nhiều hoa văn rất nhiều hình chạm, hình đắp nổi hoa sen, hoa cúc và những biểu tượng Phật Giáo.

Đồ gốm Chu Đậu, những món tuyệt phẩm, những hoa văn dân tộc, những nước men trong mịn, những hình dạng thanh tú. Khởi đi xuốt những ngàn năm lịch sử phát triển dân tộc, qủa tình đến đây đồ gốm Việt Nam trở nên những món hàng được ưa chuộng từ trong nước đến ngoài thị trường quốc tế. Nào xuất cảng sang Nhật Bản, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan cho đ ến những nước Ả Rập xa xôi. Lại cũng được ưa chuộng, lưu giữ trong các nhà qúy tộc Au Châu (Năm 1590, Duke of Florence đã tặng cho Prince-Elector of Saxony một bình Chu Đậu tuyệt đẹp. Bình này hiện nay được chưng trong viện bảo tàng Johannaun ở Thụy Điển). Người Nhật rất hãnh diện về Trà Đạo của họ, nhưng mấy người Việt biết rằng Trà Đạo chỉ mới xuất hiện ở Nhật Bản từ thế kỷ 16. Và các ấm, bát uống trà của Trà Đạo Nhật chính là những món đồ gốm Chu Đậu

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »