Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘TRANH CỔ TRUNG HOA’ Category

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

*Tranh quyển lụa  khủng  ‘’TK 18’’ bán gần 31 triệu đô la tại Paris

*Bức tranh nhái lại một tác phẩm của Lang Thế Ninh …

*Tranh sơn thủy và giá trị văn hóa , tư tưởng Phương Đông

*Tứ quân tử : Mai , Lan , Cúc , Trúc  trong tranh Trung Quốc

*Ấn chương trong thư họa Trung Hoa

*38 bức họa cổ do HS cung đình nhà Thanh Giuseppe Castiglione vẽ

*Những bức hỏa cổ( bích họa ) thời Tam Quốc , Tấn, Nam- Bắc triều

*Những bộ tranh và bức tranh cổ thời nhà Tùy và nhà Đường

*Những bộ tranh và bức tranh cổ thời Ngũ Đại Thập Quốc

*Những bức họa cổ Trung Quốc thời nhà Thanh(1644- 1840) phần cuối

*Những bộ tranh và bức tranh cổ triều Tống , Liêu , Kim (960-1230)- II

*Những bộ tranh và bức tranh cổ triều Tống , Liêu , Kim (960-1230) – I

*Hội họa Trung Hoa từ hình thành đến hết triều Nam Tống

*Hội họa Trung Hoa từ triều Nguyên đến hết triều Thanh

*40 bộ tranh và bức tranh cổ thời nhà Nguyên

*86 bộ tranh và bức tranh cổ thời nhà Minh

*86 bộ tranh và bức tranh cổ thời nhà Minh

*Tìm hiểu một số hình ảnh biểu tượng trong hội họa Trung Quốc xưa

*48 bức họa cổTrung Quốc thời nhà Thanh – tiếp theo

*48 bức họa cổ TQ , thời nhà Thanh

*28 bức họa cổ Trung Quốc , thời cận đại (1840-1911)

Read Full Post »

Tranh quyển lụa “khủng” tk 18 bán gần 31 tr đô la tại Paris

Bản tin Việt ngữ trên thanhnien online:

(TNO) Một bức tranh lụa khổng lồ, dài hơn 24 mét, xuất xứ từ Trung Quốc (ảnh) vừa được bán với giá 19 triệu bảng Anh tại một cuộc đấu giá ở thủ đô Paris (Pháp).
Theo Telegraph, tác phẩm nghệ thuật nói trên được xác định thuộc thời Hoàng đế Càn Long (khoảng năm 1748). Nó từng nằm phủ bụi nhiều năm trên gác mái một căn hộ tại Paris (Pháp), trước khi được nhà đấu giá người Pháp tên Marc Labarbe mua lại.


Ảnh: AFP

Đây là một trong bộ bốn tranh lụa vẽ về cuộc diễn tập của đội quân 20.000 người của Trung Quốc vào thế kỷ 17.
Được biết, hai bức khác trong bộ bốn tranh lụa này, có một bức hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Cung điện Bắc Kinh (Trung Quốc), còn một bức đã được bán đấu giá tại Hồng Kông năm 2008, với giá 67,86 triệu USD.

Bản tin ngắn Anh ngữ trên The Canadian Press – ONLINE EDITION:

Enormous 18th-century Chinese silk scroll painting sells for more than $30 million in FranceBy: The Associated PressPosted: 03/26/2011 11:04 AM

PARIS – A giant 18th-century Chinese silk scroll painting of a military troop review has been sold at auction for more than €22 million ($30.8 million), the highest auction price for a Chinese work in France.
The work, found in a Paris attic and sold in Toulouse by auctioneer Marc Labarbe, is one of a series of four works of 17th-century manoeuvrs that mobilized some 20,000 men.
A Hong Kong collector, who asked to remain anonymous, made the winning bid Saturday of €22,057,000 after a ferocious bidding war with seven others.
The 24-meter-long (78.7 feet) horizontal scroll was painted around 1748 under Emperor Qianlong.
One of the four scrolls is in the Palace Museum of Beijing, and another was auctioned off in 2008 at Sotheby’s in Hong Kong — for $67.86 million.

Bản tin Anh ngữ cho biết thêm người thắng đấu giá mang quốc tịch HongKong phải tranh giá với 7 người khác để thắng đấu giá và Marc Labarbe là nhà đấu giá chứ không phải là thể nhân ( họ mua lại bức tranh từ chủ củ với giá khoảng 5 tới 6 tr euros! ( chú bởi KHTN)

Bản tin anh ngữ chi tiết tại tin tài chính Bloomberg:

Chinese 18th-century painting

A section from a 79-foot (24 meter) scroll showing the Quianlong emperor reviewing his troops. The 18th-century Chinese painting was originally estimated to fetch between 5 million euros ($6.9 million) and 6 million euros at the Toulouse, France-based auction house, Labarbe, on March 26. It sold for 22.1 million euros. Source: Labarbe via Bloomberg

Chinese 18th-century painting

A section from a 79-foot (24 meter) scroll showing the Quianlong Emperor reviewing his troops. It is one of four Imperial examples thought to have been looted from the Forbidden City in 1900. Source: Labarbe via Bloomberg

A Qianlong-dynasty scroll painting sold today in Toulouse, south-west France, for a record 22.1 million euros ($31 million), the latest in a series of big- ticket auction prices pledged by Asian bidders keen to buy back China’s heritage.
The price of the 79-foot (24 meter) scroll, including fees, was the most paid for a Chinese artwork at a French auction. The work, showing the army of the Qianlong emperor at a military review, was originally estimated to fetch between 5 million euros and 6 million euros by the Toulouse auction house Labarbe.
“The bidding was secure,” Pierre Ansas, the freelance Asian art specialist who catalogued the painting, said in an interview. Ansas, who will earn a commission of more than 5 percent, said the estimate was raised to 13 million euros to 15 million euros after seven Asian bidders registered to take part.
The values of Chinese antiques are rising even outside the country’s own art market, which is now second only to the U.S. On March 22 at Sotheby’s in New York, a Chinese vase decorated in gold and the “famille rose” palette sold for $18 million against an estimate of $800 to $1,200. While the piece had been catalogued as “probably Republican (early 20th century),” some people thought it was an 18th-century piece, according to Giuseppe Eskenazi, a dealer in Chinese art.
Today, the small salesroom in a quiet side street in the east of the French city was packed with more than 300 people including 40 Asian dealers, agents and collectors.

Bidding Contest

Bidders competed for 10 minutes before the scroll was knocked down to a Chinese buyer at the back of the room, brandishing paddle 109. He refused to comment after the sale. Both he and the underbidder, sitting in the second row, are Beijing-based collectors. They fought off competition from at least two other people in the room and a client on the telephone.
Five months earlier, in November, a Qianlong-dynasty vase was bid to 51.6 million pounds (then $83.2 million) at a Bainbridges sale in west Ruislip, on the outskirts of London. The price was a record for any Chinese work of art offered at auction. Auctioneer Peter Bainbridge said on Feb. 3 that he hadn’t yet received payment from the successful Beijing-based bidder.
__________________ khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Bức tranh nhái lại một  tác phẩm của Lang thế Ninh gây sửng sốt giới đấu giá tại Sotheby’s Melbourne.

Bài viết bởi Geoff Maslen – 19/05/2005
Dịch: Khanhhoathuynga.

Một phần của Bức tranh dài 7 mét nhái lại một tác phẩm của Lang thế Ninh gây sửng sốt giới đấu giá với giá bán kỷ lục tại Sotheby's Melbourne.

Một tác phẩm tranh cuộn lụa trải ra gần 7 mét không những là bức tranh dài nhất xuất hiện tại nhà đấu giá Sotheby mà còn một trong những món gây kinh ngạc cho phòng đấu giá.

Các chuyên gia của Sotheby hy vọng tấm tranh cuộn vẽ Hoàng Đế Càn Long ở thế kỷ 17 trong một chuyến đi săn nai, sẽ mang lại tối đa là 20.000 USD khi được đấu giá đêm hôm Thứ Hai.

Thay vào đó , với những giá đấu quyết liệt từ những nhà sưu tập gốc Hoa trong phòng và các cuộc gọi đấu qua điện thoại từ Trung Quốc, tác phẩm đã bán được cho một người buôn tranh Hong Kong với giá 564.500 USD.

Giá này đã gây sửng sốt cho những người tham dự đấu giá và là một kỷ lục bán tác phẩm mỹ thuật trang trí của Sotheby.

Tấm tranh cuộn đã được một nhà sưu tập ở Melbourne , ông John Kenny mua với giá vài ngàn đô vào những năm đầu thập niên 1970, người mà đã mất cách nay hai năm.

Trong tuần này , Sotheby đấu giá bộ sưu tập của ông bao gồm các bức tranh Châu Âu và Úc, gốm sứ, đồ nội thất và những tác phẩm mỹ thuật TQ. Toàn bộ thu được 1,3 triệu USD nhưng gần như một nữa là hoàn toàn nhờ vào tấm tranh.

“ Chúng tôi lập catalogue bộ sưu tập ở văn phòng Hong Kong, và bởi vì nó là bản tranh chép nhái ở thế kỷ 19 từ nguyên bản xưa hơn nên không ai kỳ vọng sẽ mang lại trị giá như khi đấu.” Chuyên gia về mỹ thuật trang trí của Sotheby, Ông Robert Bradlow nói hôm Thứ Hai.

“ Nguyên bản được vẽ vào thế kỷ 18 bởi một tu sĩ dòng tên Giuseppe Castigone, người được biết đến tại TQ với cái tên Lang Thế Ninh (Lang Shining).”

Ông Bradlow nói chuyên viên của Sotheby tại Hong Kong người mà đưa ra giá khởi điểm thấp như vậy sẽ không bị khiển trách vì thật khó để tiên đoán sẽ có thể đạt được mức giá nào tại Melbourne. Ngoài ra cũng không ai phàn nàn về cái giá cuối cùng được ghi nhận.

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tranh Sơn Thủy và Giá Trị Văn Hóa, Tư Tưởng Phương Đông

Trung Hoa là đất nước có nền văn hoá phát triển vô cùng đồ sộ cả về bề dày lịch sử lẫn chiều sâu. Trong đó, hội hoạ đạt nhiều thành công rực rỡ. Hội hoạ trong con mắt người Trung Hoa là sự tổng hoà quan niệm về vũ trụ và con người trong đó hình vẽ là những biểu hiện cao cả về khả năng sáng tạo. Thành công rực rỡ của hội hoạ cổ Trung Hoa phải nói tới mảng tranh sơn thuỷ.

Ở châu Âu thế kỷ XVII, cùng với Claude Lorrain tranh phong cảnh mới ra đời với tư cách là thể loại độc lập. Trong khi đó ở Trung Hoa, người ta quan tâm đến thể loại tranh phong cảnh sớm hơn và sáng tạo ra loại tranh sơn thuỷ từ thế kỷ VII. Tranh sơn thuỷ được thâm nhập sâu vào quan niệm thẩm mỹ của mọi tầng lớp trong xã hội Trung Hoa bất kể thời kỳ nào và lòng yêu thiên nhiên phổ cập ở mọi người dân Trung Hoa.


Chùa trên đỉnh núi – Lý Thành(li Cheng)

Chùa trên đỉnh núi – Lý Thành(li Cheng)


Khác với tranh phong cảnh của người châu Âu, tranh sơn thuỷ không chỉ là những hình vẽ mang tính sao chép thiên nhiên mà là những sáng tạo. Ở đây các hiện tượng thiên nhiên trở thành những biểu tượng của tinh thần. Chính vì vậy nói đến tranh sơn thuỷ Trung Hoa là nói đến tư tưởng, lối sống, quan điểm nhân sinh, sự suy nghĩ và tinh thần của người nghệ sỹ trước tạo vật. Tranh sơn thuỷ không chỉ dừng lại ở một bức tranh phong cảnh đẹp mà người xem còn thưởng thức cả phần tư tưởng của tranh. Nó bao quát những quan niệm vũ trụ, biểu thị nguyên lý sống của tạo vật.

Người Trung Hoa từ xưa không có tư tưởng cho mình với vũ trụ, thiên nhiên có gì ngăn cách xa lạ nên người nghệ sỹ thường mượn cảnh nói tình, lấy núi sông trời đất để biểu hiện tư tưởng của mình. Vì vậy tranh phong cảnh Trung Hoa mở ra cho chúng ta một thế giới khác – thế giới đầy mơ mộng nhưng được xây dựng bằng trí tuệ, không vay mượn hiện thực mà là những điều được gợi lên từ cái nhìn bên trong của người nghệ sỹ.

Người phương Tây thường chú trọng và đề cao kinh nghiệm, ý chí, khả năng của mình để tiếp cận chân lý. Họ nỗ lực khám phá, thu hoạch, chiếm đoạt cái vũ trụ khách quan, cái tự nhiên và xã hội bờn ngoài. Tuy nhiên, họ lại tỏ ra đối lập lạnh nhạt và ngờ vực cái vũ trụ khách quan đó. Người phương Tây vẽ tranh phong cảnh với một cái nhìn phân tích bằng thị giác và phản ánh nó bằng các yếu tố của nghệ thuật hội hoạ như đường nét, hình khối, màu sắc. Họ tả khoảng cách và tạo không gian xa gần của cảnh vật bằng cách vẽ mọi vật ở càng xa thì càng nhỏ vút về một điểm tụ ở đường chân trời, các sự vật chịu sự chi phối của ánh sáng và vờn nổi khối theo quy luật ánh sáng. Giá trị của nó ở chỗ làm cho người xem như được nhìn thấy cảnh thực và có sự rung động theo cảnh thực.

Người nghệ sỹ Trung Hoa coi tâm hồn của một người là tâm hồn của trời đất. Cái lý của một vật là cái lý chung cho cả vạn vật. Vận chuyển của một hơi thở cũng như vận chuyển của một ngày. Vì thế tranh sơn thuỷ không chỉ là cảnh sắc khách quan mà chính là tâm hồn, lối tư duy của tác giả. Xem tranh là qua hình tượng, cách biểu hiện khí chất khi biểu tả để thấu hiểu chính tác giả. Trong đó, nó chứa đựng cả sự gửi gắm tình cảm, tâm hồn, tư tưởng của người vẽ. Cũng chính vì vậy tranh sơn thuỷ không lấy lối vẽ phân tích theo cái nhìn tinh tế mô tả chi tiết cho giống với thực thu nhận qua thị giác làm trọng mà thiên về tả ý, lưu lại những hình ảnh, giữ lại cái bóng của sự vật. Họ dường như không nhìn thấy cảnh thật để sao chép nó, họ vẽ những cái tồn tại trong tình cảm của mình, do họ cảm nhận được gây cho người xem cảm giác rất xa lạ mà lại như quen thuộc tự bao giờ. Những cảm xúc đó được chuyển vào nét bút sinh động, cái nồng ấm, sống động vào khí vận của đường bút, cái cao siêu, cái lưu chuyển qua sự tương quan của thực hư, của ý tưởng trong biểu hiện. Các nghệ sỹ Trung Hoa vẽ tranh sơn thuỷ nhằm gửi gắm tâm trạng trước cuộc đời của mình vào trong đó. Cảnh chỉ là một đối tượng để tác giả mượn cớ nói về cái tâm hồn của mình một cách tế nhị. Giá trị của nó không chỉ ở cảnh sắc của tranh mà thông qua bức tranh còn thấy cả tâm hồn của tác giả.

Tranh sơn thuỷ tồn tại với bề dày lịch sử, trải qua nhiều triều đại phong kiến, tuy có những giai đoạn thăng trầm nhưng phải nói loại tranh sơn thuỷ đã có một mạch đập xuyên suốt lịch sử tồn tại chưa hề gián đoạn kể từ Hàn – Tuỳ – Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh vẫn tiếp tục kế thừa và phát huy cao độ, cho nên tranh sơn thuỷ là một loại hình hội hoạ dân tộc nằm trong hệ thống tranh quốc hoa được hun đúc từ truyền thống văn hoá, tư tưởng phương Đông đặc sắc. Đặc điểm nghệ thuật của thể loại tranh này thường được tái tạo qua phương pháp viễn thị chủ quan và sáng tạo nghệ thuật bằng con mắt nội tâm đã trở thành bản sắc dân tộc có ảnh hưởng lớn đến nhiều dân tộc ở phương Đông. Đặc biệt ở nước ta nhất là thể loại tranh thuỷ mắc (đơn sắc) đã có nhiều hoạ sỹ sử dụng mực nho trong tranh rất điêu luyện như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tiến Chung, Sỹ Ngọc … Các thế hệ hoạ sỹ trẻ cũng chịu ảnh hưởng và tiếp thu lối vẽ trong tranh lụa, giấy dó. Và trong sáng tác có cách nhìn thiên về ý tưởng nội tâm, khai thác những tình cảm trong tâm hồn, từ đó xuất hiện những hình ảnh cụ thể và hình ảnh trừu tượng gắn bó chặt chẽ. Người xem tranh sẽ thấy tác phẩm đã vượt qua tính chân thực của sự vật khách quan mà đạt đến một hàm nghĩa trừu tượng, đồng thời tạo một không gian cho người xem suy tư và liên tưởng. Ngay trong trường học sinh viên cũng được học tập, vẽ mực nho, thuốc nước nhất là trong việc đi thực tập chuyên môn ghi chép tài liệu.

Bước ngoặt quan trọng đã đưa thể loại tranh phong cảnh tách khỏi tranh nhân vật vào đời Hàn tới đời Đường thì hoàn chỉnh cả về bút pháp lẫn ý tưởng sáng tạo. Đổng Kỳ Xương (đời Minh), hoạ sỹ – nhà phê bình nghệ thuật đã vạch ra những nét lớn lịch sử của hội hoạ Trung Hoa, phân định trường phái tranh sơn thuỷ Bắc Tông và Nam Tông. Ông kính trọng và thừa nhận Lý Tư Huấn và Vương Duy là những người khái quát ra thể loại “tranh lục sơn thuỷ” và “thuỷ mặc sơn thuỷ”. Tranh của phái Lý theo xu hướng hiện thực lý tưởng gần gũi với cuộc sống theo thể loại “thanh lục sơn thuỷ”, màu sắc nhiều tầng lớp rực rỡ (phái Bắc Tông). Còn tranh Vương Duy (phỏi Nam Tông (theo hướng thoát ly thực tế, tìm về tự nhiên, nói đến tự nhiên một cách an tịnh. Ông sáng lập ra loại tranh đen trắng (thuỷ mặc) đã trở thành bản sắc của quốc hoạ Trung Hoa.


xagiá

Xa giá Đường Minh Hoàng – Lý Tư Huấn(Li zi xun)


Sông núi tuyết tan – Vương Duy (Wang Wei)

Sông núi tuyết tan – Vương Duy (Wang Wei)


Bên cạnh đó sự ảnh hưởng và tác động qua lại của các hệ tư tưởng Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo đến tranh sơn thuỷ đã đưa thể loại tranh này có giá trị nghệ thuật và tầm tư tưởng lớn, trở thành cái đẹp thanh cao, bí ẩn mà người đời luôn luôn nghiên cứu tìm tòi và học tập. Tranh sơn thuỷ không chỉ là một bức cảnh đẹp của thế giới vật chất mà chính là cái đẹp ở thái độ tâm lý của tác giả khi tiếp xúc với thế giới sự vật hiện tượng. Dù chỉ là sỏi đá, là những bụi cây cằn cỗi, mộc mạc nhưng với một thái độ đẹp, một tâm lý đẹp người ta đã chuyển hoá nó thành những bức tranh đậm tình người. Chỉ với một tờ giấy, một mảnh lụa mỏng, một chút mực và một cây bút lông người nghệ sỹ Trung Hoa đã khéo dựng một nền nghệ thuật hội hoạ sơn thuỷ rất độc đáo mang tính chất dân tộc riêng của Trung Hoa có những thành tựu đóng góp to lớn dùng cái đẹp tượng trưng qua bức tranh đã làm cảm hoá lòng người. Tất nhiên mọi thứ đều có những biến động nhưng tranh sơn thuỷ cũng có một thời của nó.

Ths. Nguyễn Thị Trang Ngà

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tứ quân tử: Mai, Lan, Cúc, Trúc trong tranh TQ

Mai, lan, trúc, cúc là đề tài quen thuộc trong hội họa Trung Quốc. Bốn chủng loại này đều có tính cách cao nhã. Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Thế nên các văn nhân Trung Quốc ái mộ mà đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.

Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên đã so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành.» (Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.)

Hoa cúc trác việt siêu phàm. Đào Tiềm, thi nhân đời Tấn, từng thốt rằng: «Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ chuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình.» (Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.)

Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu «mai thê hạc tử» (hoa mai là vợ, chim hạc là con).

Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc.» (Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc). Như vậy đủ biết địa vị của trúc được đề cao như thế nào và các tao nhân mặc khách đều xem trúc là người bạn đường không thể thiếu được.

Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh

Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh

Các họa gia cũng có cảm tình sâu đậm với tứ quân tử. Mai, lan, trúc, cúc và hội họa Trung Quốc quả có cái duyên không lìa. Trải bao tháng năm lịch sử, nhiều họa gia hậu bối đã cải tiến họa pháp, thể hiện nhiều nét tân kỳ bất tận.

Chủ đề tứ quân tử có tự bao giờ vẫn là vấn đề còn tranh cãi. Theo quyển Thập Quốc Xuân Thu Ký một vị tướng quân của triều Nam Đường tên là Quách Sùng Thao khi chinh phạt nước Thục đã bắt nhiều người. Trong số ấy có Lý phu nhân bị ông ép làm vợ. Lý phu nhân thường u sầu ủ rũ, thích ngồi một mình dưới trăng, ngắm cành trúc la đà. Do xúc cảm, bà dùng bút và mực đen vẽ nên tranh. Người ta cho rằng mặc trúc (trúc vẽ bằng mực đen) bắt đầu từ dạo ấy. Nhưng vị tất mặc trúc bắt đầu từ Lý phu nhân. Người ta biết chắc chắn tranh hoa điểu bắt nguồn từ đời Đường vậy thì bảo mặc trúc có từ Hậu Đường cũng có thể tin được.

Mai, lan, trúc, cúc bước vào hội họa chẳng qua vì chúng hàm hữu ý vị tượng trưng văn học, tiêu biểu đức hạnh của người quân tử. Đời Tống có Văn Đồng, Tô Thức nổi tiếng về mặc trúc, Thôi Bạch với mặc mai, Trịnh Tư Hữu, Triệu Mạnh Kiên với mặc lan, cho đến Triệu Xương, Hoàng Cư Bảo với mặc cúc. Tất cả nhưng danh họa gia này đã vun xới một mảnh đất, khai phóng một con đường giúp cho hội họa các triều đại kế tiếp được phát triển dễ dàng.

Trúc - tranh của Từ Vị đời Minh

Trúc - tranh của Từ Vị đời Minh

Vào đời Nguyên mặc trúc đã thịnh hành với các danh gia như Cao Phòng Sơn, Lý Tức Trai, Kha Cửu Tư, Nghê Vân Lâm, Ngô Trọng Khuê, Cố Định Chi, Triệu Mạnh Phủ, Quản Trọng Cơ, v.v… Đặc biệt, Lý Tức Trai đã thâm nhập một ngôi làng trúc, nghiên cứu mọi tư thế của cây trúc, viết thành một quyển sách để đời gọi là Trúc Phổ. Kha Cửu Tư biên soạn quyển Họa Trúc Phổ nghiên cứu họa pháp về trúc đời Tống, có thể xem là sách gối đầu giường cho người sơ học.

hoihoa4quantu d

Trúc – tranh của Ngô Trấn đời Nguyên

Đến đời Minh, tranh mai, lan, trúc, cúc cực thịnh, danh họa gia cũng nhiều như Tống Khắc, Vương Phất, Hạ Xưởng, Lỗ Đắc Chi, v.v… Nổi tiếng nhất là Hạ Xưởng. Ông tự Trọng Chiêu, bắt đầu học vẽ trúc và đá nơi Vương Phất. Về sau ông tự cải tiến lối vẽ trúc: thân trúc thẳng tắp ngạo nghễ, có sắc khói sương, chỗ đậm chỗ nhạt chỗ xơ xác cực kỳ ảo diệu. Thuở ấy có câu ca: «Hạ hương nhất cá trúc, Tây lương thập đĩnh kim.» (Một cành trúc nơi quê ông Hạ Xưởng trị giá mười nén vàng ở Tây Lương).

Danh gia tiêu biểu về mặc mai có Vương Miện và Trần Hiến Chương.Vương Miện tự là Nguyên Chương vẽ mai thướt tha tiêu sái nổi tiếng đương thời. Vương Miện và Hạ Xưởng là cặp danh gia lừng lẫy; một người về mai, một người về trúc.

Các họa gia đời Thanh vẫn tuân thủ họa pháp đời Minh. Nổi tiếng là Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân, hai di thần triều Minh. Khi Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, Bát Đại Sơn Nhân giả điên giả câm chạy trốn vào núi lánh nạn, một thời làm hòa thượng, một thời làm đạo sĩ. Bát Đại Sơn Nhân thuộc giòng dõi hoàng tộc, tên là Chu Đáp. Bút hiệu của ông ngụ ý sâu sắc: Sơn Nhân có nghĩa là người ẩn dật nơi sơn dã, còn Bát Đại 八大 khi viết thảo theo hàng dọc, chữ bát 八 thành hai chấm đè lên chữ đại 大, chúng gần giống chữ tiếu 笑 (cười) hay chữ khốc 哭 (khóc), bày tỏ tâm trạng dở khóc dở cười. Ông dùng hội họa để tiêu sầu, họa pháp chủ về tả ý, đơn sơ mạnh bạo nhưng sống động, chất chứa nỗi lòng u ẩn. Họa pháp của Thạch Đào và Bát Đại sơn nhân phóng túng tiêu sái không tuân theo những qui tắc sẵn có, nên có thể đứng riêng thành một tân họa phái. Ngoài ra có thể kể thêm một số danh họa gia đời Thanh như Trịnh Tiếp nổi tiếng về lan trúc, Lý Phương Ưng, Kim Nông, Uông Sĩ Thận nổi tiếng về mặc mai. Các họa gia cận đại như Triệu Huy Thúc, Ngô Xương Thạc, Tề Bạch Thạch sáng tạo nhiều nét tân kỳ có thể gọi là cao thủ về mai, lan, trúc, cúc.

hoihoa4quantu c

Lan – tranh Kim Nông (1687-1764)

Tứ quân tử chiếm một vị trí đặc biệt trong hội họa Trung Quốc. Qua từng thời đại các danh họa gia đã góp phần sáng tạo và thể hiện tứ quân tử thêm tân kỳ. Ngày nay các họa gia Trung Quốc đã mạnh dạn thâu hóa họa pháp Tây phương. Môn họa truyền thống này sẽ phát triển như thế nào vẫn còn là vấn đề thú vị mà người ta chưa tiên đoán được.

Lê Anh Minh – Vietsciences

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Ấn chương trong Thư Họa Trung Hoa

Ấn chương là một nét văn hoá độc đáo của người Trung Quốc. Trong nghệ thuật thư (viết chữ) và hoạ (tranh thuỷ mặc), ấn chương càng có một vai trò vô cùng quan trọng. Nếu ví một bức thư hoạ như một cành mai gân guốc trước gió đông thì ấn chương chính là cánh hồng mai điểm xuyết cho cành mai ấy. Ấn chương là một phần trong cái hồn của bức thư hoạ, bức thư hoạ chưa có ấn chương sẽ gây cho người ta cảm giác chống chếnh, chưa hoàn thành. Đặt đúng vị trí, ấn chương sẽ làm tăng giá trị cho bức thư hoạ, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Ấn chương kết hợp với thư, hoạ, bổ sung hỗ trợ cho nhau trở thành một chỉnh thể gọi là : “Kim thạch thư hoạ cộng nhất thể”.

Sở dĩ nói như vậy là vì ấn chương thường được làm bằng kim loại (trong đó chủ yếu là vàng, bạc, đồng) hoặc đá quý. Ngoài ra còn có thể làm ấn bằng ngà, gỗ quý … Vật liệu làm ấn qua quá trình lịch sử cũng có những thay đổi nhất định. Dưới thời Tống, nhiều hoạ gia, thư pháp gia kiêm làm nghề kim hoàn nên ấn được đúc bằng vàng bạc và đá quý là chính. Đến thời Minh, Thanh thì ấn lại hầu hết được làm bằng ngọc hoặc đá quý mà ít đúc bằng kim loại … Các trang trí trên ấn cũng được chạm khắc hết sức cầu kỳ, đa dạng, trong khuôn khổ bài viết này, khó có thể nói hết được, người viết chỉ xin đi sâu vào phần mặt ấn, là phần lưu dấu lại trên các tác phẩm thư hoạ mà thôi.

Xét về hình dạng, mặt ấn có rất nhiều hình dạng khác nhau, trong đó phần lớn là hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn. Ngoài ra mặt ấn chương còn có hình bầu dục, hình bán nguyệt, hình quạt hoặc đa giác … Một số ấn chương giữ nguyên theo hình dạng của viên đá được gọi là tuỳ hình chương. Đặc biệt một số ấn chương có hình bầu dục hoặc chữ nhật, được chia làm hai phần, nửa trên khắc họ, nửa dưới khắc tên của tác giả; thường là một nửa âm văn, nửa kia dương văn thì được gọi là liên châu ấn.

Nội dung ấn văn khắc trên mặt ấn có thể được khắc chìm hoặc khắc nổi. Khắc chìm, ấn chương khi in ra có nét chữ trắng trên nền đỏ, được gọi là bạch văn hay âm văn. Khắc nổi, ấn chương khi in ra sẽ có nét chữ đỏ trên nền trắng, gọi là chu văn hay dương văn.

Căn cứ vào nội dung ấn văn, người ta phân ấn chương ra làm hai loại lớn là : bằng tín chương (còn gọi là danh chương) và nhàn chương.

- Bằng tín chương (danh chương) là loại ấn khắc tên, tự, hiệu của tác giả hoặc tên tác giả đặt cho các trai, đường, quán, các của mình. Những ấn này là bằng cứ để xác định tác phẩm thư hoạ đó là của tác giả nào, ngoài ra cũng có thể có thêm các ý nghĩa khác. Nói chung ấn ghi tên chỉ có một, nhưng ấn ghi biệt hiệu có thể có rất nhiều bởi vì các tác gia thư hoạ thường có rất nhiều biệt hiệu khác nhau trong những thời gian khác nhau. Ấn ghi tên của trai, đường, quán, các có thể có hai, ba cái nhưng cũng không thể nhiều như ấn biệt hiệu. Trong các hoạ gia cổ đại Trung Quốc thì Bát Đại Sơn Nhân và Thạch Đào có nhiều biệt hiệu nhất, mỗi người có tới mấy chục ấn biệt hiệu khiến các nhà giám định thư hoạ tốn rất nhiều thời gian nghiên cứu và phân biệt.

- Nhàn chương: Khác với danh chương, nhàn chương là loại ấn khác các nội dung rất đa dạng, có thể là những lời tác giả gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình; có thể là những câu cách ngôn về lý tưởng, sự nghiệp mà tác giả tâm đắc, có thể là quan điểm của tác giả về nghệ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan của mình, và cũng có thể chỉ là ghi lai lịch, quê quán, ngày giờ sinh của tác giả …

Ấn biệt hiệu và ấn trai, đường, quán, các được xếp vào loại bằng tín chương, vì nó có tác dụng như ấn ghi tên tác giả làm bằng chứng cho tác phẩm, nhưng chúng cũng có những điểm giống như nhàn chương cả về ý nghĩa cũng như cách sử dụng trong tác phẩm thư hoạ. Bởi vì các nhà thư hoạ thường cũng là các văn nhân, những biệt hiệu và tên đặt cho trai, đường, quán, các của họ không hề giản đơn một chút nào mà trong đó thường ẩn chứa nhiều ý nghĩa hoặc những biến cố đặc biệt trong cuộc đời…

Ví như hoạ gia nổi tiếng đời Thanh – Cao Phượng Hàn, một trong “Dương Châu bát quái” có biệt hiệu là “Đinh Tỵ Tàn Nhân” (丁 巳 殘 人 )đó là do năm Đinh tỵ niên hiệu Càn Long thứ 2 (1737) tay phải của ông mắc bệnh, bị tàn phế, nên ông tự xưng là “Đinh Tỵ Tàn Nhân” rồi khắc ấn. Sau đó, ông lại ra sức rèn luyện vẽ bằng tay trái khiến phong cách vẽ tranh có một thay đổi lớn: từ thanh tân, tú nhã chuyển sang cổ quái hoang sơ, trong đó có nhân tố quyết định là tập vẽ bằng tay trái, do vậy ông lại lấy một biệt hiệu nữa là “Thượng Tả Sinh” (尚 左 生) nghĩa là người học trò chỉ còn tay trái.

Ấn biệt hiệu 01

Ấn “Đinh Tị Tàn Nhân” – Cao Phượng Hàn

Còn về ấn trai, đường, quán, các, như hoạ gia nổi tiếng Tề Bạch Thạch có ấn “Hối Ô Đường” (悔烏堂). Liên quan đến việc Tề Bạch Thạch đặt tên này cho phòng hoạ của mình có một câu chuyện rất cảm động. Nguyên nhà họ Tề vốn là một gia đình nông dân nghèo khó, mấy người con trong nhà đều trông cậy vào một tay người mẹ vất vả nuôi dạy lớn khôn. Tề Bạch Thạch lúc nhỏ phải đi chăn trâu, lớn lên một chút thì học nghề thợ mộc để nuôi thân, nhưng ông vẫn không quản khó khăn, phấn đấu rèn luyện học văn hoá, học thư hoạ và khắc triện. Đến lúc có được thành công, nhờ vào việc viết vẽ, khắc triện gia đình dần được sung túc thì mẹ ông đã qua đời. Tề Bạch Thạch rất đau lòng, thương mẹ vất vả cả đời đến lúc mình có thể báo hiếu thì lại không còn nữa nên ông đã đặt tên cho phòng vẽ của mình là “Hối Ô Đường” (Ô tức là con quạ. Theo truyền thuyết, quạ là loài vật có hiếu, khi quạ con lớn thường kiếm mồi mớm nuôi quạ mẹ)

Ấn biệt hiệu 02

Ấn “Hối Ô Đường” – Tề Bạch Thạch

Nhưng nội dung nhàn chương vẫn là phong phú nhất. Tề Bạch Thạch có một nhàn chương với ấn văn : “Trung Quốc Trường Sa Tương Đàm Nhân Dã” (中國長沙湘潭人也). Qua ấn này có thể biết quê quán của ông ở Tương Đàm – Trường Sa tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc. Tề Bạch Thạch đã đi qua khắp các miền Trung Quốc, cuối đời mới định cư ở Bắc Kinh, ông dùng ấn nhàn chương này thể hiện nỗi nhớ quê hương của mình. Một nhàn chương khác của ông là: “Ngô ấu quải thư ngưu giác” (吾幼挂書牛角) nghĩa là : thuở nhỏ ta từng treo sách trên sừng trâu, thể hiện nỗi hoài niệm về thời thơ ấu vì nghèo khó phải đi chăn trâu, nhưng vẫn phấn đấu học tập, vừa chăn trâu, vừa đọc sách. Chính nhờ tinh thần ham học này, Tề Bạch Thạch mới trở thành một nhà thư hoạ triện khắc nổi tiếng Trung Quốc và thế giới. Ông còn có các nhàn chương khác như : “Ngã tự tác ngã gia hoạ” (我自作我家畫); “Lưu tục chi sở khinh dã” (流俗之所輕也) thể hiện chí tiến thủ trong nghệ thuật, tạo phong cách riêng của mình, coi nhẹ việc vẽ những tác phẩm theo trào lưu thông thường của mọi người; “Bất tri hữu Hán” (不知有漢) – Không biết có nhà Hán, lấy từ câu : “Bất tri hữu Hán, hà luận Ngụy Tấn” (不知有漢何論魏晉) – Không biết có nhà Hán, nói gì đến nhà Nguỵ, nhà Tấn) trong “Đào Hoa nguyên ký” (桃花源記) của Đào Uyên Minh thể hiện quyết tâm đi tìm con đường riêng, tránh theo thói thường của mình.

Ấn biệt hiệu 03

Ấn “Trung Quốc Trường Sa Tương Đàm Nhân Dã” – Tề Bạch Thạch

Ấn biệt hiệu 04

Ấn “Ngô Ấu Quải Thư Ngưu Giác” – Tề Bạch Thạch

Phó Bão Thạch – hoạ gia cận đại của Trung Quốc có ấn nhàn chương : “Đại sơn xuyên nhi ngôn dã” (代山川而言也) – Nói thay lời của núi sông. Câu này lấy trong “Thạch Đào hoạ ngữ lục” (石濤畫語錄) của Thạch Đào – một hoạ sĩ nổi tiếng đời Thanh, thể hiện tình yêu của Phó Bão Thạch với thiên nhiên, non sông tổ quốc. Ông đã chuyên tâm vào vẽ tranh sơn thuỷ và để lại nhiều kiệt tác. Một ấn khác của ông là: “Vãng vãng tuý hậu” (往往醉後) – (Tôi) thường thường (vẽ) sau khi say, thể hiện thói quen hay vẽ tranh sau khi uống rượu lấy hứng của ông.

Ấn biệt hiệu 05

Ấn “Vãng vãng tuý hậu” – Phó Bão Thạch

Phan Thiên Thọ trong các tác phẩm của mình thường dùng nhàn chương “Cường kỳ cốt”(強其骨) – Gân cốt mạnh mẽ, thể hiện quan điểm nghệ thuật, thẩm mỹ của ông. Cách dùng bút của ông bao giờ cũng mạnh trầm, cương kiện, khoẻ khoắn. Một ấn thường dùng khác của ông là “Bất điêu” (不雕)- Không tô vẽ, cũng thể hiện quan điểm thẩm mỹ và chủ trương sáng tác của ông. Ông thường vẽ một cách tự nhiên, chân thực không tô vẽ khoa trương.

Có thể nói nội dung của nhàn chương vô cùng phong phú, nó có thể biểu hiện tư tưởng tình cảm, quan điểm, lý tưởng nghệ thuật của tác giả, cũng có thể chỉ là một biến có hay sự kiện nào đó trong cuộc đời của tác giả …

Ngoài những nội dung bằng chữ, trong nhiều ấn chương còn có các hình vẽ kèm theo Phần lớn các hình vẽ là những con giáp thể hiện tuổi của tác giả (thường đi cùng tên) hoặc thể hiện năm sáng tác tác phẩm …

Cách dùng ấn trong thư hoạ, trước hết phải quan sát kỹ toàn bộ tác phẩm để xác định vị trí đóng triện thích hợp. Đồng thời cũng phải xem xét đến việc ấn chương có nội dung gì, lớn nhỏ ra sao, là ấn chu văn hay bạch văn, là ấn vuông, hay chữ nhật, hay tròn …

Nói chung cách dùng ấn trong thư hoạ có thể chia thành hai trường hợp lớn: Một là, kết hợp với lạc khoản, đề thức để làm bằng cứ cho tác giả; Hai là, dùng để điều tiết bố cục tác phẩm, điều tiết sự cân đối màu sắc …

Trong trường hợp I, chủ yếu là dùng các ấn tên họ, tự hiệu, hay ấn trai, đường, quán, các, nói chung là bằng tín chương. Gián hoặc có trường hợp dùng nhàn chương. Vị trí đóng ấn triện đại thể có ba cách :

- Đóng ấn triện ngay trên dòng chữ lạc khoản.

- Đóng ấn triện bên trái dòng lạc khoản (Thường người ta không đóng triện bên phải dòng lạc khoản)

- Đóng ấn triện cuối dòng lạc khoản – đây là cách dùng phổ biến nhất.

Dấu đóng tại lạc khoản có thể dùng một hoặc hai ấn, nhưng nếu dùng hai ấn thì nên dùng một ấn âm văn và một ấn dương văn.

Trong trường hợp II, chủ yếu là dùng các nhàn chương (cũng có lúc dùng ấn trai đường hoặc biệt hiệu). Trong hoạ (tranh thuỷ mặc) đóng nhàn chương để điều tiết màu sắc, bố cục, tính cân đối của bức tranh. Trong thư pháp, nhàn chương được dùng trong một số trường hợp như : nhàn chương đóng ở đầu bức thư pháp gọi là khởi thủ chương; nhàn chương đóng ở ngang bức thư pháp (trong trường hợp bức thư pháp quá dài, đóng ở ngang bức thư pháp để để tăng thêm sự vững chắc) gọi là yêu chương; một số trường hợp khác, tuỳ vào tình hình cụ thể, tác giả có thể đóng nhàn chương để bổ khuyết cho các chữ viết chưa hợp lý để bức thư pháp cân đối hoàn thiện hơn về chương pháp …

Ở trên là giới thiệu sơ lược về ấn chương trong nghệ thuật thư hoạ Trung Quốc. Ở Việt Nam, các ấn triện cá nhân hiện còn chưa được nghiên cứu kỹ, một phần do các ấn triện, các tác phẩm thư hoạ cổ không lưu lại nhiều, phần nữa do người Việt Nam ít có tập quán dùng ấn cá nhân. Tuy vậy, trên một số hoành phi, câu đối cổ ở các di tích đôi khi cũng có những ấn triện được khắc cùng tên người đề chữ, cung tiến như ấn triện trên bức hoành phi “Vĩnh hoài ân trạch” có niên đại năm Quang Tự (Thanh) thứ 6 tại đền Bạch Mã – Hà Nội, ấn triện trên một số câu đối tại đền Bạch Mã – Hà Nội, đình La Khê – Hà Tây … Điều đó đòi hỏi chúng ta đặt ra vấn đề cần phải có sự quan tâm hơn nữa đến việc nghiên cứu các ấn triện cá nhân tại Việt Nam.

Sau đây, xin giới thiệu một số nội dung ấn nhàn chương thường được các tác giả sử dụng trong nghệ thuật thư hoạ Trung Quốc theo các chủ đề khác nhau :

1/ Các câu thể hiện kiến giải và lý tưởng nghệ thuật của tác giả :

- Thiên ý mỗi tuỳ nhân (天意每隨人) : Ý vị thiên nhiên tuỳ theo cảm nhận của từng người.

- Hoài chân (懷真) : Mong (thể hiện được cái đẹp) chân thực

- Du mục sính hoài (游目騁懷) : Phóng tầm mắt, thả tâm hồn (theo thiên nhiên)

- Ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh (仰觀宇宙之大,俯察品類之盛) : Ngửa trông sự lớn lao của vũ trụ, cúi xem sự phồn thịnh của muôn vật (Câu này lấy từ thiếp Lan Đình Tự của Vương Hi Chi)

- Vô hoạ tài nhi hữu hoạ ý (無畫才而有畫意): Không có tài vẽ tranh nhưng có lòng muốn vẽ

- Mặc hí (墨戲) : Chơi đùa với mực.

- Hình hiện thần tàng (形現神藏) : Hình ảnh hiện lên thì có cái thần ẩn chứa bên trong.

- Dụng bút tại tâm (用筆在心): Dùng bút cốt là ở tấm lòng

- Ý đáo bút tuỳ (意到筆隨): Bút viết, vẽ theo ý nghĩ chợt đến.

- Sư tạo hoá (師造化): Tạo hoá (thiên nhiên) chính là người thầy.

- Hội tâm xứ (會心處): Nơi hội tụ tâm hồn.

- Tá cổ dĩ khai kim (借古以開今): Mượn cái xưa để mở ra cái nay

- Bất cầu tự (不求似): Không mong giống.

- Đắc giang sơn trợ (得江山助): được sự giúp sức của núi sông.

- Pháp cổ (法古): Theo cách xưa.

- Đắc cổ pháp xuất tân ý (得古法出新意): Được cách xưa để tạo ra ý mới

- Đại phác bất điêu (大樸不雕): chân thực không tô vẽ.

2/ Các câu thể hiện tâm tư tình cảm của tác giả :

- Ngô thảo mộc chúng nhân dã (吾草木眾人也): Ta chỉ là người bình thường sống giữa cỏ cây như mọi người.

- Ngô thiếu thanh bình (吾少清平): Tuổi thơ ta thật thanh bình.

- Ngẫu ngâm (偶吟): Ngẫu nhiên ngâm ngợi.

- Tri kỷ hữu ân (知己有恩): Biết mình là có ơn với mình.

- Phong tiền nguyệt hạ thanh ngâm (風前月下清吟): Khúc ngâm thanh nhã trước gió, dưới trăng.

- Tiêu dao du (逍遙游): Tiêu dao thảnh thơi (Đây là tên một thiên trong sách Trang Tử)

- Nhất liêm thu nguyệt (一簾秋月): Một rèm trăng thu

- Biệt thời dung dị, kiến thời nan (別時容易見時難): Chia tay thì dễ, gặp gỡ nhau thì khó.

- Mai hoa đồng tố tâm (梅花同素心): Tấm lòng trong trắng như hoa mai.

- Tâm nguyệt đồng quang (心月同光): Tấm lòng sáng như ánh trăng.

- Hư tâm cao tiết (虛心高節): Khiêm tốn là phẩm chất cao thượng.

3/ Các câu cách ngôn mang tính triết lý:

- Tuy hữu như vô (雖有如無): Tuy có mà như không.

- Thảo mộc vị tất vô tình (草木未必無情): Cỏ cây không hẳn vô tình.

- Khiên ngưu bất ẩm tẩy nhĩ thuỷ (牽牛不飲洗耳水): Dắt trâu không uống nước rửa tai. (Câu này nhắc đến điển cố Sào Phủ – Hứa Do)

- Lâm uyên tiện ngư bất như thoái nhi kết võng (臨淵羨魚不如退而結網): Đến khe suối thích cá chẳng bằng quay về mà đan lưới.

- Tiệm nhập giai cảnh (漸入佳境): Dần vào nơi cảnh đẹp

- Hoa hương bất tại đa (花香不在多): Hương hoa thơm không cần nhiều.

- Vô khả, vô bất khả (無可無不可): Không cái gì là có thể, không cái gì là không thể.

- Hoá phũ hủ vi thần kỳ (化腐朽為神奇): Biến cái mục nát (vô dụng) thành cái thần kỳ.

4/ Các câu cách ngôn mang tính lập chí, tự răn mình:

- Tự cường bất tức (自強不息): Luôn tự cường không ngừng

- Đan thanh bất tri lão tương chí (丹青不知老相至): Vẽ vời không cần biết cái già đang đến.

- Diện bích cửu niên (面壁九年): Quay mặt vào tường chín năm。

- Vinh nhục bất kinh (榮辱不驚): Không sợ vinh nhục.

- Cần năng bổ chuyết (勤能補拙): Cần cù bù thông minh.

- Lưu chân tích dữ nhân gian thuỳ thiên cổ (留真跡與人間垂千古): Lưu lại bút tích với thế gian đến ngàn đời.

5/ Các câu cầu chúc cát tường may mắn:

- Cát tường (吉祥): May mắn

- Nhân trường thọ (人長壽): Ngời thọ mãi.

- Mỹ ý diên niên (美意延年): Tốt đẹp dài lâu.

- Như ý (如意): Mọi điều đều được như ý.

- Thọ đồng kim thạch (壽同金石): Thọ cùng vàng đá.

- Trường niên đại lợi (長年大利): Đại lợi dài lâu.

- Hoa hảo, nguyệt viên, nhân thọ (花好月圓人壽): Hoa đẹp, trăng tòn, người thọ.

- Trường lạc Vị Ương (長樂未央): Được mãi vui vẻ trong cung Vị Ương (cung điện nước Tần)

- Đãn nguyện vô sự thường tương kiến (但願無事常相見): Chỉ mong vô sự thường được gặp nhau.

LÊ TIẾN ĐẠT

(TC Hán Nôm số năm 2003)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

38bức họa cổ do Họa sĩ cung đình nhà Thanh Giuseppe Castiglione vẽ

Giuseppe Castiglione hay Lang Thế Ninh/郎世寧-Lang Shining (1688-1766) là 1 tu sĩ người vùng Milan, nước Ý đã theo phái bộ truyền giáo tới Trung Hoa năm Khang Hy thứ 54 (1715) và được giữ lại làm hoạ sĩ cung đình. Bản thân ông cũng đã dạy cho các họa sĩ Trung Hoa các kỹ thuật vẽ của Âu Châu.

Lang Shining ( do diễn viên vào vai)

Lang Shining ( do diễn viên vào vai)

Lang Shining đến Trung Hoa vào năm 1715 và ở lại cho đến lúc chết 1766. Trong suốt 51 năm ông đã phục vụ ba đời vua với trách vụ cao. Ông là họa sĩ đầu tiên đưavào nền nghệ thuật hội họa Trung Hoa kỷ thuật phối cảnh phương Tây  cũng như lối vẽ chính xác hình ảnh con người dựa trên kiến thức khoa học về giải phẩu, việc dùng độ đậm nhạt để khắc họa về vật thể ba chiều. Như vậy ông đã để lại ảnh hưởng vô cùng lớn đến các họa sĩ TQ sau này.

baijuntu

Selection from "100 Stallions", from the collection of the Imperial Palace Museum in Taipei

Giuseppe Castiglione qua đời tại Bắc Kinh năm 1766, hưởng thọ 78 tuổi. Ông đã được Hoàng đế nhà Thanh Càn Long phong hàm Thị lang và được chôn cất trong nghĩa trang dành cho các giáo sĩ tại Bắc Kinh.

Click trên hình để xem ảnh lớn, một vài ảnh không phóng lớn được

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Older Posts »

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 84 other followers