Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘Hoa văn – hình tượng trên gốm cổ Việt Nam’ Category

*Một số họa tiết trang trí hoa sen tiêu biểu thời Lý – Trần

*Hình ảnh về hoa sen trong các lĩnh vực của cuộc sống

*Một số họa tiết trang trí hoa sen tiêu biểu thời Lý -Trần

*Các cổ vật có hình con nghê của bảo tàng Guimet (Paris)

*Hình tượng hoa sen trên gốm sứ hoàng thành Thăng Long

*Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số kiến trúc xưaVN

*Hình tượng con nghê thể hiện trên gốm cổ

*Hình tượng con ngựa trên gốm cổ VN

*Hình tượng rồng trong các triều đại Lý , Trần , Lê , Nguyễn

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Album hình họa tiết hoa sen

Xin cống hiến đến quý độc giả những hình ảnh về hoa sen trong các lĩnh vực của cuộc sống quanh ta mà chúng tôi đã thu thập được:

(Nhấn trên tiêu đề để xem các bài viết con)

1- Hoa sen

2- Hoa sen trong các họa tiết trang trí

3- Hoa sen trong các sản phẩm thờ cúng, mỹ nghệ

4-Hoa sen được in trên tem – tiền

5-Đồ họa (hoa văn) hoa sen trang trí

6-Hoa sen được sử dụng trong các Logo

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

MỘT SỐ HỌA TIẾT HOA SEN TIÊU BIỂU TRONG NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TRUYỀN THỐNG THỜI LÝ- TRẦN

Ở Việt Nam, đề tài hoa sen xuất hiện khá sớm trong nghệ thuật tạo hình. Hầu như ở thời nào đề tài này cũng có trong các đồ án trang trí nơi thờ tự hoặc ở các công trình văn hoá cộng đồng. Họa tiết hoa sen được khai thác, thể hiện dưới nhiều bố cục khác nhau góp phần tạo nên sự đa dạng, đẹp đẽ và cao quý cho các đồ án trang trí. Nó xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử mỹ thuật ở những công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. Trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ xin đưa ra một vài nhận xét mang tính nghiên cứu của mình về hoạ tiết hoa sen trong Mỹ thuật Việt thuộc giai đoạn đầu của thời độc lập quân chủ Lý – Trần.

1. Họa tiết hoa sen ở bệ đỡ chân cột để bảo vệ chân cột gỗ khỏi bị ẩm thấp và chống mối mọt ở các chùa cổ Việt Nam.

Thời Lý hoa sen được bố cục các cánh thành một vòng tròn theo kiểu nhìn chính diện từ trên xuống. Hoa bao gồm 16 cánh chính và 16 cánh phụ ở dưới. Đáng chú ý nữa là lòng của các cánh sen thời Lý được chạm thêm đôi rồng dâng chầu ngọc quý. Nét chạm tỉ mỉ tinh tế, tôn vẻ cao quý của cánh sen. Các nghệ nhân đã trang trí các cánh sen viền quanh, tạo cảm giác như toàn bộ ngôi chùa được dựng trên các đoá hoa sen.


Tác giả bên bệ đỡ chân cột thời Lý ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc - Thanh Hoá

Tác giả bên bệ đỡ chân cột thời Lý ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc - Thanh Hoá


Họa tiết hoa sen đỡ chân cột thời Trần có nhiều trên các tảng đá kê chân cột như ở thời Lý. Số lượng cánh và bố cục giống thời Lý. Nhưng các họa tiết trong lòng các cánh sen thời Lý thường có các hình rồng, còn thời Trần thì hoàn toàn không có. Người thợ chạm bệ đá thời Trần thường chỉ đục thêm một đường gờ chìm viền theo các cánh sen

2. Họa tiết hoa sen đỡ các vật thiêng

Thời Lý họa tiết này thường đỡ chân chim phượng, trong các đồ án phượng múa ở các thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng hoặc phượng chầu ở trán bia chùa Diên Phúc (Hưng Yên). Các vật thiêng có hình lá đề trong các đồ án về dàn nhạc các tiên nữ, và rồng chầu ở chùa Phật Tích và chùa Chương Sơn v.v…Họa tiết này được thể hiện theo lối nhìn nghiêng, tức là hoa sen được bổ dọc nên tạo thành một đài sen dẹt, gồm hai lớp với nhiều cánh, xuất phát từ giữa và choãi đần dần ra hai bên. Lớp trên thể hiện các cánh mới nở ôm lấy đài gương khuất ở trong. Lớp dưới là các cánh sen đã tàn, đổ dài ra hai bên.


Hoa sen đỡ chân Phượng, Chùa Bà Tấm, Gia lâm - Hà Nội

Hoa sen đỡ chân Phượng, Chùa Bà Tấm, Gia lâm - Hà Nội


Sang thời Trần họa tiết này vẫn được các nghệ nhân vận dụng để trang trí làm bệ đỡ cho các vật thiêng như thời Lý như đồ án trán bia chùa Tổng, hoặc đỡ ngọc báu đang toả sáng hình lá đề trong đồ án ở chùa Thái Lạc, chùa Dâu ( phỏng theo Lục tự chú Phật giáo: Úm Ma Ni Bát Mê Hum). Trên các chân cột trốn của vì nóc, vì kèo chùa Thái Lạc cũng thấy có chạm đài sen đỡ phía dưới. Nói chung nó vẫn giữ bố cục kiểu có từ thời Lý. Nghĩa là vẫn hai lớp cánh sen được dàn mỏng theo hai hướng trên dưới chạy dài từ giữa ra hai phía. Bởi vậy các nhà nghiên cứu quen gọi loai này là “cánh sen dẹo”.


Sen cánh “dẹo”, Bệ tháp Phổ Minh - Nam Định

Sen cánh “dẹo”, Bệ tháp Phổ Minh - Nam Định


3. Họa tiết hoa sen kết hợp hoa cúc của thời Lý mà nay còn thấy ở hai di tích chùa Long Đọi và tháp Chương Sơn .. Sắp xếp thay đổi cứ một hoa sen lại đến một hoa cúc trong những vòng tròn của hoa dây. Những vòng tròn này gần như tiếp tuyến nhau và chỗ gặp nhau là hình các thiên thần nhỏ bé đang trong động tác múa hoặc nhào lộn. Đồ án này cách điệu khá cao và có bố cục rất đẹp.

Đến thời Trần, họa tiết hoa sen được cách điệu thành hoa dây lúc thì thành băng dài chạy phía dưới đôi rồng đang trịnh trọng dâng chầu ngọc báu lúc lại uốn lượn phía trên các tầng mây, nơi có hình các tiên nữ đầu người mình chim đang vừa múa vừa dâng hoa cho Phật. Họa tiết này được bố cục từ một sợi dây được uốn lượn thành sóng hình sin và giữa các quãng trống người ta lại thể hiện một bông hoa sen cách điệu cao. Các cánh sen thể hiện như những dấu ngoắc, từng đôi đăng đối nhau, theo lối nhìn nghiêng, đơn giản và rành mạch. Mỗi bông hoa chỉ có 6 cánh sen và một chút nhuỵ hương.

Loại họa tiết này ở thời Trần còn lại nhiều ở các di tích: Bệ tháp Phổ Minh, Bệ chùa Dương Liễu, chùa Côn Sơn, chùa Nhạn Tháp, chùa Ngọc Khánh, Bằng đất nung chùa Hang, chùa Thái Lạc.

4. Họa tiết hoa sen quanh các bệ tượng Phật.

Các bệ tượng Phật của thời Lý – Trần đều chạm thành những đài sen lớn.. Cánh sen ở đây có 2 hoặc 3 lớp, xen kẽ nhau, thể hiện thành những khối nổi, không còn là họa tiết nữa.. Họa tiết ở đây là các cánh sen được chạm nối tiếp nhau vòng quanh bệ. Trong lòng các cánh sen thường chạm thêm những hình hoa lửa. Sang thời Trần thì sự tinh xảo của kỹ thuật đục chạm giảm đi thay vào đó là cách diễn tả khối chắc khỏe, những cánh sen chen khít nhau dăng thành hàng dài theo chiều hơi xen chéo.


Bệ tượng Tam thế Phật ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc-Thanh Hoá

Bệ tượng Tam thế Phật ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Hậu Lộc-Thanh Hoá


5. Hoa tiết hoa sen trên đồ gốm Lý –Trần

Họa tiết hoa sen trên men ngọc thời Lý được thể hiện bố cục theo lối nhìn nghiêng mặt trong của lòng bát (Bảo tàng Lịch sử Hà Nội). Cuống hoa quay vào tâm vòng tròn của lòng bát. Cứ một bông hoa sen lại một bông hoa cúc. Chúng được bố cục hoàn toàn độc lập với nhau. Tổng cộng mô típ có 3 hoa sen và 3 hoa cúc. Sen ở đây là nhiều cánh chưa nở, quây kín lấy gương sen và hai cánh ngoài cùng nở rộng ra 2 phía. Họa tiết sen ở đây được bố cục theo sự cân xứng,đăng đối từng hoa và toàn bộ đồ án và được khắc chìm vào xương đất, sau đó tráng men để đem nung. Đây cũng là đặc trưng kỹ thuật đồ gốm men ngọc thời Lý.


Bát men ngọc có hoạ tiết hoa sen, Bảo tàng lịch sử –Hà Nội

Bát men ngọc có hoạ tiết hoa sen, Bảo tàng lịch sử –Hà Nội


Họa tiết hoa sen trên gốm hoa nâu thời Trần thường được chia thành ô hoặc thành băng để trang trí. Họa tiết ở đây cũng được dùng bút vẽ lên xương đất sau khi đã tráng men và kẻ vạch rồi mới đem nung. Đề tài trang trí gồm nhiều loại mà trong đó họa tiết hoa sen chiếm số lượng lớn. Họa tiết hoa sen ở đây có loại đơn giản chỉ vẽ vạch mấy nét mà thành. Tuy nhiên phần lớn ở đây là loại hoa sen được vẽ theo lối nhìn nghiêng… Từ một cuống hoa ở dưới vươn lên rồi tiếp đến là các cánh hoa đổ ra hai phía bọc quanh một đài gương ở giữa. Hai cánh trên cùng đang ôm lấy gương sen, hai cánh tiếp đã nở vươn rộng ra hai bên và hai cánh dưới cùng thì đã đổ xuống phía dưới sắp tàn héo. Đơn giản như vậy nhưng vì các cánh sen ở đây không gò bó trong một khuôn mẫu đăng đối nào nên trông rất sinh động. Khi nhìn nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Mỗi ô một hoa, mỗi hoa một kiểu dáng, thường đứng riêng lẻ một mình hoặc kết hợp với một vài cây cỏ và búp sen. Đặc biệt có đồ án trên một thạp gốm thuộc Bảo tàng Hải Dương, nghệ nhân còn vẽ thêm nhiều búp sen và lá sen. Lá sen ở đây có nhiều kiểu dáng. Có lá bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống thành cả mảng tròn to thấy rõ cả chi tiết các gân lá. Có lá bố cục theo kiểu nhìn nghiêng viền của lá uốn lượng sóng. Có lá toàn bộ đã uốn cong xuống phía dưới báo hiệu sắp héo tàn… trông sinh động và hấp dẫn bởi bút pháp có xu hướng trở về hiện thực.


Bình gốm hoa nâu, trưng bày tại bảo tàng Lịch sử – Hà Nội.

Bình gốm hoa nâu, trưng bày tại bảo tàng Lịch sử – Hà Nội.


HỌA TIẾT HOA SEN TRUYỀN THỐNG LƯU GIỮ SẮC HƯƠNG CHO NGÀY HÔM NAY

Họa tiết hoa sen xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử dân tộc trên những công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. Chúng lưu giữ sắc hương giá trị dân tộc cho ngày hôm nay và mai sau.

Hoa sen trong trang trí mỹ thuật thời Lý. Đây là thời kỳ thái bình thịnh trị. Khi đó, Phật giáo phát triển, chùa Phật được xây dựng rất nhiều. Chính vì vậy họa tiết hoa sen được ứng dụng làm mô típ trang trí rất nhiều. Có những kiến trúc hình bông hoa sen như chùa Một Cột. Hoa sen được sử dụng ở những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa võng và các đồ mỹ nghệ truyền thống. Với sự tinh tế trong bố cục, khéo léo trong kỹ thuật. giản dị trong thể hiện nhưng lại rất “bác học” trong sự lựa chọn đề tài. Tất cả những điều đó đã tạo nên một mỹ thuật thời Lý đánh dấu cho đỉnh cao trong lịch sử mỹ thuật nước nhà. Trong vườn hoa đó họa tiết hoa sen đã khoe sắc như một sự kết tinh giữa nghệ thuật và tâm thức của người Việt

Hoa sen trong trang trí mỹ thuật thời Trần được kế thừa những thành tựu của thời Lý nhưng chúng lại có những đặc điểm riêng biệt, độc đáo đánh dấu tính chất thời đại. Đó là phong cách hiện thực sinh động hơn, mạnh mẽ hơn được ảnh hưởng từ niềm vui, tinh thần tự hào dân tộc với ba lần đánh tan giặc Mông Nguyên. Tô đậm thêm trang sử vẻ vang và sức mạnh của dân tộc bằng ngôn ngữ tạo hình.

Họa tiết trang trí trong mỹ thuật truyền thống Việt không chỉ nhằm mục đích đơn thuần để trang trí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó mà chúng là sự kết tinh những tầng bậc ý nghĩa “muôn đời” của dân tộc. Chúng gắn với cuộc sống thường ngày của con người trong việc ứng xử với cái đẹp. Chúng là những “chữ viết” chân thực về lịch sử, xã hội, là lời nhắn nhủ đầy tính mỹ triết của tổ tiên, là tiếng nói của tâm hồn, là ý niệm của cuộc sống, là khát vọng của muôn người, muôn đời…Vì thế, tiếp cận với họa tiết trong mỹ thuật là tiếp cận một khía cạnh cốt lõi về bản sắc văn hoá Việt Nam.

Cung cấp cho sinh viên tư liệu về các đồ án trang trí của hoa sen vì họa tiết này khá điển hình trong kho tàng vốn cổ của dân tộc. Qua đó, các em được biết thêm phương pháp nghiên cứu ở bài chép vốn cổ dân tộc và áp dụng vào các bài học trang trí như : trang trí bìa sách, truyện tranh, truyện lịch sử, Tranh cổ động, Bản trích, vẽ biểu trưng, tranh tường, v.v.

ThS Triệu Thế Hùng

Khoa QLVH-NT

Trường ĐH SP Nghệ Thuật Trung Ương


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Trần Lâm Biền, Một con đường tiếp cận lịch sử . Nxb Văn hóa dân tộc, 2003.

[2]. Nguyễn Du Chi, Hoa văn Việt Nam, NXB Mỹ thuật, 2002.

[3]. Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam , Viện NT – Bộ văn hóa, 1975.

[4]. Thích Chân Quang, Lotus – ý nghĩa của hoa sen. NXB Tôn giáo 2004.

[5]. Thích Thanh Từ, Bát nhã ba la mật đa tâm kinh. NXB Tôn giáo, 1999.


MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Các cổ vật có hình con Nghê của Bảo tàng Guimet (Paris):

1. Chân đèn có tượng Nghê, với ký hiệu cho biết được chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng.

Nghê Bát Tràng

Nghê Bát Tràng

2. Đĩa vẽ hình Nghê, được sản xuất cho thị trường Trung Đông và những nước theo Hồi giáo.

Đĩa trang trí hing con nghê

Đĩa trang trí hing con nghê

Các hiện vật hình con Nghê của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội):

1. Đỉnh có nắp, men trắng xám rạn. Triều Lê Trung Hưng, tháng 4 năm Vĩnh Hựu 2 (1736). Đỉnh có nắp hình vòm, chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, xung quanh trổ thủng bát quái, gờ miệng phẳng, thân phình, 3 chân thú chạm nổi hổ phù, 2 quai hình rồng. Trang trí nổi các băng văn dây lá lật, hồi văn chữ T, lá đề và rồng trong mây. Minh văn khắc dưới đế. Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi nhị, tứ nguyệt nhật cung tác). Men rạn trắng xám.

viewanh_tcagt72xmdinhconap

2. Nậm rượu, men nhiều mầu. Triều Mạc – Lê Trung Hưng, thế kỷ 16 – 17. Nậm có cổ cao hình trụ, miệng đứng, thân chia 6 múi nổi hình cánh hoa, chạm nổi hình Nghê và hoa, viền đế tô nâu. Men trắng ngà và xanh rêu.

viewanh_tcauuckyynmruou

3. Tượng Nghê, men trắng ngà và xanh rêu. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 17. Tượng Nghê trên bệ chữ nhật, tư thế ngồi chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau khuỵu gập lại, đầu ngẩng, cổ đeo chuỗi nhạc nổi. Xung quanh thân và chân chạm mây. Ðế chữ nhật chạm mây, hoa sen và hồi văn. Men trắng ngà và xanh rêu.

viewanh_tcag6to0dtuongngh

4. Hũ có nắp, men rạn và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802-1819). Nắp hũ hình vòm có chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, vẽ mây xung quanh. Hũ có gờ miệng uốn, cổ ngắn, vai phình, thân cao, đế rộng. Vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng tròn. Vẽ lam đề tài phong cảnh sơn thuỷ, nhà cửa, cây lá, người đội ô, người chèo thuyền. Minh văn viết bằng men lam dưới đế. “Gia Long niên chế” (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long).

viewanh_tcaehqga1hunapmenran

5. Hũ có nắp, men nâu trắng và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802-1819). Nắp có chỏm hình Nghê vờn ngọc, vẽ hoa lá men lam. Hũ có gờ miệng phẳng, cổ ngắn, vai phình, đáy lõm. Trên vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng. Xung quanh thân vẽ lam tiêu – tượng, mã – liễu, tùng – lộc. Minh văn viết 4 chữ. “Gia Long niên tạo” (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long). Men nâu, trắng và lam.

Hũ có nắp (BTLSVN)

6. Đài thờ có nắp, men rạn, ngà. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 18. Đài thờ có 2 phần, miệng hình ô van, nắp trang trí nổi núm hình Nghê, băng lá lật, mai – trúc – cúc – tùng, chữ “vạn”, hổ phù. Men rạn ngà.

Đài thờ (BTLSVN)

7. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê đứng trên bệ chữ nhật, quanh thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.

Tượng nghê sành (BTLSVN)

8. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê quỳ trên bệ chữ nhật, đuôi xoắn, thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.

Nghê sành (BTLSVN)

Sưu tập tư nhân: Tượng Nghê, bằng sứ.

Tượng con nghê

(Nguồn: Bảo tàng Guimet (Paris), Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hình tượng hoa sen trên gốm sứ hoàng thành Thăng Long

Hoa sen là loài hoa được nhiều nước trên thế giới tôn thờ từ rất sớm. Đối với người Ấn Độ hoa sen là tượng trưng cho quyền lực sáng tạo của thiên nhiên, của Lửa và Nước. Còn đối với người Ai Cập, hoa sen là tượng trưng của Orisis và Horus là các thần Thái dương và Hỏa ty.

Thạp gốm thời Trần

Thạp gốm thời Trần

Trong nghệ thuật Lưỡng Hà và Ai Cập, hoa sen biểu trưng cho vũ trụ. Nhưng vượt lên tất cả các tôn giáo khác, hoa sen có ý nghĩa lớn lao đối với đạo Phật. Bởi hoa sen có những đức tính cao quý, gần gũi với triết lý của đạo Phật. Cây hoa sen mọc ở dưới ao hồ “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Trong giới Phật giáo, Phật được ví như hoa sen, ở giữa thế giới trần tục mà vẫn giữ tròn đạo tính. Hễ nơi nào có cây sen mọc thì làm cho nước đục nơi đó lắng lại thành trong. Nó cũng giống như người tu hành, không những giữ tròn đạo tính mà còn cảm hóa được chúng sinh.

Mùa thu năm 1010, sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng là dời đô từ kinh đô Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long. Đây là thời kỳ mà Phật giáo phát triển mạnh, được coi là quốc giáo, nên hình tượng hoa sen được ứng dụng rất nhiều. Người ta làm các đài hoa sen, các bệ tượng Phật hình hoa sen tại các chùa tháp. Đặc biệt là tại thành Thăng Long, kiến trúc chùa Một Cột mô phỏng nội đóa sen khổng lồ. Trong nghệ thuật trang trí, hoa văn hoa sen cũng được ứng dụng nhiều trong các đồ án. Từ những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa tháp, diềm bệ tượng và các đồ gốm sứ… Tất cả các đồ án trang trí cũng như nghệ thuật tạo hình này trong di sản nghệ thuật Phật giáo thời Lý Trần đều được tìm thấy trên rất nhiều di vật tìm thấy tại khu di chỉ khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long.

Mảnh bệ tháp sứ trắng thời Lý (tìm thấy ở hố B16) tuy chỉ còn lại hình 3 tiên nữ đang trong tư thế múa và giơ hai tay nâng cao đài sen cũng đủ làm người xem cảm phục trước sự tinh tế trong nghệ thuật tạo hình và kỹ thuật tạo tác gốm của cha ông. Diềm văn cánh hoa sen đắp nổi được giản lược trong bố cục đứng, đầu cánh sen tròn khỏe gợn cong lên ở chóp, hoàn toàn gợi thực nhưng cũng hoàn toàn cách điệu theo một tỷ lệ vàng trên hầu khắp các đài sen, bệ sen. Lớp men trắng sữa rạn trên bề mặt vẫn còn độ trong và óng mượt, chứng tỏ kỹ thuật tạo tác gốm thời Lý đã đạt tới một trình độ cao, không thua kém gốm Tống Trung Quốc cùng thời.

Chậu gốm thời Lý

Chậu gốm thời Lý

Một di vật gốm độc đáo khác có trang trí hoa sen mà các nhà khảo cổ học khẳng định là chỉ duy nhất tìm thấy trong Hoàng thành Thăng Long, đó là chậu men trắng thời Lý. Chiếc chậu có đường kính khoảng 45 cm được gắn liền với một vành chân đế có trang trí hoa sen (xem ảnh). Đối lập với khối chậu to và đặc phía trên, vành chân đế với băng hoa sen trang trí được trổ thủng tạo vẻ mềm mại, thanh thoát, khiến cả khối chậu và đế trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Đồ án hoa sen này được cách điệu thành hoa dây. Bố cục của đồ án này xuất phát từ sợi dây được uốn lượn thành sóng hình sin và giữa các quãng trống của các bước sóng hình sin người nghệ nhân lại khéo léo thể hiện một bông hoa sen hay nụ sen cách điệu. Việc trổ thủng dải hoa sen cách điệu này cho thấy tính sáng tạo và óc thẩm mỹ rất cao của các nghệ nhân thời Lý. Điều đặc biệt là với kích thước khá lớn như vậy, nhưng chiếc chậu vẫn còn nguyên vẹn khi các nhà khảo cổ lấy lên từ lòng đất sau hàng bao thế kỷ.

Đồ án trang trí hoa sen trên gốm men ngọc rất đặc trưng của thời Lý cũng được tìm thấy với số lượng lớn tại di chỉ Hoàng thành Thăng Long. Nhóm bát đĩa khắc chìm hoa sen mang phong cách Việt đặc trưng: Nghệ nhân khắc chìm hình hoa sen lên xương đất sau đó tráng men và đem nung. Đây là loại gốm có chất lượng cao, men phổ biến có màu xanh ngọc sắc đậm, xương gốm trắng, mịn.

Mảnh đài sen men vàng thời Lý là phát hiện rất mới mẻ và dường như loại gốm này mới chỉ được tìm thấy trong khu vực Hoàng thành Thăng Long. Tiến sĩ Bùi Minh Trí, người trực tiếp phụ trách và nghiên cứu phần gốm sứ khai quật được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long cho biết: “Trước đây nhiều nhà khoa học nghĩ rằng gốm men vàng chỉ có ở thời Lê, sau là thời Nguyễn. Loại men đó thường thấy trên các vật liệu kiến trúc như ngói hoàng lưu ly lợp trên mái các cung điện dành cho vua như điện Thái Hòa (Huế). Nhưng cuộc khai quật ở Hoàng thành Thăng Long đã tìm thấy loại gốm men vàng là đồ ngự dụng được tạo dáng rất đẹp với hoa văn tinh xảo”.

Bút pháp bay bổng, mảng và nét được đơn giản hóa đến cao độ, sự thay đổi sắc độ của màu nâu và men ngà đã tạo thành một phong cách riêng mà nay chúng ta thường gọi là gốm sành xốp hoa nâu thời Lý-Trần. Đây là một loại gốm được đánh giá cao về nghệ thuật tạo dáng cũng như về nghệ thuật trang trí: Nó mang đậm chất Việt Nam và có nhiều nét độc đáo so với các loại gốm cổ khác trên thế giới. Gốm hoa nâu trong Hoàng thành được tìm thấy khá nhiều. Đó là các loại vò, chậu, thạp trang trí hoa sen, dây lá. Trên chiếc thạp gốm hoa nâu thời Trần (trong ảnh) có đường kính 40 cm cao 65 cm, nét bút của nghệ nhân hoàn toàn phóng khoáng, bay bổng. Chính vì không gò bó theo một khuôn mẫu đăng đối nào như trên các đồ án trang trí hoa sen thời Lý, nên những bông sen ở đây trông rất sinh động. Nét vẽ khi thì nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao, lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Trên một mảnh vỡ khác của gốm hoa nâu, dường như ai cũng phải thốt lên trầm trồ khi nhìn thấy họa tiết hoa sen dây theo kỹ thuật “nền tô men nâu, hoa văn men trắng” với đường nét chạm – khắc uốn lượn mềm mại, tinh xảo, bộc lộ vẻ đẹp sang trọng, quý phái.

Hoa văn trên đồ gốm sứ Hoàng thành Thăng Long vô cùng phong phú đa dạng. Trong đó hoa văn hoa sen được thực hiện nổi bật như biểu tượng của sự thanh cao. Theo dòng chảy lịch sử, hoa văn của mỗi thời kỳ cùng với kỹ thuật tạo tác gốm riêng đã làm nên vẻ đẹp độc đáo của gốm sứ Việt Nam.

Nguyễn Thu Thủy (HNM)


MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số kiến trúc xưa ở Việt Nam

Hình tượng Rồng:
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước.

Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ăn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.

Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống… và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

- Hình tượng con Rùa: Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.

- Hình tượng chim Phượng: Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp.

Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái.

- Hình tượng con Hạc: ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Trong tứ  linh  ” Long, Lân, Qui, Phụng” , con nghê biểu tượng thuần Việt đã thay thế con Lân do vậy tứ  linh thú của người Việt là ” Long, Nghê, Qui, Phụng”. Xem thêm bài về hình tượng con nghê.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hình tượng con nghê thể hiện trên gốm cổ

Hai linh vật đặc thù của văn hóa Việt Nam là chim hạc và con nghê, thế nhưng trong khoảng trăm năm gần đây, ta thường thấy rồng và lân được dùng trang trí trong các đền chùa, dinh thự lớn. Như tượng hai con lân trắng ở ngay trước sân chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn chẳng hạn. Những ngôi nhà lớn của người Việt ở hải ngoại hay ở trong nước cũng trang trí bằng tượng con lân.

Chim hạc là linh vật từ thời các vua Hùng dựng nên nước Văn Lang ta, vậy con nghê xuất hiện từ bao giờ ? Phải chăng từ đời Lý, khi nền văn hóa thuần Việt được phục hồi và phát triển sau một ngàn năm Bắc Thuộc ?

Bình trầm hình con nghê

3. Bình trầm hình con nghê

Con nghê :

Trong đời sống của người dân Việt, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cầy ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma ác quỷ nữa chứ.

Chó đá được dựng lên vì thế. Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con chó đá để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có chó đá, và trước cổng nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà cũng thường có chó đá ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này hình dạng thay đổi, cao khoảng từ nửa thước tới một thước, thường là những tảng đá được khắc đẽo rõ ràng oai vệ, nhưng có khi chỉ là một khối đá đặt nghiêng theo dáng một con chó đang ở thế ngồi canh giữ.

Rồi để bầy chó đá hoá linh trước điện thờ, hay bàn thờ ở những nhà giàu có, ở các đình chùa đền miếu, chó đá được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét uy nghiêm. Vì linh thiêng như thế, nên được gọi là con Nghê. Thủa nhỏ, vào khoảng đầu thập niên 1950 ở Thái Bình, còn thấy ở nhà cụ Hà Ngọc Huyền, ông ngoại chúng tôi có trưng tượng con Nghê cao gần một thước ngay lối vào phòng khách cùng với những bình, những chóe đời Khang Hy nhà Thanh, đời Minh… Con Nghê này không biết nay đã lưu lạc về đâu?

Tóm lại con Nghê là một linh vật được sáng tạo để bảo vệ đời sống tâm linh của người Việt. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm như:

1. Tượng con Nghê

2. Bình đốt trầm hương trên bàn thờ

3. Nậm rượu hình con Nghê.

1. Tượng con nghê

1. Tượng con nghê

Vài hình tượng con Nghê tiêu biểu

1. Tượng con Nghê: Dựa trên nước men, mầu men, chất đất ta có thể định rằng đây là một tác phẩm đời Lý (thế kỷ 11 –12). Con Nghê này cao độ 36cm, bằng đất nung, phủ men nâu, nét tô đắp cực kỳ tinh xảo, con Nghê trông sống động, oai vệ, tưởng chừng như có thể phóng lên xua đuổi tà ma ngay tức khắc. Mặt Nghê ngắn. Mình Nghê thon dài, rất thanh tú. Cổ Nghê đeo dây lục lạc có tua, cổ ngửng thẳng. Lông trên sống lưng dựng đứng như một hàng kỳ, chạy suốt từ đỉnh đầu xuống đến đuôi. Chân Nghê thanh nhưng thẳng và mạnh, chân sau ở thế ngồi bắp thịt đùi trông rắn chắc mạnh mẽ, hai chân trước chống cao, chỗ đầu gối có lông xoắn cong. Mắt to, miệng lớn, mũi lớn, miệng Nghê hơi hé mở để lộ những răng nanh nhọn hoắt, như sẵn sàng xua đuổi tà ma. Tai Nghê lớn nhưng không dựng lên như tai chó. Lông Nghê mượt sát vào mình với những đường khắc, uốn từ sống lưng xuống phía bụng, trông như vằn chó.

2. Nậm rượu hình con nghê

2. Nậm rượu hình con nghê

2. Nậm rượu hình con Nghê: Chúng tôi xin đưa ra hình hai nậm rượu hình con Nghê, một mầu nâu, một mầu đen. Nghê với hình dáng và thế ngồi cũng như mô tả ở trên, tuy rằng các chi tiết không sắc sảo bằng. Nghê ngồi trên một bầu rượu có dáng trên tròn dưới ống. Mình Nghê rỗng, trên lưng Nghê có vòi loe để chuyên rượu vào (nắp đậy chỗ này không còn, cho nên ta không biết nắp cũng làm bằng đất sét nung hay bằng gỗ hoặc lá cuộn). Rượu được rót ra từ vòi dài đi từ thân nậm, tựa như cọc với dây xích buộc Nghê.

3. Bình trầm hương hình Nghê (hình trên cùng): Mầu men, nước men, chất đất, độ nung của các bình hương này cho thấy đây là các tác phẩm làm thời Chu Đậu (thế kỷ 16, 17, 18 ) chứ không phải đồ đời Lý hay đời Trần. Bình hương gồm hai phần, phần dưới là một hộp nhỏ hình chữ nhật. Đây là chỗ bỏ trầm vào đốt. Phần trên là nắp. Nắp là con Nghê ngồi trên một mặt phẳng đậy vừa kín phần dưới. Mình Nghê rỗng, khi đốt, trầm khói từ phần hộp phía dưới luồn trong mình Nghê rồi bay ra từ miệng Nghê đang hơi khẽ mở, trông rất oai nghiêm. Vì trầm được đốt trong hộp kín phía dưới mà chỉ có thể thoát khói ra khỏi miệng Nghê nên cháy rất chậm, vừa toả đủ khói hương để mang đầy vẻ linh thiêng mà vẫn cháy lâu cả buổi.

Phân biệt con nghê và con lân:

Tượng con lân (kỳ lân)

Tượng con lân (kỳ lân)

Con Nghê là linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam, con Lân thuộc văn hóa Trung Hoa. Về hình dạng, con Lân giống sư tử, đầu có 1 sừng, chân ngựa, mình tròn mập có vảy, đuôi ngắn, miệng ngậm quả cầu, hay ngồi chống chân lên quả cầu. Con Nghê có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, dáng thanh, đuôi dài, trông rõ ràng dáng chó. Một số bình hương, chân đèn gốm Việt Nam thời Chu Đậu làm vào khoảng thế kỷ 16, 17 cũng có hình con lân, nhìn vào thì thấy rõ ngay là con lân chứ không phải là con nghê. (Trong sách “Vietnamese ceramics – a separate tradition” của John Guy và John Stevensen soạn, có nhiều hình bình hương trầm với con nghê nhưng đồng thời lại có hình con lân mà ghi chú nhầm là con nghê).

Thời thịnh đạt của Con Nghê

Trong những thế kỷ Bắc Thuộc khi người Trung Hoa làm đủ mọi cách để hủy diệt văn hoá Việt Nam, như: tịch thu, hủy diệt và cấm làm trống đồng, bắt người Việt đổi theo họ Tầu (vì thế những họ cổ Việt Nam như họ Trưng (Trưng Trắc)… không còn nữa….), thì không biết ông cha ta có làm hình tượng chó đá và con Nghê không? Quan sát cách sinh hoạt của người Thượng trên các miền cao nguyên, ta thấy rằng con chó vẫn là con vật rất quan trọng của đời sống thôn dã. Vậy thì ai có thể quả quyết rằng, chó đá, con Nghê không được phát sinh từ thời xa xưa? Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa có dịp may được thấy các hình ảnh hay vật tích hình con Nghê của thời đại cổ xưa này. Ước rằng có người với những phương tiện đầy đủ sẽ làm các việc khai quật nghiên cứu và tìm ra di tích con Nghê từ thời xa xưa.

Khi Đinh Bộ Lĩnh dành lại nền tự chủ cho nước Việt, nhà Lý, nhà Trần, rồi nhà Lê nối ngôi dựng lại nền văn hóa thuần Việt phong phú cùng văn học, xã hội, chính trị, nghệ thuật tạo hình của người Việt phát triển rực rỡ.

Trong bối cảnh văn hoá ấy, với sự nẩy nở của những nghệ phẩm, tác phẩm Việt Nam, sự phát triển của kiến trúc đình chùa, sự phát triển của giới quý tộc, trưởng giả càng đòi hỏi nhiều hơn nữa những phẩm vật tế tự, sinh hoạt và trưng bày. Khung cảnh và nhu cầu này đưa đến biết bao phát triển của nghệ thuật tạo hình. Nhu cầu tinh thần, nhu cầu vật chất được đáp ứng bởi bàn tay, khối óc của các nghệ nhân Việt lúc nào cũng xông xáo sáng tạo. Biết bao kiến trúc, cung điện, đình chùa với mái cong thuần túy Việt được dựng lên. Đồ gốm Việt Nam bừng lên tổng hợp kỹ thuật và sắc men Trung Hoa với dạng thức, nét vẽ, và phong cách hoàn toàn Việt Nam. Từ đây những bình, ấm, tô, chén, đĩa… những món đồ Lý Trắng, Lý Nâu, Lý Lục, Lý Đen, những món đồ men ngọc, chuyển qua những món men trắng hoa chàm của đời Trần, đời Lê tuyệt vời, được sản xuất mạnh mẽ. Rồi tiếp theo đó, sang thế kỷ 16, 17, 18 là thời của gốm Chu Đậu, thời tuyệt đỉnh của đồ gốm Việt Nam, với biết bao phẩm vật xuất cảng sang vùng Ba Tư, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nhật Bản….

Dựa trên số lượng và phẩm tính của những con Nghê trong các viện bảo tàng và bộ sưu tập của các tư nhân, ta thấy rằng thời thịnh đạt nhất của con Nghê là từ đời Lý cho đến cuối đời Tây Sơn (thế kỷ 11 đến thế kỷ 18). Suốt từ đời Lý, Con Nghê được trọng dụng ở khắp mọi nơi, từ những ngôi nhà dân dã, từ cung đình, cho đến lâu đài, đình chùa, lăng miếu… Đến cuối đời Lê, loạn Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước đi vào 300 năm khói lửa, nhưng không vì thế mà văn hoá Việt điêu tàn mà trái lại càng phát triển mạnh thêm về mọi mặt (thơ văn, kiến trúc, khắc gỗ, gốm sứ …). Trong suốt 8 thế kỷ này, các bình hương trầm, các nậm rượu, và các tượng hình con Nghê là những món không thể thiếu ở nơi tế tự, ở các nhà trưởng giả cho đến nhà bình dân.

JPG - 9 kb
Tượng Nghê cổ

Thời suy tàn của con Nghê

Khi Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, triều đình nhà Nguyễn – có lẽ do mặc cảm, do lòng thù ghét các dấu vết văn hóa của đất Bắc, của nhà Trịnh, nhà Tây Sơn – đã quay lưng lại văn hóa Việt Nam mà ưa chuộng văn hóa Trung Hoa. Thế nên, con rồng Việt Nam uyển chuyển của đời Lý Trần Lê, đã bị thay bằng con rồng Tầu thân mập vẩy to, mặt ngắn. Thế nên, thành Thăng Long bị phá đi xây lại nhỏ hơn và biết bao cung điện đời trước (còn lại sau những năm dài chinh chiến) đã bị nhà Nguyễn cho phá đi. Thế nên, trong dù đang chật vật cạnh tranh với đồ gốm Tầu trên thị trường quốc tế, cả một kỹ nghệ đồ gốm Việt nam đã không được triều đình nâng đỡ. Thay vào đó, các món đồ dùng trong cung đình Huế thì được đặt làm từ các lò gốm ở bên Tầu. Thế nên, cả làng Chu Đậu (Hải Dương) phải bỏ nghề gốm mà chuyển qua nghề dệt chiếu (một số nhỏ đã dọn đến Bát Tràng tiếp tục nghề cũ, trong phạm vi rất nhỏ hẹp so với Chu Đậu). Trong các cung điện ở Huế, con Nghê không được dùng, vì đã bị con Lân của Tầu thay thế. Các lư trầm bằng đồng với hình tượng con Lân trên nắp trở nên phổ thông. Các nhà trưởng giả đua theo triều đình chuộng các linh tượng Trung Hoa. Kỹ nghệ đồ gốm tàn lụi, con Nghê chỉ còn sót lại trong những bàn thờ cổ ở chốn thôn dã. Hãy đi đến các ngôi chùa, các kiến trúc ở Việt Nam làm từ thế kỷ 19, ta thấy ngay rằng, con rồng Việt đã biến đổi, con Nghê đã bị thay bằng con Lân, chim Hạc chỉ còn là biểu tượng xưa cũ.

Thương thay, các biểu tượng thuần Việt, các nét tạo hình thuần Việt không còn được người Việt biết đến nữa.

Lâu nay, khi đi qua cửa các nhà giàu có ở Hoa Kỳ, ta vẫn thấy chủ nhà hãnh diện bầy hai con Lân hai bên cửa, cứ như là chùa Tầu. Ở các lò gốm bên Việt Nam, ở Non Nước, Đà Nẵng-Hội An, các nhà khắc chạm cẩm thạch, đâu đâu cũng chỉ sản xuất toàn con Lân mà không có con Nghê. Buồn thay! Chúng tôi ước ao rằng các nhà làm đồ gốm Việt Nam sẽ làm lại tượng con Nghê, bình hương trầm con Nghê để tất cả chúng ta còn hãnh diện nối theo dòng văn hóa Việt Nam của ông cha thủa trước.

Bùi Ngọc Tuấn

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 80 other followers